Qua nghiên cứu chuyên đề Quản lý nhà nước về kinh tế, em xin được đưa ra tình huống quản lý hành chính về lĩnh vực Quản lý đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước thông qua việc phân tích,
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
Lớp bồi dưỡng kiến thức Quản lý nhà nước chương trình chuyên viên chính
Tổ chức tại Đảng uỷ khối cơ quan Trung ương (từ 20/5/2010 đến 27/8/2010)
TÌNH HUỐNG QUẢN LÝ
“ Giải pháp khắc phục các tồn tại trong quản lý kinh tế tại Tập đoàn VINASHIN và việc quản lý các Tập đoàn Kinh tế nhà nước”
Hà Nội, tháng 8 năm 2010
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước giữu một vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế
Sự quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua
đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp nhà nước đã được sắp xếp đổi mới , từng bước nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh góp phần quan trọng để tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu của xã hội và nhu cầu cần thiết của Quốc phòng, an ninh, là lực lượng nòng cốt đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho sự nghiệp hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Bên cạnh đó, thực tế hiện nay có một số doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, kinh doanh thua lỗ, công nợ không có khả năng thanh toán đứng trước nguy cơ phá sản, đẩy nhiều người lao động mất việc làm, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội Trước thực tế đố, một yêu cầu bức thiết hiện nay đối với công tác quản lý nhà nước về kinh tế là: nhìn tẳng vào thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính của các doanh nghiệp nhà nước để có biện pháp hữu hiệu nâng cao năng lực quản lý của nhà nước, qua đó tác động, tháo gõ các khó khăn để đưa các doanh nghiệp này đi vào ổn định sản xuất, hoạt động kinh
doanh có lãi Qua nghiên cứu chuyên đề Quản lý nhà nước về kinh tế, em xin
được đưa ra tình huống quản lý hành chính về lĩnh vực Quản lý đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước thông qua việc phân tích, đánh giá hiện trạng tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn công nghiệp Tàu Thuỷ Việt nam (viết tắt
là VINASHIN)
Tình huống quản lý với tiêu đề là “Giải pháp khắc phục các tồn tại trong quản lý kinh tế tại Tập đoàn VINASHIN và việc đổi mới quản lý các Tập đoàn kinh tế Nhà nước”
Bố cục của tình huống, ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm 3 phần:
I Tình huống quản lý
1 Hoàn cảnh ra đời
2 Diễn biến sự việc
II Phân tích, xử lý tình huống
1 Mục tiêu của của việc phân tích, xử lý tình huống cần đạt được
2 Cơ sở lý luận
3 Phân tích tình huống
4 Nguyên nhân, hậu quả
5 Phương án, biện pháp giải quyết
III Kiến nghị về đổi mới quản lý nhà nước đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước
Trang 3I - TÌNH HUỐNG QUẢN LÝ
1 Hoàn cảnh ra đời:
Từ đầu năm 2010 đến nay, qua nhiều phương tiện thông tin đại chúng đã nêu lên nhưng yếu kém sai phạm lớn của Tập đoàn công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam trong quá trình quản lý tài sản, nguồn vốn của Nhà nước Chính phủ đã phải
có chủ trương điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức của Tập đoàn, theo đó chuyển một số
dự án đầu tư, lĩnh vực hoạt động sang các Tổng công ty nhà nước khác như Tập đoàn dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam Chính phủ đã họp báo công bố những sai phạm, yếu kém trong quản lý của tập đoàn và đề ra các giải pháp để tháo gỡ Đây là một vấn đề lớn trong quản lý nhà nước về kinh tế; đòi hỏi chúng ta phải đánh giá thực trạng những sai phạm, yếu kém trong quản lý kinh tế của Tập đoàn, phân tích các nguyên nhân và hậu quả của những tồn tại để qua đó
có giải pháp tháo gỡ; hơn thế nữa qua đó chúng ta phải có nhìn nhận xem xét, đánh giá về cơ chế vận hành theo mô hình các Tập đoàn kinh tế nhà nước, đưa ra các giải pháp để quản lý và giám sát hoạt động các tập đoàn có hiệu quả đảm bảo theo đúng qui định của Pháp luật
2 Diễn biến sự việc:
Bước vào đầu năm 2010, các sai phạm và yếu kém trong quản lý kinh tế của Tập đoàn công nghiệp tài thuỷ (VINASHIN) đã bộc lộ và được các phương tiện thông tin đại chúng đề cập Bộ chính trị, chính Phủ cũng đã có những kết luận bước đầu đánh giá tổng quát về các sai phạm của tập đoàn, cụ thể là:
- Đầu tư mở rộng quá nhanh, qui mô lớn, một số dự án trái với qui hoạch được phê duyệt, dàn trải trên nhiều lĩnh vực, địa bàn, có lĩnh vực không liên quan đến công nghiệp đóng tàu và sửa chữa tàu biển, trong đó nhiều lĩnh vực kém hiệu quả, có nhiều công ty dự án thua lỗ nặng nề
- Tình hình tài chính đứng trước bờ vực phá sản: theo số liệu ban đầu, ước tính dư nợ hiện nay đang rất lớn, lên tới khoảng 86.000 tỷ đồng; nợ đến hạn phải trả khoảng trên 14.000 tỷ đồng; tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu gấp 11 lần, khó có khả năng tự cân đối dòng tiền
- Sản xuất kinh doanh đang bị đình trệ; bị mất hoặc giảm nhiều đơn đặt hàng; nhiều dự án đầu tư dở dang không có hiệu quả
- Tình hình nội bộ diễn biến phức tạp: hơn 70.000 cán bộ, CNV lo lắng do việc làm và thu nhập giảm; hiện đã có khoảng 17.000 công nhân chuyển việc hoặc
bỏ việc; 5.000 công nhân bị mất việc làm; nhiều công nhân của một số nhà máy, xí nghiệp bị chậm trả lương trong nhiều tháng
Đứng trước những khó khăn, yếu kém nêu trên của tập đoàn VINASHIN, tháng 6/2010 Chính Phủ đã đưa ra một số biện pháp để tái cơ cấu Tập đoàn: theo
đó chuyển 12 công ty con và phần vốn góp ở nhiều công ty liên kết về Tập đoàn
Trang 4dầu khí Việt Nam và Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam Cũng theo đề án tái cơ cấu Tập đoàn thì VINASHIN sẽ được Bộ Tài chính cấp bổ sung vốn điều lệ từ Quĩ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp TW, đồng thời thực hiện việc điều chỉnh vốn điều lệ phù hợp với tình hình tái cơ cấu Tại thời điểm 1/7/2010, VINASHIN nhận quyết định chuyển sang mô hình công ty TNHH một thành viên như nhiều Tập đoàn khác, với vốn Điều lệ trên 14.655 tỷ đồng
Mặt khác, Chính phủ tiếp tục phát hành trái phiếu và cho Tập đoàn này vay lại để thực hiện các dự án cấp thiết và cơ cấu lại nợ trong nước đã đến hạn Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB) cũng nhận được yêu cầu khẩn trương giải ngân nguồn vốn vay hỗ trợ khắc phục khủng hoảng từ ngân hàng Phát triển Châu á (ADB) có tổng giá trị 500 triệu USD/ 5 năm cho VINASHIN để hoàn thiện các dự
án đóng tàu dở dang mà chủ tàu đã huỷ, bất kể chưa có chủ tàu mới
VDB còn phải thông qua cho VINASHIN số vốn vay hoàn thành các công trình cơ khí trọng điểm đã được Thủ tướng phê duyệt đầu tháng 11/2009 (theo thông tin mà Đại diện Ngân hàng này cho biết số vốn này khoảng 19.800 tỷ đồng cho 20 dự án cơ khí trọng điểm
Các khoản nợ mà VINASHIN vay các NHTM nhà nước hay các NHTM nhà nước có cổ phần chi phối , công ty tài chính Nhà nước sẽ được cơ cấu lại theo hình thức giãn nợ, khoanh nợ Đối với các hợp đồng đóng tàu còn có hiệu lực và hiệu quả Chính phủ chỉ đạo các NHTM Nhà nước cho VINASHIN vay để tiếp tục hoàn thành
Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo về vấn đề tái cơ cấu Tập đoàn VINASHIN, do đồng chí Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng làm Trưởng Ban
Trang 5II - PHÂN TÍCH, XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
1 Mục tiêu của của việc phân tích, xử lý tình huống cần đạt được
Trên cơ sở phân tích tình huống các tồn tại, sai phạm trong quản lý kinh tế của Tập đoàn VINASHIN; đánh gía các hậu quả tác động, qua đó nêu xem xét các nguyên nhân để gay nên các sai phạm Từ đó tìm ra phương án khắc phục các sai phạm, yếu kém của Tập đoàn đồng thời nêu nên các giải pháp để nâng cao năng lực, hiệu quả của việc giám sát, quản lý nhà nước đối với Tập đoàn VINASHIN nói riêng và các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước nói chung
2 Cơ sở lý luận
a Quan điểm chỉ đạo của Đảng về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước:
Cần quán triệt quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Ban chấp hành TW Đảng lần thứ ba (khoá IX):
- Kinh tế nhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng XHCN, ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước Doanh nghiệp nhà nước (gồm doanh nghiệp nhà nước giữ 100% vốn và doanh nghiệp nhà nước giữ cổ phần chi phối) phải không ngừng đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế làm công cụ vaath chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế Việc xem xét, đánh giá hiệu quả doanh nghiệp nhà nước phải có quan điểm toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội
- Điều chỉnh cơ sở để doanh nghiệp nhà nước có cơ sở hợp lý, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đối với các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu, không nhất thiết phải giữ tỷ trọng lớn trong tất cả các ngành, lĩnh vực, sản phẩm của nền kinh tế
- Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý để doanh nghiệp kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo pháp luật Bảo hộ cần thiết, có điều kiện đối với ngành, lĩnh vực, sản phẩm quan trọng Xoá bao cấp đồng thời có chính sách đầu tư đúng đắn và hỗ trợ phù hợp đối với những ngành, lĩnh vực, sản phẩm cần ưu tiên phát triển Phân biệt rõ chức năng của cơ quan đại diện quyền chủ sở hữu nhà nước với chức năng điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Giao quyền quyết định nhiều hơn đi đôi với đòi hỏi trách nhiệm cao hơn đối với đại diện chủ sở hữu tại doanh nghiệp
- Việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước là nhiệm vụ cấp bách và cũng là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài với nhiều khó khăn, phức tạp Đối với những vấn đề đã rõ, đã có nghị quyết thì phải
Trang 6khẩn trương kiên quyết triển khai thực hiện; những vấn đề chưa đủ, chưa rõ thì phải tổ chức thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, kịp thời uốn nắn các sai sót, lệch lạc để có bước đi thích hợp, tích cực và vững chắc
- Tăng cường sự lãnh đạo ở các cấp, các ngành đối với việc sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước
b Qui định của Nhà nước về mô hình hoạt động các Tập đoàn kinh tế nhà nước:
Chính phủ có Nghị định số 101/2009/NĐ-CP ngày 5 tháng 11 năm 2009 về thí điểm thành lập, Tổ chức, hoạt động và quản lý Nhà nước Trong Nghị định này qui định một số điều về quyền hạn trách nhiệm của Hội đồng quản trị; cơ chế quản
lý giám sát đối với Tập đoàn như sau:
Tại Điều 16 của Nghị định: qui định về hạn chế đầu tư và về ngành nghề kinh doanh trong Tập đoàn kinh tế Nhà nước, có nêu:
- Công ty mẹ, các doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn được đăng ký những ngành nghề kinh doanh theo qui định của Pháp luật, nhưng phải tập trung vào hoạt động kinh doanh trong các ngành nghề kinh doanh chính và ngành nghề
có liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính; chịu sự giám sát của đại diện chủ
sở hữu nhà nước về việc đầu tư, tỷ lệ vốn đầu tư và hiệu quả đầu tư vào ngành nghề kinh doanh chính và ngành nghề có liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính và ngành nghề không liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính
- Trường hợp công ty mẹ trực tiếp hoặc công ty con kinh doanh các ngành nghề kinh doanh khong có liên quan đến ngành ngề kinh doanh chính thì phải đảm bảo các điều kiện sau:
+ Hoàn thành nhiệm vụ kinh doanh ngành nghề chính được chủ sở hữu giao; kinh doanh ngành nghề không liên quan không được ảnh hưởng đến nhiệm
vụ kinh doanh của ngành nghề chính và việc mở rộng, phát triển ngành nghề kinh doanh chính
+ Sử dụng hoạt động và kết quả kinh doanh các ngành nghề không liên quan
để hỗ trợ và phát triển ngành nghề kinh doanh chính
+ Thực hiện nghĩa vụ báo cáo và chịu sự giám sát của đại diện chủ sở hữu nhà nước về đầu tư, hiệu quả đầu tư và tác động của việc kinh doanh các ngành nghề không liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính
Điều 42 Quản lý, giám sát, đánh giá của chủ sở hữu nhà nước đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước
Nội dung quản lý, giám sát của chủ sở hữu đối với Tập đoàn thông qua giám sát công ty mẹ, bao gồm:
- Quản lý, giám sát công tác cán bộ, bao gồm: việc tổ chức, thành lập, gia nhập, tổ chức lại, giải thể tập đoàn kinh tế; quá trình thay đổi cơ cấu sở hữu sở hữu của công ty con dẫn đến chuyển thành doanh nghiệp có vốn dưới mức chi phối của công ty mẹ; việc thực hiện điều lệ công ty mẹ; việc bổ nhiệm,
Trang 7- Quản lý giám sát hoạt động kinh doanh, bao gồm: mục tiêu, phương hướng, chiến lược kinh doanh của Tập đoàn kinh tế; kế hoạch đầu tư, kế hoạch tài chính của công ty mẹ; danh mục đầu tư, các ngành nghề kinh doanh chính và các ngành nghề không có liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính; đầu tư vào lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn, dự án có nguy cơ rủi ro cao; nhiệm vụ hoạt động công ích;
- Quản lý giám sát tài chính: việc bảo toàn và phát triển vốn; tình hình và kết quả hoạt động tài chính; tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước; hiệu quả đầu tư và kinh doanh; chi phí tiền lương; vay nợ và khả năng thanh toán nợ; vốn điều lệ, tăng giảm vốn điều lệ, thay đổi cơ cấu vốn điều lệ; các dự án đầu tư vượt quá mức phân cấp cho công ty mẹ
3 Phân tích diễn biến
a Quá trình hình thành, phát triển và mô hình hoạt động của Tập đoàn VINASHIN
Ngày 31/01/1996 Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam được thành lập trên cơ sở sắp xếp lại các cơ sở đóng tài trong cả nước Theo đó Thủ tướng Chính phủ đã có những quyết định về phê duyệt Đề án phát triển Tổng công ty Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam và qui hoạch Tổng thể ngành Công nghiệp tàu thuỷ Việt nam giai đoạn 2001-2010 với mục tiêu chính là xây dựng và phát triển Tổng công ty công nghiệp Tàu Thuỷ Việt nam lớn mạnh, có trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại trở thành nòng cốt của ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam và trở thành ngành Kinh tế mũi nhọn của đất nước
Tập đoàn VINASHIN được thành lập theo Quyết định số 103/2006/QĐ-TTg ngày 15/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn VINASHIN)
Trong điều 1 của Quyết định nêu :
Hình thành Tập đoàn Kinh tế VINASHIN, đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước là chi phối, bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, các doanh nghiệp đa sở hữu, (gọi tắt là Tập đoàn VINASHIN), trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng công ty Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam; có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại và chuyên môn hoá cao; kinh doanh đa ngành, trong đó ngành công nghiệp đóng mới, sửa chữa Tàu thuỷ và vận tải biển là ngành kinh doanh chính; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học, công nghệ, nghiên cứu triển khai, đào tạo; làm nòng cốt để ngành công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả
Trong Quyết định đã nêu: Chính phủ thống nhất quản lý và tổ chức thực hiện các quyền, nghĩa vụ của Chủ sở hữu Nhà nước đối với Tập đoàn VINASHIN Thủ tướng Chính phủ giao cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Tàu Thuỷ Việt Nam thực hiện một số quyền của chủ sở hữu theo pháp luật qui định hiện hành, qui định cụ thể trong Quyết định thành lập công ty mẹ- Tập đoàn công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam
Trang 8và Điều lệ tổ chức hoạt động của Công ty mẹ Cơ cấu tổ chức tập đoàn, bao gồm:
Cơ cấu tổ chức của Công ty mẹ gồm 7 đơn vị; Các công ty con là các Tổng công ty do Tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều lệ, hoạt động theo mô hình công ty mẹ- con (8 Tổng công ty); Các công ty con do Tập đoàn nắm giữ 100% vốn điều
lệ, hoạt động theo mô hình công ty mẹ- con (7 công ty); Các công ty cổ phần do Tập đoàn nắm giữ 50% vốn Điều lệ và dưới 50% vốn điều lệ và các đơn vị sự nghiệp (6 đơn vị)
Đồng thời Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 104/2006/QĐ-TTg ngày 15/5/2006 về việc thành lập công ty mẹ- Tập đoàn công nghiệp tàu Thuỷ Việt Nam Theo đó, Ngành nghề kinh doanh của Tập đoàn VINASHIN bao gồm 12 lĩnh vực từ lĩnh vực liên quan đến thiết kế, đóng mới, sửa chữa Tàu; các lĩnh vực phụ trợ; các lĩnh vực kinh doanh vận tải biển; các hoạt động đào tạo nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp Tàu thuỷ; hoạt động tài chính, chứng khoán, ngân hàng và bảo hiểm; các lĩnh vực khác
Trong quyết định 104 của Thủ tướng đã nêu quyền hạn, tránh nhiệm quản lý nhà nước đối với Tập đoàn của Thủ tướng, các Bộ, ngành Về quyền hạn của Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị Tập đoàn VINASHIN, đó là:
- Xây dựng đề án thành lập mới, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hưũu trong Tập đoàn công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ triển khai thực hiện theo đề án đã được phê duyệt
- Quyết định mục tiêu, chiến lược, kế hoạch dài hạn và ngành, nghề kinh doanh của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ việt Nam sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và của Tổng công ty, công ty do Tập đoàn sở hữu toàn bộ vốn điều lệ
- Phê duyệt điều lệ, phê duyệt sửa đổi và bổ sung điều lệ của tổng công ty, công ty thành viên do Tập đoàn công nghiệp Tàu thuỷ Việt nam giữ toàn bộ vốn điều lệ
- Quyết định sử dụng, đầu tư và điều chỉnh vốn, các nguồn lực khác do Tập đoàn công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam đầu tư đối với các tổng công ty, công ty thành viên, nhưng phải đảm bảo yêu càu mức vốn điều lệ khi thành lập doanh nghiệp hoặc mức vốn pháp định đối với các ngành, nghề theo qui định của pháp luật
- Quyết định sử dụng vốn của Tập đoàn để đầu tư thành lập các đơn vị thành viên do Tập đoàn sở hữu toàn bộ vốn điều lệ nhưng không vượt quá mức vốn đầu
tư thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng quản trị và sau khi có sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ
- Phê duyệt đề án vốn góp của tổng công ty, công ty thành viên do mình nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ để thành lập mới các công ty cổ phần nhà nước, công ty TNHH nhà nước một thành viên, công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên ngoài ngành, lĩnh vực, địa bàn qui định tại Điều 6 Luật doanh nghiệp nhà nước
Trang 9- Quyết định hoặc uỷ quyền cho Tổng giám đốc điều hành quyết định các dự
án góp vốn liên doanh với chủ đầu tư nước ngoài, dự án đầu tư ra nước ngoài của tổng công ty, công ty thành viên do mình nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ
- Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, các chức, ký hợp đồng, khen thưởng, kỷ luật Tổng giám đốc điều hành sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận
- Kiểm tra, giám sát Chủ tịch Tổng công ty, Tổng giám đốc, giám đốc đơn vị thành viên trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo qui định của Luật Doanh nghiệp nhà nước và điều lệ Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam
b Những yếu kém, sai phạm trong quản lý tại Tập đoàn VINASHIN
* Với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, VINASHIN đã trở thành một trong những đơn vị được Thủ tướng Chính phủ thí điểm thành lập theo mô hình Tập đoàn kinh tế, đơn vị này đã có những thành tích đáng kể trong hoạt động đóng mới tàu thuỷ đưa nước ta trở thành một trong những nước xuất khẩu tầu thuỷ (Chúng ta
đã đóng mới những tàu có trọng tải lớn đến 54.000 tấn cho nước ngoài; chúng ta
đã có được một đội ngũ kỹ sư có kinh nghiệm, kỹ năng về công nghiệp đóng Tầu của các nước trên thế giới)
* Tuy nhiên, do có nhiều nguyên nhân, hiên tại Tập đoàn VINASHIN đang đứng trước một thực trạng rất khó khăn về tài chính, có những yếu kém và sai phạm trong quản lý của Tập đoàn đã đưa Tập đoàn đứng trước nguy cơ phá sản Những yếu kém, sai phạm trong quản lý tài sản, nguồn vốn của Nhà nước của Tập đoàn VINASHIN được bộc lộ ở nhiều khía cạnh như:
- Đầu tư dàn trải, thiếu tính khả thi: do công tác dự báo có nhiều bất cập nên việc lập kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư không chính xác, các dự án đầu tư quá nhiều, dàn trải, vượt khả năng cân đối tài chính, hầu hết các dự án đầu tư đều triển khai dở dang, nhiều dự án kém hiệu quả Chẳng hạn như đầu tư 1.300 tỷ đồng vào chiếc tàu du lịch Hoa sen nhưng hiện nay hầu như không khai thác, sử dụng Tập đoàn đã phát triển quá nhanh về số lượng các doanh nghiệp thành viên, tính đến cuối năm 2009 các công ty con, công ty liên kết của Tập đoàn đã lên tới 200 doanh nghiệp, sự phát triển quá lớn trong khi trình độ và khả năng quản lý chưa theo kịp
- Vay nợ chồng chất dẫn tới nguy cơ phá sản: để giải quyết các khó khăn về tài chính, Tập đoàn đã vay nợ mới để trả nợ cũ, thậm chí lấy vốn lưu động để chi đầu tư, kinh doanh thua lỗ từ năm 2009 và rơi vào tình trạng mất cân đối tài chính nghiêm trọng
- Trình độ cán bọ lãnh đạo quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu, xây dựng và thực hiện kế hoạch quá nhanh, không phù hợp với nguồn vốn, năng lực quản lý và qui hoạch phát triển được cấp có thẩm quyền phê duyệt; quản lý tài chính lỏng lẻo, kém hiệu quả; tổ chức phát triển hệ thống doanh nghiệp quá dàn trải,
Trang 10- VINASHIN báo cáo không trung thực về về sử dụng vốn, về đầu tư, về phát triển doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh; Năm 2009 và quí 1 năm 2010 thua lỗ nhưng vẫn báo cáo có lãi
Qua sự việc nêu trên, có thể thấy Theo mô hình hoạt động thí điểm của Tập đoàn có bộc lỗ những hạn chế như: Hội đồng quản trị, lãnh đạo của Tập đoàn VINASHIN được trao nhiều quyền hạn rộng lớn trong đầu tư, kinh doanh và sử dụng vốn, nhưng lại không đi kèm với cơ chế kiểm soát, giám sát hiệu quả; chẳng hạn như việc kiểm toán Báo cáo tài chính của Tập đoàn cũng không nêu là bắt buộc phải thực hiện kiểm toán định kỳ hàng năm; các báo cáo với các cơ quan chức năng về tình hình quản lý, sử dụng vốn tài sản nhà nước còn chưa đảm bảo
độ tin cậy, trung thực và chưa được các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, xem xét đầy đủ Theo qui định thì cũng chưa bắt buộc Tập đoàn VINASHIN phải trình kế hoạch đầu tư, kế hoạnh tài chính lên các Bộ, ngành để phê duyệt trước khi triển khai thực hiện
Sự quản lý giám sát của các Bộ, ngành trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh, các dự án đầu tư của Tập đoàn VINASHIN chưa được chặt chẽ, nhiều dự
án không có tính khả thi nhưng vẫn được triển khai thực hiện Các Bộ, ngành địa phương cũng chưa giám sát trong việc phê duyệt dự án, giao đất để triển khai dự
án mà không phân tích, đánh giá đầy đủ tính khả thi của các dự án, sự phù hợp của
dự án trong tổng thể qui hoạch phát triển kinh tế chung của ngành, địa phương
Xuất phát từ việc mở rộng quá nhiều dự án đầu tư như trên, trong khi nguồn vốn chủ sở hữu thấp thì tất yếu là Tập đoàn VINASHIN phải đi vay các Tổ chức tín dụng hoặc chiếm dụng vốn của các nhà thầu, bạn hàng Các tổ chức tín dụng cũng đã không thẩm định chặt chẽ các dự án đầu tư mà Tập đoàn xin vay vốn (không đánh giá hết tính khả thi của dự án, chưa dự báo đúng những rủi ro của lĩnh vực kinh doanh tàu thuỷ và vận tải biển cũng như các lĩnh vực khác của Tập đoàn); sau quá trình cho vay cũng chưa có cơ chế giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn vay; chưa nắm bắt đầy đủ kịp thời tiến độ và tình hình triển khai các dự án hình thành
từ vốn vay ngân hàng của Tập đoàn để kịp thời có những điều chỉnh
4 Hậu quả và nguyên nhân của sự việc
a Hậu quả những yếu kém, sai phạm trong quản lý kinh tế tại Tập đoàn VINASHIN:
- Tình hình tài chính của VINASHIN ảnh hưởng xấu tới các tổ chức tín dụng, bởi hiện nay nhiều ngân hàng đã đầu tư hàng ngàn tỷ đồng vào các dự án của VINASHIN, trong đó có nhiều khoản vay đã đến hạn trả nợ nhưng thực tế tiền vay đang đầu tư vào những dự án kém hiệu quả, thậm chí còn dở dang do đó chưa đi vào khai thác sử dụng, chưa có nguồn thu để trả nợ ngân hàng Trong khi các ngân hàng thương mại thì phải thực hiện huy động vốn từ dân cư, từ các doanh ngiệp để cho vay (vẫn phải trả đầy đủ gốc và lãi cho các khoản nguồn vốn); do đó nếu không thu hồi được nợ vay từ Tập đoàn VINASHIN sẽ đẩy các ngân hàng đến tình