1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố vinh, tỉnh nghệ an

110 374 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 799,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quỹ này chỉ được sử dụng để chi trả các trợ cấp BHXH và cho các hoạt động về BHXH; Các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các sự kiện và các “rủi ro xã hội” được bảo hiểm và đủ điều

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG HỮU HẠNH

MỞ RỘNG SỰ THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG HỮU HẠNH

MỞ RỘNG SỰ THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 60.31.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

GS TS MAI NGỌC CƯỜNG

Trang 3

NGHỆ AN - 2015

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Mở rộng sự tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Vinh” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, các số liệu được sử dụng trong luận văn này được thu thập trung thực, có

cơ sở thực tế từ các cơ quan liên quan Các kết quả nghiên cứu chưa được ai công bố trong các công trình nghiên cứu khoa học

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Hữu Hạnh

Trang 5

đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc, khoa học của bản thân, nhưng do khả năng có hạn nên khó tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định Tôi rất mong sự đóng góp nhiệt tình của các Thầy Cô, độc giả quan tâm đến vấn đề này để luận văn của tôi hoàn thiện hơn nữa

Tôi xin chân thành cảm ơn !

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Hữu Hạnh

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG SỐ LIỆU viii

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tổng quan nghiên cứu về sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Ý nghĩa của đề tài 9

7 Kết cấu của luận văn 9

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ MỞ RỘNG SỰ THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 10

1.1 Chính sách bảo hiểm xã hội 10

1.1.1 Khái niệm và chức năng của bảo hiểm xã hội 10

1.1.2 Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội 16

1.1.3 Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội (theo Luật) ở Việt Nam 20

1.1.4 Vai trò của bảo hiểm xã hội trong hệ thống đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố .20

1.2 Nội dung và nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố 27

1 2.1 Nội dung của sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động trên địa bàn thành phố 27

1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố 30

1.3 Kinh nghiệm mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của một số địa phương và bài học kinh nghiệm cho thành phố vinh 38

1.3.1 Kinh nghiệm mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của một số địa phương 38

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Bảo hiểm xã hội thành phố Vinh 40

Trang 7

Kết luận chương 1 41 Chương 2

THỰC TRẠNG THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH 43 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến mở rộng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Vinh 43 2.1.1 Khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của TP Vinh 43 2.1.2 Tổ chức hành chính - kinh tế có liên quan đến tham gia bảo hiểm

xã hội bắt buộc 44 2.1.3 Hệ thống bảo hiểm xã hội trên địa bàn thành phố Vinh 47 2.2 Tình hình tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Vinh .51 2.2.1 Tình hình tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với khối các đơn

vị hành chính sự nghiệp, đảng, đoàn thể,… 51 2.2.2 Tình hình tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với khối doanh

nghiệp 52 2.2.3 Tình hình tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với các khu vực

khác 53 2.3 Đánh giá thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Vinh 54 2.3.1 Thành tựu và hạn chế trong tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của

người lao động trên địa bàn thành phố 54 2.3.2 Nguyên nhân hạn chế sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên

địa bàn thành phố 59 Kết luận chương 2 68 Chương 3

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG SỰ THAM GIA

BHXHBB TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH NHỮNG NĂM TỚI 69 3.1 Phương hướng mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Vinh những năm tới 69 3.1.1 Chủ trương về mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội của Đảng và

Nhà nước ta những năm tới 69 3.1.2 Bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội thành phố Vinh những năm tới

71

Trang 8

3.1.3 Dự báo sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành

phố Vinh những năm tới 74

3.2 Các giải pháp chủ yếu mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động trên địa bàn thành phố Vinh những năm tới 80

3.2.1 Giải pháp về tổ chức quản lý bảo hiểm xã hội và sự phối hợp giữa các tổ chức trong mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc 80 3.2.2 Giải pháp về tuyên truyền để nâng cao ý thức chấp hành luật bảo hiểm xã hội của các tổ chức, doanh nghiệp nơi mà người lao động làm việc 81

3.2.3 Giải pháp về tạo việc làm, nâng cao thu nhập và nhận thức của người dân trong tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc 84

3.2.4 Giải pháp về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát xử lý vi phạm chấp hành luật bảo hiểm xã hội bắt buộc 86

3.3 Một số kiến nghị 87

3.3.1 Đối với Nhà nước, tiếp tục hoàn thiện luật pháp và cơ chế về bảo hiểm xã hội 88

3.3.2 Đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 90

3.3.3 Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An 91

3.3.4 Đối với Bảo hiểm xã hội thành phố Vinh và Bảo hiểm xã hội tỉnh Nghệ An 92

Kết luận chương 3 93

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

LĐ, TB&XH Lao động - Thương binh và Xã hội

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG SỐ LIỆU

Trang

Sơ đồ :

Sơ đồ 1.1 Chu trình quỹ của một hệ thống BHXH (điển hình) 19

Bảng 2.1 Số lượng và lao động đang làm việc trong khu vực hành chính sự nghiệp, đảng đoàn thể 44

Bảng 2.2 Số doanh nghiệp đang hoạt động và lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp 45

Bảng 2.3 Số đơn vị đang hoạt động và lao động đang làm việc trong khu vực kinh tế xã hội khác 46

Bảng 2.4 Tình hình tham gia BHXHBB của khối hành chính, sự nghiệp, đảng đoàn thể 51

Bảng 2.5 Tình hình tham gia BHXHBB của khối doanh nghiệp 52

Bảng 2.6 Tình hình tham gia BHXH của khu vực kinh tế xã hội khác 53

Bảng 2.7 Tỷ lệ tham gia BHXHBB nói chung trên dịa bàn thành phố 55

Bảng 2.8 Tỷ lệ tham gia BHXHBB của khu vực hành chính sự nghiệp 56

Bảng 2.9 Tỷ lệ bao phủ BHXHBB đối với khu vực doanh nghiệp 57

Bảng 2.10 Tỷ lệ bao phủ BHXHBB đối với khu vực khác 58

Bảng 3.1 Dự báo tỷ lệ tham gia BHXHBB nói chung trên địa bàn thành phố đến năm 2020 75

Bảng 3.2 Dự tính tỷ lệ tham gia BHXHBB của khu vực hành chính sự nghiệp đến 2020 76

Bảng 3.3 Dự tính tỷ lệ tham gia BHXHBB đối với khu vực doanh nghiệp đến 2020 77

Bảng 3.4 Dự tính tỷ lệ tham gia BHXHBB đối với khu vực khác đến năm 2020 79

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

An sinh xã hội là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng hoặc tử vong An sinh xã hội cung cấp chăm sóc y tế và trợ giúp cho các gia đình có nạn nhân là trẻ em (ILO 1984)

An sinh xã hội có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới, nhằm thực hiện quyền cơ bản của con người, thực hiện bình đẳng và công bằng xã hội Trong hệ thống chính sách ASXH thì chính sách bảo hiểm xã hội luôn đóng vai trò trụ cột và phát triển nhất Đồng thời, bảo hiểm xã hội là nhân tố đảm bảo ổn định chính trị - xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam

Trong tiến trình phát triển đất nước, pháp luật BHXH của nước ta không ngừng được bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phù hợp với tiến trình hội nhập, ngày

26 tháng 09 năm 2006 Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 09 đã thông qua Luật BHXH, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2007, đây là cơ sở pháp lý vững chắc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia BHXH, nội dung của Luật thể hiện quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực BHXH Bản chất của BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH

Căn cứ Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ về việc thành lập BHXH Việt Nam và Quyết định số 16 QĐ/TC-CB ngày 15/06/1995

Trang 13

của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam về việc thành lập BHXH tỉnh và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của BHXH tỉnh, ngày 16/07/1995 Giám đốc BHXH Nghệ An đã ra quyết định số 02 QĐ/TC-CB về việc thành lập BHXH các huyện, thành phố, thị xã Theo đó, BHXH thành phố Vinh được thành lập… Qua gần 20 năm tổ chức hoạt động, với những thành tựu đạt được, BHXH thành phố Vinh đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách BHXH ở thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An, trong thời gian qua còn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót, đặc biệt trong công tác thực hiện chính sách BHXHBB trong khu vực kinh tế tư nhân, đã và đang đặt ra những vấn đề cần quan tâm giải quyết, đó là :

Thứ nhất, tỷ lệ tham gia BHXHBB trong khu vực kinh tế tư nhân hiện

còn quá thấp so với lao động thực tế làm việc thuộc diện tham gia BHXHBB, phản ánh sự bao phủ của chính sách BHXH còn hạn chế Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo vệ quyền lợi của người lao động và ảnh hưởng tới chủ trương chính sách đảm bảo ASXH của Đảng và Nhà nước

Thứ hai, công tác tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp

luật BHXH đối với người sử dụng lao động cố tình không đóng, đóng không đúng, không kịp thời, đóng không đầy đủ BHXH cho người lao động, vấn đề giải quyết nợ đọng BHXH đang là một trong những nhức nhối và chủ đề chính

sự hiện nay

Thứ ba, việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính, đổi mới trong phong

cách, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ BHXH thành phố Vinh và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác đang còn nhiều khó khăn

Những vấn đề nêu trên đang là những hạn chế không những của cơ quan BHXH thành phố Vinh mà còn là sự bức xúc chung của toàn ngành BHXH Với một nền kinh tế - văn hóa - xã hội đang trên con đường hội nhập, nếu

Trang 14

những mặt hạn chế nêu trên không được quan tâm khắc phục sẽ tác động xấu đến toàn bộ hoạt động chính sách BHXH trên địa bàn thành phố Vinh Những thách thức đối với hoạt động BHXH rất lớn, đó là sự biến động của đối tượng lao động tham gia BHXHBB ở khu vực kinh tế tư nhân trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệp hơn Điều đó đòi hỏi sự quan tâm từ các ngành các cấp và cần có giải pháp mang tính khoa học có cơ sở lý luận và thực tiễn, vì vậy việc nâng cao vai trò BHXH trong thực hiện chính sách ASXH có ý nghĩa hết sức sâu sắc

Chính vì lý do này, tôi chọn chủ đề ‘‘Mở rộng sự tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” làm luận văn thạc sĩ

2 Tổng quan nghiên cứu về sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Trong công trình nghiên cứu Mai Ngọc Cường, về an sinh xã hội của Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 do NXB Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội

xuất bản năm 2013, tác giả đã làm rõ những vấn đề về bảo hiểm xã hội bắt buộc như khái niệm, đối tượng, đánh giá tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc Qua nghiên cứu tác giả đã đánh giá một số thành tựu và hạn chế của Chính sách BHXH

Về thành tựu: Đối tượng tham gia BHXH ngày càng tăng Nếu năm

2007 có 7,4 triệu người tham gia, thì đến năm 2010 số người tham gia lên tới 9,47 triệu người so với 49 048 ngàn lao động từ 15 tuổi trở lên (TCTK, 2010),

tỷ lệ bao phủ BHXH là 19,3%; đối tượng tham gia BHXH không chỉ trong phạm vi bắt buộc mà còn mở rộng đến các đối tượng tự nguyện, tạo nên sự bình đẳng về BHXH đối với mọi người lao động ở các thành phần kinh tế Mặc dù mới thực hiện từ năm 2008 nhưng số người tham gia vào hình thức này cũng tăng lên Việc giải quyết chế độ chính sách thuận tiện cho người lao động; chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH đảm bảo đầy đủ, an toàn đến từng người được hưởng đã góp phần quan trọng ổn định đời sống người lao

Trang 15

động và góp phần đảm bảo an sinh xã hội Cùng với tăng số đối tượng tham gia, số thu BHXH tăng nhanh, năm 2007, số thu BHXH đạt 14 474 tỷ đồng,

đến năm 2010 đã đạt 49 740 tỷ đồng (tăng hơn 2,4 lần so với năm 2007), đến hết

tháng 6 năm 2011 số thu đạt 29 324,7 tỷ đồng Kế hoạch thu BHXH cả năm 2011

là 59 243,8 tỷ đồng

Về hạn chế: Với tỷ lệ 19,3% số lao động từ 15 tuổi trở lên tham gia vào

năm 2010, tỷ lệ bao phủ của BHXH ở nước ta còn rất thấp, và chủ yếu mới có khu vực chính thức tham gia, dưới hình thức BHXHBB Tuy vậy, với hình thức này, vẫn còn nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa tham gia hoặc tham gia BHXH không đầy đủ, nhất là khu vực kinh tế tư nhân Điều đó vừa ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, vừa ảnh hưởng đến tình bền vững của Quỹ BHXH Việc thực thi chính sách BHXHTN vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn Phạm vi bao phủ hầu như còn chưa đáng kể Nếu so với chính sách BHTN, thì

sự phát triển của BHXHTN coi như không thành công cho đến thời điểm này Đối với BHXHBB, một trong những khó khăn chủ yếu hiện nay như nhận định của các nhà quản lý BHXH Việt Nam, là theo các quy định hiện hành quyền lợi được hưởng của người tham gia nhiều hơn nghĩa vụ đóng góp Điều này đe dọa cho sự bền vững của Quỹ BHXH

Hay nghiên cứu của Hoàng Xuân Sinh - Đại Học Duy Tân “Giải pháp nâng cao bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” đã nêu rõ Vai trò và vị trí của BHXH

trong các chính sách an sinh xã hội có ý nghĩa quan trọng, nên muốn thực hiện các biện pháp, chính sách ASXH để đạt được kết quả tốt cần có những giải pháp đồng bộ đối với hệ thống BHXH Bên cạnh đó các hợp phần khác của ASXH cũng phải được chú trọng, tuy nhiên nên dành trọng tâm cho việc phát triển và hoàn thiện hệ thống, chính sách BHXH, bởi BHXH mới là bộ phận chủ đạo, có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong vấn đề đảm bảo ASXH cũng như

để tạo động lực phát triển các bộ phận khác trong hệ thống an sinh xã hội Cải

Trang 16

thiện một số các chính sách, Luật BHXH: Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp

luật trên hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi, hệ thống hoá các văn bản pháp luật hiện

có trên cơ sở kế thừa và phát triển chính sách BHXH hiện hành, xem xét điều kiện kinh tế - xã hội và tham khảo kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới Cần đảm bảo tính đồng bộ giữa các chế độ ASXH, tránh chồng chéo, mâu thuẫn, đảm bảo mọi người dân đều có quyền được hưởng Xây dựng chiến lược phát triển BHXH, mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, đặc biệt là đối tượng làm công ăn lương trong khu vực doanh nghiệp tư nhân

để đạt khoảng 90% đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc vào năm

2015 Việc thu BHXH bắt buộc phải được thực hiện đúng quy định của pháp luật, đảm bảo thu đúng, thu đủ; chống thất thu, nợ đọng để đảm bảo quyền lợi người lao động và đảm bảo khả năng cân đối Quỹ BHXH trong tương lai

Nâng cao hiệu quả công tác thực hiện BHXH và nâng cao nguồn quỹ BHXH Giải pháp khắc phục tình trạng nợ đọng và chậm đóng BHXH

Nghiên cứu của Mạc Văn Tiến “Vai trò của BHXH trong hệ thống an sinh xã hội” đã nêu rõ: BHXH là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH, là

trụ cột cơ bản của ASXH Có thể nói, không có BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh BHXH có những điểm cơ bản là: Dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm; Đòi hỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp BHXH để tạo nên một quỹ chung Quỹ này chỉ được sử dụng để chi trả các trợ cấp BHXH và cho các hoạt động về BHXH; Các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các sự kiện và các “rủi ro xã hội” được bảo hiểm và đủ điều kiện để hưởng theo quy định; Chi phí cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH; Nguồn quỹ được hình thành chủ yếu từ các mức đóng góp của người tham gia, thường là sự chia sẻ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, với một phần hỗ trợ của Nhà nước và các nguồn khác như tiền phạt đối với chủ lao động chậm nộp BHXH, tiền sinh lời từ hoạt

Trang 17

động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH và các khoản thu khác có liên quan; Đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ đối với những hệ thống mới hình thành; Phần chưa sử dụng đến của Quỹ được đầu tư để kiếm lợi nhuận theo quy định của pháp luật BHXH; Các chế độ được bảo đảm trên cơ

sở các hồ sơ đóng góp không liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH; Các mức đóng góp và mức hưởng tỷ lệ với thu nhập hoặc tiền lương của người lao động

Trong công trình Vai trò của nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân ở

Việt Nam Phan Thị Kim Oanh (2013) đã lựa chọn một số nội dung liên quan

trực tiếp đến vai trò của Nhà nước trong xây dựng hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách; tổ chức phối hợp thực hiện chính sách ASXH với các chính sách kinh tế - xã hội khác; tổ chức quản lý, kiểm tra, giám sát nhằm thiết lập và tạo các điều kiện thực thi của hệ thống ASXH đối với nông dân Điều này thể hiện

rõ bản chất, chức năng, vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước về ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Tác giả chỉ

rõ 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của nhà nước về ASXH đối với nông dân là: 1) Quan điểm của nhà nước về ASXH đối với nông dân; 2) Khả năng tài chính của nhà nước và thu nhập của nông dân; 3) Năng lực hệ thống quản lý ASXH đối với nông dân và 4) Nhận thức xã hội về ASXH đối với nông dân Tác giả khẳng định mức độ bao phủ và mức độ tác động của an sinh là kết quả việc thực hiện vai trò của nhà nước về ASXH đối với nông dân

Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã phân tích rõ thực trạng, làm rõ

những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế và khuyến nghị các giải pháp tăng cường vai trò của nhà nước về ASXH đối với nông dân Việt Nam những năm tới, trong đó bốn khuyến nghị nổi bật là: 1) Để phát triển BHXHTN, một mặt, Nhà nước cần thay đổi quy định về căn cứ đóng BHXHTN, không nên theo tiền lương tối thiểu mà nên theo mức thu nhập bình quân vùng; mặt khác

Trang 18

cần tăng chế độ hưởng để đảm bảo sự bình đẳng với BHXHBB 2) Để tiến tới BHYT toàn dân, Nhà nước cần hỗ trợ từ 60-80% phí đóng góp cho các đối tượng nông dân có thu nhập trung bình và cận nghèo tham gia BHYTTN 3) Tăng phạm vi bao phủ TGXHTX từ 1,65% dân số năm 2010 lên 3,0% vào năm 2015 và 5% vào năm 2020; nâng kinh phí TGXHTX từ NSNN từ 0,54% năm 2010 lên 1,12% năm 2015 và 2,45% năm 2020 Trong TGXHĐX, cần chú trọng cho trợ cấp đối với hộ gia đình nông dân thuộc nhóm dễ bị tổn thương 4) Về tổ chức hệ thống, Nhà nước cần nghiên cứu tách bộ phận theo dõi BHXHTN đối với nông dân và lao động khu vực phi chính thức nói chung thành một hệ thống thống nhất từ trung ương tới các xã

Trong công trình Về phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020 Mai Ngọc Cường (2013) xuất phát từ những hạn chế về mức độ bao

phủ và mức độ tác động của ASXH ở Việt Nam hiện nay, đã cho rằng để phát triển hệ thống ASXH đến năm 2020 cần phải đa dạng hóa hình thức BHXH cho người lao động khu vực phi chính thức và nông dân có cơ hội tham gia; chuyển căn cứ đóng BHXH từ chỗ dựa vào tiền công, tiền lương hiện nay sang dựa trên toàn bộ thu nhập của người tham gia; bổ sung thêm các chế độ bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm thai sản vào chế độ hưởng của BHXHTN; đồng thời khi nghỉ hưu, người đóng BHXHTN cũng được hưởng BHYT như người tham gia BHXHBB; nâng độ bao phủ trợ giúp xã hội đến năm 2020 khoảng 2,5-2,6% dân số; đồng thời nâng mức trợ giúp so với thu nhập bình quân chung xã hội từ 12,97% năm 2010 lên 20% năm 2015 và 25% năm 2020 Bài viết cũng làm rõ cần đa dạng hóa việc tổ chức quản lý ASXH, tăng cường phối hợp quản lý kinh tế - xã hội với quản lý ASXH; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác ASXH Đặc biệt là tăng thu nhập cho người dân để chủ động tham gia ASXH

Trang 19

Như vậy, các công trình nghiên cứu đã công bố đã đề cập đến khá đầy đủ lý thuyết cũng như thực tiễn về vấn đề BHXHBB Tuy nhiên, trên địa bàn mỗi tỉnh, thành phố do có những đặc trưng khác nhau về quy mô lao động, ngành nghề phát triển, việc mở rộng sự tham gia BHXHBB có những đặc điểm khác nhau Vì thế việc nghiên cứu chủ đề này cho từng địa phương, từng loại hình tổ chức doanh nghiệp vẫn là chủ đề mang tính lý luận và thực tiễn bức xúc

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích thực trạng sự tham gia BHXHBB trên địa bàn thành phố Vinh

và đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng sự tham gia BHXHBB trên địa bàn nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất: Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về sự tham gia và kinh

nghiệm thực tiễn về mở rộng sự tham gia của người lao động vào BHXHBB trên địa bàn thành phố Vinh

Thứ hai: Đánh giá thực trạng tham gia BHXHBB của người lao động trên địa

bàn thành phố Vinh, chỉ ra những vướng mắc và bất cập và nguyên nhân bất cập

Thứ ba: Khuyến nghị phương hướng và giải pháp nhằm mở rộng sự

tham gia của các đối tượng lao động trong các khu vực của nền kinh tế vào hệ thống BHXHBB trên địa bàn thành phố Vinh những năm tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Vinh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Chỉ nghiên cứu về mở rộng sự tham gia BHXHBB trên địa bàn thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An từ năm 2012 đến năm 2014, không đề cập đến đối tượng tham gia BHXH tự nguyện và đối tượng thuộc lực lượng công an, vũ trang nhân dân

Trang 20

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu số liệu thứ cấp, thu thập từ các công trình nghiên cứu có liên quan đã được công bố, từ các báo cáo về chính sách BHXHBB của tỉnh Nghệ An và thành phố Vinh, từ các tài liệu thống kê có liên quan đến tình hình thực hiện và kết quả của chính sách BHXHBB

6 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa về mặt khoa học

Luận văn góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực

tiễn của một số tỉnh, thành phố về chính sách BHXH và mở rộng bao phủ

- Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Phân tích, đánh giá thực trạng tham gia BHXHBB của người lao động tại khu vực kinh tế tư nhân Đánh giá chế độ BHXHBB được triển khai thực hiện trên địa bàn thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An trong thời gian 2012-2014 Trên cơ sở đó đánh giá được những thành tựu và hạn chế, bất cập tồn tại trong việc giải quyết các chế độ chính sách BHXHBB trên địa bàn thành phố Vinh

và nguyên nhân của những hạn chế đó Đồng thời, luận văn đã khuyến nghị mục tiêu, phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hơn

sự mở rộng tham gia BHXHBB trên địa bàn thành phố Vinh những năm tới Góp phần nâng cao vai trò của BHXHBB thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn thành phố Vinh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về mở rộng sự tham gia

bảo hiểm xã hội bắt buộc

Chương 2: Thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn

thành phố Vinh

Chương 3: Phương hướng và giải pháp mở rộng sự tham gia bảo hiểm

xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Vinh những năm tới

Trang 21

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA

VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ MỞ RỘNG SỰ THAM GIA

BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC

1.1 Chính sách bảo hiểm xã hội

1.1.1 Khái niệm và chức năng của bảo hiểm xã hội

1.1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội

Nền kinh tế thế giới hiện nay vận động trong bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra rất sâu sắc và nhanh chóng, khái niệm, ranh giới giữa thị trường trong nước với thị trường nước ngoài đã bị thu hẹp Có thể khái quát hình tượng của nền kinh tế trong thế kỷ XXI như sau: Thị trường là toàn cầu, định chế quản lý là WTO và các định chế của các khối kinh tế khu vực, chủ thể kinh doanh chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia…

Một quốc gia văn minh phải được tổ chức, quản lý thống nhất, phân ngành chuyên sâu nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích xã hội Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng lần thứ VII đã quyết nghị đổi mới toàn diện đường lối kinh tế từ bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, đẩy mạnh tiến trình hội nhập quốc tế Trên tinh thần đó, từ sau Đại hội Đảng lần thứ XI đến nay, hệ thống an sinh xã hội ở nước ta ngày càng phát triển Hệ thống BHXH, BHYT, BHTN, trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất ngày càng mở rộng và có tác động tích cực đến cuộc sống của người dân, góp phần ổn định chính trị xã hội của đất nước, đặc biệt là trong những năm khủng hoảng kinh tế

Để tồn tại và phát triển, con người phải lao động sản xuất, tạo ra của cải vật chất để nuôi sống bản thân và gia đình Tuy nhiên, trong cuộc sống cũng như trong lao động, mặc dù đã có ý thức phòng ngừa nhưng những rủi ro vẫn

có thể xảy ra với mọi người như ốm đau, tai nạn, tuổi già… Khi rơi vào những

Trang 22

trường hợp đó, thu nhập của người lao động sẽ bị giảm sút, ngoài việc bị giảm hoặc có thể mất thu nhập từ lao động, người lao động còn đối mặt với những khó khăn mới như phát sinh thêm chi phí khám chữa bệnh, chi phí phục vụ, chi phí mai táng… Từ xa xưa, để có nguồn tài chính khắc phục rủi ro, ổn định cuộc sống, con người đã tìm ra nhiều biện pháp như tiết kiệm, vay mượn… song những biện pháp này mang tính thụ động và không chắc chắn, đặc biệt là trong trường hợp rủi ro gây thiệt hại lớn hoặc xảy ra thường xuyên hoặc xảy ra với nhiều người trong cộng đồng

Bảo hiểm xã hội đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm ở nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, BHXH đã trải qua quá trình vài chục năm khá lâu

và đã có nhiều thay đổi về chất với nhiều mô hình phong phú, được thực hiện

ở hàng trăm nước trên thế giới Tuy nhiên, cho đến nay, định nghĩa thế nào là BHXH vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận vì được tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau với những quan điểm khác nhau Điều này cho thấy tính đa dạng và phong phú của BHXH Chính vì vậy, để có thể nêu được khái niệm này, có thể xuất phát từ việc trả lời những câu hỏi sau: Thứ nhất, tại sao lại phải BHXH? Thứ hai, mục đích của BHXH là gì? Thứ ba, BHXH được thực hiện ra sao?

Để trả lời cho câu hỏi thứ nhất, cần xuất phát từ cơ sở hình thành BHXH Như đã nêu ở đầu bài viết, BHXH hình thành và phát triển do nhu cầu của đời sống xã hội, nhất là khi hình thành nền sản xuất hàng hóa Trong lao động sản xuất, song song với những thuận lợi, con người thường gặp phải những sự kiện không thuận lợi, những “rủi ro xã hội” làm giảm hoặc mất thu nhập của họ Có thể chia những sự kiện, những “rủi ro xã hội” thành hai loại:

- Những sự kiện, những “rủi ro xã hội” liên quan đến thu nhập bao gồm: Mất hoặc giảm thu nhập do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc khả năng lao động không được sử dụng, ví dụ như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thất nghiệp…

Trang 23

- Những sự kiện, những “rủi ro xã hội” liên quan đến sử dụng thu nhập:

Đó là các sự kiện giảm thu nhập do phải chi tiêu bất thường như chi phí để mua sắm thuốc men, tiền nuôi dưỡng sản phụ,…

Những sự kiện, những “rủi ro xã hội” nêu trên, từ khía cạnh này hay khía cạnh khác đều dẫn đến đe doạ “an toàn kinh tế” cho người lao động và gia đình họ (bị giảm hoặc mất thu nhập) Vì vậy, phải có những biện pháp và hình thức để chống lại sự đe dọa này mà một trong những biện pháp đó là BHXH Nói cách khác, BHXH được hình thành là để góp phần đảm bảo thu nhập cho người lao động và gia đình họ trước những sự kiện không thuận lợi, những “rủi ro xã hội”

Câu hỏi thứ hai được trả lời từ hệ quả của câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất Có thể nêu rõ hơn, mục đích của BHXH là thông qua hệ thống các trợ cấp BHXH, bù đắp hoặc thay thế thu nhập cho người lao động và gia đình họ trước những sự kiện, những “rủi ro xã hội” làm cho người lao động bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp, do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội Ở đây cần làm rõ khái niệm bù đắp và thay thế thu nhập Khi người lao động bị giảm thu nhập thì BHXH thực hiện bù đắp cho khoản thu nhập bị thiếu hụt này Tất nhiên, sự bù đắp này chỉ có tính tương đối và tùy điều kiện kinh tế -

xã hội của mỗi nước và khả năng của quỹ BHXH trong mỗi giai đoạn phát triển Khi người lao động bị mất thu nhập do không thể lao động được hoặc sức lao động không được sử dụng (trường hợp thất nghiệp), BHXH thực hiện trả trợ cấp BHXH thay cho phần thu nhập bị mất này Khoản thu nhập thay thế này cũng tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng của quỹ BHXH mà

có thể thay thế toàn bộ hoặc một phần

Vậy để đạt được mục đích trên, BHXH được tổ chức thực hiện như thế nào? Đó là câu hỏi thứ ba cần được trả lời Lịch sử phát triển BHXH đã chỉ ra

Trang 24

rằng, có một số cách thức tổ chức thực hiện để bù đắp hoặc thay thể thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp, như: Người lao động cùng giúp nhau; Nhà nước thực hiện thông qua ngân sách và hình thành một quỹ tài chính độc lập thông qua sự đóng góp của các bên tham gia BHXH (bao gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước)…Trong BHXH hiện đại, hình thức thực hiện chủ yếu là hình thành quỹ BHXH do các bên đóng góp Từ cách tiếp cận này, có thể nêu khái niệm về BHXH như sau:

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập

của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên

cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện

BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa Khi trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời phát triển Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế Một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân thấp kém không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh được Kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đa dạng, các chế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phong phú

Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước Chính sách BHXH đã được thể chế hóa và thực hiện theo Luật BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ nhằm bảo vệ người lao động khi họ không còn khả năng làm việc

"Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống

Trang 25

của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội" (Khoản 1, Điều 3 Luật BHXH số 71/2006/QH11) Chính vì vậy, đối

tượng của BHXH chính là thu nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người lao động tham gia BHXH

Đối tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử dụng lao động Tuy vậy, tùy theo sự phát triển kinh tế - xã hội cuả mỗi nước mà đối tượng này

có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó

Dưới giác độ pháp lý, BHXH là một loại chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường

do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật, hoặc chết

Quỹ bảo hiểm xã hội dành chi trả các chế độ trợ cấp và quản lý phí được hình thành từ đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và nguồn hỗ trợ của Nhà nước

Quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ để tồn tại và phát triển Mục đích chính của các chế độ BHXH là trợ cấp vật chất cho người tham gia BHXH khi gặp rủi

ro đã được quy định trong luật

1.1.1.2 Chức năng của bảo hiểm xã hội

BHXH có những chức năng chủ yếu sau đây:

- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm Sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra

vì suy cho cùng, việc mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo các điều kiện quy định của BHXH Còn mất

Trang 26

việc làm hoặc mất khả năng làm việc tạm thời thì người lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng quy định Đây là chức năng

cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH

- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Sự phân phối này được thực hiện theo cả chiều dọc và chiều ngang Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối theo thời gian cho cùng một người lao động giữa các thời kỳ khác nhau Đó là khi khoẻ mạnh đang làm việc và khi ốm đau phải nghỉ việc, khi còn sức lao động và khi về già cần được nghỉ ngơi, khi làm việc bình thường và khi sinh con… Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối về mặt không gian giữa người lao động, người sử dụng lao động và các thành viên trong xã hội Đó là sự phân phối lại thu nhập giữa những người lao động với nhau, giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp và giữa tất cả các thành viên trong xã hội Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội

- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội Khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, người lao động được chủ sử dụng lao động trả lương Khi bị ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già… không làm việc được đã có BHXH trợ cấp thay thế, bù đắp phần thu nhập bị mất Vì vậy, cuộc sống của người lao động và gia đình họ luôn được đảm bảo Do đó, người lao động luôn yên tâm, gắn bó, tận tình với công việc và nơi làm việc Từ đó, họ sẽ tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế đầy hiệu quả

Trang 27

- Gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, giữa người lao động với xã hội Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động, điều kiện lao động… Nhờ có BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hòa và giải quyết Đặc biệt, cả hai bên đều cảm thấy mình có lợi và được bảo vệ Từ đó, làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn

bó lợi ích được với nhau Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách chi hiệu quả nhất mà vẫn đảm bảo được đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được phát triển và an toàn hơn

1.1.2 Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội

Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia Nó là những quy định chung, rất khái quát về cả đối tượng, phạm vi, các mối quan hệ và những giải pháp lớn nhằm đạt được mục tiêu chung đã đề ra đối với BHXH Tuy nhiên, chính sách BHXH lại rất khó thực hiện nếu không được cụ thể hóa và không thông qua các chế độ BHXH

Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hệ thống các quy định cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối với người lao động Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định được pháp luật hóa về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợp cụ thể Chế độ BHXH thường được biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật và dưới luật, các thông tư, điều lệ…

1.1.2.1 Hệ thống bảo hiểm xã hội cách phân loại của quốc tế (Theo công ước 102)

Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động thế giới (ILO) đã nêu trong Công ước Giơnevơ số 102 (1952), hệ thống các chế độ BHXH bao gồm: (1) Chăm sóc y tế: Chế độ này được thiết kế nhằm mục đích trợ cấp cho người lao

Trang 28

động chi phí khám chữa bệnh trong trường hợp người lao động bị ốm đau bệnh tật Ngày nay, chế độ chăm sóc y tế đã trở thành một chế độ lớn được gọi

là Bảo hiểm y tế, và không chỉ được thực hiện đối với người lao động mà là chính sách xã hội chung cho tất cả mọi người dân Ở các nước phát triển, chế

độ BHYT trở thành chính sách BHYT toàn dân (2) Trợ cấp ốm đau: Mục đích của chế độ này là nhằm bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị ốm đau bệnh tật, không đi làm được và không được người sử dụng lao động trả lương (3) Trợ cấp thất nghiệp: nhằm bù đắp một phần thu nhập bị mất của người lao động khi bị thất nghiệp, không có việc làm (4) Trợ cấp tuổi già: Đây là một chế độ BHXH lớn, được xây dựng với mục đích trợ cấp thu nhập cho người lao động khi về già, không còn làm việc nữa (5) Trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp: là chế độ BHXH nhằm trợ cấp phần thu nhập bị giảm hoặc mất của người lao động do bị giảm hoặc mất sức lao động

từ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp (6) Trợ cấp gia đình: Đây là một chế

độ BHXH lớn và thường chỉ được thực hiện ở các nước phát triển, với mục đích cung cấp cho người lao động thêm một nguồn tài chính để trang trải chi phí nuôi con ăn học, khám chữa bệnh (7) Trợ cấp sinh đẻ: Chế độ này được thiết kế nhằm bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ khi sinh con, trên cơ sở thay thế phần thu nhập không được người sử dụng lao động trả trong thời gian nghỉ sinh con (8) Trợ cấp khi tàn phế: Chế độ này nhằm mục đích trợ cấp thu nhập cho người lao động để họ ổn định cuộc sống khi không may gặp rủi ro dẫn đến tàn phế Ở các nước phát triển, chế độ này không chỉ áp dụng riêng đối với người lao động mà đối với tất cả các thành viên trong xã hội (9) Trợ cấp mất người nuôi dưỡng: là chế độ BHXH được thiết kế nhằm trợ cấp một phần thu nhập cho thân nhân người lao động đang sống phụ thuộc vào họ, nếu chẳng may người lao động bị chết Thân nhân người lao động có thể là

vợ, chồng, bố ruột, mẹ ruột, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, con ruột, con nuôi…

Trang 29

Chín chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH Tùy điều kiện kinh tế - xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được 3 chế

độ Trong đó, ít nhất phải có một trong năm chế độ: (3); (4); (5); (8); (9)

1.1.2.2 Hệ thống bảo hiểm xã hội Ở Việt Nam (theo Luật BHXH của Việt Nam)

Căn cứ vào Điều lệ BHXH ban hành kèm Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995, được sửa đổi bổ sung theo Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ, hệ thống các chế độ BHXH của Việt Nam bao gồm:

- BHXHTN là loại hình BHXH mà người lao động tự nguyện tham gia,

có quyền lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập hàng tháng của mình; đối với loại hình này, Luật BHXH Việt Nam (năm 2006) quy định người tham gia BHXHTN sẽ được hưởng 2 chế độ bao gồm: trợ cấp hưu trí, tử tuất Có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2008

Trang 30

- BHTN là loại hình bảo hiểm mà bắt buộc người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia khi sử dụng từ 10 lao động trở lên, và không thuộc đối tượng công chức nhà nước và người đứng đầu đơn vị sự nghiệp nhà nước Luật BHXH Việt Nam (năm 2006) quy định đối với người lao động tham gia BHTN sẽ được hưởng các quyền lợi sau: trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề,

hỗ trợ tìm việc làm Có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009

Mỗi chế độ BHXH khi xây dựng đều căn cứ vào một loạt những cơ sở như: sinh học, kinh tế - xã hội, điều kiện môi trường lao động…

Luật BHXH ra đời đã đánh đấu một bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống các chế độ BHXH ở Việt Nam

Sơ đồ 1.1 Chu trình quỹ của một hệ thống BHXH (điển hình)

Đóng góp từ người lao động

Hỗ trợ của Nhà nước Thu nhập từ đầu tư

Trợ cấp dài hạn:

- Mất sức lao động

- Tuổi già

- Tử tuất

Trợ cấp tai nạn lao động:

- Chăm sóc y tế

- Mất sức tạm thời

- Mất sức vĩnh viễn

Trợ cấp thất nghiệp:

- Trợ cấp thất nghiệp

- Trợ cấp bổ sung cho người

ăn theo

Trợ cấp gia đình:

- Trợ cấp gia đình

- Trợ cấp khi sinh

đẻ non

Trang 31

1.1.3 Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội (theo Luật) ở Việt Nam

Tại Việt Nam, Điều 5 luật BHXH quy định các nguyên tắc của BHXH là

Thứ nhất, Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian

đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH

Thứ hai, Mức đóng BHXHBB, BHTN được tính trên cơ sở tiền lương,

tiền công của người lao động Mức đóng BHXHTN được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung

Thứ ba, Người lao động vừa có thời gian đóng BHXHBB vừa có thời

gian đóng BHXHTN được hưởng chế đô hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng BHXH

Thứ tư, Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh

bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của BHXHBB, BHXHTN và BHTN

Thứ năm, Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo

đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH

1.1.4 Vai trò của bảo hiểm xã hội trong hệ thống đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn thành phố

Bảo hiểm xã hội là trụ cột quan trọng trong chính sách an sinh xã hội

Phân tích nội hàm của an sinh xã hội và Bảo hiểm xã hội có thể thấy BHXH bao trùm phần lớn nội dung của chính sách An sinh xã hội, độ bao phủ của BHXH rất lớn Ở Việt Nam hiện nay các chế độ BHXH bao gồm: Chế độ ốm đau, Chế độ thai sản, Chế độ hưu trí, Chế độ tai nạn lao động - Bệnh nghề nghiệp, Chế độ tử tuất, Trợ cấp thất nghiệp, Hỗ trợ tìm việc làm, hỗ trợ học nghề Như vậy các chế độ của BHXH chiếm phần lớn nội dung của chính sách an sinh xã hội Độ bao phủ của BHXH lớn Bởi lẽ BHXH là sự đảm bảo quan trọng nhất để khi người lao động do những lý do nhất định nào đó bị mất hoặc giảm nguồn thu

Trang 32

nhập sẽ có nguồn thu nhập thay thế, nói cách khác BHXH là lưới an sinh đầu tiên bảo vệ người lao động trước rủi ro về việc làm và thu nhập Hơn nữa BHXH không chỉ đảm bảo cuộc sống cho bản thân người lao động mà cả gia đình, thân nhân của người lao động, do đó đối tượng bảo vệ của BHXH chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống an sinh xã hội

Bảo hiểm xã hội là xương sống của hệ thống An sinh xã hội Nguyên tắc

của BHXH là "chi" dựa trên cơ sở "thu", quỹ BHXH do các bên đóng góp và được sử dụng để chi trả cho người lao động khi gặp các biến cố hoặc rủi ro, quỹ BHXH được bảo tồn và phát triển có tính ổn định lâu dài Đây là cơ sở vững chắc cho hệ thống BHXH tồn tại và phát triển, tạo ra sự khác biệt so với chính sách an sinh xã hội khác

Chính sách BHXH góp phần điều tiết các chính sách trong hệ thống An sinh xã hội Hệ thống an sinh xã hội bao gồm nhiều bộ phận như: BHXH, trợ

giúp xã hội, ưu đãi xã hội và các dịch vụ xã hội khác với đối tượng hoạt động, phương thức hoạt động, nội dung hoạt động khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau do có cùng một mục tiêu

là góp phần ổn định cuộc sống cho mọi thành viên trong cộng đồng mà trong đó mỗi đối tượng được thụ hưởng một chính sách nhất định BHXH phát triển sẽ làm tăng đối tượng được thụ hưởng trong xã hội, như vậy nhà nước có điều kiện tập trung nguồn lực để trợ giúp những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cũng như có nguồn lực để giải quyết các rủi ro khác trong xã hội

Chính sách BHXH góp phần ổn định và tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, nhân tố quan trọng đảm bảo an sinh xã hội lâu dài và bền vững BHXH giúp người lao động yên tâm làm việc, có trách nhiệm trong

công việc là nhân tố góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng tổng sản phẩm quốc dân Ngoài ra nguồn quỹ BHXH nhàn rỗi được đầu tư trở lại nền kinh tế, tăng nguồn vốn cho phát triển

Trang 33

Thông qua việc người sử dụng lao động tham gia BHXH cho người lao động, tạo lập mối quan hệ ổn định và gắn bó giữa người lao động với người

sử dụng lao động hạn chế được hiện tượng tranh chấp và mâu thuẫn giữa hai

bên, góp phần ổn định xã hội Đồng thời chính sách BHXH thực hiện những mục tiêu nhất định mà nhà nước đã đề ra sẽ góp phần ổn định nền chính trị quốc gia

Vai trò quan trọng của BHXH đối với hệ thống an sinh xã hội được thể hiện qua các điểm sau:

Thứ nhất, thực hiện chính sách BHXH nhằm ổn định cuộc sống người

lao động, trợ giúp người lao động khi gặp rủi ro: ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm

Theo phương thức BHXH người lao động khi có việc làm và khỏe mạnh sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập vào quỹ dự phòng Quỹ này hỗ trợ người lao động khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con cái, khi không làm việc, lúc già cả để duy trì và ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình họ Do vậy, hoạt động BHXH, một mặt, đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng người lao động đối với bản thân mình, với gia đình và đối với cộng đồng, xã hội theo phương châm “mình vì mọi người, mọi người vì mình” thông qua quyền

và nghĩa vụ; mặt khác, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong

xã hội, giữa các thế hệ kế tiếp nhau trong một quốc gia, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trong một thể chế chính trị - xã hội bền vững

Người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm đóng góp BHXH cho người lao động Nếu theo nhìn nhận ban đầu, việc đóng góp BHXH cho người lao động có thể sẽ làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nhưng thực chất, về lâu dài, phương thức BHXH đã chuyển giao trách nhiệm bảo vệ người lao động khi gặp rủi ro về phía xã hội, rủi ro được điều tiết trên

Trang 34

phạm vi toàn xã hội, giúp cho chủ sử dụng lao động bớt những khó khăn, lo lắng

về nguồn lao động của doanh nghiệp, yên tâm tổ chức sản xuất, kinh doanh Đối với nước ta, nguồn lao động với trình độ chuyên môn cao, người lao động có mức thu nhập ở mức bình quân chung toàn xã hội là chủ yếu thì biện pháp điều tiết thu nhập mang tính cộng đồng là rất cần thiết Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản, hải sản; da giày; dệt may sử dụng nhiều lao động, nhất là doanh nghiệp có nhiều lao động nữ đều rất coi trọng chính sách BHXH để bảo vệ và duy trì nguồn lao động của doanh nghiệp mình

Trong hoạt động BHXH, Nhà nước tiến hành xây dựng chính sách, chế độ,

tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện nhằm thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHXH Như vậy nhà nước giữ vai trò quản lý về BHXH, bảo hộ cho quỹ BHXH mà không phải chi từ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này Mặt khác, chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, giúp Nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và xã hội trên phương diện vĩ mô, bảo đảm cho nền kinh tế liên tục phát triển và giữ gìn ổn định xã hội trong từng thời kỳ cũng như trong suốt quá trình

- Thứ hai, thực hiện tốt chính sách BHXH nhất là chế độ hưu trí, góp phần

ổn định cuộc sống của người lao động khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động

Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, người lao động tham gia đóng BHXH từ 20 năm trở lên khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động thì được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hằng tháng Với nguồn lương hưu và trợ cấp BHXH, người cao tuổi có thu nhập ổn định, bảo đảm cuộc sống sinh hoạt hằng ngày Hiện nay, cả nước đã có khoảng 2,5 triệu người hết tuổi lao động đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng với số tiền chi trả từ quỹ BHXH hàng nghìn tỉ đồng mỗi tháng

Trong nhiều năm qua, kể từ khi chính sách BHXH được thực hiện, cùng với sự phát triển kinh tế, mức lương hưu cũng không ngừng được điều chỉnh cho

Trang 35

phù hợp với mức sống chung của toàn xã hội Vào các thời điểm tăng mức lương tối thiểu chung cũng như việc xem xét chỉ số giả cả, Nhà nước đều có sự điều chỉnh lương hưu một cách hợp lý Mức lương hưu không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với mức sống chung toàn xã hội tại thời điểm hưởng lương hưu đã bảo đảm cuộc sống của người nghỉ hưu, tạo sự an tâm, tin tưởng của người về hưu sau cả cuộc đời lao động Tương tự như vậy, các quyền lợi về BHYT, về chế

độ ốm đau, chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; mức trợ cấp tuất một lần cũng được cải thiện rõ rệt

Sở dĩ có được điều kiện nâng cao và mở rộng các quyền lợi của BHXH

là do phương thức tài chính ở nước ta được hình thành theo cách lập quỹ và có

sự tính toán điều chỉnh quan hệ đóng - hưởng trong phạm vi toàn xã hội theo những dự báo về các yếu tố kinh tế - xã hội trong tương lai Theo phương thức lập quỹ, người lao động, trước hết phải có trách nhiệm với bản thân trong việc đóng góp lập quỹ BHXH, dành dụm cho mai sau, tránh tình trạng đẩy toàn bộ gánh nặng chi trả cho thế hệ mai sau Mặt khác, với việc lập quỹ BHXH đã gắn kết được trách nhiệm của các thế hệ kế tiếp trong cùng chính sách BHXH Chính sự phát triển với tốc độ nhanh của nền kinh tế nước ta của thế hệ đương thời theo truyền thống “con hơn cha” góp phần cải thiện rõ nét mức sống của người về hưu đã có đóng góp một phần trước đây Vì vậy, nguồn quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ và phát triển cân đối bền vững sẽ là cơ sở để cải thiện không ngừng các chế độ BHXH nói chung và đời sống của người nghỉ hưu nói riêng

- Thứ ba, thực hiện chính sách BHXH góp phần ổn định và nâng cao

chất lượng lao động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển Chính sách BHXH, hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản “đóng - hưởng” đã tạo ra bước đột phá quan trọng về sự bình đẳng của người lao động

về chính sách BHXH Khi đó, mọi người lao động làm việc ở các thành phần

Trang 36

kinh tế, các ngành nghề, địa bàn khác nhau, theo các hình thức khác nhau đều được tham gia thực hiện các chính sách BHXH Phạm vi đối tượng tham gia BHXH, không ngừng được mở rộng đã thu hút hàng triệu người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau, khuyến khích họ tự giác thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi BHXH, tạo sự an tâm, tin tưởng và yên tâm lao động, sản xuất, kinh doanh

Người lao động tham gia BHXH, khi ốm đau sẽ được khám chữa bệnh

và được quỹ BHYT chi trả phần lớn chi phí; được nhận tiền trợ cấp khi ốm đau không đi làm được, được nghỉ chăm con ốm; khi thai sản được nghỉ khám thai, được nghỉ khi sinh đẻ và nuôi con, được nhận trợ cấp khi sinh con và trợ cấp thai sản; khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp sẽ được nhận phần trợ cấp do giảm khả năng lao động do tai nạn, bệnh nghề nghiệp gây ra Ngoài

ra, người lao động còn được nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau, sinh đẻ hay điều trị thương tật nhằm nâng cao thể lực Khi người lao động mất việc làm sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp và được giới thiệu việc làm hoặc gửi đi học nghề để có cơ hội tìm kiếm việc làm mới

Với những quyền lợi của người lao động khi tham gia BHXH, đã góp phần thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, giữ gìn và nâng cao thể lực cho người lao động trong suốt quá trình lao động, sản xuất Việc được tham gia BHXH, khi đang làm việc và được hưởng lương hưu sau này đã tạo

ra cho người lao động sự phấn khởi, tâm lý ổn định, an tâm vào việc làm mà

họ đang thực hiện Thực tế là nhiều doanh nghiệp, khi tuyên truyền quảng cáo tuyển dụng lao động, thì tiêu thức được tham gia BHXH, cũng là một quyền lợi quan trọng thu hút được nhiều lao động

Sự an tâm của người lao động cũng như việc bảo vệ sức lao động của họ thông qua chính sách BHXH, đã trở thành một chính sách thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, bảo đảm sự ổn định và thúc đẩy sản xuất phát triển

Trang 37

- Thứ tư, BHXH là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào

việc phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh

xã hội bền vững

Trên thị trường lao động, “tiền lương là giá cả sức lao động” được hình thành tự phát căn cứ vào quan hệ cung - cầu, vào chất lượng lao động cũng như các điều kiện khung mà trong đó Nhà nước chỉ đóng vai trò quản lý thông qua những quy định về mức lương tối thiểu và những điều kiện lao động cần thiết Quá trình hình thành tiền lương theo thỏa thuận giữa chủ sử dụng lao động và người lao động là sự phân phối lần đầu và phân phối trực tiếp cho từng người lao động Do vậy, người lao động có tay nghề cao, có nghề nghiệp thích ứng với nhu cầu của xã hội sẽ có thu nhập cao Đó là sự hợp lý và khuyến khích làm giàu chính đáng

Sau khi đã thực hiện thuế thu nhập, Nhà nước sẽ tiến hành phân phối lại thông qua chính sách BHXH Khi đó, người có năng lực hơn, nhận được tiền lương cao hơn sẽ đóng góp nhiều hơn cho xã hội để trợ giúp những người

“yếu thế” hơn trong xã hội Một bộ phận lao động khác do gặp phải rủi ro trong cuộc sống như về sức khỏe, về năng lực, về hoàn cảnh gia đình có việc làm và thu nhập thấp hơn sẽ nhận được các quyền lợi BHXH để duy trì cuộc sống Bên cạnh đó, chế độ hưu trí, tử tuất với nguyên tắc tương đồng giữa mức đóng và mức hưởng đã khuyến khích người lao động khi làm việc có thu nhập cao và đóng góp ở mức cao, với thời gian dài thì sau này sẽ được hưởng tiền lương hưu với mức cao, an tâm nghỉ ngơi khi tuổi già

BHXH được thực hiện theo nguyên tắc đóng - hưởng, có nghĩa là người tham gia đóng góp vào quỹ BHXH thì mới được hưởng quyền lợi về BHXH Như vậy, nguồn để thực hiện chính sách là do người lao động đóng góp, Nhà nước không phải bỏ ngân sách ra nhưng vẫn thực hiện được mục tiêu an sinh xã hội lâu dài

Trang 38

1.2 Nội dung và nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố

1 2.1 Nội dung của sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động trên địa bàn thành phố

1.2.1.1 Thực chất của sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Sự tham gia BHXHBB của người lao động là việc người lao động đóng khoản tiền từ thu nhập của mình vào quỹ BHXH để sẽ được hưởng trợ cấp khi gặp rủi ro hoặc các biến cố gặp phải trong cuộc sống

Về thực chất của sự tham gia BHXHBB của người lao động trên địa bàn thành phố là giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH

Thứ nhất, Người lao động đóng một khoản tiền của họ vào Quỹ BHXH

để khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động đều có quyền được hưởng các chế

độ BHXH

Có thể nói BHXH có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần đảm bảo cuộc sống ổn định cho người lao động và cho gia đình họ khi mà họ gặp những rủi ro bất ngờ như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… làm giảm hoặc mất khả năng lao động gây ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của người lao động Tuy BHXH chỉ bù đắp được một phần nào đó nhưng

đã phần nào chia sẻ với người lao động và gia đình họ trong những lúc khó khăn Sự tham gia BHXHBB thực tế là một quyền công dân, người lao động được quyền hưởng trợ cấp, đồng thời có quyền tham gia giám sát và quản lý BHXH Đây là một trong những biểu hiện cụ thể của quyền con người Từ đó, đảm bảo cuộc sống của người lao động khi gặp biến cố trong cuộc sống, không những vậy khi tham gia BHXHBB thì người lao động đã vừa tích lũy cho mình vừa tạo nên một ý nghĩa nhân văn khác đó là chia sẻ, giúp đỡ người khác trong lúc khó khăn

Trang 39

Thứ hai, Người sử dụng lao động có trách nhiệm phải đóng BHXHBB

đối với người lao động

Đối với người sử dụng lao động, ở trong phạm vi đơn vị mình, việc đóng BHXHBB cho người lao động cũng là việc người sử dụng lao động đang tạo môi trường ổn định và phát triển kinh doanh, tạo động lực cho người lao động cống hiến công sức, trí tuệ của mình để đồng hành phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế cao Không những vậy, tham gia BHXHBB cho người lao động là một biện pháp hữu hiệu bớt gánh nặng cho người sử dụng lao động trong việc

bù đắp cho những rủi ro về sức khỏe, khả năng lao động của người lao động

Thứ ba, Cơ quan BHXH dựa trên cơ sở đóng góp của các bên tham gia

để hình thành nên các quỹ BHXH độc lập và tập trung, nhằm kịp thời đảm bảo các chế độ BHXH cho người lao động

Cơ quan BHXH vừa thực hiện chức năng đảm bảo quyền lợi cho người lao động tham gia BHXHBB, chi trả kịp thời các chế độ BHXH cho người lao động, vừa có trách nhiệm giám sát nghĩa vụ tham gia BHXHBB cho người lao động của người sử dụng lao động, đồng thời thực hiện các biện pháp đầu tư nhằm tăng trưởng quỹ BHXH để đảm bảo quỹ BHXH luôn bền vững trong mọi tình huống trong tương lai và cải thiện mức hưởng chế độ BHXH cho người lao động để cân bằng được cuộc sống khi gặp biến cố trong cuộc sống

Cơ quan BHXH, người sử dụng lao động và người lao động là ba bên có quan hệ không thể tách rời trong việc thực hiện chính sách BHXH, do đó Nhà nước cần có những cơ chế để tạo nên mối quan hệ ba bên này ngày càng phát triển Trong đó, người lao động có quyền được tham gia giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan BHXH; cơ quan BHXH có quyền dùng các công

cụ pháp lý cao nhất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ tham gia BHXHBB của người sử dụng lao động cũng như người lao động

Trang 40

1.2.1.2 Các đối tượng tham gia và tiêu chí đánh giá sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố Vinh

Thứ nhất, các đối tượng thuộc diện đóng BHXHBB theo Luật ( Điều 2

Luật BHXH )

i) Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm: i) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên; ii) Cán bộ, công chức, viên chức; iii) Công nhân quốc phòng, công nhân công an; iv) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác

cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân; v) Hạ

sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; vi) Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó

đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc

ii) Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động

1.2.1.3 Tiêu chí đánh giá sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động

Thứ nhất, tỷ lệ bao phủ BHXHBB đối với người lao động Đây là tỷ số

% giữa người lao động đã đóng BHXHBB với số người lao động trong diện phải tham gia BHXHBB

Thứ hai, tỷ lệ bao phủ BHXHBB đối với chủ sử dụng lao động Đây là tỷ

số % giữa các chủ sử dụng lao động đã đóng BHXHBB cho người lao động so

Ngày đăng: 22/01/2016, 18:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chính phủ (2006): Nghị định 152/2006/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm xã hội bắt buộc, Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 22 tháng 12 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 152/2006/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
4. Chính phủ (2008): Nghị định số 127/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm xã hội thất nghiệp, Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 12 tháng 12 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 127/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm xã hội thất nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
5. Mai Ngọc Cường (2012): An sinh xã hội 25 năm đổi mới: Thành tựu và vấn đề đặt ra. Tạp chí cộng sản số 834, tháng 4 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội 25 năm đổi mới: Thành tựu và vấn đề đặt ra
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Năm: 2012
6. Mai Ngọc Cường (2013): Về an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2012- 2020. NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2012-2020
Tác giả: Mai Ngọc Cường
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2013
7. Mai Ngọc Cường: Về xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở nước ta những năm tới. Tạp chí Kinh tế &Phát triển Số 178, tháng 04 năm 2012, trang 36-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở nước ta những năm tới
8. Mai Ngọc Cường, Phan Thị Kim Oanh (2012): An sinh xã hội theo nguyên tắc đóng- hưởng đối với nông dân ở nước ta: Thực trạng và khuyến nghị. Tạp chí Kinh tế &Phát triển Số 185, tháng 11 năm 2012, trang 71-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội theo nguyên tắc đóng- hưởng đối với nông dân ở nước ta: Thực trạng và khuyến nghị
Tác giả: Mai Ngọc Cường, Phan Thị Kim Oanh
Năm: 2012
10. Nguyễn Trọng Đàm (2012), An sinh xã hội ở Việt nam: Những quan điểm và cách tiếp cận cần thống nhất. Tạp chí cộng sản số 834 tháng 4 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), An sinh xã hội ở Việt nam: Những quan điểm và cách tiếp cận cần thống nhất
Tác giả: Nguyễn Trọng Đàm
Năm: 2012
11. Nguyễn Văn Định (2006), Chính sách bảo hiểm xã hội cho nông dân Việt Nam, Bài viết tham dự hội thảo Một số vấn đề về chính sách xã hội nông thôn Việt Nam, Trường đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách bảo hiểm xã hội cho nông dân Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Định
Năm: 2006
12. Nguyễn Hữu Dũng (2006): Sự phát triển BHXH khu vực phi chính thức những năm 2001-2007 và giải pháp tới năm 2015. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số đặc san tháng 10/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển BHXH khu vực phi chính thức những năm 2001-2007 và giải pháp tới năm 2015
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2006
13. Phan Thị Kim Oanh (2013) Vai trò của nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân ở Việt Nam. Luận án tiến sỹ. Trường Đại học Kinh tế quốc dân 14. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứIX, XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân ở Việt Nam. "Luận án tiến sỹ. Trường Đại học Kinh tế quốc dân14. Đảng Cộng sản Việt Nam, "Văn kiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ "IX, XI
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
16. Trần Quang Phương, (2012), “BHXH một lần và vấn đề ASXH - góc nhìn từ một tỉnh thuần nông”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, kỳ 2 tháng 8 năm2012, trang 31-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BHXH một lần và vấn đề ASXH - góc nhìn từ một tỉnh thuần nông”
Tác giả: Trần Quang Phương
Năm: 2012
17. Lưu Thị Thu Thủy, “ Nhu cầu và khả năng tham gia BHXH, BHYT TN KVPCT”. Tạp chí Bảo hiểm xã hội, kỳ 2 tháng11 năm 2011, trang 20-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nhu cầu và khả năng tham gia BHXH, BHYT TN KVPCT”
18. Bùi Sỹ Tuấn và cộng sự, (2012), “Thực trạng và khuyến nghị thức hiện BHXH KVPCT”, Tạp chí BHXH, Kỳ 01, tháng 6 năm 2012, trang 24-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng và khuyến nghị thức hiện BHXH KVPCT”
Tác giả: Bùi Sỹ Tuấn và cộng sự
Năm: 2012
19. Nguyễn Tiến Phú (2004), Nghiên cứu xây dựng lộ trình tiến tới thực hiện BHXH cho mọi NLĐ, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, BHXH Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng lộ trình tiến tới thực hiện BHXH cho mọi NLĐ
Tác giả: Nguyễn Tiến Phú
Năm: 2004
1. Quốc hội,(2006), Luật Bảo hiểm xã hội, Số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 Khác
9. Mai Ngọc Cường (2013): Về phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020. Tạp chí Kinh tế &Phát triển, Số 192, tháng 6 năm 2013, trang 11-23 Khác
15. Bảo hiểm xã hội tỉnh Nghệ An (2013), báo cáo tổng hợp công tác thu,chi BHXH các năm 2010-2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Chu trình quỹ của một hệ thống BHXH (điển hình) - Mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Sơ đồ 1.1. Chu trình quỹ của một hệ thống BHXH (điển hình) (Trang 30)
Bảng 2.2 trên cho ta thấy: - Mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 2.2 trên cho ta thấy: (Trang 56)
Bảng 2.3. Số đơn vị đang hoạt động và lao động đang làm việc - Mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 2.3. Số đơn vị đang hoạt động và lao động đang làm việc (Trang 57)
Bảng 2.4. Tình hình tham gia BHXHBB của khối hành chính, - Mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 2.4. Tình hình tham gia BHXHBB của khối hành chính, (Trang 62)
Bảng 2.9. Tỷ lệ bao phủ BHXHBB đối với khu vực doanh nghiệp - Mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 2.9. Tỷ lệ bao phủ BHXHBB đối với khu vực doanh nghiệp (Trang 68)
Bảng 3.1. Dự báo tỷ lệ tham gia BHXHBB nói chung - Mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 3.1. Dự báo tỷ lệ tham gia BHXHBB nói chung (Trang 86)
Bảng 3.2. Dự tính tỷ lệ tham gia BHXHBB của khu vực hành chính - Mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 3.2. Dự tính tỷ lệ tham gia BHXHBB của khu vực hành chính (Trang 87)
Bảng 3.3. Dự tính tỷ lệ tham gia BHXHBB đối với khu vực - Mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 3.3. Dự tính tỷ lệ tham gia BHXHBB đối với khu vực (Trang 88)
Bảng 3.4. Dự tính tỷ lệ tham gia BHXHBB đối với khu vực khác - Mở rộng sự tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Bảng 3.4. Dự tính tỷ lệ tham gia BHXHBB đối với khu vực khác (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w