1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ tại huyện đức thọ, tỉnh hà tĩnh hiện nay

105 215 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 621 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội cho nam và nữ trong pháttriển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn lực tiến tới bình đẳng thực chấtgiữa nam và nữ, thiết lập củng cố quan h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS ĐINH THẾ ĐỊNH

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn thạc sĩ với đề tài " Giáo dục Bình đẳng giới cho phụ nữ tại huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay",

ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tác giả còn nhận được sự hướng

dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo của PGS TS Đinh Thế Định Học viên xin tỏ

lòng tri ân sâu sắc tới Thầy.

Tác giả xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo trong Khoa Giáo dục Chính trị; Phòng Đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Vinh; Hội LHPN huyện Đức Thọ; Thường trực Ban Vì sự tiến bộ của Phụ nữ huyện Đức Thọ

đã tạo điều kiện giúp đỡ và có những ý kiến đóng góp quý báu trong quá trình sưu tầm tài liệu, soạn thảo đề cương và hoàn thành luận văn.

Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Đường Thị Phú

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa 1

Lời cảm ơn 2

Mục lục 3

Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn 4

Danh mục các bảng 5

A MỞ ĐẦU 6

B NỘI DUNG 12

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO PHỤ NỮ 12

1.1 Bình đẳng giới và giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ 12

1.2 Một số quan điểm về giáo dục dục bình đẳng giới và vai trò của việc giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ 27

Chương 2 THỰC TRẠNG BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ GIÁO DỤC BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO PHỤ NỮ TẠI HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY 42

2.1 Khái quát về đặc điểm, tình hình của huyện Đức Thọ và Hội LHPN huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh 42

2.2 Thực trạng bình đẳng giới ở huyện Đức Thọ hiện nay 49

2.3 Tình hình giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ tại huyện Đức Thọ, tĩnh Hà Tĩnh hiện nay 64

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC BÌNH ĐẲNG GIỚI CHO PHỤ NỮ TẠI HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY 79

3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ tại huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh 79

3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ tại huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay 83

C KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT 97

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC 104

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1 BCH, BTV Ban Chấp hành, Ban Thường vụ

2 BCV, TTV Báo cáo viên, tuyên truyền viên

4 CBCNVCLĐ Cán bộ công nhân, viên chức lao động

5 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

6 DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

7 GDBĐG Giáo dục bình đẳng giới

9 KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình

10 LĐ, TB&XH Lao động, Thương binh và Xã hội

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

TrangBảng 2.1 Tỷ lệ tập hợp Hội viên phụ nữ Đức Thọ năm 2015 47Bảng 2.2 Cơ cấu về giới tình tham gia các cấp ủy Đảng ở huyện Đức

Thọ, nhiệm kỳ 2015 - 2020 63Bảng 2.3 Cơ cấu về giới tình hình tham gia Hội đồng nhân dân các

cấp ở huyện Đức Thọ, nhiệm kỳ 2011- 2016 63Bảng 2.4 Cơ cấu về giới tình hình tham gia Chính quyền các cấp ở

huyện Đức Thọ, nhiệm kỳ 2011- 2016 64Bảng 2.5 Tính hiệu quả trong công tác tuyên truyền giáo dục bình

đẳng giới cho cho cán bộ, hội viên phụ nữ của tổ chức Hộiliên hiệp phụ nữ Đức Thọ 72

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bình đẳng giới là mục tiêu vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài, vừa cótính cấp bách vì bất bình đẳng giới là một trong những nguyên nhân dẫnđến đói nghèo và là rào cản đối với sự phát triển bền vững của đất nước

Để xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội cho nam và nữ trong pháttriển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn lực tiến tới bình đẳng thực chấtgiữa nam và nữ, thiết lập củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam và nữtrong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, việc giáo dục bình đẳnggiới cho các tầng lớp phụ nữ và nhân dân nói chung đóng vai trò hết sứcquan trọng

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội,vấn đề bình đẳng giới ngày càng được xã hội quan tâm nhiều hơn Hội nghịcác quốc gia tại NewYork (Mỹ) năm 2000 đã xác định: bình đẳng giới là mộttrong tám mục tiêu của thiên niên kỷ Ở Việt Nam, Nhà nước cũng đã banhành nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy bình đẳng nam, nữ như: LuậtPhòng, chống bạo hành phụ nữ; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; đặc biệt

là Luật Bình đẳng giới được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp lần thứ

10 ngày 29 tháng 11 năm 2006 Việc ban hành Luật Bình đẳng giới là sự kiện

có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội, góp phần hoàn thiện

hệ thống pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam và là sự tiếp tục khẳng địnhquyết tâm của Việt Nam trong thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, hội nhậpkhu vực và quốc tế

Với sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước, mục tiêu bình đẳnggiới đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Tại Hội nghị kiểm điểm thựchiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm 2005, Việt Nam được coi

là điểm sáng về thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, thuộc nhóm nước có thành

Trang 8

tựu khá trong khu vực về chỉ số phát triển giới, xếp thứ 87/144 quốc gia trên

thế giới [35; tr 7].

Có thể nói, bình đẳng giới hiện không phải là vấn đề mới mẻ Tuy vậy,cho đến nay vẫn chưa có nhiều cuốn sách viết về đề tài này Các cuốn sách đãđược xuất bản có nội dung liên quan tới bình đẳng giới chỉ mới ở dạng tài liệutuyên truyền, hỏi - đáp về Luật Bình đẳng giới, như cuốn: “Sổ tay tuyêntruyền Luật bình đẳng giới" (dành cho báo cáo viên) của Hội Liên hiệp phụ

nữ Việt Nam, do Nhà xuất bản Lao động xã hội xuất bản năm 2007; Hay cuốn

“Hỏi đáp về Luật Bình đẳng giới” của tác giả Luật sư Lê Thị Ngân Giang, doNhà xuất bản Phụ nữ xuất bản 6/2009

Hầu hết những nghiên cứu về bình đẳng giới đều là những bài viếtđược đăng tải trên các phương tiện truyền thông Như chúng ta cũng nhậnthấy, trên đài, báo, truyền hình, phát thanh, internet luôn đăng tải các bàiviết, các đề tài nghiên cứu, các cuộc điều tra khảo sát cũng như nhiều thôngtin về vấn đề bình đẳng giới Trên báo Vietnamnet ngày 09/3/2006 có bài

“Nam nữ bình đẳng: giải pháp nào?” của tác giả TS Nguyễn Sĩ Dũng, haybài “Bất bình đẳng giới trong quản trị” của tác giả Nancym Carter vàChristine đăng tải ngày 27/3/2010 Báo Tuổi Trẻ online ngày 8/3/2010 cóbài viết “Hạt nhân của bình đẳng giới” của tác giả Nguyễn Thế Thanh Ngày02/12/2010, tác giả Dương Minh Đức có bài “Hội thảo về Công ước Cedaw,bình đẳng giới và quyền của lao động nữ: nhiều ưu đãi chỉ nằm trên giấy”đăng trên Laodong.com.vn Hay trên báo Phụ nữ và đời sống số ra ngày25/11/2010 có bài “Bình đẳng giới - Một số ý kiến về thực trạng và giảipháp” của tác giả Lê Thị Thủy Mỗi bài viết nói về một hoặc một số khíacạnh khác nhau của tình trạng bất bình đẳng giới trong xã hội Việt Nam hiệnnay và đưa ra một số giải pháp Tuy nhiên, những vấn đề nghiên cứu, traođổi trong các bài viết trên cũng như những giải pháp đưa ra còn rất rời rạc vàthiếu hệ thống

Trang 9

Hiện nay cũng đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học về bình đẳng

giới, ví dụ như đề tài “Bất bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay” của tác giả

Nguyễn Hải An Trong đề tài này, tác giả đề cập đến hiện tượng bất bìnhđẳng giới trong đời sống xã hội Việt Nam và đi sâu vào nghiên cứu cácnguyên nhân của hiện tượng này Hay đề tài “Bình đẳng giới trong laođộng và việc làm ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác giả PhanTrọng Tín Với đề tài này, tác giả cũng đã nêu một số khái niệm về “giới”,

“Bình đẳng giới”, “Vai trò giới”; phân tích một số chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới Nội dungchính của đề tài nghiên cứu về thực trạng bình đẳng giới trong lao động vàviệc làm giai đoạn 2001 - 2006 Đề tài cũng đã đề xuất định hướng bìnhđẳng giới về lao động và việc làm trong giai đoạn 2006 - 2010 Cụ thể làthực hiện có hiệu quả lồng ghép giới vào các kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội; Đề tài “Nâng cao chất lượng giáo dục bình đẳng giới ở thành phố

Vinh, tỉnh Nghệ An hiện nay" luận văn Thạc sĩ năm 2010 của tác giả Cung

Thị Quỳnh Trang, đã đề cập đến việc nâng cao chất lượng giáo dục về bìnhđẳng giới, đồng thời đã đưa ra thực trạng và một số giải pháp góp phầnnâng cao nhận thức cho mỗi người dân về bình đẳng giới Nhìn chung, cácnghiên cứu cũng đã nêu lên được thực trạng, nguyên nhân dẫn tới bất bìnhđẳng giới, cũng như đưa ra được một số kiến nghị, giải pháp nhằm hạn chếtình trạng này trong xã hội Việt Nam Những bài viết, công trình nghiêncứu trên đây đã đề cập đến từng cấp độ khác nhau Tuy nhiên, chưa cócông trình nào nghiên cứu trên phạm vi đề tài khoa học bàn về vấn đề

"Giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ" trong phạm vi một địa phương cụ

thể Chúng tôi thiết nghĩ đây là vấn đề hết sức cần thiết đối với trách nhiệmcủa tổ chức Hội nói chung, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, hội viên và các tầnglớp phụ nữ hiểu biết sâu sắc bản chất của bình đẳng giới, từ đó nhận thứcđược ý nghĩa, tầm quan trọng của bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong

Trang 10

đời sống xã hội và gia đình; nâng cao ý thức cầu tiến, luôn phấn đấu vươnlên để tự khẳng định vai trò và vị trí của mình trong gia đình và ngoài xãhội, tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội đặc biệt là các hoạt độngnhằm bảo đảm thực hiện bình đẳng giới thực chất.

Ở Hà Tĩnh, tính đến tháng 6 năm 2014, đã có 12/12 huyện, thị thựchiện chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới Trong đó, huyện ĐứcThọ được đánh giá là huyện dẫn đầu toàn tỉnh về việc hoàn thành các chỉ tiêu,mục tiêu của Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳnggiới trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2013

Những kết quả đạt được về bình đẳng giới là rất to lớn nhưng trongthực tế khoảng cách giới và sự phân biệt đối xử về giới vẫn còn tồn tại trongđời sống xã hội Ở Đức Thọ hiện nay, định kiến giới và tư tưởng trọng namkhinh nữ vẫn ăn sâu vào nhận thức của đa số người dân, trong đó có hội viên

và các tầng lớp phụ nữ Vì vậy, rất cần sự chỉ đạo quyết liệt của cấp ủyĐảng, sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể các cấptrong việc tổ chức thực hiện tốt chương trình hành động vì mục tiêu bình đẳnggiới Trong đó, Hội LHPN huyện là cơ quan đóng vai trò hết sức quan trọngtrong việc tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho phụ nữ nói riêng vàngười dân nói chung, đồng thời tích cực tham mưu, đề xuất các chính sáchliên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng cho cán bộ, hội viên và cáctầng lớp phụ nữ góp phần nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhànước, quản lý kinh tế - xã hội là một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyềnbình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ vànâng cao địa vị của phụ nữ

Mặt khác, việc giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ sẽ góp phần cung cấpthông tin, kiến thức cho các thành viên trong gia đình, vì "Phụ nữ có vai trò hếtsức quan trọng trong gia đình, là người mẹ, người vợ, người chị, người thầy đầutiên của con người" Nhờ vậy, phụ nữ sẽ tạo sức lan tỏa và có sự định hướng,

Trang 11

giáo dục rất hiệu quả góp phần thay đổi thói quen và hành vi gây bất bình đẳnggiới và từng bước thu hẹp khoảng cách giới, tiến tới bình đẳng thực chất và thựchiện có kết quả mục tiêu của kế hoạch hành động thực hiện chiến lược quốc gia

về bình đẳng giới trên địa bàn huyện Đức Thọ, giai đoạn 2011 - 2020

Việc giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ là việc làm hết sức quan trọnggiúp cho quá trình thực hiện bình đẳng giới tại huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnhsớm thực hiện thành công chương trình hành động mục tiêu Bình đẳng giới,giai đoạn 2011 - 2020 sớm trở thành hiện thực

Là cán bộ chủ chốt của Hội LHPN huyện Đức Thọ, có thời gian côngtác, tham gia hoạt động tại đây, tôi luôn trăn trở và xác định trách nhiệm củamình phải làm gì để góp phần thực hiện bình đẳng giới của Huyện nhà Với

những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Giáo dục bình đẳng giới cho

phụ nữ tại huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay” làm luận văn thạc sĩ.

2 Mục đích nghiên cứu

Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ tạihuyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận của việc giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữhiện nay

- Khảo sát, đánh giá thực trạng bình đẳng giới và giáo dục bình đẳngcho phụ nữ tại huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay

- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp để nâng cao chấtlượng giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ tại huyện Đức Thọ, tỉnh HàTĩnh hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu "Giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ tại Đức Thọ,tỉnh Hà Tĩnh hiện nay"

Trang 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng bình đẳng giới, từ đó

đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục bình đẳng giới cho phụ

nữ tại Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng,trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhànước về bình đẳng giới Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng kếthợp các phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội như: lịch sử,phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, điều tra, khảo sát, mô

tả, lôgíc và liên hệ thực tiễn

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài có thể cung cấp một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáodục bình đẳng giới cho phụ nữ trên địa bàn huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.Đồng thời làm tư liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ Hội các cấp, hội viên vàcác tầng lớp phụ nữ, đặc biệt giúp cho lãnh đạo các ban, phòng, ngành, đoànthể trong việc chỉ đạo, lãnh đạo, triển khai thực hiện bình đẳng giới trong giaiđoạn hiện nay

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục,nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 13

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC BÌNH ĐẲNG GIỚI

Theo tài liệu “Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và thực thichính sách” do Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam xuất bản năm

2004 thì: “Giới là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữanam giới và phụ nữ” Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, chophụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giớirất đa dạng, có thể nhận thức được, có thể thay đổi theo thời gian và có mức

độ khác nhau trong và giữa các nền văn hóa khác nhau

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa: “Giới là một thuật ngữchỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa nam giới và nữ giớiđược hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hóa, giữa các nền vănhóa và thay đổi theo thời gian Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn và thuận lợi của các giớitính” [45; tr 1]

Những đặc trưng về giới mang tính xã hội, do xã hội quy định Giới thểhiện các đặc trưng xã hội của phụ nữ và nam giới nên rất đa dạng Nó phụ

Trang 14

thuộc vào đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, cáckhu vực, các giai tầng xã hội Các quan niệm, hành vi, chuẩn mực xã hội vềgiới hoàn toàn có thể thay đổi được Quá trình thay đổi các đặc điểm giớithường cần nhiều thời gian bởi vì nó đòi hỏi một sự thay đổi trong tư tưởng,định kiến, nhận thức, thói quen và cách cư xử vốn được coi là mẫu mực của

cả xã hội Sự thay đổi về mặt xã hội này thường diễn ra chậm và phụ thuộcvào mong muốn và quyết tâm thay đổi của con người

Theo ILO, Giới tính (Sex) “Là chỉ sự khác biệt về sinh học giữa namgiới và nữ giới mang tính toàn cầu và không thay đổi” [45; tr.1]

Giới tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có;mang tính phổ biến và khó có thể thay đổi Khác với giới, giới tính khôngchịu ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử và văn hóa

Theo Khoản 1 Điều 5 Luật Bình đẳng giới : “Giới tính chỉ các đặc điểmsinh học của nam và nữ” [40; tr.1]

Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất (nam và nữ khắp nơi trên thế giớiđều có chức năng, cơ quan sinh sản giống nhau) Do các yếu tố sinh học quyếtđịnh chúng ta sinh ra là đàn ông hay đàn bà, chúng ta không thể lựa chọn vàkhông thể thay đổi được điều đó

- Định kiến giới và phân biệt đối xử về giới

Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực vềđặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ

Định kiến giới là suy nghĩ của mọi người về những gì mà phụ nữ vànam giới có khả năng làm và loại công việc mà họ có thể làm và nên làm; làtập hợp các đặc điểm mà một nhóm người, một cộng đồng cụ thể nào đó gáncho là thuộc tính của nam giới hay nữ giới

Các định kiến giới thường theo xu hướng nhìn nhận ít tích cực, khôngphản ánh đúng khả năng thực tế của từng cá nhân dẫn đến việc làm sai lệch vàhạn chế những điều mà một cá nhân nam, nữ có thể làm, cần làm hoặc nên

Trang 15

làm Ví dụ: quan niệm cho rằng người phụ nữ không thể tham gia vào cáchoạt động quản lý, giảm nhẹ thiên tai, chỉ nên coi họ là một trong những đốitượng cần quan tâm đặc biệt trong thiên tai.

Theo Khoản 5 Điều 5 Luật Bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới làviệc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trícủa nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đờisống xã hội và gia đình [40; tr 2]

Theo quy phạm giải thích này, xóa bỏ phân biệt đối xử về giới là xóa

bỏ việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trícủa nam và nữ không chỉ bao gồm những hành vi biểu lộ ra bên ngoài mộtcách rõ ràng mà còn cả những hành vi ở dạng tiềm ẩn, khó phát hiện có tínhchất nhằm loại trừ hay hạn chế các quyền con người và quyền công dân trên

cơ sở giới tính Đồng thời, cũng không phải chỉ là những hành vi có tác động

rõ ràng mà còn là cả những hành vi tiềm ẩn mục đích làm tổn hại hoặc vôhiệu hóa các quyền con người và quyền công dân của nam, nữ Do đó, việclồng ghép giới trong xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật cần đượcquan tâm một cách thích đáng

Phân biệt đối xử về giới chỉ có thể được xóa bỏ khi các cơ quan, tổchức, gia đình và cá nhân hiểu sâu sắc, hiểu đúng và toàn diện những khíacạnh liên quan đến giới, giới tính và bình đẳng giới để không máy móc, dậpkhuôn theo hướng định kiến trong việc nhìn nhận về sự tham gia, đóng góp vàthụ hưởng thành quả từ sự tham gia, đóng góp đó của nam, nữ trong các môitrường hiện tại mà hướng tới việc tìm ra các khía cạnh kỹ thuật tốt nhất bảođảm bình đẳng giới ở các môi trường đó trong tương lai

- Giáo dục bình đẳng giới

Lộ trình tiến tới bình đẳng giới đưa ra nhiều giải pháp chính nhằm cảithiện tình hình Trong đó, giáo dục được quan tâm hàng đầu Giáo dục bìnhđẳng giới phải chú trọng tới hai khía cạnh: giáo dục nhận thức (nội dung) và

Trang 16

giáo dục kỹ năng (cách thức) Giải pháp giáo dục bình đẳng giới phải gắn liềnvới việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới, lồng ghép giớivào quá trình xây dựng chính sách, chương trình, thực hiện và đánh giá trong

cả lĩnh vực văn hóa và giáo dục Chính phủ và ngành giáo dục - đào tạo cầnxây dựng và hỗ trợ các chương trình có lợi cho trẻ em gái và phụ nữ, đặc biệt

là các chương trình thúc đẩy bình đẳng giới, bảo đảm bình đẳng giới căn cứ

cụ thể vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi vùng miền

Trong bối cảnh nước ta hiện nay, thực hiện giáo dục bình đẳng giới chomọi người với một trong những mục tiêu là đến năm 2015 về cơ bản xóa bỏbất bình đẳng giới và phân biệt đối xử đối với phụ nữ và trẻ em gái

Công tác giáo dục bình đẳng giới là một nhiệm vụ quan trọng đượccác cấp lãnh đạo và quản lý, các ban, ngành và toàn xã hội không ngừngquan tâm

1.1.2 Mục tiêu và các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới

- Mục tiêu bình đẳng giới

Bình đẳng giới là mục tiêu của đa số các quốc gia Dựa trên điều kiện

và hoàn cảnh thực tế về kinh tế, chính trị và văn hóa - xã hội, mỗi quốc gia cócon đường đi riêng và mục tiêu bình đẳng giới cũng được xác định phù hợptrong từng giai đoạn phát triển của đất nước

Bình đẳng giới là một mục tiêu quan trọng trong các văn kiện quốc tế vềquyền con người, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả cáchình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Công ước Quốc tế về quyềntrẻ em (CRC), các Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs) Ban hành Luật Bình đẳnggiới thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc xóa bỏ mọi hình thức phânbiệt đối xử với nam, nữ, là câu trả lời đầy đủ nhất về các khuyến nghị của Ủyban CEDAW với Việt Nam trong việc thực hiện Công ước CEDAW

Điều 4 Luật Bình đẳng giới xác định mục tiêu bình đẳng giới của ViệtNam là “xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ

Trang 17

trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bìnhđẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợgiữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình” [39; tr.1].Mục tiêu này chỉ có thể được thực hiện hiệu quả khi các cơ quan, tổ chức, giađình và từng cá nhân hiểu đúng, hiểu đủ, hiểu toàn diện những khía cạnh liênquan đến giới và bình đẳng giới và thực hiện tốt các trách nhiệm đã được quyđịnh tại Chương 4 Luật Bình đẳng giới, Nghị định số 70/2008/NĐ - CP ngày04/6/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bìnhđẳng giới và Nghị định số 48/2009/NĐ - CP ngày 19/5/2009 của Chính phủquy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới

Bình đẳng giới - nền tảng phát triển bền vững của mỗi quốc gia Tạiphiên họp cấp cao Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC)ngày 28/6/2010, Chủ tịch ECOSOC, ông Hamidon Ali cho rằng bình đẳnggiới, quyền của phụ nữ và không phân biệt đối xử là nền tảng cơ bản để xâydựng một xã hội phát triển ổn định và bền vững, kể cả thực hiện các Mục tiêuThiên niên kỷ

Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon nhấn mạnh, chừng nào phụ

nữ và các em gái chưa thoát khỏi đói nghèo và bất công, thì chừng đó tất cảcác mục tiêu của loài người - hòa bình, an ninh và phát triển bền vững - đều bịtổn hại [38; tr 13]

Bình đẳng giới là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sựphát triển của một xã hội, một đất nước Từ đó, vừa là mục tiêu của sự pháttriển vừa là yếu tố để nâng cao khả năng tăng trưởng kinh tế quốc gia

Đối với Việt Nam, sự tiến bộ của phụ nữ là yếu tố quan trọng để thựchiện được mục tiêu bình đẳng giới thực chất và rất cần thiết để tạo điều kiệncho xã hội phát triển ổn định và bền vững

Tăng cường sự công bằng về giới cũng giúp cho việc giảm nhanh nạnnghèo đói, đặc biệt ở nông thôn, miền núi Đó là những mục tiêu trọng tâm

Trang 18

của sự phát triển đất nước trong hiện tại và tương lai lâu dài Sự công bằng vềgiới cũng là một động lực kích thích sự phát triển sáng kiến cá nhân của nam

và nữ, sự nỗ lực của trí tuệ cá nhân (chứ không phải hoàn cảnh gia đình, đẳngcấp xã hội, giới tính), đó là những yếu tố quyết định thành quả của mỗi côngdân, nam và nữ

Là một vấn đề xã hội lớn, thực hiện sự bình đẳng giới ở nước ta đòi hỏimột chiến lược hành động lâu dài, toàn bộ với những sách lược, bước đi, việclàm cụ thể trong từng thời gian và không gian nhất định, không thể đơn giản,máy móc, nóng vội hay cắt đoạn giữa cái trước mắt và cái lâu dài

Kế hoạch hành động Quốc gia Vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam, giaiđoạn 2011 - 2020 là sự tiếp tục thực hiện Chiến lược Quốc gia Vì sự tiến

bộ phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 với mục tiêu tổng quát là “Cảithiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của phụ nữ Tạo điềukiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò củaphụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”[48; tr.28]

Kế hoạch hành động bao gồm 5 mục tiêu chủ yếu như sau:

Mục tiêu 1: Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vựclao động việc làm;

Mục tiêu 2: Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vựcgiáo dục đào tạo;

Mục tiêu 3: Cải thiện và nâng cao sức khỏe cho phụ nữ;

Mục tiêu 4: Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của PN trêncác lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội để tăng tỉ lệ cán bộ nữ tham gialãnh đạo Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ và trẻ

em gái trong gia đình và xã hội;

Mục tiêu 5: Tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động vì sự tiến bộcủa phụ nữ [48; tr 29]

Trang 19

- Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới

Trong Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(năm 1946), quan điểm bình đẳng giới đã được thể hiện bằng nguyên tắc

“không phân biệt giống nòi, gái trai”; và đã quy định: “tất cả các công dânViệt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã

hội” (Điều 6) [37; tr 2] và “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) [37 ; tr.2].

Quan điểm đó tiếp tục được kế thừa và phát triển phù hợp với xu thếphát triển của đất nước và thời đại qua các lần sửa đổi Hiến pháp năm 1959,

1980, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, quanđiểm này lại được khẳng định tại Điều 63 : “Công dân nữ và nam có quyền

ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” Đặc

biệt, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sữa đổi năm

2013, lại được khẳng định tại điều 26 "Công dân nam, nữ bình đẳng về mọimặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơi hội bình đẳng giới" Từ

đó, những tư tưởng tiến bộ về bình đẳng giới nói trên đã được cụ thể hóa bằngcác chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước

Đặc biệt, trong giai đoạn đổi mới và hội nhập, công tác xây dựng phápluật dựa trên nguyên tắc tiếp cận về quyền bình đẳng giới được Đảng, Nhànước, Quốc hội và các cơ quan Nhà nước rất quan tâm

Quy định về bình đẳng giới trong Hiến pháp mang tính hiến định và lànội dung xuyên suốt quá trình lập hiến, lập pháp của Việt Nam, là kim chỉnam cho mọi quy định khác liên quan đến vấn đề giới ở Việt Nam để đảm bảocân bằng giới và bình đẳng giới về mặt pháp lý

Vấn đề bình đẳng giới được thể chế hóa trong hầu hết các văn bản phápluật, đã tạo cơ sở pháp lý, tạo điều kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cảnam và nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, như: LuậtDoanh nghiệp, Luật Đầu tư, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật

Trang 20

dạy nghề, Luật Giáo dục, Luật Khoa học và công nghệ, Bộ luật Dân sự, Bộluật Hình sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Chăm sóc sức khỏe nhân dân,Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Cư trú, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ

em, Pháp lệnh cán bộ, công chức,… và nhiều văn bản quy phạm pháp luậtkhác như các nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cácthông tư hướng dẫn của các Bộ, Ngành

Đặc biệt, ngày 29 tháng 11 năm 2006, Luật Bình đẳng giới đã đượcQuốc hội khóa XI thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm

2007 Luật Bình đẳng giới tiếp tục thể chế hóa quan điểm, đường lối củaĐảng, Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của nam và nữ; đồng thời tiếp tục khẳng định quyết tâm mạnh mẽ củaViệt Nam trong việc cụ thể hóa và thực hiện các điều ước quốc tế về quyềncon người và bình đẳng giới mà Việt Nam là thành viên

Điều 6 Luật Bình đẳng giới quy định rõ 6 nguyên tắc cơ bản về bìnhđẳng giới như sau:

1 Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

2 Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới

3 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử

Trang 21

trong bất cứ hoàn cảnh lịch sử nào, với đối tượng cụ thể nào cũng phải tạo ramột tỷ lệ cân bằng giới 50% nam, 50% nữ được tham gia một công việc cụthể hay hưởng thụ một phúc lợi nào đó Trái lại, cần thận trọng xem xétnhững hoàn cảnh lịch sử cụ thể khi thực hiện sự bình đẳng giới trong thực tiễnđời sống xã hội, vốn luôn luôn vận động và đa dạng Có như vậy chúng tamới đạt được sự công bằng tốt nhất, hợp lý nhất trong những hoàn cảnh cụthể, với những đối tượng cụ thể Sự công bằng, hợp lý trước mắt lại phục vụcho mục tiêu lâu dài được đặt ra.

Trong thực tiễn đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, để đạt được bìnhđẳng giới thực chất, lâu dài cần thiết phải chú ý đến những nguyên tắc cụthể sau:

- Thứ nhất, quan tâm đến môi trường sinh sống cụ thể của nam hay nữ.

Môi trường chi phối những nhu cầu cụ thể của mỗi giới, đồng thời bản thân

nó cũng chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh nước ta, hiện tại và tương lai Vì vậy,

ở mỗi giới có những nhu cầu trước mắt và lâu dài, có điểm giống nhau, cóđiểm khác nhau, đặt trong những điều kiện lịch sử cụ thể

Thực hiện sự bình đẳng giới và công bằng xã hội, trước hết đề cập đếnnội dung cụ thể cần tiến hành Nội dung đó phụ thuộc vào môi trường sinhsống, làm việc cụ thể của từng giới, ở thành phố khác ở nông thôn, ở đồngbằng khác ở miền núi, vùng dân tộc ít người Môi trường sinh sống chi phốinhững nhu cầu bức bách của mỗi giới, có cái chung, có cái riêng, có nhu cầutrước mắt và nhu cầu lâu dài, toàn bộ

Để thực hiện sự công bằng về giới trong phát triển kinh tế, tìm kiếmviệc làm, tăng thu nhập cho giới nam hay giới nữ thì rõ ràng ở nông thôn cónội dung khác ở thành thị, miền xuôi khác miền núi Ở nông thôn, điều quantrọng nhất đối với cả nam, nữ, ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của họ, kể

cả vị thế của họ trong gia đình, đó là quyền sở hữu ruộng đất, họ có haykhông có, trong gia đình chồng hay vợ là chủ sở hữu, ai là người quyết định

Trang 22

nội dung sản xuất của gia đình, nắm giữ tài sản tiền nong làm ra, quyết địnhnhững chi tiêu lớn của gia đình? Ai làm những công việc gia đình không đượctrả công nhiều nhất, kể cả việc chăn nuôi tại nhà? Ai quyết định những việclớn của gia đình như việc học tập của con cái, việc cưới xin, ma chay Nhưvậy, cần chú ý đến những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến vị thế kinh tế,

xã hội của giới nam và giới nữ trong gia đình và ngoài xã hội ở nông thôn Từ

đó sẽ có hướng tác động nhằm thiết lập sự bình đẳng giới giữa giới nam vàgiới nữ một cách có hiệu quả

Chúng ta không chỉ chú ý đến những nhu cầu trước mắt mà cần có cáinhìn hướng về tương lai lâu dài Cần tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vàocác ngành nghề công nghệ cao (điện tử, viễn thông ) đáp ứng nhu cầu vềnguồn nhân lực cần thiết cho sự phát triển lâu dài, mạnh mẽ của khoa họccông nghệ ở nước ta Đó cũng là những nghề phụ nữ sẽ làm tốt do tính cẩnthận, siêng năng của họ, cùng với trình độ văn hóa được nâng lên nhờ đượchọc tập, đào tạo có hệ thống

Ở nông thôn cũng cần thấy hướng phát triển của nhiều ngành nghề phinông nghiệp, sự tiếp cận với khoa học kỹ thuật, trong quá trình đô thị hóa,hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp Vì vậy, lớp trẻ ở nông thôn, đặc biệt làphụ nữ chiếm số đông, cần được học tập, có trình độ văn hóa cần thiết đểtham gia vào các ngành nghề mới Đồng thời, Nhà nước có chế độ trợ cấp, ưuđãi cho vay vốn, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng để giữ lớp trẻ, cả nam nữ,sau khi học tập có bằng cấp ở lại nông thôn xây dựng quê hương mình

Như vậy, việc thực hiện sự công bằng và bình đẳng giới đặt trong hoàncảnh kinh tế - xã hội - văn hóa của Việt Nam, không chỉ nhìn hiện tại trướcmắt mà phải hướng về tương lai lâu dài của sự phát triển đất nước

- Thứ hai, để thực hiện được sự bình đẳng giới, phải tạo ra cho họ “một

sân chơi bình đẳng”, nam và nữ có những cơ hội như nhau, điều kiện ngangnhau để hành động trên sân chơi đó Đồng thời cần chú ý rằng, điểm xuất phát

Trang 23

đi lên của mỗi giới lại không giống nhau Tạo điều kiện, cơ hội như nhau chohai giới, nhưng điểm xuất phát đi lên của giới nam khác giới nữ, do đó đòi hỏi

có sự điều chỉnh thích đáng

Nam và nữ cần có những cơ hội và điều kiện như nhau để thực hiện cácquyền của con người, đóng góp và hưởng thụ từ sự phát triển của xã hội.Nhưng cơ hội và điều kiện của mỗi giới lại bị ảnh hưởng của điểm xuất phát

đi lên của họ tác động tới

Điểm xuất phát của nữ nhìn chung thấp hơn nam về trình độ văn hóa,

sự cập nhật các thông tin, sự tiếp cận với nguồn vốn, về thị trường và khảnăng giao dịch, tổ chức sản xuất Ngay giới nữ ở thành phố cũng có trình độvăn hóa, có điều kiện tiếp xúc với thông tin, kiến thức hàng ngày nhiều hơnphụ nữ nông thôn Ở mỗi cá nhân, nam hay nữ lại có hoàn cảnh gia đình và xãhội khác nhau, trình độ văn hóa, tình trạng kinh tế khác nhau Do đó, dù haigiới có cơ hội như nhau để tham gia vào “sân chơi bình đẳng” nhưng khôngphải cơ hội đem lại thuận lợi cho hai giới như nhau để họ khai thác một cách

có lợi nhất cho mình Họ có điều kiện bình đẳng như nhau để tham gia côngviệc xã hội, nhưng điểm xuất phát đi lên của giới nữ thấp hơn giới nam nênviệc sử dụng những điều kiện thuận lợi lại có thể dẫn tới những kết quả chogiới nữ khác giới nam, không bằng nam Vì vậy, tạo cơ hội, điều kiện cho haigiới như nhau rất cần nhưng chưa đủ

Để đảm bảo sự công bằng thực sự giữa nam và nữ, không chỉ cần tạođiều kiện, cơ hội như nhau để nữ giới tham gia vào sân chơi bình đẳng mà khicần thiết, phải có những ưu tiên cho giới nữ, tạo cho họ những điều kiện, cơhội thuận lợi hơn so với nam giới Nếu thực hiện sự bình đẳng một cách máymóc sẽ là bất công với giới nữ, vì giới nam vốn có những điều kiện chủ quan

và khách quan thuận lợi hơn giới nữ

Sự ưu tiên cần thiết cho giới nữ hay giới nam trong việc tham giamột ngành nghề hay hưởng thụ một phúc lợi công cộng nào đó (ví dụ việc

Trang 24

học tập, đào tạo, việc chăm sóc sức khỏe, việc nghỉ lúc con ốm ) trongnhững điều kiện lịch sử cụ thể chính là nhằm tạo nên sự công bằng về giới,

sự bình đẳng giới nhìn từ góc độ lợi ích của toàn xã hội, trước mắt và lâudài (đó không phải vì lợi ích của một giới cụ thể nào đó làm ảnh hưởng đếnlợi ích của giới kia) Đối với phụ nữ, những trường hợp cần thiết phải ưutiên cho họ lại không chỉ đem lợi ích riêng cho giới nữ mà chính vì lợi íchchung lâu dài của cả hai giới, cả cộng đồng và dân tộc ta trong công cuộcphát triển đất nước

Khi phụ nữ chưa có “sân chơi thật sự bình đẳng” với nam giới để tham giacông việc xã hội và hưởng thụ của các phúc lợi công cộng thì cần tạo ra một sânchơi thuận lợi hơn cho nữ so với nam, đó mới là công bằng và cần thiết

Đồng thời, chúng ta không quên rằng việc khai thác các cơ hội, điềukiện thuận lợi của mỗi cá nhân lại khác nhau do phụ thuộc vào tài năng, sự nỗlực, sở thích của cá nhân và cả những sự may mắn (có sự ủng hộ, giúp đỡ củagia đình, bạn bè, cộng đồng thôn xóm) cũng như phụ thuộc vào tình trạng sứckhỏe của họ Đối với các đối tượng cụ thể, mỗi cá nhân lại có hoàn cảnhriêng, chi phối họ trong quá trình sinh sống, làm việc (tài năng, tri thức, sứckhỏe, hoàn cảnh gia đình) và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng những cơ hội,điều kiện thuận lợi đã tạo ra cho họ

- Thứ ba, sự bình đẳng về giới và công bằng xã hội hỗ trợ cho nhau,

nhưng không thay thế nhau

Từ sự phân tích hai nguyên tắc trên, chúng ta thấy rõ thực hiện sự bìnhđẳng giới là tạo ra sự công bằng giữa hai giới về mọi phương diện Nhưng để

có sự công bằng thực sự, trong trường hợp cụ thể lại phải có cách nhìn linhhoạt, có khi trước mắt cần đối xử “không công bằng” với một giới, ví dụ

“không công bằng” với giới nam và ưu tiên giới nữ, trong điều kiện nhất địnhnào đó, mới tạo ra sự công bằng cần thiết, sự bình đẳng thật sự giữa hai giớitrong tương lai lâu dài

Trang 25

Các em gái vốn hay bị thiệt thòi trong học tập, ít được đến trường họcđến nơi đến chốn như học sinh nam, đặc biệt ở nông thôn miền núi, các emthường phải nghỉ học ở nhà trông em, giúp việc gia đình Vì vậy, nhà trườngkhông chỉ đối xử bình đẳng giữa học sinh nam và nữ trong học tập mà trongtiêu chuẩn tuyển sinh hằng năm cần ưu tiên việc tuyển nhiều nữ hơn nam khicần thiết, hoặc tuyển nữ sinh với những tiêu chuẩn không khắt khe bằng họcsinh nam Nhà trường có sự chú ý bồi dưỡng tài năng, sức học của nữ sinh đểcác em đuổi kịp nam sinh, vận động giúp đỡ can thiệp để cha mẹ các nữ sinhkhông bắt các em nghỉ học giữa chừng.

Bởi vậy, sự ngang bằng về quyền lợi và trách nhiệm của hai giới, hay

sự cân bằng giữa nam nữ trong tham gia công việc xã hội và hưởng thụ cácphúc lợi lại không phải và không thể là chủ nghĩa bình quân hình thức

Tạo sự công bằng về giới, tức là đảm bảo một tỷ lệ cân đối giữa giớinam và giới nữ trong đóng góp và hưởng thụ, đảm bảo nguyên tắc công bằng

về quyền lợi và trách nhiệm giữa hai giới để thực hiện sự bình đẳng giới thật

sự Nhưng tiêu chuẩn nào để dựng lên tỷ lệ cân đối đó giữa nam và nữ ? Đó làngang nhau hay không ngang nhau, 50% nam, 50% nữ hay tỷ lệ nam hoặc tỷ

lệ nữ có thể nhiều hơn hay ít hơn tùy hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể Nhưvậy mới đem lại lợi ích thực sự cho sự bình đẳng giới trước mắt và lâu dài

Về nguyên tắc, nhìn chung và lâu dài cần bảo đảm cho giới nam và giới

nữ có điều kiện như nhau để thực hiện các quyền cơ bản của con người, có cơhội như nhau để đóng góp và hưởng thụ từ sự phát triển xã hội Nhưng rõràng, quá trình nhằm tạo ra sự ngang quyền thật sự đó lại cần có sự linh hoạtnhất định với các trường hợp cần thiết, có sự ưu tiên cho giới nữ hoặc giớinam trong thực tiễn cụ thể của đời sống xã hội

Việc nêu cần bảo đảm quyền bình đẳng cho nam nữ có vẻ dễ dàng, đơngiản, nhưng giải quyết những vấn đề cụ thể diễn ra trong gia đình, ngoài cộngđồng lại hết sức khó khăn, phức tạp Phải có tình và có lý, hợp tình và đúng lý

Trang 26

(của pháp luật nhà nước), không thể đơn giản hóa vấn đề Nếu giải quyết các

sự kiện xảy ra trong đời sống hằng ngày theo chủ nghĩa bình quân hình thứcthì sẽ dẫn đến những thiệt thòi cho giới nữ hoặc giới nam, xét về toàn cục vàlâu dài là có hại chung cho cả hai giới

Chúng ta đặt sự công bằng về giới trong sự công bằng chung của xãhội Công bằng gắn với công minh, đó là những thành tố trung tâm của chiếnlược phát triển xã hội có hiệu quả nhất

Có công bằng thực sự mới giúp cho xã hội tăng trưởng một cách toàndiện và vững bền Công bằng xã hội lớn hơn thì hoạt động kinh tế có hiệu quảnhiều hơn, giảm xung đột xã hội, tăng niềm tin trong lòng người dân, cả nam

và nữ

1.1.3 Nội dung giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ

Giáo dục bình đẳng giới nói chung, giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữnói riêng là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt không những đối với tổ chức HộiLiên hiệp phụ nữ mà đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xãhội Đặc biệt, quá trình thực hiện cần chú trọng những nội dung phải phù hợp

và bám sát vào chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Hội đối với công tác tuyêntruyền cũng như lồng ghép tổ chức thực hiện phải đảm bảo các nội dung cụthể như sau:

Tuyên truyền, phổ biến các nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhànước, nhiệm vụ phát triển linh tế - xã hội Đặc biệt tập trung vào Nghị quyết11/ NQ - TW của Bộ chính trị về "công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước"; Luật Bình đẳng giới (2006), Chiến lược quốc gia về Bìnhđẳng giới gia đoạn 2011 - 2020, kết quả đạt được về Công ước quốc tế về xóa

bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW)

Tuyên truyền phổ biến về phong trào thi đua "Phụ nữ tích cực học tập,lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc" và các nhiệm vụ trọng tâmcủa hội được xác định trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI

Trang 27

Tuyên truyền vầ phong trào thi đua "Phụ nữ tích cực học tập, lao độngsáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc" gắn với nội dung Đề án 343 của Thủtướng chính phủ, ngày 12/3/2010 về "Tuyên truyền, giáo dục phẩm, gia chất,đạo đức của người phụ nữ Việt nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, giai đoạn 2010 - 2015 và những năm tiếp theo, đặc biệtquan tâm 4 phẩm chất đạo đức "Tự tin - tự trọng - trung hậu - đảm đang", gópphần thực hiện các tiêu chí của Phụ nữ Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH đấtnước "Có sức khỏe, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lốisông văn hóa, có lòng nhân hậu"; gắn nội dung xây dựng người phụ nữ vớiviệc thực hiện phong trào thi đua "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo,xây dựng gia đình hạn phúc; thiết thực hưởng ứng việc "Học tập và làm theotấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"

Tuyên truyền, vận động phụ nữ tích cực học tập nâng cao trình độ vănhóa, nâng cao kiến thức mọi mặt: Kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, laođộng an toàn, kiến thức về xây dựng gia đình, phòng chống buôn bán phụ

nữ, trẻ em, bạo lực gia đình, tăng cường ý thức bảo vệ môi trường, tiết kiệmnăng lượng Vận động phụ nữ tích cực hưởng ứng các cuộc vận động "ngườiViệt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", "Chương trình Mục tiêu quốc gia

về xây dựng Nông thôn mới"… Vận động phụ nữ tích cực tham gia cácphong trào thi đua yêu nước thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội ởcác cấp, các ngành, các đơn vị, địa bàn dân cư; phát hiện và giải quyết kịpthời mâu thuẩn tại cộng đồng, góp phần giữ gìn an toàn chính trị và trật tự

an toàn xã hội

Giáo dục kiến thức liên quan đến các nội dung giáo dục bình đẳng giới,bám sát với thực tế của tình hình từng địa phương về thực trạng giáo dục bìnhđẳng giới nói chung và giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ nói riêng Khảosát, báo cáo số liệu và các thông tin về giới và bình đẳng giới;

Nội dung giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ cần phân tích các tác hại

Trang 28

của định kiến giới, phân biệt đối xử về giới; công tác đấu tranh, phòng ngừa,

xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới;

Biện pháp, kinh nghiệm tốt, mô hình, điển hình tiên tiến trong việc thựchiện chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, đấu tranh xóa bỏ phân biệt đối

xử về giới và định kiến giới;

Các nội dung khác có liên quan đến giới và bình đẳng giới để giúp chođội ngủ cán bộ, báo cáo viên, tuyên truyền viên, cán bộ chuyên trách, hội viênnhận thức, hiểu đầy đủ hơn về vai trò, tầm quan trọng của việc giáo dục bìnhđẳng giới cho chính phụ nữ chúng ta

1.2 Một số quan điểm về giáo dục dục bình đẳng giới và vai trò của việc giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ

1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ trương của Đảng,

về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ

1.2.1.1 Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới

Là học trò xuất sắc của Các Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, lại amhiểu lịch sử dân tộc và trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch HồChí Minh thấy rõ vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam trong quá trình dựngnước, giữ nước Hồ Chí Minh dẫn lời của C.Mác: “Ai đã biết lịch sử thì biếtrằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào thì chắc chắn khônglàm nổi Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộthế nào” [28; tr 288] Người cũng dẫn lời của V.I.Lênin: “Đảng cách mệnhphải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cáchmệnh mới gọi là thành công” [29; tr 289] Như vậy, Hồ Chí Minh đã chochúng ta thấy những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá caovai trò của phụ nữ trong xã hội Trong ý tưởng của họ, việc giải phóng phụ

nữ, thực hiện nam nữ bình quyền là một mục tiêu lớn của cách mạng do Đảngcách mạng lãnh đạo Điều này có thể giải thích tại sao thế giới lấy ngày 8/3 là

Trang 29

“Ngày quốc tế phụ nữ” (1910) nhằm đoàn kết phụ nữ các nước đấu tranh đểgiải phóng giới mình, giành quyền bình đẳng về kinh tế, chính trị và xã hộicho họ.

Người cũng rút ra kết luận: “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lầnnào là không có đàn bà con gái tham gia”, rồi khẳng định: “An Nam cáchmệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công” [28; tr.289] Hồ ChíMinh nhấn mạnh rằng phụ nữ chiếm một nửa nhân loại: “Nói đến phụ nữ lànói đến một nửa xã hội”, “Phụ nữ Việt Nam chiếm một nửa tổng số nhân dânta”, “Phụ nữ là một lực lượng lao động rất quan trọng” [28; tr.523] Vì vậy,theo Người, “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loàingười”; “Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng”;

“Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”[31; tr 225] Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh rằng: “Muốn xây dựng chủ nghĩa

xã hội, “nhất định phải sản xuất cho thật nhiều Muốn sản xuất nhiều thì phải

có nhiều sức lao động Muốn nhiều sức lao động thì phải giải phóng lao độngcủa phụ nữ” [32; tr.194]

Hồ Chí Minh chỉ rõ “Dưới chế độ phong kiến và thực dân, phụ nữ bị ápbức tàn tệ Ngoài xã hội thì phụ nữ bị xem khinh là nô lệ, ở gia đình thì họ bịkìm hãm trong xiềng xích “tam tòng” [32; tr.194] Người còn nhấn mạnhrằng: “Dưới chế độ thực dân, phong kiến, nhân dân ta bị áp bức, bóc lột thìphụ nữ ta bị áp bức, bóc lột nặng nề hơn” “Điều đó chứng tỏ rằng vì quyềnlợi của đàn bà con gái An Nam mà chúng ta làm cách mạng” [28; tr 443].Quan điểm của Người cho thấy, giải phóng thực sự phụ nữ là một trongnhững mục tiêu lớn của cách mạng

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giải phóng phụ nữ luôn gắn với sựnghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Vì vậy, trong văn kiện thànhlập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ củacách mạng không chỉ giành lại độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho nông dân

Trang 30

nghèo, các sản nghiệp lớn cho công nhân, các quyền dân chủ tự do cho nhândân, mà còn nhằm “thực hiện nam nữ bình quyền” “Nam nữ bình quyền”,mục tiêu này được Hồ Chí Minh đưa vào Chương trình của Mặt trận ViệtMinh Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa ra đời, từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần tuyên bố vớithế giới và quốc dân rằng: “phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng vớiđàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân” “Chúng talàm cách mạng là để tranh lấy bình quyền, bình đẳng, trai gái đều ngangquyền như nhau Đây là cuộc cách mạng to và khó vì trọng trai khinh gái làthói quen mấy ngàn năm để lại, vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọigia đình, mọi tầng lớp xã hội” [33; tr.195]

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, phụ nữ có vai trò rất to lớn trong sự nghiệpcách mạng; giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ làmột nội dung quan trọng của quyền con người, một nhiệm vụ của cách mạng.Ngay từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong Bản Tuyênngôn độc lập, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tất cả mọi người đềusinh ra có quyền bình đẳng” [27; tr 1]

Đánh giá cao vai trò của phụ nữ khi nhìn nhận phụ nữ là một lực lượnglao động đông đảo của xã hội, Người còn thấy rõ khả năng làm việc khôngthua kém nam giới của phụ nữ Người nêu những tấm gương tiêu biểu củaphụ nữ như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn ThịĐịnh Người nói: “Trên thế giới chưa có nơi nào phụ nữ làm Phó tổng Tưlệnh như ở miền Nam nước ta” [32; tr 256] Từ những kết luận đúng đắn,cách mạng về vai trò và khả năng cống hiến cho dân tộc, cho xã hội của phụ

nữ Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận định: “Dân tộc Việt Nam là dân tộc anhhùng”, “Phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng” [33; tr.256] Vì vậy, theoNgười “Phải kính trọng phụ nữ”; “Phải thật sự bảo đảm quyền lợi của phụnữ” Người còn nhấn mạnh: “Để xây dựng được chủ nghĩa xã hội thì phải

Trang 31

thực sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”; “Phải thực sựđảm bảo quyền lợi của phụ nữ” [31; tr 225]; và Người còn chỉ rõ rằng,

“Chúng ta làm cách mạng để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang

quyền như nhau” [33; tr.195] Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, kính trọng

phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ, đảm bảo quyền lợi của phụ nữ làbản chất của chế độ ta; trong đó, vị trí xã hội của chị em được Người đặc biệtquan tâm Với lực lượng một nửa nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánhgiá cao những đóng góp to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp Cách mạng, Ngườikhẳng định: “Trong lịch sử phát triển của đất nước, ở bất cứ thời kỳ nào, phụ

nữ Việt Nam cũng giữ một vai trò rất quan trọng”; “Non sông gấm vóc ViệtNam do phụ nữ ta trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ!”[32; tr 256]

Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Dưới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản,người phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ của người đàn ôngdũng cảm có thể làm, dù nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài năng và nghị lực”

[32; tr 256] Như vậy, theo Hồ Chí Minh, cũng như nam giới, phụ nữ có thể

đảm nhận và hoàn thành tốt những công việc lớn của đất nước, của cáchmạng Quan niệm như vậy, Người luôn quan tâm đến vị trí của phụ nữ trongcác tổ chức của hệ thống chính trị, mong muốn ngày càng có nhiều chị emtham gia công tác trong các cấp ủy Đảng, Chính quyền cũng như trong các tổchức quần chúng nhân dân do Đảng tổ chức, lãnh đạo

Quan tâm tới vị trí của phụ nữ trong xã hội, đồng thời Hồ Chí Minhcũng luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, một trong những nhiệm vụ củaphụ nữ dưới chế độ ta là phải “hăng hái tham gia chính quyền” Người cònnói, nếu cán bộ lãnh đạo là nữ mà ít, đấy cũng là một thiếu sót của Đảng Vềnguyên nhân của tình trạng phụ nữ ít được tham gia lãnh đạo quản lý, theo

Hồ Chí Minh đó là vì “nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng củaphụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi Như vậy là rất sai” Hồ Chí Minh nhắc nhở

Trang 32

chị em “Phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; Phảixoá bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; Phải phát triển chí khí tự cường,tự lập” [31;

tr 225] Đồng thời, Người cũng chỉ rõ cho các cấp ủy Đảng và Chính quyền

“phải có phương pháp đào tạo và giúp đỡ để nâng cao hơn nữa địa vị củaphụ nữ” [31; tr 225]

Như vậy, cả về hai mặt pháp lý và đạo đức, quyền bình đẳng của phụ

nữ là một nội dung quan trọng của quyền con người Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã từng nói: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Đàn bà có quyềnbình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giađình” [31; tr 225]

Là một vị lãnh tụ nói và làm luôn đi đôi với nhau, tư tưởng thống nhấtvới hành động, Chủ tịch Hồ chí Minh thấu hiểu nổi thống khổ và sự ràng buộc

xã hội đối với người phụ nữ; qua đó thức tỉnh họ đứng lên tranh đấu để giànhlấy sự bình đẳng; trong công tác phụ nữ Người luôn đòi hỏi ở cả hai phía: tổchức Đảng và bản thân người phụ nữ Đối với người phụ nữ cũng cần phải cótrách nhiệm, Bác nêu: “Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờChính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tựcường, phải đấu tranh ” [33; tr 195]

Thấu hiểu và thông cảm với phụ nữ, Người luôn quan tâm thức tỉnh,xây dựng cho họ lòng tự tin, niềm tự hào Người đã biến sức mạnh tiềm tàng

to lớn của phụ nữ thành động lực mạnh mẽ, thành mục tiêu của cách mạngViệt Nam Theo Người, một vấn đề cực kỳ quan trọng là phụ nữ phải đượctham gia bình đẳng vào quá trình xây nền kinh tế mới của xã hội; sự tiến bộcủa nền kinh tế, văn hóa, xã hội là tiền đề để đi tới giải phóng phụ nữ triệt để

Không chỉ quan tâm đến quyền bình đẳng của nữ giới trong mọi quan

hệ xã hội mà Bác Hồ còn lo cho hạnh phúc của nữ giới trong quan hệ vợchồng, Bác khuyên chị em ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình để

tự đấu tranh giải phóng mình khỏi những ràng buộc phi lý kiểu “chồng chúa

Trang 33

vợ tôi” Bác phê phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn

về mặt đạo đức và vi phạm pháp luật: “Đàn ông là người công dân, đàn bàcũng là người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh người côngdân khác tức là phạm pháp” [33; tr 227]

Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan niệm về vấn đề giải phóngphụ nữ rất sâu sắc, thể hiện tính nhân văn, lòng yêu thương con người nóichung và sự quan tâm đặc biệt với phụ nữ nói riêng

Trong một bài phát biểu của mình, nhà sử học người Mỹ, bà phin Sten-sen đã khẳng định: “Trong số những lãnh tụ là nam giới như Tô-mát Giéc-phéc-sơn, Mahatma Găng-đi, Các Mác, Lênin, Mao Trạch Đông,Lu-thơ-kinh và Nen-sơn Men-đê-la Tất cả những lãnh tụ nói trên đều quantâm sâu sắc đến công lý cho toàn thể xã hội Song, chỉ có Hồ Chí Minh là đãluôn luôn nói về quyền bình đẳng của phụ nữ ”

1.2.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng về bình đẳng giới và sự tiến

bộ của phụ nữ

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ,suốt 46 năm qua, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhànước ta đã vận dụng và phát triển một cách toàn diện tư tưởng của Ngườitrong công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước; các tầng lớp phụ nữ đã có nhiều cố gắng nỗ lực để hướng tới sự bìnhđẳng thực chất cho phụ nữ

Xuyên suốt từ Cương lĩnh Chính trị năm 1930 đến Hiến pháp năm

1946, Hiến pháp năm 1959, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người, vấn

đề quyền bình đẳng của phụ nữ tiếp tục được thể chế hóa trong nhiều vănbản Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước Đặc biệt Đảng và Nhànước ta đã ban hành một số văn bản quan trọng về bình đẳng nam nữ vàcông tác phụ nữ

Trong quá trình cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâmđến vấn đề phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Ngay từ những năm

Trang 34

đầu thành lập Đảng đã xác định: Phải làm cho quần chúng phụ nữ lao khổtham gia vào những cuộc đấu tranh cách mạng của công nông, đó là điều cốtyếu nhất, nếu phụ nữ đứng ngoài cuộc đấu tranh cách mạng của công nông thì

sẽ không bao giờ đạt mục đích phụ nữ giải phóng được

Ngay từ những buổi đầu thành lập, Đảng đã khẳng định: Trong mộtnước nửa thuộc địa, nửa phong kiến như Việt Nam, người phụ nữ chịu nhiềutầng áp bức (áp bức của thực dân, áp bức của phong kiến), lại thêm sự phânbiệt đối xử trọng nam khinh nữ Do vậy, con đường giải phóng phụ nữ khôngthể tách rời sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946) quanđiểm bình đẳng nam nữ đã được ghi trong Điều 9: “Đàn bà ngang quyền vớiđàn ông trên mọi phương diện”, đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng về quanđiểm bình đẳng giới và chống phân biệt đối xử nam - nữ Hiến pháp năm(1959, 1980, 1992) đều kế thừa quan điểm bình đẳng nam - nữ có từ Hiếnpháp năm 1946, điều này đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiệnquyền bình đẳng giới trong xã hội Việt Nam

Khi nước nhà mới giành được độc lập, Việt Nam chưa hề có “phongtrào nữ quyền” với các mục tiêu, đường lối như các phong trào nữ quyền củacác nước phương Tây Mặc dù vậy, người phụ nữ Việt Nam đã có được quyềncông dân ngay sau khi đất nước được độc lập, trong đó có quyền bầu cử Đây

là một minh chứng hùng hồn cho thấy địa vị xã hội của người phụ nữ ViệtNam có được sự bình đẳng với nam giới là nhờ thắng lợi của cách mạng giảiphóng dân tộc, giải phóng giai cấp đem lại

Năm 1981, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc vềxóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) Ngày12/7/1993, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 04/NQ - TW về “Đổi mới

và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” Tiếp tục pháttriển các quan điểm của Đảng và Bác Hồ, Nghị quyết xác định phụ nữ là

Trang 35

“người thầy đầu tiên” của mỗi đời người; phụ nữ có “những đặc điểmriêng ”; để phát huy vai trò của phụ nữ, Đảng ta đã xác định những nhiệm vụ

cơ bản: “phát huy trí tuệ phụ nữ”, “tránh khắt khe, hẹp hòi”, cần “thông cảm,giúp đỡ phụ nữ”, “nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ là thật sự thực hiện quyền bìnhđẳng và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ” Về phần mình: “phụ nữ cần kếthợp hài hòa công việc gia đình với công tác xã hội” [14; tr 6]

Ở nước ta, bình đẳng giới luôn là mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng trongchính sách phát triển của Đảng và Nhà nước Sự quan tâm của Đảng và Nhànước về vai trò của người phụ nữ được thể hiện rõ qua Nghị quyết số 04 của

Bộ Chính trị (1993) đã nêu rõ 4 mục tiêu: “Cải thiện đời sống tinh thần và vậtchất của người phụ nữ” và “nâng cao địa vị xã hội của người phụ nữ và nhậnthức về quyền bình đẳng của họ” [14; tr 8] Cũng trong năm 1993, Thủ tướngChính phủ ra quyết định số 72/CP về việc củng cố và kiện toàn Ủy ban quốcgia về thập kỷ phụ nữ (thành lập năm 1985) thành Ủy ban quốc gia Vì sự tiến

bộ của phụ nữ Việt Nam

Quan điểm ấy tiếp tục được thể hiện trong Chỉ thị 37/CT - TW của Ban

Bí thư ngày 16/5/1994 về công tác cán bộ nữ; được cụ thể hóa trong “Chiếnlược quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010” do Chínhphủ công bố ngày 04/10/1997

Trong thời kỳ đất nước đổi mới, chủ trương của Đảng về công tác phụ

nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong nghị quyết Đại hội Đảng,các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư vềcông tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ, công tác cán bộ nữ Chínhphủ cũng đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữphát triển và thúc đẩy bình đẳng giới Nhờ vậy, “phụ nữ được tôn trọng vàbình đẳng hơn, địa vị của người phụ nữ trong xã hội và gia đình ngày càngđược cải thiện Bình đẳng giới ở Việt Nam được Liên hợp quốc đánh giá làđiểm sáng trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ” [15; tr 16]

Trang 36

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra mục tiêu,phương hướng, nhiệm vụ cụ thể: “Chăm lo công tác phụ nữ và vấn đề bìnhđẳng giới, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiệnbình đẳng giới Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân,người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đàotạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơquan lãnh đạo và quản lý ở các cấp” [22; tr.15].

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng X, tiếp tục cụ thể hóa quan điểmcủa Đảng đối với việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong thời kỳ mới,Ngày 27/4/2007, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 11/NQ - TW “Về công tácphụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Nhà nước ta luôn coi trọng và khẳng định thực hiện bình đẳng giới làmục tiêu trọng yếu trong chiến lược phát triển Năm 2006, Quốc hội đã thôngqua Luật Bình đẳng giới Đây là một bước tiến mới thể hiện sự quan tâm củaĐảng và Nhà nước Vấn đề bình đẳng giới được đánh giá là một trong nhữngthành tựu nổi bật của Việt Nam trong gần 30 năm đổi mới Trên thực tế hiệnnay, người phụ nữ Việt Nam đang ngày được quan tâm, khoảng cách giớitrong các lĩnh vực dân số, giáo dục, đào tạo, lao động việc làm, sức khỏe giađình đều được cải thiện đáng kể Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ

X đã xác định mục tiêu: “Phụ nữ Việt Nam đoàn kết, sáng tạo, bình đẳng,phát triển, góp phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước”

Ngày 29/11/2006, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 đã thông qua LuậtBình đẳng giới; ngày 21/11/2007 Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông quaLuật Phòng, chống bạo lực gia đình Đây là những văn bản pháp lý có ý nghĩarất quan trọng trong đời sống chính trị, xã hội, góp phần hoàn thiện hơn hệthống pháp luật về bình đẳng giới, là công cụ pháp lý thúc đẩy mạnh mẽ tiếntrình phấn đấu thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở nước ta

Đặc biệt, tháng 4/2007, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết 11- NQ/TƯ về

“Công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện

Trang 37

đại hóa đất nước” và tháng 7/2007, Luật Bình đẳng giới bắt đầu có hiệu lực.Đây là căn cứ pháp lý quan trọng nhằm đưa vấn đề giới vào quá trình hoạchđịnh và thực thi chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thờigóp phần tích cực cho việc thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về Bìnhđẳng giới, giai đoạn 2001 - 2010.

Vai trò và vị trí của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp phát triển và xâydựng đất nước luôn được Đảng và Nhà nước ghi nhận, đánh giá cao và đãđược thể chế hóa thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm bảođảm lợi ích chính đáng của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực Chiến lược quốcgia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 có vai trò cốt yếu trongkhuôn khổ chung của Chính phủ nhằm thực hiện và duy trì bình đẳng giới, tạođiều kiện phát huy mọi tiềm năng, nâng cao vai trò, tăng cường sự tham giacủa phụ nữ trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao chất lượngcuộc sống cho phụ nữ cũng như tạo điều kiện cần thiết để phụ nữ được hưởngcác quyền cơ bản của mình một cách bình đẳng và đầy đủ

Chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới được nêu rõ trong Điều 7Luật bình đẳng giới, cụ thể như sau:

1 Bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khảnăng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởngthành quả của sự phát triển

2 Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạođiều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình

3 Áp dụng những biện pháp thích hợp để xóa bỏ phong tục, tập quánlạc hậu cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

4 Khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia các hoạtđộng thúc đẩy bình đẳng giới

5 Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng

Trang 38

bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

hỗ trợ những điều kiện cần thiết để nâng chỉ số phát triển giới đối với cácngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số phát triển giới thấp hơn mức trungbình của cả nước [40; tr 2]

Bên cạnh những chủ trương, đường lối và luật pháp; về tổ chức bộmáy, lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta có một cơ quan quản lý nhà nước vềbình đẳng giới, có văn bản chính thức giao cho Ủy ban các vấn đề xã hội củaQuốc hội phụ trách về bình đẳng giới; hằng năm Chính phủ có báo cáo vớiQuốc hội về thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới Điều đó thểhiện sự quan tâm, tạo điều kiện cho phụ nữ bình đẳng về quyền và cơ hộiphát triển; phát huy vai trò, khả năng của lực lượng phụ nữ, đóng góp xứngđáng vào sự nghiệp đổi mới của đất nước Cùng với sự phát triển kinh tế,văn hóa, xã hội, pháp luật của đất nước, sự nghiệp “giải phóng phụ nữ”,

“nam, nữ bình quyền”, vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam ngày càng thuđược nhiều thành tựu

1.2.2 Vai trò của việc giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ hiện nay

Nhà văn Ấn Độ - Tago đã từng nói "Giáo dục một người đàn ông làgiáo dục được một người, giáo dục một người phụ nữ là giáo dục được cả giađình…" Vì vậy, hơn lúc nào hết việc tuyên truyền, giáo dục bình đẳng giớicho phụ nữ hiện nay là việc làm hết sức cần thiết, có vai trò hết sức quantrọng góp phần thành công vào việc thực hiện giáo dục bình đẳng giới nóichung bởi:

Trước hết chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quan trọng của ngườiphụ nữ trong gia đình Họ có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự ổn địnhcủa gia đình Là người vợ hiền, họ luôn hiểu chồng, sẵn sàng chia sẻ nhữngngọt bùi cũng như những đắng cay cùng chồng, khiến người chồng luôn cảmthấy yên tâm trong cuộc sống, từ đó họ có thể đóng góp nhiều hơn cho xã hội.Không chỉ chăm sóc giúp đỡ chồng trong gia đình, người vợ còn đưa ra

Trang 39

những lời khuyên thiết thực giúp chồng trong công việc, đóng góp vào thànhcông trong sự nghiệp của chồng.

Đối với con cái, họ lại càng có một vai trò thiết yếu hơn Họ chính lànhững người thầy, người mẹ chăm sóc, nuôi dạy con cái một cách tận tình vàchu đáo nhất Họ là người tiếp xúc với con cái nhiều nhất thông qua các hoạtđộng hàng ngày Người mẹ ngày nay còn là một người bạn lớn luôn ở bên con

để hướng dẫn, động viên kịp thời Bất cứ ai trong chúng ta đều có thể tìm thấy

ở những người phụ nữ, người vợ, người mẹ sự yên tĩnh trong tâm hồn và sựcân bằng bình yên trong cuộc sống Chính họ đã tiếp sức cho chúng ta vượtqua những khó khăn để sống một cuộc sống hữu ích

Mặt khác Phụ nữ là lực lượng đông đảo, chiếm hơn 50% dân số, hơnnữa họ có mặt trên tất cả các lĩnh kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội… Trongquá trình hoạt động của mình họ chịu sự tác động của của môi trường xã hội

và ngược lại, người phụ nữ cũng tác động tới sự vận động của xã hội Sự tácđộng của xã hội đối với phụ nữ bao gồm cả hai mặt: tích cực và tiêu cực.Người phụ nữ của thời hiện đại càng không thể tách rời với thực tế gia đình

và xã hội Bởi chính tại hai môi trường này, người phụ nữ mới thể hiện, thựchiện được những chức năng của mình

Người mẹ chính là người gần gũi con nhất, chăm sóc và hiểu con nhất,cũng là người có ảnh hưởng lớn nhất đến việc hình thành nhân cách của con

từ khi con còn tấm bé Việc dạy dỗ, kèm cặp con cái trong học tập cũng làmột trách nhiệm được hai vợ chồng chia sẻ Người phụ nữ hiện đại muốnkhẳng định mình trong việc tạo lập cho con mọi thứ vững vàng từ khi con cònnằm nôi đến lúc con cái trưởng thành

Bởi thế, giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ sẽ có sự tác động trực tiếpđến các thành viên trong gia đình bởi trong quá trình đó, phụ nữ sẽ khuyênrăn chồng, hướng dẫn con và các thành viên khác của gia đình bằng việc làmgương trong lời nói, việc làm, hành xử từ người mẹ cho các thành viên khác

Trang 40

trong gia đình noi theo Cách đối xử của người mẹ đối với ông, bà, chồng, convới nhau phải thể hiện sự bình đẳng giữa nam giới và nữ giới, bởi hành vi củacha mẹ, ông bà sẽ là nguyên mẫu cho con cháu làm theo Khi trong gia đìnhcha mẹ, ông bà tôn trọng nhau, chia sẻ công việc gia đình, cùng nhau bàn bạc

và giải quyết các vấn đề… sẽ là tấm gương sáng cho con cháu học tập Ngượclại, các hành vi thể hiện sự phân biệt đối xử hoặc bạo lực gia đình trên cơ sởgiới, hình phạt cho các hành vi không đúng đắn trong gia đình… sẽ tác độngtiêu cực đến hành vi và nhận thức về bình đẳng giới đối với thế hệ trẻ

Như vậy, để có được bình đẳng giới, trước hết trong gia đình cha mẹ,ông bà cần phải nâng cao nhận thức về bình đẳng giới vì chính họ là tác nhânquan trọng nhất trong trong việc tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới chothế hệ trẻ Khi các thành viên gia đình nhận thức đúng đắn về bình đẳng giớithì trẻ em trai và trẻ em gái ngay từ khi chào đời đã được cha mẹ, nhữngngười lớn tuổi đối xử bình đẳng Khi lớn lên, được chứng kiến quyền bìnhđẳng giữa cha mẹ, ông bà; được hưởng quyền và thực hiện trách nhiệm bìnhđẳng với nhau Gia đình mà trong đó nam giới và nữ giới được bình đẳng vớinhau sẽ tiếp tục là môi trường tuyên truyền, giáo dục hiệu quả nhất về bìnhđẳng giới

Với vai trò là người mẹ, phụ nữ ngày càng trở nên quan trọng hơn baogiờ hết, vì không chỉ là người chăm sóc, mà phụ nữ hiện đại đã trở thànhngười dạy dỗ, giáo dục và định hướng cho con Vì thế khi họ được giáo dục,được trang bị các kiến thức về Bình đẳng giới thì họ cũng chính là người thầytruyền lữa và tiếp sức cho con trẻ về các kiến thức liên quan trong quá trìnhgiáo dục con trẻ và các thành viên trong gia đình ngày càng có hiệu quả hơn rấtnhiều Có thể nói, ảnh hưởng của người phụ nữ trong gia đình nói chung vàđối với việc dạy dỗ con là vô cùng to lớn

Giáo dục bình đẳng giới cho phụ nữ có vai trò, vị trí hết sức quan trọngtrong việc tuyên truyền, hướng dẫn các thành viên trong gia đình thực hiện

Ngày đăng: 22/01/2016, 18:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[8]. Ban Bí thư (2015), Thông báo kết luận số 196/TB - TW của Ban Bí thư về Đề án “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo kết luận số 196/TB - TW của Ban Bí thư về Đề án “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong tình hình mới
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2015
[14]. Bộ Chính trị (1993), Nghị quyết số 04/NQ - TW ngày 12/7/1993 về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 04/NQ - TW ngày 12/7/1993 về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 1993
[22]. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
[23]. Đoàn Tử Huyến - biên soạn (2015), "Đức Thọ đất và người", NXB Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đức Thọ đất và người
Tác giả: Đoàn Tử Huyến - biên soạn
Nhà XB: NXB Đại học Vinh
Năm: 2015
[25]. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2007), Sổ tay tuyên truyền Luật Bình đẳng giới (dành cho báo cáo viên), Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay tuyên truyền Luật Bình đẳng giới (dành cho báo cáo viên)
Tác giả: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2007
[27]. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 1
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
[28]. Hồ Chí Minh(1995), Toàn tập, Tập 2, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 2
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
[29]. Hồ Chi Minh(1995), Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 6
Tác giả: Hồ Chi Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
[30]. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 7
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
[31]. Hồ Chí Minh(1995), Toàn tập, Tập 8, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 8
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
[32]. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 9
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
[33]. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 10, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 10
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1995
[34]. Hồ Chí Minh (1996), Tuyên ngôn độc lập (tái bản lần thứ 3), Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn độc lập (
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
[35]. Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2008), Xã hội học về giới và phát triển, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học về giới và phát triển
Tác giả: Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
[36]. Lê Thúy Hằng (2006), Khác biệt giới trong dự định đầu tư của bố mẹ cho việc học của con cái, Tạp chí Xã hội học (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khác biệt giới trong dự định đầu tư của bố mẹ cho việc học của con cái
Tác giả: Lê Thúy Hằng
Năm: 2006
[37]. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1946), Hiến pháp năm 1946, Dữ liệu Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp năm 1946
Tác giả: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Năm: 1946
[45]. Tổ chức lao động quốc tế ILO, Tài liệu (2012) về Thúc đầy Bình đẳng giới để chống Buôn bán Phụ nữ và Trẻ em” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thúc đầy Bình đẳng giới để chống Buôn bán Phụ nữ và Trẻ em
[47]. Ủy ban quốc gia Vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam (2004), Tài liệu “Hướng dẫn Lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng dẫn Lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách
Tác giả: Ủy ban quốc gia Vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam
Năm: 2004
[51]. ThS. Cung Thị Quỳnh Trang (2010), Nâng cao chất lượng giáo dục bình đẳng giới ở TP Vinh, tỉnh Nghệ An hiện nay, Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng giáo dục bình đẳng giới ở TP Vinh, tỉnh Nghệ An hiện nay
Tác giả: ThS. Cung Thị Quỳnh Trang
Năm: 2010
[1]. Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh Hà Tĩnh (2015), Báo cáo của Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược quốc gia và Kế hoạch hành động Vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2010 - 2015 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w