Xuất phát từ bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế lúc đó, cộngvới những kinh nghiệm cách mạng quý báu mà ông đúc rút được trong cuộcđời hoạt động cách mạng của mình, đến năm 1905, Tôn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ QUỲNH TRANG
TÔN TRUNG SƠN VỚI SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC CÁCH MẠNG Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á: NHẬT BẢN, VIỆT NAM,
SINGAPORE
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGHỆ AN - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ QUỲNH TRANG
TÔN TRUNG SƠN VỚI SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC CÁCH MẠNG Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á: NHẬT BẢN, VIỆT NAM,
SINGAPORE
Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới
Mã số: 60.22.03.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ HƯƠNG
NGHỆ AN - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới TS Nguyễn Thị Hương, người đã gợi ý
đề tài và luôn quan tâm giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử Trường Đại học Vinh
đã cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường.Cảm ơn các cán bộ nhân viên Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Trung tâmThông tin - Thư viện Nguyễn Thúc Hào Đại học Vinh đã nhiệt tình giúp đỡ,cung cấp tư liệu để tôi hoàn thành luận văn của mình
Cuối cùng, tôi xin được gửi tới gia đình, bạn bè thân thiết lời cảm ơnsâu sắc đã luôn động viên, chia sẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quátrình học tập và làm luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Quỳnh Trang
Trang 4MỤC LỤC
Trang
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1 TÔN TRUNG SƠN VÀ BỐI CẢNH DẪN ĐẾN SỰ RA ĐỜI CÁC TỔ CHỨC CÁCH MẠNG Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á 11
1.1 Vài nét về cuộc đời và hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn 11
1.2 Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn 18
1.2.1 Chủ nghĩa Dân tộc 20
1.2.2 Chủ nghĩa dân quyền 23
1.2.3 Chủ nghĩa dân sinh 24
1.3 Bối cảnh quốc tế và trong nước dẫn đến sự ra đời của các tổ chức cách mạng ở một số nước châu Á do Tôn Trung Sơn thành lập 27
1.3.1 Bối cảnh quốc tế 27
1.3.2 Tình hình trong nước (Trung Quốc) 30
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2 TÔN TRUNG SƠN THÀNH LẬP CÁC TỔ CHỨC CÁCH MẠNG Ở NHẬT BẢN, VIỆT NAM, SINGAPORE 37
2.1 Khái quát sự thành lập các tổ chức cách mạng của Tôn Trung Sơn ở hải ngoại 37
2.2 Tôn Trung Sơn xây dựng các tổ chức cách mạng ở Nhật Bản 40
2.2.1 Thành lập phân hội Hưng Trung Hội 42
2.2.2 Thành lập Trung Quốc cách mạng Đồng Minh Hội - Chính đảng của giai cấp tư sản Trung Quốc 43
2.2.3 Cải tổ Quốc dân Đảng thành Đảng cách mạng Trung Hoa 50
2.3 Các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở Việt Nam 51
2.3.1 Thành lập phân hội Hưng Trung Hội 52
2.3.2 Thành lập phân hội Đồng Minh Hội 53
Trang 52.3.3 Cải tổ Đảng cách mạng Trung Hoa thành Quốc dân đảng Trung Quốc
56
2.3.4 Xây dựng lực lượng căn cứ cách mạng 57
2.4 Các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở Singapore 59
2.4.1 Thành lập phân hội Hưng Trung Hội 59
2.4.2 Thành lập phân hội Đồng Minh Hội 61
*Tiểu kết chương 2 65
CHƯƠNG 3 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC CÁCH MẠNG DO TÔN TRUNG SƠN THÀNH LẬP Ở NHẬT BẢN, VIỆT NAM VÀ SINGAPORE ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG TRUNG QUỐC 67
3.1 Tác động của các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập tại Nhật Bản đối với Trung Quốc 67
3.2 Tác động của các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập tại Việt Nam đối với Trung Quốc 72
3.3 Tác động của các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập tại Singapore đối với Trung Quốc 78
C KẾT LUẬN 82
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
E PHỤ LỤC
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi cả dân tộc Trung Hoa đang mò
mẫm tìm con đường đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nửa phong kiến, nửathuộc địa thì trên vũ đài chính trị Trung Quốc xuất hiện một nhà cách mạng tưsản yêu nước đi theo con đường cách mạng dân tộc dân chủ - đó chính là TônTrung Sơn Xuất phát từ bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế lúc đó, cộngvới những kinh nghiệm cách mạng quý báu mà ông đúc rút được trong cuộcđời hoạt động cách mạng của mình, đến năm 1905, Tôn Trung Sơn đã đưa ramột học thuyết cách mạng vĩ đại: Chủ nghĩa Tam dân, với ba nội dung lớn:Chủ nghĩa dân tộc, Chủ nghĩa dân quyền, Chủ nghĩa dân sinh Đây cũngchính là đường lối lý luận cơ bản làm nền tảng chỉ đạo thành công cuộc Cáchmạng Tân Hợi (1911)
1.2 Trong phong trào cách mạng nhằm lật đổ chế độ phong kiến chuyên
chế, thành lập nền cộng hòa ở Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, cộngđồng người Hoa và Hoa kiều ở nước ngoài, đặc biệt là một số nước châu Ánhư Nhật Bản, Việt Nam, Singapore có vai trò và đóng góp một phần vô cùng
to lớn Để có được kết quả đó, do những điều kiện lịch sử khác nhau, TônTrung Sơn đã bôn ba hải ngoại để tiến hành các hoạt động cách mạng Mộttrong những hoạt động cách mạng quan trọng của ông phải kể đến là hoạtđộng thành lập các tổ chức cách mạng của Tôn Trung Sơn Trên chặng đườnggian khó ấy, ông đã thành lập được những cơ sở cách mạng lớn, mà trước hết
là ở một số nước châu Á, với trung tâm cách mạng lớn thứ nhất là Nhật Bản,trung tâm thứ hai là Việt Nam, trung tâm thứ 3 là Singapore Thế nhưng chođến hiện nay, theo sự hiểu biết của chúng tôi thì những công trình nghiên cứu
về các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở Singapore chưa có,
có chăng chỉ là những công trình nghiên cứu lẻ tẻ về sự thành lập các tổ chứccách mạng ở Nhật Bản và Việt Nam Song cũng chưa công trình nào nghiên
Trang 7cứu một cách tổng thể về các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lậpở hải ngoại, tiêu biểu là ở ba nước châu Á: Nhật Bản, Việt Nam, Singapore.Tuy rằng, không chỉ hoạt động cách mạng ở ba nước châu Á này.
1.3 Từ đặc thù công việc làm nghề dạy học, và để phục vụ cho công tác
giảng dạy của mình về Tôn Trung Sơn trong chương trình dạy học ở phổthông Cùng với lòng kính trọng, sự ngưỡng mộ, khâm phục sâu sắc tới mộttài năng xuất chúng đó, tôi thực sự muốn đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứunhững vấn đề liên quan tới cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Tôn TrungSơn
Vì những lý do về mặt ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, mà chúng tôi
quyết định chọn đề tài: “Tôn Trung Sơn với sự ra đời và hoạt động của các
tổ chức cách mạng ở một số nước châu Á: Nhật Bản, Việt Nam, Singapore”, để làm đề tài cho luận văn thạc sĩ, qua đó nhằm tăng thêm sự
hiểu biết cho mình về lịch sử Trung Quốc và nhân vật Tôn Trung Sơn
Châu Thị Hải với ''Người Hoa Việt Nam và Đông Nam Á: Hình ảnh
hôm qua và vị thế hôm nay'' của Châu Thị Hải (xuất bản năm 2006) và ''Trung Quốc cách mạng Đồng Minh Hội và các nhóm cộng đồng người Hoa
ở Đông Nam Á'', Nghiên cứu lịch sử, số 5, 1991, tr.82-88, đã hệ thống lại
tương đối đầy đủ quá trình xuất hiện và vận động của cộng đồng người Hoa ởkhu vực Đông Nam Á trong đó, tác giả đề cập khái lược đến một số hoạtđộng của Tôn Trung Sơn và tổ chức Đồng Minh Hội ở Việt Nam giai đoạnđầu thế kỷ XX;
Trang 8Tập trung nhất là những bài viết đăng trong các kỷ yếu khoa học, nhândip kỷ niệm các năm chẵn Cách mạng Tân Hợi, như:
- Kỷ yếu ''Hội thảo khoa học kỷ niệm lần thứ 80 cuộc Cách mạng Tân
Hợi (1911-1991)'' ( tư liệu tại Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội);
- Vào năm 2001, nhân kỷ niệm 90 năm Cách mạng Tân Hợi, Trung tâmnghiên cứu Trung Quốc thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốcgia (nay là Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội
Việt Nam) đã tổ chức Hội thảo khoa học chào mừng với chủ đề ''Cách mạng
Tân Hợi 90 năm sau nhìn lại (1911-2001)'' Nội dung hội thảo khoa học đã
được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản vào năm 2002;
Bên cạnh đó, cũng đã có một số luận văn cao học nghiên cứu về cáckhía cạnh có liên quan, như luận văn Thạc sĩ Đông phương học của tác giả
Chu Thùy Liên: ''Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và ý nghĩa lịch
sử'', Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, năm 2005;
Nguyễn Văn Hồng (1996), "Tôn Trung Sơn với Chủ nghĩa tam dân nhìn từ
dòng chảy lịch sử'' , Nghiên cứu Trung Quốc, số 6, tr 74 - 84 Hay những
nét cụ thể về bối cảnh lịch sử Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
đã được đề cập đến trong luận văn cao học ''Sự chuyển biến kinh tế - xã hội
ở Trung Quốc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dưới tác động của chủ nghĩa thực dân'' của tác giả Nguyễn Thị Hương (Đại học Vinh, 2002)
Với những tài liệu nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, cuộc đời và tư tưởngcách mạng của Tôn Trung Sơn đã được đề cập đến trong nhiều công trình của
các học giả trên thế giới Nhất là cuốn ''Lịch sử cận đại Trung Quốc'' do Nhà
xuất bản Khoa học Matxcơva xuất bản năm 1976 (bản dịch PGS Phan Văn
Ban) đặc biệt có giá trị về mặt tư liệu Cuốn ''Tôn Dật Tiên người giải phóng
Trung Hoa'' của tác giả người Anh là Henry Bond Restaick, từng có nhiều
năm sống ở Honolulu (bản dịch của Nguyễn Sinh Duy)
Trang 9Là cháu gái của Tôn Trung Sơn, Tôn Huệ Phương đã viết cuốn ''Tôn
Trung Sơn - ông tôi'', được Nguyễn Khắc Khoái biên dịch và Nhà xuất bản
Công an Nhân dân ấn hành năm 2003 với tiêu đề ''Tôn Trung Sơn cuộc đời và
Cuộc đời và tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn với những công
trình nghiên cứu: Dật Công, Nhượng Tống (1926), Tiểu sử và Học thuyết
Tôn Dật Tiên, Nam đồng thư xã; Tôn Huệ Phương (2003), Tôn Trung Sơn cuộc đời và sự nghiệp cách mạng, Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà
Nội; Đào Duy Đạt (2006), Tìm hiểu tư tưởng cận đại hóa của Tôn Trung
Sơn, Nghiên cứu Trung Quốc, số 3, tr 47 – 55; Vương Ngọc Hoa, Tư
tưởng triết học Tôn Trung Sơn, Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội, 1963;Nguyễn Văn Hồng (1996), "Tôn Trung Sơn với Chủ nghĩa tam dân nhìn từdòng chảy lịch sử'' , Nghiên cứu Trung Quốc, số 6, tr 74 – 84; Nguyễn Văn
Hồng (2001), “Ảnh hưởng hoạt động cách mạng và Chủ nghĩa Tam dân
của Tôn Trung Sơn đối với cách mạng Việt Nam”, Bài tham luận tại Hội
thảo khoa học quốc tế tại Đài Loan, (tư liệu do TS Nguyễn Thị Hươngcung cấp); hay còn có những công trình nghiên cứu khác Nguyễn Huy Qúy
(2001), Tìm hiểu “Chủ nghĩa Dân quyền” của Tôn Trung Sơn”, Nghiên
cứu Trung Quốc.39 (5), tr 40 – 47; Tăng Thanh Sang, Nguyễn Thị Hương
(2010), “Các giai đoạn phát triển trong hệ tư tưởng chính trị dân tộc của
Tôn Trung Sơn”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1 tr 55- 61; Tôn
Trung Sơn (1995), Chủ nghĩa Tam dân, Viện Thông tin Khoa học Xã hội,
Hà Nội; Nguyễn Anh Thái (1996), “Chủ nghĩa Tam dân và vị trí lịch sử
Trang 10trọng đại của nó” Nghiên cứu Trung Quốc, 9(5) Với các công trình này
đã đưa tới cách nhìn khái quát hơn về cuộc đời cũng như sự hình thành tưtưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn
Tiếp đến cung cấp cho chúng tôi hiểu biết về những hoạt động cáchmạng của Tôn Trung Sơn ở các nước, đặc biệt là một số nước châu Á nhưNhật Bản, Việt Nam, Singapore, đã có những bài viết của các nhà nghiêncứu Việt Nam công bố trong các công trình, Tạp chí khoa học có uy tín
như: Nguyễn Văn Hồng (2001), Mấy vấn đề lịch sử châu Á và lịch sử Việt
Nam - Một cách nhìn, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội; Nguyễn Văn Hồng,
Nguyễn Thị Hương, Chương Thâu, Tôn Trung Sơn với Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội 2013; Nguyễn Thị Hương (2011), “Bước đầu tìm hiểu về
những hoạt động tuyên truyền và thành lập tổ chức cách mạng của Tôn Trung Sơn trong cộng đồng Người Hoa và Hoa kiều ở hải ngoại”, Nghiên
cứu Đông Nam Á, số 3.(132), tr 70 – 75; Nguyễn Thị Hương (2011), “Tôn
Trung Sơn xây dựng các tổ chức cách mạng trong cộng đồng người Hoa và Hoa kiều ở Việt Nam”, Nghiên cứu Trung Quốc, số 5(117); Nguyễn Thị
Hương (2011), “Về sáu lần Tôn Trung Sơn đến Việt Nam hoạt động cách
mạng”, Nghiên cứu Lịch sử, số 5(421), tr 53 - 58; Nguyễn Thị Hương
(2012), “Những hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn ở Việt Nam”, (Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Cách mạng Tân Hợi 100 năm nhìn lại, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội); Nguyễn Thị Hương (2015), “Về nguyên nhân
Tôn Trung Sơn đến Việt Nam tiến hành các hoạt động cách mạng”, Tạp chí
nghiên cứu Trung Quốc, số 4 (164), tr 52-57; Nguyễn Thị Hương (2015),
“Về các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở Nhật Bản”, Tạp
chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số 8 Những công trình này cho thấy một cách
rõ nét về hoạt động và tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn ở ba trungtâm cách mạng lớn của Trung Quốc ở các nước Châu Á (Nhật Bản, ViệtNam, Singapore)
Trang 11Hay Cuốn '' Tôn Trung Sơn với Hoa kiều'' của Nhâm Qúy Tường, Nhà
xuất bản Nhân dân Hắc Long Giang năm 1998 Trong đó, đã đề cập đến tìnhhình người Hoa và Hoa kiều trên thế giới cũng như sự phân bố của họ khắpnăm châu Đồng thời, đề cập đến những hoạt động cách mạng của Tôn TrungSơn và sự ủng hộ của lực lượng Hoa kiều đối với Tôn Trung Sơn ở hải ngoại
Ngoài ra, phải kể đến một số luận án tiến sĩ, luận văn tiến sĩ đề cập đếncác vấn đề liên quan Đặc biệt là luận án của tác giả Nguyễn Thị Hương (Họcviện Khoa Học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 2011)
"Hoạt động của Tôn Trung Sơn và tác động của nó đối với phong trào cách
mạng trong cộng đồng người Hoa và Hoa kiều ở Việt Nam (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)'' Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Ánh Linh (Trường Đại
học Vinh, 2005) ''Vai trò của Tôn Trung Sơn đối với cách mạng Trung Quốc
trong những năm 1984 - 1925'' Nội dung của các luận văn, luận án nghiên
cứu về các khía cạnh có liên quan như; tư tưởng cách mạng dân tộc của TônTrung Sơn, hoạt động tuyên truyền cách mạng, nhận thức về vai trò ngườiHoa và Hoa kiều ở hải ngoại, xây dựng các tổ chức cách mạng của Tôn TrungSơn ở Việt Nam
Những tác phẩm, công trình nghiên cứu, bài viết nói trên còn cho thấyhoạt động thành lập các tổ chức cách mạng của Tôn Trung Sơn đã được chú ýnhiều hơn, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về hoạtđộng của Tôn Trung Sơn với sự ra đời của các tổ chức cách mạng ở một sốnước châu Á Có chăng cũng chỉ là những nghiên cứu về sự thành lập các tổchức cách mạng ở Nhật Bản, Việt Nam; còn đối với sự thành lập của các tổchức cách mạng ở Singapore đến nay vẫn còn là một khoảng trống Nói chungcác công trình nghiên cứu đó còn lẻ tẻ, chưa có được sự khái quát tổng thể Vìvậy, với điều kiện cho phép chúng tôi đi sâu vào tập trung nghiên cứu mộtcách tổng thể về Tôn Trung Sơn với sự thành lập các tổ chức cách mạng ởmột số nước Châu Á(Nhật Bản, Việt Nam, Singapore) Mặc dù vậy, đề tài củachúng tôi ít nhiều đã tiếp thu và kế thừa các thành tựu nghiên cứu nói trên
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Trong luận văn này, chúng tôi tập trung đi sâu vào nghiên cứu nhữngđiều kiện lịch sử, nguyên nhân dẫn đến sự ra đời và hoạt động của các tổ chứccách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập Để từ đó nhằm tìm hiểu thêm nhữnghoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn trong suốt thời kỳ ở các nước nhưViệt Nam, Nhật Bản, Singapore Và tác động của nó đối với cách mạng dântộc dân chủ ở Trung Quốc Qua đó góp thêm chứng cứ, tư liệu lịch sử để làm
rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và những đóng góp của Tôn TrungSơn đối với quê hương
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ tư tưởng cách mạng chủ nghĩa tam dân, đặc biệt là chủ nghĩadân tộc của Tôn Trung Sơn, cũng như những điều kiện thuận lợi để TônTrung Sơn sang các nước châu Á hoạt động cách mạng để kêu gọi, tìm kiếm
sự ủng hộ của Hoa Kiều ở đây và các nước sở tại Từ đó thấy được các tácđộng tích cực đến quá trình tiến hành cách mạng Tân Hợi
- Khái quát về những hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn, nhất lànhững hoạt động thành lập các tổ chức cách mạng ở Nhật Bản, Việt Nam,Singapore và hưởng ứng nó một cách có hiệu quả để phục vụ mục đích cáchmạng dân tộc dân chủ
- Phân tích, đánh giá nhằm thấy được tác động của các tổ chức cáchmạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở Nhật Bản, Việt Nam, Singapore đối vớicách mạng Trung Quốc Cũng như xem xét sự đóng góp của cộng đồng ngườiHoa và Hoa kiều vào công tác xây dựng các tổ chức cách mạng ở mỗi mộtnước, so sánh vai trò và sự đóng góp của cộng đồng này đối với từng tổ chứcở mỗi nước để thấy được mức ảnh hưởng của sự hình thành các tổ chức cáchmạng ở đây đã góp phần vào cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốcnhư thế nào
Trang 134 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tuợng nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài Tôn Trung Sơn với sự thành lập các
tổ chức cách mạng ở một số nước châu Á, chúng tôi tập trung nghiên cứu vềcuộc đời, tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn, đồng thời đi sâu nghiêncứu về các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở ba trung tâm củacách mạng tư sản Trung Quốc ở châu Á là Nhật Bản, Việt Nam, Singapore.Sở dĩ tìm hiểu theo trình tự như vậy bởi vì, Lúc gặp khó khăn khi hoạt động ởtrong nước, Tôn Trung Sơn đặt chân đến Nhật Bản nhằm kết nối cộng đồngngười Hoa và Hoa kiều tiến tới thành lập các tổ chức cách mạng; sau khi sứcảnh hưởng của Tôn Trung Sơn ngày càng lớn ở hải ngoại, nhất là Nhật Bản,một trong những trung tâm cách mạng lớn nhất của cách mạng Trung Quốc ởchâu Á lúc bấy giờ, và những hoạt động cách mạng ở đây của Tôn Trung Sơncũng bắt đầu có tác động mạnh mẽ đối với tình hình cách mạng Trung Quốc,triều đình Mãn Thanh lo sợ điều đó nên cấu kết với Chính phủ Nhật Bản trụcxuất Tôn Trung Sơn ra khỏi nước Nhật với mục đích ngăn chặn những hoạtđộng cách mạng của ông tại đây Bị trục xuất khỏi Nhật, ông tiếp tục tìm đếnvới các nước Châu Á khác mà trước hết là Việt Nam, chính là trung tâm Châu
Á thứ hai mà ông đến để tiến hành các hoạt động cách mạng, khi đã thu đượcnhững thành quả cách mạng đáng kể ở đây, đặc biệt đã lôi kéo được đông đảolực lượng người Hoa và Hoa kiều tham gia vào các cuộc cách mạng do ôngphát động ở các tỉnh biên giới giáp ranh giữa Trung Quốc và Việt Nam, đểnhằm vào thế lực phong kiến trong nước, thì ông lại bị trục xuất khỏi ViệtNam do sự cấu kết của nhà Thanh và thực dân Pháp ở Việt Nam VàSingapore là trung tâm thứ ba Tôn Trung Sơn đặt chân tới để tiếp tục sựnghiệp cách mạng của mình Qua đó, nêu lên tác động của các tổ chức cáchmạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở những nước này đối với sự nghiệp cáchmạng của ông nói riêng và đất nước nói chung
Trang 144.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được chúng tôi giới hạn như sau:
Về phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về sự ra đời của các
tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ở hải ngoại, tiêu biểu như ở
ba nước Châu Á là Nhật Bản, Việt Nam, Singapore và tác động của các tổchức cách mạng này đối với cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc
Về phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về những hoạt
động cách mạng của Tôn Trung Sơn ba nước Châu Á: Nhật Bản, Việt Nam,Singapore Và để có cái nhìn toàn diện, chúng tôi còn nghiên cứu về nhữnghoạt động của Tôn Trung Sơn ở Trung Quốc
Về phạm vi thời gian: Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX.
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở nguồn tư liệu tiếng
Việt tương đối phong phú như các bài viết trên các tạp chí nghiên cứu khoahọc, Internet, các ấn phẩm chuyên sâu, các tập kỷ yếu hội thảo, một số luậnvăn và luận án, ngoài ra còn có các nguồn tư liệu khác như tư liệu về tiếngTrung
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, phương pháp lịch sử và phươngpháp logic Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác: địnhlượng, thống kê, so sánh để giải quyết các vấn đề mà luận văn đưa ra
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện, rõràng, có hệ thống về cuộc đời, sự nghiệp chính trị của Tôn Trung Sơn, đặcbiệt là những hoạt động thành lập các tổ chức cách mạng của Tôn Trung Sơnở một số nước Châu Á Qua đó để góp phần khẳng định vai trò to lớn của ôngđối với Trung Quốc
- Luận văn góp phần giúp người đọc hiểu hơn về một giai đoạn lịch sửđầy thăng trầm của lịch sử Trung Quốc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Trang 15- Những tư liệu thu thập được và kết quả nghiên cứu có thế dùng làm tàiliệu phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học khi tìmhiểu về nhân vật Tôn Trung Sơn nói riêng và lịch sử Trung Quốc nói chung.
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dungchính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Tôn Trung Sơn và bối cảnh dẫn đến sự ra đời của các tổ chức cáchmạng ở một số nước Châu Á
Chương 2 Tôn Trung Sơn thành lập các tổ chức cách mạng ở Nhật Bản, ViệtNam, Singapore
Chương 3.Tác động của các tổ chức cách mạng do Tôn Trung Sơn thành lập ởNhật Bản, Việt Nam, Singapore đối với cách mạng Trung Quốc
Trang 16B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TÔN TRUNG SƠN VÀ BỐI CẢNH DẪN ĐẾN SỰ RA ĐỜI
CÁC TỔ CHỨC CÁCH MẠNG Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á.
1.1 Vài nét về cuộc đời và hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn
Tôn Trung Sơn tên thật là Tôn Dật Tiên, hiệu là Tôn Văn Ông sinhngày 12/11/1866 trong một gia đình nông dân nghèo tại thôn Thúy Hanh,huyện Hương Sơn (nay là thành phố Trung Sơn), tỉnh Quảng Đông Lúc nhỏgọi là Đế Tượng, tự là Đức Minh, khi lớn lên tên hiệu là Nhật Tân, sau đómới đổi thành Dật Tiên Năm 1897, khi hoạt động cách mạng ở Nhật Bản gọi
là Tôn Trung Sơn
Ngay từ thuở nhỏ, Tôn Trung Sơn có cuộc sống vất vả, gần gũi vớingười dân lao động khổ cực nên ông sớm hiểu được những nỗi thống khổ của
quần chúng nhân dân Đến khi trưởng thành, chịu ảnh hưởng truyền thống
đấu tranh cách mạng của quê hương, ông quyết tâm hướng tới sự nghiệp cáchmạng của phong trào nông dân Thái Bình Thiên Quốc
Tháng 5 năm 1879 Tôn Trung Sơn theo mẹ sang Honolulu thuộc quầnđảo Haoai(Đàn Hương Sơn) nương nhờ người anh trai Tôn Mi(còn gọi là TônĐức Chương) - một tư sản Hoa kiều Cũng bởi nhờ sự giúp đỡ ấy mà TônTrung Sơn đã được học tập và tiếp thu tương đối có hệ thống nền giáo dụcphương Tây lúc bấy giờ Với những kiến thức, hệ tư tưởng mới tiến bộ cũngnhư việc tiếp cận một cuộc sống tốt hơn đã khiến Tôn Trung Sơn dần có sựđối sánh với thực trạng Trung Hoa, và nảy sinh quyết tâm nâng cao địa vị dântộc, hướng đến chế dộ dân chủ Cũng nơi đây ông có điều kiện để chuẩn bịcho mình một hành trang, một công cụ đắc lực như vốn tiếng Anh thông thạo
để nhằm thuận lợi về sau cho việc nghiên cứu các học thuyết chính trị, kinh tếphương Tây trong quá trình hoạt động cách mạng sau này
Trang 17Sau thất bại của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Trung - Pháp(1884), hành vi chuyên chế, mục nát của nhà Mãn Thanh ngày càng biểu hiện
rõ nét Nhận thức rõ về điều đó, Tôn Trung Sơn quyết tâm đấu tranh chống lạichính quyền Mãn Thanh Trong thời gian học tại trường Y Bác Tế QuảngChâu, tiếp đó là Trường Y Anh Văn(Học viện Tây Y) ở Hồng Kông(HươngCảng), ông thường lấy học đường làm nơi cổ động Sau khi tốt nghiệp, TônTrung Sơn tới Ma Cao, Quảng Đông để một mặt ông hành nghề y nhưng mặtkhác ông bắt đầu tổ chức hoạt động cách mạng Với mục đích trước mắt làchữa bệnh cứu người, song thực sự sâu xa hơn nữa là chữa bệnh cứu nướcthông qua việc tuyên truyền tư tưởng chống lại chính quyền Mãn Thanh đếnmọi tầng lớp nhân dân
Trước tình hình chính quyền thối nát, lòng người căm phẫn, Tôn TrungSơn liền tới Honolulu sáng lập ra Hưng Trung Hội Tháng 10/1895, TônTrung Sơn phát động cuộc khởi nghĩa đầu tiên ở Quảng Châu, tuy nhiên kếhoạch bị bại lộ, Tôn Trung Sơn buộc phải bôn ba hải ngoại Và đây cũng làthời gian ông có điều kiện lưu lại châu Âu để nghiên cứu khảo sát tình hìnhchính trị, kinh tế, xã hội và kết giao với các bậc hiền tài Trên cơ sở ấy, chủnghĩa Tam dân của ông từng bước hình thành và hoàn chỉnh
Năm 1900, phong trào nông dân Nghĩa Hòa Đoàn bùng nổ, Chính phủMãn Thanh lợi dụng nó nhằm thực hiện hành vi bài ngoại, dẫn đến tai họaliên quân tám nước tấn công Bắc Kinh Nhà vua phải chạy trốn, triều đìnhphải bồi thường chiến phí, uy tín của nhà Thanh không còn, cuộc sống nhândân càng khó khăn Với tình hình lúc bấy giờ,chớp lấy thời cơ Tôn Trung Sơn
đã cử người phát động Khởi nghĩa Huệ Châu Nghĩa quân đã giành đượcnhững thắng lợi bước đầu, song do quân lương can kiệt, tiếp tế không đủ nênphải chịu thất bại Tuy nghĩa quân thất bại trong lần này song Tôn Trung Sơnthực sự thấy vui mừng phấn khởi bởi đã phần nào thức tỉnh được người dânkhỏi cơn mê Tôn Trung Sơn nhận thức được tình hình lúc bấy giờ và ông đãtiền hành thành lập các đoàn thể cách mạng ở một số nước thuộc châu Mỹ,
Trang 18châu Âu, châu Á Đặc biệt là một số nước châu Á như Nhật Bản, Việt Nam,Singapore
Do ảnh hưởng những hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn, vàonhững năm 1901 - 1904 các đoàn thể chống Thanh liên tiếp được thành lập ởnhiều nơi Các tổ chức cách mạng lần lượt được thành lập ở trong nước cũngnhư ở các nước châu Á, mang lại những kết quả cao, có tác động sâu sắc đốivới cả người dân trong nước cũng như người Hoa và Hoa kiều đang sinh sốngở các nước láng giềng Nhờ vậy mà phong trào và tinh thần đấu tranh củanhân dân ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn Tháng 11/1905, trong lời nóiđầu của tờ Dân báo - cơ quan ngôn luận của Đồng Minh Hội, lần đầu tiên TônTrung Sơn chính thức đưa ra ba chủ nghĩa lớn: dân tộc, dân quyền và dân
sinh Và đúng như Tôn Trung Sơn đã viết trong Tự truyện của mình: “Phong
trào cách mạng từ đó phát triển nhảy vọt, tiến bộ không thể nào ngờ" [31,
tr.30]
Sau sự thành lập của Đồng Minh Hội, Tôn Trung Sơn tích cực vạch kếhoạch, cử các đồng chí đi tuyên truyền và thành lập các phân hội ở khắp nơitrong và ngoài nước Đích thân ông đi đến nhiều nước, đặc biệt là các nướcĐông Nam Á nhằm tuyên truyền, phát triển tổ chức và quyên góp kinh phícho cách mạng trong các tầng lớp như người Hoa và Hoa kiều đang sinh sốngkhắp nơi
Ngày 10/10/1991, dưới ảnh hưởng của Tôn Trung Sơn và Đồng MinhHội, Khởi nghĩa Vũ Xương bùng nổ, các tỉnh thành trong cả nước rầm rộhưởng ứng Được tin cách mạng thắng lợi, Tôn Trung Sơn đang ở nước ngoàilập tức tiến hành các hoạt động ngoại giao nhằm cô lập Chính phủ MãnThanh về mặt kinh tế, tạo môi trường quốc tế hòa bình, trung lập cho sự thànhcông của Cách mạng Tân Hợi
Cuối tháng 12 /1911, Tôn Trung Sơn về nước Ngày 2/1/1912, ôngchính thức nhận chức Tổng thống lâm thời nước Trung Hoa dân quốc tại NamKinh Ngày 12/2/1912, vua Tuyên Thống(tức vua Phổ Nghi) tuyên bố thoái
Trang 19vị, kết thúc chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại hàng ngàn năm ở Trung Quốc.Không lâu sau đó, Tôn Trung Sơn công bố Ước pháp lâm thời của Trung Hoadân quốc Đó là hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nền chính trị dân chủ TrungQuốc Tuy nhiên, do phải gánh chịu nhiều áp lực nặng nề, Tôn Trung Sơnbuộc phải từ chức tổng thống, giao lại toàn bộ chính quyền cho Viên ThếKhải vào ngày 1/4/1912
Để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của mình, Tôn Trung Sơn đẩy mạnhcác hoạt động Sau khi từ chức tổng thống, ông vẫn chú trọng làm những việcmang ý nghĩa thiết thực: thực hiện kế hoạch công thương nghiệp, thúc đẩylàm đường sắt chấn hưng kinh tế Trung Quốc Đặc biệt, ông đi khắp các tỉnhthành trong cả nước, tuyên truyền về chủ nghĩa dân sinh Vì ông cho rằng,cách mạng thành công, lật đổ được chính quyền Mãn Thanh là cơ bản đã hoànthành chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa dân quyền
Trước sự chuyên quyền, thao túng của Viên Thế Khải, Đồng Minh Hội
đã liên hợp với các đảng nhỏ trong Hạ viện, cải tổ thành Quốc dân Đảng vàotháng 8/1912 Ngay sau đó, Tôn Trung Sơn phát động cuộc cách mạng lần thứhai nhằm lật đổ Viên Thế Khải Cách mạng thất bại, Quốc dân Đảng về cơbản bị Viên Thế Khải giải tán, Tôn Trung Sơn phải lưu vong sang Nhật Bản.Tại Nhật Bản, ông quyết định tổ chức Đảng Cách mạng Trung Hoa vào tháng6/1914, lập kế hoạch trở lại cầm quyền
Đang bế tắc chưa tìm ra được con đường đi phù hợp cho đất nướcmình, thì vào thời điểm đó Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ, đã làm thứctỉnh Tôn Trung Sơn, từ đó ông nhận thấy con đường đi mới cho Trung Quốc.Cũng chính sự trưởng thành và phát triển nhanh chóng của phong trào cáchmạng vô sản Trung Quốc thông qua Cuộc vận động Ngũ Tứ diễn ra năm 1919
và sự thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1921, khiến ông có nhậnthức mới đối với lực lượng cách mạng Từ đây, Tôn Trung Sơn bắt đầu cónhững thay đổi lớn về tư duy và thế giới quan
Trang 20Với sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đó, đãnhư mở ra cho ông thấy một con đường mới, một hướng đi mới, góp phầnthắp sáng niềm tin ở trong ông, thắng lợi của cuộc cách mạng ấy nó có tácđộng mạnh mẽ tới Tôn Trung Sơn, khiến ông như tìm lại được con đường giảiphóng cho chính dân tộc mình Tiếp đó, ông đã thực hiện nhiều biện phápnhằm đưa đất nước thoát ra khỏi những khó khăn trước đó.
Sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư tưởng cách mạng của Tôn TrungSơn tới lúc này đã biểu hiện một cách rõ nét, khi Tôn Trung Sơn tiến hànhthành lập Trường quân sự Hoàng Phố ở Quảng Châu nhằm xây dựng lựclượng quân đội nhà nước
Trên đà tiến lên của sự nghiệp cách mạng, vào những năm cuối đời TônTrung Sơn tích cực đấu tranh nhằm xóa bỏ các hiệp ước bất bình đẳng màtrước đó Trung Quốc đã ký với nước ngoài
Ngày 12/3/1925 Tôn Trung Sơn một con người ưu tú và kiệt xuất củamảnh đất Quảng Đông đã từ trần tại Bắc Kinh sau một cơn bạo bệnh, để lạicho hậu thế sự nghiệp cách mạng tuy còn dang dở nhưng cũng rất đối hàohùng Sự ra đi này của ông đã làm cho cách mạng Trung Quốc mất đi một vịlãnh tụ vĩ đại, cách mạng thế giới mất đi một người chiến sĩ kiên trung Vìthế, dù lịch sử đã trải qua những thăng trầm, Tôn Trung Sơn vẫn luôn là mộttấm gương sáng ngời để lại trong lòng nhân dân Trung Quốc nói riêng và bạn
bè khắp năm châu nói chung sự ngưỡng mộ sâu sắc
Làn sóng cách mạng dân tộc, dân chủ chống đế quốc, chống phong kiếnnổi lên ở Trung Quốc thời cận đại đã xuất hiện nhiều vị lãnh tụ cách mạngxuất sắc Tuy nhiên trong đó nổi lên có nhà lãnh đạo vĩ đại, vị lãnh tụ vớicách nhìn và hướng đi, hay một con người có thiên tư sắc sảo được biết đếnvới những am hiểu của mình, biết gắn quan hệ mật thiết với người Hoa vàHoa kiều ở hải ngoại thì chỉ có Tôn Trung Sơn
Vào thời điểm lúc ấy, người Hoa và Hoa kiều đã phân bố ở khắp nămchâu Căn cứ theo thống kê thì vào năm 1907, tổng số người Hoa và Hoa kiều
Trang 21trên toàn thế giới chiếm khoảng 6.317.329 người Đặc biệt, ở khu vực ĐôngNam Á là một trong khu vực có vị trí tiếp giáp với Trung Quốc, và có sốlượng người Hoa và Hoa kiều đông nhất Do đó, đây là một trong nhữngnguyên nhân khiến Tôn Trung Sơn đặc biệt chú ý khi tiến hành các hoạt độngcách mạng.
Trong cuộc đời hoạt động của mình, Tôn Trung Sơn đã có sáu lần đếnHonolulu, tổng cộng thời gian lưu lại là 7 năm[17, tr.61] Thời gian học tập ởđây giúp ông hiểu biết về lịch sử, văn hóa phương Tây Trên cơ sở đó có sự sosánh và nảy sinh tư tưởng cải tạo Trung Quốc Đồng thời ở đây cũng là nơiông đã thành lập đoàn thể cách mạng đầu tiên của giai cấp tư sản Trung Quốc
- Hưng Trung Hội; mở cuộc luận chiến gay gắt kịch liệt với phái Bảo hoàngKhang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đứng đầu; gia nhập Hội Hồng môn hảingoại
Tiếp đó ở khu vực Bắc Mỹ, ông cũng đã lưu lại một thời gian và tạiđây không chỉ thành lập tổ chức mà còn cải tạo Trí Công Đường Đặc biệt ởĐông Nam Á, người Hoa và Hoa kiều đóng một vị trí và vai trò quan trọngtrong sự nghiệp cách mạng của Tôn Trung Sơn Trong vòng hơn 10 năm(từnăm 1900 đến năm 1911), ông bảy lần đến Đông Nam Á, thời gian hoạt động
và di chuyển ở khu vực này khoảng 3 năm 10 tháng [17, tr.62] Cụ thể, TônTrung Sơn đã mười một lần đến Singapore; năm, sáu lần đến Malaysia vàViệt Nam; hai lần đến Thái Lan [12, tr.105] Thời gian lưu lại và phạm vihoạt động, Tôn Trung Sơn đã tạo lập được mối quan hệ mật thiết với nhữngphần tử tinh anh trong số người Hoa và Hoa kiều yêu nước ở đây Và dướiảnh hưởng của ông, họ trở thành lực lượng trung kiên trong mọi hoạt độngcách mạng Đồng thời, Tôn Trung Sơn cũng chuyển Đông Nam Á thành căn
cứ và trung tâm cách mạng, là nơi trù hoạch và phát động nhiều cuộc khởinghĩa quan trọng
Nhằm phát huy tinh thần yêu nước của người Hoa và Hoa kiều, màtheo Tôn Trung Sơn, họ chính là những người có thể ủng hộ, tham gia và là
Trang 22chỗ dựa cho sự thành công của cách mạng, tổng cộng ông đến với họ với độdài bằng 4 lần đi vòng quanh trái đất Ông đi đến đâu, đến khắp các nơi trênthế giới mà có lực lượng này sinh sống và đặc biệt chú ý tới việc giáo dụctuyên truyền và thành lập các tổ chức cách mạng ở đó.
Khi Tôn Trung Sơn mới bắt đầu sự nghiệp cách mạng, bất luận là quầnchúng trong nước hay người Hoa ở hải ngoại đều không hiểu Họ chỉ biết
rằng “cách mạng”, “tạo phản”, phản đối hoàng đế là “đại nghịch bất đạo”.
Ông nhận thấy, sự nghiệp cách mạng của mình nếu muốn được mọi ngườiủng hộ, tất yếu phải bắt đầu từ việc tác động vào nhận thức để họ hiểu đượcđạo lý và ý nghĩa cách mạng, từ đó sẽ chuyển biến trong hành động Nhưngmuốn làm thay đổi quan niệm tư tưởng truyền thống cố hữu là việc cực kì khókhăn Do vậy, mà trong cả quá trình hoạt đông ông luôn đặt công tác tuyêntruyền vào vị trí rất quan trọng
Vào thời điểm Tôn Trung Sơn bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động, đại bộphận người Hoa và Hoa kiều ở nhiều nơi khu vực trên thế giới đều tham giavào tổ chức Hội Bảo hoàng Để thức tỉnh được họ ông trước hết phải đíchthân đến từng địa phương, tiến hành các buổi diễn thuyết, tuyên truyền tưtưởng cách mạng cứu nước trong các tầng lớp người Hoa và Hoa kiều Côngviệc này bước đầu gặp rất nhiều trở ngại nhưng chỉ một thời gian sau đó rấtthuận lợi Cùng với hoạt động diễn thuyết, Tôn Trung Sơn chú trọng tuyêntruyền thông qua báo chí ách mạng Trong chương trình 10 diều của Hưng
Trung Hội ở Hồng Kông, điều 3 ghi rõ: “lập tòa báo mở mang phong khí, mở
trường học để giáo dục bồi dưỡng nhân tài dần dần hưng thịnh” [29, tr.95].
Do đó, “bất cứ nơi đâu ông đặt chân đến đều có sự ra đời của các tờ báo và
trường học của người Hoa và Hoa kiều ”[14, tr.120] Không ít tòa báo,trường
học ấy đều do Tôn Trung Sơn trực tiếp lãnh đạo thành lập Đồng thời cùngvới các hình thức tuyên truyền, Tôn Trung Sơn cũng luôn kiên trì tổ chức các
tổ chức cách mạng Trước cách mạng Tân Hợi, những tổ chức ấy chủ yếuđược xây dựng trong cộng đồng người Hoa và Hoa kiều
Trang 23Vào năm 1894, Tôn Trung Sơn thành lập đoàn thể cách mạng đầu tiêncủa giai cấp tư sản Trung Quốc - Hưng Trung Hội Tháng 2/1895, ông thànhlập Tổng hội Hưng Trung Hội ở Hồng Kông Sau đó phát triển tổ chức tiếptục thành lập các phân hội ở Quảng Châu, Đài Loan, Nhật Bản
Năm 1911, dưới sự chỉ đạo của Tôn Trung Sơn, Đồng Minh Hội ở cácnước châu Âu còn tiến hành liên hợp với Trí Công Đường, hội viên ĐồngMinh Hội ở đây đều tham gia Hồng Môn Do đó, phong trào cách mạng trongHoa kiều ở châu Âu ngày càng dâng cao
Với việc tích cực triển khai tuyên truyền, thành lập các tổ chức cáchmạng đó trong cộng đồng người Hoa và Hoa kiều thì ông đã nhanh chóng lôikéo được một lực lượng hùng hậu đóng góp vào sự nghiệp cách mạng củamình Được sự trợ giúp lớn về vật lực, tiền của cũng như lực lượng nòng cốtcủa người Hoa và Hoa Kiều mà các tổ chức hoạt động ngày càng có hiệu quảcao, là lực lượng quan trọng giúp Tôn Trung Sơn có thể tiến hành cách mạng
1.2 Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn
Ở thời điểm Tôn Trung Sơn sinh ra và lớn lên cũng là lúc Trung Quốc
đang bị các liệt cường xâu xé Chủ nghĩa đế quốc tranh nhau buộc TrungQuốc phải mở cửa, cắt đất, bồi thường chiến phí Lớn lên trong bối cảnh lịch
sử như vậy, Tôn Trung Sơn được tận mắt chứng kiến cũng như phải trực tiếpchịu đựng sự bóc lột này Do đó, ông sớm nhận thức được sự tủi nhục, đauxót của một người dân mất nước, bị tước đoạt quyền tự do sinh kế Hơn thếnữa, lòng tự trọng và ý thức dân tộc của ông bị tổn thương sâu sắc, Đây chính
là những nhân tố cơ bản đưa tới sự hình thành tư tưởng cách mạng của ông vềsau
Từ thủa thiếu thời, dưới sự giáo dục của trường tư thục tại quê nhà,Tôn Trung Sơn được học tập nhiều tri thức của nền học thuật phong kiến
Trung Quốc Ông đặc biệt say mê lý tưởng xã hội đại đồng, “thiên hạ đều là
của chung"(thiên hạ vi công) trong các kinh điển Nho giáo.
Trang 24Song ảnh hưởng lớn hơn cả đối với ông lại chính là phong trào nôngdân Thái Bình Thiên Quốc, một phong trào đạt tới đỉnh cao nhất của cuộcchiến tranh nông dân ở Trung Quốc, Tôn Trung Sơn bị lôi cuốn mạnh mẽ bởi
tư tưởng chủ nghĩa xã hội nông nghiệp không tưởng: “Ai cũng có ruộng cùng
cày, có cơm cùng ăn, không nơi nào không đồng đều, không người nào không
ấm no" [7, tr 8] Ông coi Hồng Tú Toàn, vị lãnh đạo của phong trào nông dân
Thái Bình Thiên Quốc là người thầy lý luận của mình Sau này, chính ông chorằng, học thuyết Tam dân có liên hệ chặt chẽ với cương lĩnh của Hồng Tú
Toàn Ông nói: "Chủ nghĩa dân sinh tức là giàu nghèo bằng nhau, không thể
lấy người giàu áp bức người nghèo Nhưng mấy chục năm trước đã có người thực hiện chủ nghĩa dân sinh, người đó chính là Hồng Tú Toàn” [ Dẫn theo
23, tr.7]
Khi theo học ở trong trường đạo của Anh và Mỹ, ông được tiếp xúcvới nhiều trí thức khoa học cận đại như thuyết Tiến hóa luận của Darwin,thuyết Vạn vật hấp dẫn của Newton, thuyết tế bào của Slâyđen cùng nhiều tưtưởng của khai sáng Pháp: Rútxô, Môngtétxkiơ Ông say mê tìm hiểu,
nghiên cứu về các chế độ chính trị của phương Tây, về khẩu hiệu “tự do, bình
đẳng, bác ái”, về chế độ cộng hòa, về tư tưởng chống sự chuyên chế để mở
đường cho sức sản xuất phát triển Những tri thức khoa học cận đại phươngTây đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của ông
Tuy nhiên, do lập trường giai cấp còn hạn chế, nên Tôn Trung Sơnchưa thể khái quát một cách khoa học và chuyển những tri thức này thành hệ
tư tưởng duy vật biện chứng, song nó lại giúp ông có cái nhìn khoa học kháchquan khi đánh giá về thế giới vật chất và các hiện tượng xã hội Tại Hônôlulu(1894), Tôn Trung Sơn đứng ra thành lập Hưng Trung hội - tổ chức cáchmạng đầu tiên của giai cấp tư sản Trung Quốc, đề ra cương lĩnh đấu tranh là
“đánh đuổi giặc Thát, khôi phục Trung Hoa, thành lập Chính phủ hợp chúng” Khẩu hiệu trên cũng chính là tiền đề ban đầu của Chủ nghĩa Tam dân
sau này
Trang 25Sau quá trình thực tế, tiếp thu được những trào lưu tư tưởng về học
thuyết xã hội ông nhận thấy được rất nhiều điều, đồng thời nhà Thanh ngàycàng lộ rõ bản chất cấu kết phản động của nó Chứng tỏ sự nghiệp cứu nướctuyệt đối không thể dựa vào bất kỳ sự cải cách nào của chính quyền phongkiến Mãn Thanh, mà phải đi bằng con đường bạo lực cách mạng
Xuất phát từ nhu cầu lịch sử nói trên, muốn giải phóng dân tộc khỏi sựxâm lược của chủ nghĩa đế quốc cần phải có một hệ thống lý luận và tư tưởngcách mạng thống nhất Kế thừa và bổ sung những khiếm khuyết của cácphong trào đi trước, cùng với thực tiễn cách mạng của mình, Tôn Trung Sơn
đã xây dựng nên một học thuyết cách mạng mới phù hợp với tình hình xã hộiTrung Quốc lúc bấy giờ Đó chính là Chủ nghĩa Tam dân - tiền đề lý luậngiúp cho cuộc cách mạng dân chủ tư sản giải phóng dân tộc ở Trung Quốcphát triển giành thắng lợi
Chủ nghĩa Tam dân ra đời trong xã hội Trung Quốc phong kiến nửathuộc địa ở thời đại đế quốc chủ nghĩa Nó là sản phẩm của phong trào giảiphóng dân tộc dân chủ, mang tính chất tư sản kiểu cũ Nội dung của Chủnghĩa Tam dân gồm 3 phần: Chủ nghĩa Dân tộc, Chủ nghĩa Dân quyền vàChủ nghĩa Dân sinh
1.2.1 Chủ nghĩa Dân tộc
Chủ nghĩa dân tộc là vấn đề được Tôn Trung Sơn đề cập đến đầu tiêntrong hệ thống học thuyết cách mạng Chủ nghĩa Tam dân của mình
Ngay trong bài giảng đầu tiên về vấn đề dân tộc ngày 27/1/1924, căn
cứ vào tình hình tập quán xã hội trong lịch sử Trung Quốc, Tôn Trung Sơn đã
khẳng định rằng, ở Trung Quốc “chủ nghĩa Dân tộc là chủ nghĩa Quốc tộc"
[31, tr 50] Ông nhận thức sâu sắc rằng, từ xưa đến nay, cái mà Trung Quốcsùng bái nhất là chủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa tông tộc, mà ở Trung Quốc chỉtồn tại hai loại chủ nghĩa này mà không hề có sự hiện diện của chủ nghĩa quốctộc Nguyên nhân của các điều này là ở người Trung Quốc nói chung chỉ cóchủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa tông tộc, không có chủ nghĩa quốc tộc Đối với
Trang 26gia tộc và tông tộc, người Trung Quốc luôn có sức liên kết vô cùng mạnh Đểbảo vệ tông tộc, người Trung Quốc không tiếc sự hy sinh tính mệnh của mình.Cũng vì thứ chủ nghĩa này ăn sâu, bám rễ vào lòng người nên họ có thể vì nó
mà hy sinh Còn đối với quốc gia, trước nay họ lại chưa có một lần hy sinhvới tinh thần cực lớn, do vậy mà sức đoàn kết của người Trung Quốc chỉ cóthể đạt đến tông tộc, chưa mở rộng được tới quốc tộc Cũng chính là lý do
khiến các nhà quan sát nước ngoài nói rằng: “Người Trung Quốc là một
mảng cát rời rạc” Trong bối cảnh quốc tế hóa đã diễn ra và những nước biết
thức thời đã hội nhập, thì Trung Quốc là một trong những trung tâm văn minh
có ảnh hưởng rất lớn tới nhiều quốc gia Phương Đông thời kỳ cổ - trung đại
vẫn bảo thủ, “đóng cửa” Điều đó cũng trở thành một nguyên nhân lịch sử
cho lạc hậu và cuối cùng bị nô dịch Nhận thấy sự tụt hậu của Trung Quốc sovới các nước tư bản châu Âu, Mỹ Trung Quốc chịu sức ép xâm lược của bọn
đế quốc chủ nghĩa cả về kinh tế lẫn chính trị Vì vậy, Tôn Trung Sơn chorằng: muốn cứu Trung Quốc, muốn dân tộc Trung Hoa có thể trường tồn thìcần thiết phải đề xướng chủ nghĩa dân tộc để giúp cho chính bản thân ngườiTrung Quốc hiểu rằng hiện nay địa vị của dân tộc Trung Hoa đang như thếnào? Nguyên nhân nào khiến cho Trung Quốc rơi vào tình trạng ấy? Có nhưvậy, mới mong tìm ra con đường cứu nguy dân tộc
Tôn Trung Sơn nhận định, cảnh lầm than đói khổ của nhân dân TrungQuốc đều do sự hủ bại, bất tài và thối nát cảu chính phủ Mãn Thanh đem lại
Ông cho rằng, triều đình Mãn Thanh chuyên chế, độc tài và cướp đi “sinh kế
của người Hán”, “bóp nghẹt sự phát triển của công thương nghiệp dân tộc”,
“quỳ gối đầu hàng nước ngoài" làm cho Trung Quốc đắm chìm trong lạc hậu,
bị các cường quốc xâu xé, chia cắt Do đó, để giải quyết vấn đề dân tộc, ngay
từ đầu thế kỷ XX, trong học thuyết Tam dân của mình, Tôn Trung Sơn đã đềxướng ra cương lĩnh cách mạng yêu nước - Chủ nghĩa Dân tộc với nội dung
cụ thể là “đánh đuổi giặc Thát, khôi phục Trung Hoa”.
Trang 27Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa đó của Tôn Trung Sơn phát sinh trong điềukiện xã hội Trung Quốc bị chủ nghĩa đế quốc xâm lược và ách áp bức gia tộc
dã man của bọn thống trị Thanh triều Nó phản ảnh yêu cầu cách mạng dântộc của nhân dân toàn quốc chống lại chính quyền nhà Thanh, chống lại chủnghĩa đế quốc xâm lược Cương lĩnh ông đưa ra trong giai đoạn này được
hoàn thiện hơn là: “Đánh đuổi Mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa, thành lập
chính phủ hợp chủng”.
Qua cương lĩnh này ta thấy rằng, Tôn Trung Sơn đã nhận định đượcnguy cơ dân tộc Trung Hoa, sự suy yếu, lạc hậu của đất nước, cảnh lầm thanđói khổ của nhân dân đều bắt nguồn từ sự bất tài, hèn nhát của triều Thanh.Xuất phát từ lập trường cách mạng dân tộc, Tôn Trung Sơn cũng kiên quyếtchống lại những luận điệu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, tức là chủ nghĩathế giới Đồng thời, ông còn phê phán quan điểm dân tộc hẹp hòi Ông chorằng, chủ nghĩa Dân tộc không phải là gặp người chủng tộc khác liền bài xích
họ Ông chủ trương mọi dân tộc đều bình đẳng, chống áp bức dân tộc và thùhằn dân tộc Sau cuộc cách mạng Tân Hợi (1911), chính quyền phong kiếnnhà Thanh bị lật đổ, yêu cầu chính trị của cuộc cách mạng dân chủ dân tộc vềhình thức chính trị đã hoàn thành Lúc ấy trong cuơng lĩnh của mình, TônTrung Sơn đã đề ra yêu cầu mới về đoàn kết dân tộc, chủ trương các dân tộctrong nước đều nhất loạt bình đẳng về quyền lợi chính trị, không được có bất
kỳ sự kỳ thị nào Ông chĩa thẳng mũi nhọn của chủ nghĩa dân tộc vào bọn
xâm lược nước ngoài, trong cuộc nói chuyện ở “Hội cải lương chính trị thống
nhất Mông, Tạng”.
Bên cạnh đó, Tôn Trung Sơn chủ trương đoàn kết dân tộc nhưngcũng chưa hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa đại Hán tộc Tuyrằng, nó còn rất nhiều những hạn chế nhưng đã có sự tiến bộ hơn ở giai đoạnsau Nó đã phản ánh tư tưởng của nhân dân toàn quốc lúc bấy giờ đòi hỏi giảiphóng dân tộc và độc lập dân tộc, có tác dụng kêu gọi nhân dân đấu tranhgiành tự do cho Tổ quốc và giành độc lập dân tộc
Trang 281.2.2 Chủ nghĩa dân quyền
Chủ nghĩa dân quyền là vấn đề thứ hai mà Tôn Trung Sơn đề cập đếntrong học thuyết cách mạng của mình Nó có liên hệ chặt chẽ với chủ nghĩa
Dân tộc Ông nêu ra chủ nghĩa Dân quyền với khẩu hiệu dân quyền tự do và
kiến lập dân quốc.
Để hình thành tư tưởng dân quyền, Tôn Trung Sơn đã bỏ rất nhiềucông sức đi khảo sát lịch sử dân quyền ở các nước phương Tây cũng nhưtrong lịch sử Trung Quốc Ông biết được rằng nó có mầm mống cách đây hơn
2000 năm, tuy nhiên chỉ trong vòng 200 năm gân đây nó mới được xác lậpmột cách vững vàng Trước đó là thời đại quân quyền và trước quân quyền làthần quyền Còn ở Trung Quốc, kể từ khi có lịch sử cho đến thời kỳ cận đại,Trung Quốc chưa hề thực hiện chế độ dân quyền mà đều áp dụng chế độ quânquyền Chế độ này tồn tại ở Trung Quốc hàng nghìn năm mà không hề thựchiện tự do, bình đẳng Và trước đây nhân dân Trung Quốc đã từng nghĩ tớidân quyền song họ không thể thực hiện được Cho tới khi Cách mạng TânHợi giành được thắng lợi (1911) thì Trung Quốc mới có điều kiện biến ước
mơ dân quyền thành hiện thực Và chính Tôn Trung Sơn là người đầu tiên đềxướng cách mạng chính trị để xóa bỏ chế độ quân chủ chuyên chế bất bìnhđẳng, thành lập một nước cộng hòa dân chủ theo kiểu Âu Mỹ
Ông đã vạch trần chế độ Mãn Thanh "không bình đẳng về quyền lợi và
đặc quyền”, thi hành chính sách “sưu cao thuế nặng” Theo ông, đó chính là
nguyên nhân làm Trung Quốc lụi bại, là chướng ngại lớn cản trở sự phát triểnkinh tế, văn hóa xã hội, tước đoạt quyền lợi của nhân dân Tôn Trung Sơn chủ
trương thiết lập một chính thể cộng hòa lấy tự do, bình đẳng, bác ái làm tinh
thần nhất quán Đây là tư tưởng tiến bộ của ông Chủ nghĩa Dân quyền củaông vượt lên khỏi vòng luẩn quẩn tồn tại cố hữu trong xã hội phong kiếnTrung Quốc truyền thống: tiêu diệt một triều đại này để tôn vinh một triều đạikhác Điều này có ý nghĩa lịch sử lớn và tạo bước ngoặt quan trọng trong đờisống tư tưởng của nhân dân Trung Quốc thời kỳ đó
Trang 29Tuy nhiên, để tránh “hậu quả xấu"của nền văn minh phương Tây, Tôn Trung Sơn đã đưa ra quan điểm xây dựng Hiến pháp Ngũ quyền gồm: quyền
lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp, quyền khảo thí, quyền giám sát.
Ngoài những quyền quy định cho bộ máy lãnh đạo ra, nhân dân cũng có bốn
quyền cơ bản: quyền tuyển cử, quyền bãi miễn, quyền sáng chế, quyền phúc
quyết Dùng bốn quyền này của dân để quản lý năm trị quyền của nhà nước
thì sẽ có một nền chính trị dân quyền hoàn hảo Ông không bàn suông về
bình đẳng, tự do Ông nói: “Có dân quyền thì mới có bình đẳng tự do, nếu
không có dân quyền thì bình đẳng tự do chỉ là từ trống rỗng"[30, tr 33] Qua
đó, chúng ta thấy chủ nghĩa Dân quyền của Tôn Trung Sơn đã bao hàm nhữngtinh túy của cách mạng dân chủ, mà chỗ vĩ đại nhất ông đã vượt qua được làkhẩu hiệu cũ kỹ trước đây chỉ xoay quanh quỹ đạo của chế độ phong kiến như
“diệt Thanh phục Minh" để đề ra khẩu hiệu “dân quyền tự do” Tôn Trung
Sơn cũng đã chủ trương dân quyền là của chung nhân dân, không để thiểu số
tư sản làm của riêng, tất cả các cá nhân và đoàn thể chống đế quốc, chốngphong kiến đều được hưởng quyền dân chủ Đặc biệt chủ nghĩa Dân quyềncủa Quốc Dân đảng là của chung tầng lớp bình dân, chứ không phải là cái đểcho ít người dùng làm công cụ mưu lợi riêng
Chủ nghĩa Dân quyền càng về giai đoạn sau càng mang nhiều nộidung tiến bộ hơn Nó đã mở rộng quyền tự do dân chủ trong nhiều lĩnh vựccho đông đảo quần chúng nhân dân Nó muốn đưa người dân lao động từ địa
vị những kẻ “hậu tri hậu giác" chỉ biết tuân thủ sự lãnh đạo của lớp người
“tiên tri tiên giác"trở thành lực lượng nắm giữ quyền lực trong tay
Những tư tưởng tự do, dân chủ do ông đề xướng đã phần nào cống
hiến cho sự nghiệp giải phóng con người khỏi những lệ thuộc bất bình đẳng
1.2.3 Chủ nghĩa dân sinh
Chủ nghĩa dân sinh là vấn đề thứ ba Tôn Trung Sơn đề cập tới, và làmục tiêu mà chủ nghĩa Dân tộc, chủ nghĩa Dân quyền không ngừng tiến tới.Chủ nghĩa Dân sinh được Tôn Trung Sơn đánh giá ngang hàng với cuộc cách
Trang 30mạng xã hội Ông cho rằng, chủ nghĩa Dân sinh là giai đoạn cuối cùng củacuộc cách mạng xã hội.
Dân sinh vốn là tư tưởng truyền thống của nhân dân Trung Quốc.Trong bài giảng đầu tiên về Chủ nghĩa Dân sinh (3/8/1924), ông đã định
nghĩa một cách cụ thể như sau: “Dân sinh là đời sống của nhân dân, sinh tồn
của xã hội, sinh kế của quốc dân, sinh mệnh của quần chúng"[7, tr 80] Tôn
Trung Sơn cho rằng, bằng những lý luận đề ra trong chủ nghĩa Dân sinh thì cóthể đấu tranh xóa bỏ sự bất bình đẳng về kinh tế, đem lại sự ấm no cho nhândân, làm cho đất nước trở nên hùng mạnh
Trong giai đoạn đầu, nội dung chính của chủ nghĩa Dân sinh là tìm racon đường xóa bỏ sự nghèo đói, đảm bảo đời sống ấm no cho nhân dân Do
đó, Tôn Trung Sơn đã đề xướng việc cải cách ruộng đất theo khẩu hiệu "bình
quân địa quyền" Ông mong muốn trên cơ sở bình quân ruộng đất sẽ làm cho
“nhà nhà mọi người đều ấm no, đất nước không có người nào không có củacải"như cương lĩnh của phong trào Thái Bình Thiên Quốc
Cho tới năm 1911, cách mạng Tân Hợi bùng nổ và đã giành thắng lợi
tơ lớn Ngày 1/1/1912, Chính phủ Trung Quốc ra đời, đánh dấu một bướcngoặt quan trọng của lịch sử Trung Quốc Đế chế phong kiến chuyên chếthống trị Trung Quốc mấy ngàn năm hoàn toàn sụp đổ Tôn Trung Sơn nhậnđịnh rằng: vấn đề dân tộc và dân quyền về cơ bản đã hoàn thành, nhiệm vụ cụthể lúc này của cách mạng Trung Hoa là tập trung giải quyết vấn đề dân sinh Chủ nghĩa Dân sinh trong giai đoạn mới được trình bày một cách cụthể và khoa học hơn Bên cạnh những lý luận mới về Chủ nghĩa Dân sinh,Tôn Trung Sơn còn bổ sung những phương pháp nhằm thực thi Chủ nghĩaDân sinh Trước đó, vấn đề dân sinh chỉ được nhìn nhận qua cuộc cải cách
ruộng đất theo nguyên tắc "bình quân địa quyền" Mà cuộc cải cách ruộng đất
này lại không xuất phát từ việc giải quyết vấn đề đời sống của nhân dân, xóa
bỏ nghèo nàn lạc hậu mà xuất phát từ động cơ chạy trống những “hậu quả tệ
hại" nảy sinh trong xã hội tư bản mà thôi Song, sau Cách mạng Tân Hợi, nội
Trang 31dung của chủ nghĩa Dân sinh đã được bổ sung khá đầy đủ với nội dung là giảiquyết vấn đề sinh kế và sinh mệnh của nhân dân Ông cho rằng, trong xã hộivăn minh ngày nay, vấn đề dân sinh có vai trò đặc biệt quan trọng Ông đánh
giá: "Ngày nay vấn đề dân sinh đã trở thành trào lưu của các nước trên thế
giới ( ) Có thể nói, chủ nghĩa Dân sinh là chủ đề bản chất của chủ nghĩa xã hội" [32, tr 320] Hơn thế ông còn khẳng định: "Dân sinh là trọng tâm của tiến hóa xã hội, tiến hóa xã hội là trọng tâm của lịch sử” Điều đặc biệt, Chủ
nghĩa Dân sinh trong giai đoạn mới có nhiều điểm tiến bộ rõ rệt so với trước
đây Nó đã phác họa ra một chiến lược phát triển kinh tế khá quy mô Bình
quân địa quyền và tiết chế tư bản là con đường mà nền kinh tế Trung Quốc tất
yếu phải trải qua trong giai đoạn cách mạng dân chủ
*Cả ba vấn đề dân tộc, dân quyền, dân sinh đều được Tôn Trung Sơn
lần lượt đề cập đến trong chủ nghĩa Tam dân, và đều có ý nghĩa vô cũng tolớn trong tư tưởng của ông Song chủ nghĩa dân tộc đóng vai trò lớn lao trong
tư tưởng, và trong sự hình thành nên tư tưởng cách mạng của ông Vấn đề dântộc được ông xác định là một trong những vấn đề cực kỳ quan trọng trong lịch
sử Trung Quốc cận đại Nó phát huy vai trò đáng kể trong việc giải phóng vềchính trị và tư tưởng cho nhân dân Trung Quốc Và ông đặt vấn đề dân tộc lên
hàng đầu là bởi vì ông cho rằng, chỉ khi dân tộc được độc lập thì mới có "dân
quyền tự do" và "dân sinh hạnh phúc” Khi đất nước đứng trước nguy nan do
thế lực nhà Thanh gây ra trong nước, tạo điều kiện cho kẻ thù xâm lăng, khiếnđất nước càng lúc càng rơi vào tình cảnh đau thương hơn Lúc ấy ông nhậnthấy rằng, mình phải làm gì để đất nước thoát khỏi tình trạng ấy Chính làcuộc cách mạng dân tộc, cũng như tiến hành liên kết các hội đảng từ trong vàngoài nước lại với nhau để cùng đấu tranh, có như vậy mới tạo nên một sứcmạnh lớn để giải phóng dân tộc
Với tất cả những trình bày ở trên, chúng ta có thể thấy việc đưa ra lýluận chủ nghĩa Tam dân chính là sự bổ sung cho chỗ thiếu hụt của lý luận
xã hội Trung Quốc, là sự hòa hợp của các trào lưu tư tưởng chính trị trên
Trang 32thế giới Hơn thế nữa, với sự hủ bại của triều Mãn Thanh đã làm cho tìnhhình trong nước lúc ấy loạn lạc, lòng người căm phẫn, do những sự ảnhhưởng từ trong nước đó đã đưa ra kế hoạch thành lập các tổ chức cáchmạng bên ngoài nước để cùng góp sức vào đấu tranh và ông đã tiến hànhsáng lập ra tổ chức cách mạng Hưng Trung Hội, đến tháng 10/1895 bắt đầuphát động cuộc khởi nghĩa đầu tiên ở Quảng Châu, nhưng vì kế hoạch bại
lộ, từ đây buộc Tôn Trung Sơn phải bôn ba hải ngoại Cũng là những điềukiện trong nước kết hợp với các yếu tố bên ngoài đã đưa tới sự thành lậpcác tổ chức cách mạng rộng rãi ở các nước của Tôn Trung Sơn, nhất là ởmột số nước châu Á, nơi có những thuận lợi riêng và có nhiều nét tươngđồng với Trung Quốc như Nhật Bản, Việt Nam, Singapore
1.3 Bối cảnh quốc tế và trong nước dẫn đến sự ra đời của các tổ chức cách mạng ở một số nước châu Á do Tôn Trung Sơn thành lập
1.3.1 Bối cảnh quốc tế
Sự ra đời của chủ nghĩa thực dân hiện đại gắn liền với sự ra đời và bànhtrướng của chủ nghĩa tư bản phương Tây Ở châu Á, Anh chiếm Mã Lai, Ấn
Độ, Miến Điện; Pháp chiếm Đông Dương; Bồ Đào Nha chiếm Đông Timor
và Macao; Tây Ban Nha chiếm Philippines; Hà Lan chiếm Indonesia; Tháilan bị cả Anh và Pháp đe doạ; Trung Quốc sau chiến tranh thuốc phiện (1840-1842) buộc phải kí điều ước Nam Kinh với thực dân Anh, mở đầu quá trình
các nước đế quốc xâu xé “cái bánh ngọt khổng lồ” Trung Quốc và loại bỏ
nền độc lập của quốc gia phong kiến này
Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản Âu - Mĩ mở ranhiều cơ hội mới, thách thức và nguy cơ mới cho các nước phương Đông nóichung và khu vực Đông Á nói riêng để hội nhập và phát triển Đó là nguồn trithức khổng lồ về khoa học kĩ thuật, những giá trị văn hoá văn minh bất hủtrong lịch sử nhân loại như tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái, là con đườngphát triển và mô hình phát triển cận đại hoá với nhiều ưu việt, là phươngpháp, cách thức và nguồn lực phát triển để hợp lưu và tiến cùng thời đại, bởi
Trang 33lúc này “Triều sóng của thế giới đang cuồn cuộn chảy Thuận dòng thì sống,
ngược dòng thì chết”[11, tr.221] Thách thức và nguy cơ lớn nhất mà chủ
nghĩa tư bản mang lại đối với phương Đông là chủ nghĩa thực dân Trong suốtlịch sử hàng ngàn năm của mình chưa bao giờ các quốc gia này phải đối đầuvới một kẻ thù mới lạ, có sức mạnh hơn hẳn về vật chất, khoa học kĩ thuật, vũkhí và phương tiện chiến tranh như chủ nghĩa thực dân phương Tây Nhữngthời cơ, nguy cơ và thách thức đó đối với các nước Đông Á nửa đầu thế kỉXIX là tương đồng Tuy nhiên, muốn tận dụng thời cơ, hoá giải được nguy
cơ, chuyển nguy thành an, còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và điều kiện khácnhau Một trong những yếu tố và điều kiện quan trọng đó là tình hình kinh tếchính trị xã hội ở mỗi nước
Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa dân chủ trên phạm vi toàn thế giới ra
dương oai trước để áp chế đối phương, không những Pháp, Mỹ, Anh,Đức đã xây dựng chính thể lập hiến, mà các quốc gia như Nga, Tây BanNha, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đang tiến hành cuộc đấu tranh chống lại chế độchuyên chế, giành dân chủ Về mặt tư tưởng chính trị, điều này thể hiện ở
tư tưởng “dân chủ ở dân" và chế độ cộng hòa nghị viện của giai cấp tư sản.
Giai cấp tư sản trong quá trình đấu tranh cách mạng đã đem lại cho tầnglớp trí thức tiên tiến sự cổ vũ về lý luận và khích lệ tinh thần lớn lao Họlấy vũ khí mà những người tiên phong phương Tây chống lại phong kiến đểtiến hành đấu tranh cách mạng
Cùng với sự trưởng thành của chế độ tư bản chủ nghĩa, giai cấp vôsản trên thế giới cũng trưởng thành và dần lớn mạnh hơn Năm 1848,
‘Tuyên ngôn Đảng Cộng sản" đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa Mác
-Lênin Việc thành lập quốc tế thứ nhất và phong trào chủ nghĩa cộng sảnphát triển mạnh mẽ đã hình thành nên một luồng gió mới, tấn công vào chế
độ tư bản Song điểm tiêu cực của xã hội tư bản phương Tây là: không thểđiều hóa quan hệ lao động,công nhân chịu áp bức bóc lột, sự bất bình đẳngrất lớn về kinh tế.v.v Điều đó đã nói lên rằng, đi theo con đường cũ của
Trang 34chủ nghĩa tư bản không thể lên được “vườn địa đàng” Vậy thì cảnh giới lý
tưởng rút cuộc lại là ở đâu? Và làm thế nào để tới được đó?
Tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của các nước Đông Á, màở đấy là Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Singapore cuối thế kỷ XIX, đầu
XX vừa có điểm tương đồng vừa có điều dị biệt Về điểm tương đồng: Đều lànhững nước có chế độ quân chủ phong kiến Nền kinh tế nông nghiệp mangtính tự cung tự cấp, lạc hậu Là những nước có truyền thống văn hoá lâu đời.Đạo Phật có ý nghĩa quan trọng trong tín ngưỡng của người dân Việc họcđược coi trọng và đề cao.Về điểm khác biệt: Nếu ở Trung Quốc, Việt Namthể chế chính trị là chế độ phong kiến tập quyền thì ở Nhật Bản chế độ phongkiến phân quyền theo kiểu lưỡng đầu chế Mạc phủ - Thiên Hoàng(song trùng)
đã được thiết lập từ thế kỉ XVII Việt Nam có sự ổn định chính trị muộn hơn
so với ba nước còn lại Nền kinh tế của Nhật Bản và Thái Lan mang tính sảnxuất hàng hoá rõ rệt Đặc biệt, thành thị và thương nhân của hai nước này kháphát triển Điều đó không chỉ thúc đẩy sản xuất công thương nghiệp và nôngnghiệp đi lên, mà còn tạo điều kiện ươm mầm lực lượng và quan hệ sản xuấtmới, tư tưởng mới, tạo tiền đề để phong trào cải cách xuất hiện Sự phát triểncủa giáo dục theo hướng cách tân cả về nội dung, hình thức, phương pháp đãlàm biến đổi mục đích học tập truyền thống(ngoài học để làm quan còn là học
để làm giàu, để tìm cách xây dựng đất nước giàu mạnh tiến kịp phươg Tây),tạo ra sức mạnh tinh thần cho xã hội, từng bước đào tạo ra một thế hệ mới chủtrì cải cách, là lực lượng tham gia và ủng hộ cải cách và đưa cải cách đếnthành công Lợi thế và khác biệt này chỉ có ở Nhật Bản còn ở Trung Quốc -cái nôi của Nho giáo và Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nhogiáo có chăng chỉ thuần tuý ở góc độ học thuật đơn lẻ mà thôi
Singapore là một hòn đảo nhỏ Khu định cư đầu tiên được biết đến tạiSingapore là một tiền đồn của đế quốc Srivijaya có tên là Temasek ("hảitrấn") Hòn đảo vẫn là một phần của Đế quốc Srivijaya khi Hoàng
đế Rajendra Chola I của Đế quốc Chola tại Nam Ấn xâm chiếm nó vào thế kỷ
Trang 3511 Năm 1613, những hải tặc người Bồ Đào Nha đốt khu định cư và hòn đảochìm trong tăm tối vào hai thế kỷ sau đó Năm 1819, chính khách người AnhQuốc Thomas Stamford Raffles đến và thay mặt Công ty Đông Ấn Anh để kýkết một hiệp định với Quốc vương Hussein Shah của Vương quốc Johor nhằmphát triển phần phía nam của Singapore thành một trạm mậu dịch của Đếquốc Anh Năm 1824, nước Anh có quyền sở hữu đối với toàn bộ đảo theomột hiệp định khác với nhà cầm quyền Nam Mã Lai Năm 1826, Singaporetrở thành một phần của Các khu định cư Eo biển, thuộc phạm vi quyền hạncủa Ấn Độ thuộc Anh, rồi trở thành thủ đô của lãnh thổ vào năm 1836 Trướckhi Raffles đến, có xấp xỉ 1.000 người sống trên đảo, hầu hết là người Mã Laibản địa cùng với một số người Hoa Năm 1860, dân số vượt quá 80.000 vàhơn một nửa là người Hoa Nhiều người nhập cư đến để làm việc trong cácđồn điền cao su, và sau thập niên 1870 thì đảo trở thành một trung tâm xuấtkhẩu cao su toàn cầu [56]
1.3.2 Tình hình trong nước (Trung Quốc)
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu XX, xã hội Trung Quốc có nhiều biến độngphức tạp Chính quyền phong kiến Mãn Thanh thối nát, bất lực trước sự tấncông của chủ nghĩa tư bản phương Tây Trung Quốc không những phải mởcửa mà còn phải cắt đất và bồi thường chiến phí cho các nước đế quốc Đất
nước Trung Quốc bị “chia năm xẻ bảy” Sự thất bại của cuộc chiến tranh
Trung - Nhật(1894-1895) đã buộc chính phủ Mãn Thanh phải ký điều ước
Mã Quan, công nhận cho các nước đế quốc được xây dựng cong xưởng,đường sắt, được quyền khai mỏ ở Trung Quốc, tranh giành phạm vi thế lựckhiến cho Trung Quốc phải đối diện với nguy cơ mất nước nghiêm trọng.Sau thất bại của phong trào nông dân Nghĩa Hòa Đoàn năm 1900, triều đìnhMãn Thanh lại ký hiệp ước Tân Sửu, tạo điều kiện cho các nước đế quốc tăngcường xâm lược Trung Quốc.Từ đó, Thanh triều biến thành tay sai cho chủnghĩa đế quốc.Thái độ phản động của nhà Thanh khiến nhân dân Trung Quốc
vô cùng căm phẫn, thấy rằng muốn cứu đất nước thì không còn con đường
Trang 36nào khác ngoài lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế mục ruỗng đã từ lâukhông còn đủ khả năng đảm nhiệm vai trò lịch sử.
Từ năm 1840 trở đi, các nước đế quốc tích cực phát động chiến tranh
xâm lược Trung Quốc, một thị trường hấp dẫn với nhiều ưu điểm và diện tích,dân số và tài nguyên Cùng với những hoạt động về quân sự, chính trị, kinh
tế, các hoạt động xâm nhập về văn hóa, giáo dục, y tế cũng từng bước đượccác nước thực dân ra sức thực hiện
Trong khi đó, giai cấp thống trị Mãn Thanh vì mục đích bảo vệ vươngquyền đã thi hành chính sách đối nội và đối ngoại hết sức phản động Đấtnước Trung Quốc chìm đắm trong tăm tối một mặt chịu sự khống chế của chủnghĩa thực dân, mặt khác chịu sự thống trị của chủ nghĩa phong kiến
Với những chính sách nô dịch của chủ nghĩa đế quốc và sự mục nát,thối rữa của triều đình Mãn Thanh đẩy đất nước Trung Quốc đến một hệ quảtất yếu khó tránh khỏi, dân tộc rơi vào tình trạng nguy nan Những điều đólàm cho nhân dân Trung Quốc vô cùng căm phẫn, lòng yêu nước của cả dântộc đã bị kích động mạnh mẽ Họ thấy rằng mình phái đứng lên đấu tranh, vàđặc biệt nhận thấy rằng muốn cứu đất nước không còn con đường nào khác
mà trước hết phải tấn công vào đúng chế độ quân chủ chuyên chế Mãn Thanh
từ lâu đã không còn đủ khả năng đảm nhận vai trò lịch sử Do đó các hoạtđộng hàng loạt các phong trào yêu nước của các giai tầng xã hội khác nhau đãdiễn ra Tiêu biểu: Khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc(1851 - 1864),phong trào Dương Vụ, cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi và LươngKhải Siêu
Có thể nói, ở thời điểm này, cuộc đấu tranh giữa tư tưởng cũ và mớidiễn ra rất quyết liệt Chính hiện thực xã hội đã tạo ra những biến đổi mạnh
mẽ trong tâm thức người Trung Quốc Từ chỗ tự mãn về mình họ đi đến biquan Kết quả là trong xã hội Trung Quốc xuất hiện một trào lưu lớn tôn Tây,sùng mới, chấp nhận thua kém và thấy cần phải học tập phương Tây để pháttriển Từ đó khẳng định được rằng các phong trào này là một trong những
Trang 37bước tiến, những bước thử nghiệm vô cùng quan trọng và cũng rất táo bạotrong việc giải quyết vấn đề độc lập của Trung Quốc trong thời kỳ cận đại.Tuy nhiên, cả ba phong trào nói trên đều đi đến kết quả là phá sản do nhiềunguyên nhân khác nhau, song xét đến cùng chính là chưa tìm ra được một hệ
tư tưởng thực sự phù hợp với bối cảnh lịch sử lúc đó để cải biến xã hội TrungQuốc Bởi vì thế việc cần xây dựng một hệ thống lý luận cách mạng tiến bộchỉ đạo cuộc đấu tranh độc lập dân tộc ở Trung Quốc là một đòi hỏi tất yếucủa lịch sử
Sau cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất(1840-1864) nổ ra, xãhội cận đại Trung Quốc chính thức bước vào thời kỳ cận đại phương Tây
và nguy cơ dân tộc đến cùng một lúc Trung Quốc lúc này đứng trước hai
sự lựa chọn: một là bị nhấn chìm, diệt vong; hai là tự phấn đấu, tự cường.Trước tình hình đó, làn sóng khởi nghĩa nông dân đã dâng lên thành caotrào ở Trung Quốc Mở đầu với phong trào khởi nghĩa nông dân Thái BìnhThiên Quốc(1851 -1864) Cuộc khởi nghĩa này là hệ quả tất yếu nảy sinh từchính sách nô dịch tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc thực dân và sựu mụcruỗng của triều đình phong kiến Mãn Thanh Dưới sự lãnh đạo của Hồng
Tú Toàn - một lãnh tụ của phong trào nông dân, cuộc khởi nghĩa Thái BìnhThiên Quốc nổ ra và kéo dài trong 14 năm với khí thế cách mạng sôi nổi,lan rộng khắp 18 tỉnh trong cả nước Đây cũng chính là phong trào khởinghĩa nông dân lớn nhất từ trước đến nay ở Trung Quốc
Đến năm 1853, sau khi giành được thắng lợi, tiến vào Nam Kinhxây dựng chính quyền, những người lãnh đạo Thái Bình Thiên Quốc đãthiết lập một chế độ nhà nước mới vào một loạt cương lĩnh tiến bộ về chínhtrị, kinh tế, văn hóa mà trong đó, có ý nghĩa quan trọng nhất là chế độ
ruộng đất Thiên triều Song cuối cùng, phong trào nông dân có tình chất
tiến bộ của Hồng Tú Toàn bị thất bại, nguyên nhân lớn nhất là do phongtrào chưa thực sự đủ lớn mạnh để giải quyết triệt để vấn đề cấp bách trong
xã hội Trung Quốc thời kỳ cần đại Đó chính là vấn đề dân sinh
Trang 38Tiếp sau phong trào khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên Quốc, từnhững năm 60 đến những năm 90 của thế kỷ XIX, một trào lưu mới củatầng lớp quan lại Trung Quốc nhận thức được vấn đề Trung Quốc cần phảihọc tập phương Tây, xây dựng công nghiệp để phú quốc cường binh ra đờinhư một cứu cánh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Đó chính là phong
trào Dương Vụ Phái Dương Vụ đã đề xuất ra hệ thống tư tưởng "Trung học
vi thể, Tây học vi dụng" với mục đích canh tân đất nước, hy vọng có thể làm
cho “phú quốc cường binh” Họ những tưởng rằng, cái chủ thể là xã hội
phong kiến có thể tiếp xúc được với những kỹ thuật mới của chủ nghĩa tưbản mà đâu ngờ được rằng, quân đội của hạm đội Bắc Dương lại bị thất bạihoàn toàn tại eo biển Bắc Hải trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật(1894 -1895) Tiếp sau phái Dương Vụ là phong trào Duy Tân Mậu Tuất (1898),song vẫn rơi vào thất bại bởi chưa thực sự nhìn nhận được nguyên nhânlàm cho Trung Quốc nghèo đói và lạc hậu, xa rời lực lượng quần chúng,không bắt nguồn từ thực tế đời sống xã hội
Tuy những cuộc khởi nghĩa này có thành công và có thất bại song ítnhiều đã làm cho người dân dần thức tỉnh và cũng có những mở mang hơn
về những hạn chế của dân tộc mình, có những nhận thức mới có tác dụngđẩy nền kinh tế xã hội Trung Quốc phát triển đi lên
Đồng thời, với những hạn chế, sự bóc lột, hành vi chuyên chế, mụcnát của nhà Thanh càng biểu hiện rõ thì càng giúp những người trí thứcnhận thức được rõ hơn điều mình cần phải làm vào lúc bấy giờ là quyết tâmđấu tranh chống lại chính quyền Mãn Thanh, tiến hành các hoạt động cáchmạng Ngay trong cuộc chiến tranh Giáp Ngọ(1894) đã đề cập ở trên giữaTrung Quốc và Nhật Bản đang tiếp diễn với kết quả bất lợi cho TrungQuốc, triều đình vẫn tiến hành đại lễ chúc thọ xa hoa cho Từ Hi Thái Hậu,tiêu tốn 2 triệu 19 vạn lạng bạc [29, tr 90] Điều này chứng tỏ một chínhquyền hủ bại, lòng người căm phẫn
Trang 39Đứng trước tình hình trong nước, người dân bị những chính sách tànđộc, chịu đau thương dưới chính quyền Mãn Thanh lúc bấy giờ Một ngườicon yêu nước là Tôn Trung Sơn đã quyết tâm đứng lên để đấu tranh, kêugọi, liên kết mọi tầng lớp trong xã hội Trung Quốc lúc ấy, cũng như liênkết với bộ phận bên ngoài cùng góp sức vào công cuộc đấu tranh bảo vệdân tộc trước sự áp bức của Triều đình Mãn Thanh
Năm 1900, phong trào nông dân Nghĩa Hòa Đoàn bùng nổ, Chínhphủ Mãn Thanh lợi dụng nó nhằm thực hiện hành vi bài ngoại, dẫn đến taihọa liên quân tám nước tấn công Bắc Kinh Nhà vua chạy trốn, triều đìnhphải bồi thường chiến phí, uy tín của nhà Thanh không còn, cuộc sốngnhân dân vốn khó khăn nay lại càng cùng cực hơn nữa Trước tình thế đó,Tôn Trung Sơn cư người phát động khởi nghĩa, tuy khởi nghĩa thật bạinhưng cũng đã làm người dân trong nước dần thoát khỏi cơn mê Sau đó,nhận thấy phái Cải lương vẫn kiên trì với đường lối Bảo hoàng, ra sức phảnđối cách mạng, đó là một mối nguy hại, từ sau khởi nghĩa Huệ Châu, TônTrung Sơn đã triển khai luận chiến, đấu tranh nhằm loại bỏ ảnh hưởng củaphái Cải lương Trong quá trình ấy, ông tiến hành thành lập các đoàn thếcách mạng ở một số nước
Với những biến động trong nước, tình hình lúc này đã trở thànhnhững yếu tố quan trọng dẫn tới sự hình thành nên các tổ chức cách mạng ởtrong nước cũng như ở các nước khác như Nhật Bản, Việt Nam, Singapore
Trang 40
* Tiểu kết chương 1.
Với những hiểu biết của mình thì tôi thấy rằng Tôn Trung Sơn là mộtcon người đầy nhiệt huyết, tinh thần yêu nước và đấu tranh cao, là lãnh tụphong trào cách mạng dân chủ tư sản, suốt một đời vì sự nghiệp đấu tranhgiai phóng hòa bình, tự do, dân chủ cho nhân dân Trung Quốc Vốn sinh ra
và lớn lên trong thời buổi đất nước gặp nhiều rối ren, phức tạp, ông sớmnhận thức và nhìn thấy được nhiều bất công Cùng với thực tế đất nước lúcnày và với con mặt nhận thức sắc bén của mình, Tôn Trung Sơn đã xâydựng nên chủ nghĩa cứu nước, đưa đất nước sớm thoát ra khỏi những khókhăn lúc bấy giờ, nhằm tiến tới không những một địa vị quốc tế bình đẳng,
mà còn cả một địa vị chính trị bình đẳng, một địa vị kinh tế bình đẳng.Chính vì thế, dựa trên cơ sở đó, Tôn Trung Sơn xác định trong hoàn cảnhTrung Quốc lúc này, muốn cứu nước trước hết cần phải tập trung lực lượngcách mạng lật đổ chính quyền Mãn Thanh mục nát, xây dựng nhà nướccộng hòa Để thực hiện được kế hoạch này thì Tôn Trung Sơn đã sớm đặtchủ nghĩa dân tộc lên hàng đầu Cũng từ những tư tưởng này ông ra sứckêu gọi quần chúng nhân dân trong và ngoài nước cùng kết hợp tạo thànhmột khối thống nhất để đưa đến một sức mạnh đoàn kết, sức mạnh tổnghợp nhằm thực hiện cuộc lật đổ nhà Thanh Với những ý chí và nhận thứcông có được ông sớm bôn ba nhiều nước để nhằm kêu gọi cộng đồng ngườiHoa ở khắp các nước như Việt Nam, Nhật Bản, Singapore cùng chung tayđưa đất nước thoát khỏi tình trạng khó khăn Cũng bởi vậy, ông đã sớm cómặt ở các nước và đích thân mình đứng ra thành lập các tổ chức cách mạngkhông chỉ trong nước mà ở cả các nước bạn, nơi có cộng đồng người Hoa
cư trú sinh sống Đặc biệt trước tình hình thực tế của đất nước, nắm bắtđược những điều cần thiết lúc bấy giờ Tôn Trung Sơn nhanh chóng đưa ranhững hướng đi cho đất nước, ông tìm đến các nước bạn như Việt Nam,Nhật Bản, Singapore, nơi mà có những nét tương đồng với đất nước ông,
và có người dân nước mình sinh sống để tuyên truyền kêu gọi, thành lập