DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂUTrang Bảng 2.1: Nhận thức của ban lãnh đạo nhà trường và giáo viên về công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường cao đẳng Giao thông vận tải khu
Trang 1NGUYỄN MẠNH HÙNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI KHU VỰC MIỀN TRUNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
_
NGUYỄN MẠNH HÙNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI KHU VỰC MIỀN TRUNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Chuyên ngành:
Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục Chính trị
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THÁI SƠN
NGHỆ AN, 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tập thể cán bộgiảng viên Phòng đào tạo Sau đại học, Khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đạihọc Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình học tập vànghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà giáo, các nhà khoa học đã tận tìnhgiảng dạy, giúp đỡ, hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiêncứu tại trường
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thái Sơn đã tận tìnhgiúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình làm luận văn
Chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể cán bộ giảng viên, sinh viênTrường Cao đẳng GTVT miền Trung - Tỉnh Nghệ An và Trường Cao đẳngGTVT II - Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, tham gia đóng gópnhiều ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Bản thân tôi đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, nhưng
do điều kiện nghiên cứu và khả năng còn hạn chế, luận văn chắc chắn khôngtránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến quý báu củaquý thầy, cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
Trang
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5
A MỞ ĐẦU 6
B NỘI DUNG 13
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 13
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 13
1.2 Tầm quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với nước ta hiện nay 30
1.3 Mục tiêu, yêu cầu và những nội dung cơ bản của công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường cao đẳng Giao thông vận tải khu vực miền Trung đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa 39
Kết luận chương 1 45
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI KHU VỰC MIỀN TRUNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 47
2.1 Khái quát về các trường cao đẳng Giao thông vận tải khu vực miền Trung 47
Trang 52.2 Thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường cao đẳng Giao thông vận tải khu vực miền Trung đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa 58
2.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường cao đẳng Giao thông vận tải khu vực miền Trung đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa 76
Kết luận chương 2 89
C KẾT LUẬN 91
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 100
Trang 6GD ĐĐNN : Giáo dục đạo đức nghề nghiệp
GD - ĐT : Giáo dục đào tạo
HS,SV : Học sinh, sinh viên
KH & CN : Khoa học và Công nghệ
KT - XH : Kinh tế - xã hội
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Nhận thức của ban lãnh đạo nhà trường và giáo viên về công tác giáo
dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường cao đẳng Giao thông vận tải khu vực miền Trung đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH 65Bảng 2.2: Nhận thức của SV về tiêu chuẩn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp đáp
ứng yêu cầu CNH, HĐH của người lao động hiện nay 67Bảng 2.3: Nhận thức của sinh viên về các giá trị đạo đức truyền thống cần có
trong đạo đức nghề nghiệp của người lao động đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH của đất nước 70
Trang 8A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nó chi phối mạnh mẽ mọi mặtcủa đời sống con người, trong các quan hệ xã hội đạo đức là gốc của mọi sựtốt đẹp, đặt nền tảng cho mọi công việc như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng
khẳng định: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì
sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải
có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [28, tr.252-253].
Trong bối cảnh hiện nay đang tồn tại những giá trị đạo đức tốt đẹp tạo nềntảng tinh thần của xã hội đồng thời đan xen cả những vấn đề phi đạo đức trái vớithuần phong mỹ tục Vì vậy, giáo dục đạo đức cho các thế hệ sinh viên nói riêng
và con người Việt Nam nói chung là một trong những biện pháp then chốt củacác trường Cao đẳng, Đại học nhằm đào tạo ra những lao động tương lai có nănglực sáng tạo và phẩm chất đạo đức tốt góp phần thực hiện thành công sự nghiệpCNH, HĐH đất nước Trong công cuộc đổi mới đất nước, đại đa số sinh viên có
ý chí vươn lên trong học tập, có hoài bão và khát vọng đưa đất nước thoát khỏinghèo nàn lạc hậu Tuy vậy, trong những năm gần đây do tác động của cơ chếthị trường và nhiều nguyên nhân khác, đã ảnh hưởng đến tâm lý, lối sống củanhiều sinh viên Sinh viên hiện nay đang đối mặt với nhiều khó khăn như: việclựa chọn những hành vi ứng xử vừa phù hợp với giá trị đạo đức truyền thốngvừa phải theo kịp sự phát triển của xã hội hiện đại Mặt trái của sự hội nhập là sựxáo trộn, mất ổn định trong tâm lý, đạo đức của rất nhiều người trong xã hội.Sinh viên là lứa tuổi nhạy cảm với cái mới, hay bắt chước nên dễ làm cho họ cónhững hành vi bột phát, hành vi lệch chuẩn ứng xử trong các mối quan hệ.Những hành vi lệch chuẩn đều gây ra những hậu quả xấu cho cá nhân và xã hội
Trang 9Thế hệ sinh viên Việt Nam hiện nay là nguồn nhân lực chất lượng cao củađất nước trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI Cùng với coi trọng giáo dụcchuyên môn, nghiệp vụ, việc quan tâm giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên là nhiệm vụ trọng tâm Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đã
khẳng định: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược… Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp” [10, tr.13-14] Với nội dung cơ
bản của giáo dục đạo đức mới trong các trường đại học, cao đẳng: Coi trọngcông tác giáo dục chính trị, tư tưởng; Coi trọng hoạt động giáo dục đạo đức nóichung và đạo đức nghề nghiệp nói riêng; coi trọng sự tu dưỡng của bản thân sẽđào tạo ra thế hệ sinh viên có chuyên môn nghề nghiệp vững vàng, năng động,sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức và ý chí vươn lên đáp ứng yêu cầucủa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Xác định được tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp đối với sinh viêntrong quá trình CNH, HĐH những năm qua các trường Cao đẳng GTVT khuvực miền Trung đã làm tốt công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên.Với mục tiêu giáo dục của các Trường là đào tạo người lao động Việt Nam pháttriển toàn diện, có trình độ tay nghề cao, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và đạo đứcnghề nghiệp Xuất phát từ mục tiêu giáo dục đó, trong những năm qua cácTrường Cao đẳng GTVT khu vực miền Trung đã tăng cường công tác giáo dụcchính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho sinh viên, góp phần đào tạo toàndiện người trí thức để đáp ứng yêu cầu của xã hội Tuy nhiên, trong thời kì hộinhập và phát triển, công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên của cáctrường cần được đặc biệt quan tâm hơn nữa nhằm góp phần giáo dục toàn diện,hoàn thiện nhân cách và bản lĩnh cho sinh viên đồng thời giúp cho sinh viên cónhững kĩ năng mềm dễ dàng thích nghi với những môi trường của xã hội, từ đó
Trang 10hình thành nên những lao động tương lai của đất nước vừa có trình độ, vừa cóđạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH
Trong những thập kỷ gần đây có rất nhiều công trình khoa học của nhiềunhà nghiên cứu bàn về vấn đề giáo dục đạo đức nói chung, giáo dục đạo đứcnghề nghiệp nói riêng trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh quá trình CNH,HĐH hiện nay Nhìn chung các tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnhkhác nhau, theo những cách tiếp cận khác nhau:
Một số tác giả đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh, sinhviên, chỉ ra thực trạng đạo đức, lối sống của học sinh, sinh viên hiện nay và từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh,sinh viên trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước: Trần Hậu Kiêm, Đoàn Đức Hiếu
(2002), “Hệ thống phạm trù đạo đức học và giáo dục đạo đức cho sinh viên”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội TS Lê Hữu Ái (chủ biên) (2007):“Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục thanh niên hiện nay”, Nxb Đà Nẵng Nguyễn Thị Minh Chiến (2009), "Giáo dục đạo đức cho HSSV", Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Huỳnh Công Ba (2011), “Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho sinh viên Trường Đại học sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập và phát triển”, Tạp chí khoa học Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, số 31 ThS Nguyễn Thị Thủy (2015) “Vấn đề
giáo dục đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Lý luận Chính
trị và Truyền thông số tháng 3 PGS.TS Bùi Minh Hiền (2001), "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên Đại học Quốc gia
Hà Nội", Trường Đại học Quốc gia, Hà Nội; PGS.TS Nguyễn Xuân Uẩn Trường Đại học quốc gia Hà Nội đã có công trình: “Xây dựng lối sống và đạo đức mới cho học sinh, sinh viên Đại học sư phạm phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH"; Đồng tác giả Lê Hữu Ái và Lê Thị Tuyết Ba - Đại học Kinh tế (Đại học
-Đà Nẵng) đã có bài viết “Các nội dung và hình thức giáo dục đạo đức cho Sinh viên Đại học Đà Nẵng hiện nay”; TS Nguyễn Lương Bằng, Giáo dục ý thức
Trang 11chính trị cho sinh viên trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế”, Tạp chí lý
luận chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, số 12, tr 50-54, 2008
Trên các Tạp chí Triết học, Xã hội học, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí giáodục, Tạp chí lí luận và một số tạp chí khác cũng có rất nhiều bài viết đi sâu bàn
về vấn đề đạo đức nghề nghiệp: Đặc biệt, trong Tạp chí Triết học số 125 (2001),
có bài viết của TS Nguyễn Văn Phúc: “Vấn đề xây dựng đạo đức nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, tác giả chủ yếu đi sâu phân tích
tác động của cơ chế thị trường đến các hoạt động nghề nghiệp từ đó xây dựngđạo đức kinh doanh; trong Tạp chí Giáo dục số 104 (2004) có bài viết của TS,
Lê Thanh Thập: “Giáo dục ý thức đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên” Trong
bài viết này tác giả đã nêu lên một số thực trạng của ý thức đạo đức nghềnghiệp, từ đó đề cập đến việc giáo dục ý thức đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
và chỉ ra quá trình hình thành ý thức đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
Ngoài ra một số luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục có nghiên cứu đếnvấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp như:
Nguyễn Trung Dũng 2009, Luận văn Thạc sỹ khoa học giáo dục Những giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Y tế Nghệ An.
Nguyễn Thị Mai Anh 2012, Luận văn Thạc sỹ khoa học giáo dục Giáo dục đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế cho HSSV trường Cao đẳng nghề kỹ thuật công nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc, tỉnh Nghệ An
-Từ những công trình nghiên cứu trên các tác giả đã đề cập tới nhiều khíacạnh của vấn đề đạo đức, những giải pháp thiết thực nhằm định hướng cho côngtác giáo dục đạo đức đối với thế hệ trẻ nói chung và HS,SV nói riêng Đồngthời, các công trình trên cũng chính là tài liệu hết sức bổ ích khi nghiên cứu
Trang 12những vấn đề này Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nàonghiên cứu một cách trực tiếp, có hệ thống về đến việc giáo dục đạo đức nghềnghiệp cho sinh viên các trường cao đẳng ngành GTVT khu vực miền Trungtrong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường cao đẳng GTVT khu vực miền Trung đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc
sĩ chính trị học, với mong muốn đóng góp một phần vào sự nghiệp đào tạo củatrường trong công cuộc đổi mới đất nước
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên các trường cao đẳng GTVT khu vực miền Trung, tuy nhiên do hạn chế vềmặt thời gian và một số điều kiện nghiên cứu khác, tác giả chỉ tập trung khảo sát
ở 02 trường; Trường cao đẳng GTVT miền Trung - Tỉnh Nghệ An và Trườngcao đẳng GTVT II - Đà Nẵng
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH cho sinh viên các trường cao đẳng GTVT
khu vực miền Trung
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp chosinh viên
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệpđáp ứng yêu cầu CNH, HĐH cho sinh viên các trường cao đẳng GTVT khu vựcmiền Trung
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không nghiên cứu quá trình giáo dục nói chung mà chỉ tập trungcông tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho đối tượng là sinh viên các trườngcao đẳng GTVT khu vực miền Trung Tuy nhiên do hạn chế về mặt thời gian vàcác điều kiện khác nên tác giả chỉ khảo sát, đánh giá công tác giáo dục đạo đứcnghề nghiệp cho sinh viên ở 02 trường: Trường cao đẳng GTVT miền Trung -Tỉnh Nghệ An và Trường cao đẳng GTVT II - Đà Nẵng
Trong phạm vi đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu để đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các
trường cao đẳng GTVT khu vực miền Trung đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH
5 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng
và Nhà nước về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong thời kỳ CNH,HĐH đất nước
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết gồm: Phân tích, tổng hợp tàiliệu, phân loại và hệ thống hoá lý thuyết
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm: Điều tra, khảo sát, phỏngvấn thu thập thông tin để phân tích, đánh giá cơ sở phương pháp luận cho đề tàiphương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, phát vấn, đàm thoại
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống các giải pháp có tính khoa học, đồng bộ, phùhợp, sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp
Trang 14cho sinh viên các trường cao đẳng GTVT khu vực miền Trung đáp ứng yêu cầuCNH, HĐH
- Đề xuất một số kiến nghị cho các cơ quan ban ngành có liên quan trongviệc giáo dục đạo đức nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh quá trình CNH,HĐH cho sinh viên trong các trường Đại học, Cao đẳng nói chung và sinh viêncác trường cao đẳng GTVT khu vực miền Trung nói riêng
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm: 2 chương, 6 tiết
Trang 15B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG
CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội baogồm những nguyên lý, quy tắc chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trongquan hệ với người khác và với cộng đồng Đạo đức không phải là một phạm trùtrừu tượng do Thượng đế sinh ra, mà là một phạm trù lịch sử Đạo đức ra đời,phát triển do nhu cầu của xã hội, nhằm duy trì, phát triển quan hệ xã hội đã đượcxác lập
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức
đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, HyLạp cổ đại
Theo từ nguyên “Đạo đức” trong tiếng Anh là Ethics, tiếng Anh thờiTrung cổ là Ethik vốn xuất phát từ Latinh là Ethice, từ Hy Lạp là Ethos nghĩa lànhân cách, tính cách, tư cách hay là phong cách Do đó khi nói đến đạo đức làngười ta thường liên tưởng đến tính cách tốt xấu của một người nào đó hay nóicách khác đó là cách ứng xử được biểu hiện qua hành vi và lời nói theo quanniệm đạo đức hay phong tục, tập quán của xã hội đặt ra Sau này người tathường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học
Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đạibắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ Đạo là một trong những phạm trùquan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại Đạo có nghĩa là con đường,
Trang 16đường đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đườngcủa tự nhiên Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội.Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo,
là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Như vậy có thể nói đạo đức của người TrungQuốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra màmỗi người phải tuân theo Khái niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh vănđời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều
Trong quá trình hình thành và phát triển của đạo đức thì các nhà nghiêncứu đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về đạo đức, dưới đây là một trong hai địnhnghĩa được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận đó là:
Theo Giáo trình Đạo đức học do PGS.TS Trần Đăng Sinh và TS NguyễnThị Thọ biên soạn: Đạo đức là một hiện tượng xã hội phản ánh các mối quan hệhiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của con người [42, tr816] Đạo đức
là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của mộttập hợp người nhất định về thế giới, về cách sống, nhờ đó con người điều chỉnhhành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội
Trong Từ điển Triết học định nghĩa: “Đạo đức là một trong những hìnhthái ý thức xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành vicủa con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ”[50, tr.301]
Từ những định nghĩa trên thì tựu trung lại đạo đức được hiểu theo hainghĩa như sau:
Hiểu theo nghĩa hẹp: đạo đức là luân lí, những quy định, những chuẩn
mực ứng xử trong quan hệ của con người với con người Nhưng trong điều kiệnhiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồmnhững quy định, những chuẩn mực, ứng xử của con người, với công việc và vớibản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống Như việc phá hoại môitrường đang dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đe doạ sự tồn vong của nhânloại thì nội dung của đạo đức không chỉ là lòng yêu tổ quốc, yêu đồng bào, yêu
Trang 17con người, lòng nhân ái nói chung mà nội dung của đạo đức còn bao gồm nhữngvấn đề như: giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đó là
lòng yêu nước, nhân ái, tự lực, tự cường, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư,
hiếu học, thuỷ chung, tình nghĩa, tôn trọng người già…; bảo vệ môi trường sinhthái; vấn đề dân số và kế hoạch hoá gia đình; chống bạo lực và tệ nạn xã hội;đấu tranh cho một thế giới hoà bình, ổn định và bình đẳng, dân chủ và phát triểnbền vững
Theo nghĩa rộng: định nghĩa đạo đức liên quan chặt chẽ đến phạm trù
chính trị, pháp luật, lối sống thì đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách nóphản ánh bộ mặt của nhân cách, của một cá nhân đã được xã hội hoá Đạo đứcđược biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng ở hành động gópphần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn Khi thừa nhận đạo đức làmột hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗitầng lớp, giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với cácvấn đề đang tồn tại
Ngày nay, đạo đức được hiểu là một hình thái ý thức xã hội luôn đượcmọi giai cấp, trong mọi thời đại quan tâm Đạo đức là phép ứng xử có nhânphẩm giữa người này với người khác Đạo đức luôn luôn là mối quan hệ haichiều, là một thể chế đặc thù của xã hội nhằm điều chỉnh các hành vi của conngười trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Đạo đức là phương thức xác lậpmối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân
Các Mác cho rằng: Đạo đức chính là lực lượng bản chất của con ngườitrong sự phát triển của nó theo hướng ngày càng đạt tới giá trị đích thực củacái thiện
Theo ông, bất luận trong mối quan hệ xã hội nào thì đạo đức cũng là quan
hệ thực sự người, là sự phản ánh tồn tại xã hội cho nên mỗi hình thái kinh tế - xãhội hay mỗi giai đoạn lịch sử đều định hình những nguyên tắc, chuẩn mực đạođức tương ứng Trong đó, ngoài những giá trị chung, nó còn hàm chứa các nét
Trang 18đặc thù Đó là cơ sở hình thành các thang bậc đạo đức của mỗi giai đoạn lịch sửhoặc mỗi hình thái KT-XH nhất định Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lí, lànhững chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người Theo nghĩa rộng, kháiniệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống.
Tóm lại, đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyêntắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan
hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tươnglai, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnhcủa dư luận xã hội
1.1.2 Khái niệm giáo dục đạo đức
Từ xưa, ông cha ta đã đúc kết một cách sâu sắc kinh nghiệm về giáo dục
“Tiên học lễ, hậu học văn”, “Lễ” ở đây chính là nền tảng của sự lĩnh hội và phát triển tốt các tri thức và kỹ năng Ngày nay, phương châm “Dạy người, dạy chữ, dạy nghề” cũng thể hiện rõ tầm quan trọng của hoạt động giáo dục
đạo đức, như Bác Hồ đã dạy: “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức.Đức là đạo đức cách mạng Đó là cái gốc quan trọng Nếu thiếu đạo đức, conngười sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không
phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng
nói: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác, tựnguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ củamình Tức là thanh niên phải có đức, có tài Có tài mà không có đức ví nhưmột anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng nhữngkhông làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa nếu cóđức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gìcho loài người” [33, tr.197]
Đảng ta đã chủ trương: Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng,đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lênin, đưa việc giáo dục tư tưởng Hồ
Chí Minh vào nhà trường phù hợp với từng lứa tuổi và bậc học Bởi vậy, tu
Trang 19dưỡng và rèn luyện bản thân để trở thành người có nhân cách, vừa có đức vừa
có tài là hết sức quan trọng đối với mỗi con người, là nhiệm vụ hàng đầu củathanh niên, học sinh, sinh viên
Ngày nay, việc tiến vào nền văn minh tri thức sẽ đặt ra những thách thứcmới, câu hỏi mới về người đại diện của nền văn minh mới đó là ai, phải chăng
là con người có giáo dục? Một thuật ngữ của Peter F Drucker, tác giả củanhững công trình nghiên cứu nổi tiếng thế giới về kinh tế và xã hội mà chúng
ta có thể tham khảo Theo Peter Ferdinand Drucker: Sự thay đổi vĩ đại nhất sẽ
là sự thay đổi về tri thức, về hình thức và nội dung, về ý nghĩa của tri thức, vềnhững trách nhiệm của tri thức và về những đặc điểm của con người có giáo
dục Con người đó là một “nguyên mẫu xã hội”, theo cách nói của các nhà xã
hội học, “Con người có giáo dục sẽ quyết định khả năng hoạt động của xã hội.Con người này cũng là hiện thân của các giá trị, niềm tin và trách nhiệm của xãhội”[43, tr.240-250]
Ở thời đại nào, dưới chế độ nào, việc giáo dục đạo đức cho thế hệ đanglớn cũng là trung tâm chú ý của mọi thành viên trong xã hội Trước đây nhiềungười vẫn cho rằng khi kinh tế phát triển, con người giàu có thì đạo đức, quan
hệ giữa người và người sẽ tốt đẹp hơn Nhưng có lẽ thật thiếu sót khi cho rằngnhư vậy, bởi một khi con người chưa tự ý thức bản thân mình, chưa có tráchnhiệm với bản thân mình, gia đình, cộng đồng và xã hội thì vấn đề giáo dục đạođức vẫn là quan trọng và rất cần thiết ở bất kỳ thời đại nào
Giáo dục đạo đức là một nội dung quan trọng trong giáo dục nhân cáchcon người phát triển toàn diện Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhởmọi người phải có đức, có tài mới đóng góp được nhiều lợi ích cho xã hội Mỗigiai đoạn lịch sử phát triển xã hội có mục tiêu, nội dung, chương trình, phươngpháp, hình thức giáo dục cụ thể nhằm xây dựng nhân cách toàn diện cho thế hệtrẻ, đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi phát triển của xã hội
Ngày nay, xã hội đã giàu lên rất nhiều, nhưng đâu đâu cũng báo hiệu về
Trang 20sự suy thoái đạo đức thể hiện dưới những hình thức khác nhau, đang làm vẩnđục cuộc sống yên lành của xã hội loài người Ở nước ta, từ ngày chuyển sangnền kinh tế thị trường, đời sống nhân dân tăng lên, nhiều người đã trở thành giàu
có, nhân cách con người đã có những biến đổi, nhưng bên cạnh mặt tích cực, đãxuất hiện những biểu hiện tiêu cực Vì vậy, nghiên cứu giáo dục đạo đức đangđựơc đặt ra trong những điều kiện mới Để có được những nghiên cứu cụ thểchúng ta phải xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức, nộidung của giáo dục đạo đức và phương pháp giải quyết vấn đề giáo dục đạo đứcnhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quan trọng này:
- Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục đạo đức: Gia đình được xác định
là trường học đầu tiên về đạo đức, tính cách đối với mỗi con người trong đó cha
mẹ chính là người thầy đầu tiên của con cái; Giáo dục nhà trường có vai trò rấtquan trọng trong giáo dục đạo đức học sinh; Cộng đồng có ảnh hưởng quantrọng và vai trò hỗ trợ tích cực đối với chương tình giáo dục đạo đức
- Nội dung giáo dục đạo đức gồm 6 nhóm giá trị: 1/ Nhóm giá trị trongquan hệ với bản thân; 2/ Nhóm các giá trị trong quan hệ với người khác; 3/Nhóm giá trị trong quan hệ với công việc; 4/ Nhóm các giá trị trong quan hệvới Tổ quốc, với cộng đồng; 5/ Nhóm giá trị trong quan hệ với nhân dân và cácdân tộc trong khu vực, trên thế giới; 6/ Nhóm giá trị trong quan hệ với môitrường tự nhiên
- Phương pháp giáo dục đạo đức: 1/ Giáo dục nhà trường qua con đườngdạy học các môn học và qua con đường tổ chức các hoạt động giáo dục ngoàigiờ lên lớp; 2/ Giáo dục gia đình; 3/ Giáo dục xã hội
Như vậy, giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên là giáo dục lòng trungthành đối với Đảng, hiếu với Dân, yêu quê hương đất nước, có lòng vị tha, nhân
ái, cần cù liêm khiết và chính trực Đó là đạo đức Xã hội chủ nghĩa là đạo đứccủa cá nhân, tập thể và chủ nghĩa nhân đạo mang tính chân thực tích cực, khácvới đạo đức vị kỷ, cá nhân Giáo dục đạo đức học sinh, sinh viên gắn chặt với
Trang 21giáo dục tư tưởng - chính trị, giáo dục truyền thống và giáo dục bản sắc văn hóadân tộc, giáo dục pháp luật nhà nước XHCN, cung cấp cho học sinh, sinh viênnhững phương thức ứng xử đúng trước vấn đề của xã hội giúp cho các em cókhả năng tự kiểm soát được hành vi của bản thân một cách tự giác, có khả năngchống lại những biểu hiện lệch lạc về lối sống.
Tóm lại, giáo dục đạo đức: là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xâydựng cho thế hệ trẻ những tính cách nhất định và bồi dưỡng cho họ những quytắc hành vi thể hiện trong giao tiếp với mọi người với công việc, với Tổ quốc.Giáo dục đạo đức cần phải được coi trọng đặc biệt, nhất là trong sự nghiệp cáchmạng hiện nay của dân tộc khi mà nước ta gia nhập WTO Giáo dục đạo đức chothế hệ trẻ là làm cho nhân cách của họ phát triển đúng về mặt đạo đức, tạo cơ sở
để họ ứng xử đúng đắn trong các mối quan hệ của cá nhân với bản thân, vớingười khác (gia đình, bạn bè, thầy cô giáo…) với xã hội, với tổ quốc, với môitrường tự nhiên, với cộng đồng quốc tế
1.1.3 Giáo dục đạo đức nghề nghiệp
1.1.3.1 Quan điểm về đạo đức nghề nghiệp
Khi bàn về đạo đức nghề nghiệp có nhiều quan niệm khác nhau, theoquan niệm của quốc tế về đạo đức nghề nghiệp không giống với quan niệm củaViệt Nam Từ trước tới nay ở Việt Nam, nói đến đạo đức nghề nghiệp, chúng tathường liên tưởng tới việc một người có dối trá, lừa gạt, vi phạm pháp luật, v.v hay không? Trong khi đó theo quan niệm của quốc tế, nói đến đạo đức nghềnghiệp là nói đến các tiêu chuẩn nghề nghiệp như trình độ, năng lực chuyênmôn, kinh nghiệm thực tế, v.v hoặc các quan hệ về kinh tế tài chính như gópvốn, đầu tư, vay nợ, v.v Tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp là đảm bảođược sự độc lập, khách quan và không lệ thuộc vào các quan hệ kinh tế tài chínhtrong quá trình hành nghề Nhưng tổng hợp những quan niệm đạo đức nghềnghiệp lại có hai khuynh hướng sau:
Với tư cách là phương thức kiếm sống, hoạt động nghề nghiệp là hoạt
Trang 22động cơ bản của con người Trong hoạt động nghề nghiệp, những lợi ích trựctiếp và thiết yếu nhất của con người được thực hiện Nhưng khi thực hiện lợi íchcủa mình, con người không thể không có quan hệ về mặt lợi ích đối với ngườikhác, với xã hội Vì thế, hoạt động nghề nghiệp cũng là hoạt động mà ở đó,những quan hệ đạo đức cơ bản giữa con người và con người, giữa con người và
xã hội được thể hiện Do tính đặc thù của hoạt động nghề nghiệp mà xã hội cónhững yêu cầu, những đòi hỏi cụ thể về nghề nghiệp cũng như về đạo đức đốivới từng dạng hoạt động nghề nghiệp nhất định Vì thế, từ lâu đạo đức nghềnghiệp, dưới những hình thức và mức độ nhất định, đã hình thành như một lĩnhvực đặc thù của đạo đức xã hội
Có thể nhận thấy những biểu hiện đầu tiên của đạo đức nghề nghiệp tronghoạt động của các phường hội thủ công hay trong việc hành nghề của các thầythuốc Trong các phường hội thủ công (ở phương Tây cũng như phương Đông),những yêu cầu về chữ tín, về chất lượng sản phẩm luôn được đề cao Ban đầu,những yêu cầu đó bị quy định bởi chính yêu cầu và quá trình của sản xuất vàtrao đổi hàng hoá, nhưng cùng với thời gian, việc tuân thủ chúng đã trở thànhdanh dự và nghĩa vụ đạo đức của các thành viên trong phường hội nghề nghiệp.Tương tự như vậy, y tế cũng là một trong những lĩnh vực mà từ lâu đã xuất phátnhững yêu cầu của đạo đức nghề nghiệp Do có liên quan trực tiếp đến sinhmệnh của bệnh nhân, lĩnh vực này đòi hỏi một trách nhiệm cao, một sự tận tâm,
một tình thương “lương y như từ mẫu” Chính vì thế, ngay từ thời Cổ đại
Hipôrát, người được coi là ông tổ của ngành y, đã đề xuất những yêu cầu y đức
mà về sau, những yêu cầu đó đã trở thành nội dung lời tuyên thề nghề nghiệpmang tên ông đó là lời thề Hipôcrát:
Tôi sẽ chỉ dẫn mọi chi tiết có lợi cho người bệnh tuỳ theo khả năng và sựphán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công Tôi sẽ không trao chấtđộc cho bất kỳ ai, kể cả khi họ yêu cầu và không tự mình gợi ý cho họ Tôisuốt đời hành nghề cho sự vô tư và thân thiết Dù vào bất cứ nhà nào, tôi cũng
Trang 23chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh mọi hành vi xấu xa, cố ý, nhất là tránh cám
dỗ phụ nữ thiếu niên, tự do hay nô lệ Dù tôi có nhìn hoặc nghe thấy gì trong
xã hội trong và cả ngoài lúc hành nghề của tôi, tôi sẽ xin im lặng trước nhữngđiều không bao giờ cần để lộ ra và coi sự kín đáo trong trường hợp đó như mộtnghĩa vụ
Ở nước ta danh y Lê Hữu Trác cũng đòi hỏi người thầy thuốc chân chính
phải là người nêu cao tám đức tính: Nhân, Minh, Trí, Đức, Thành, Lượng, Khiêm, Cần; và tránh xa tám điều tội lỗi: Lười, Tham, Keo, Lừa dối, Bất nhân, Hẹp hòi, Thất đức, Dốt Với một ý nghĩa nhất định, có thể coi: Tu, Tề, Trị, Bình,
nêu gương như là một chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp mà Nho giáo đòi hỏi ởnhững nhà quản lý xã hội
Vấn đề đạo đức nghề nghiệp đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong
nhiều tác phẩm của Người Năm 1927, tác phẩm “Đường Kách mệnh” của
Nguyễn Ái Quốc được xuất bản là một trong những văn kiện lý luận quan trọngđầu tiên dùng để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào cách mạng
Việt Nam Ngay từ đầu tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người đã chỉ ra những
đức tính cần có của một người cách mạng như sau:
“Tự mình phải:
Cần kiệmHoà mà không tư
Cả quyết sửa lỗi mìnhCẩn thận mà không nhút nhátHay hỏi
Nhẫn nại (chịu khó)Hay nghiên cứu, xem xét
Vị công, vong tưKhông hiếu danh, không kiêu ngạoNói thì phải làm
Trang 24Giữ chủ nghĩa cho vững
Hy sinh
Ít lòng tham muốn về vật chất
Bí mật
Đối với người phải:
Với từng người thì khoan thứVới đoàn thể thì nghiêm
Có lòng bày vẽ cho ngườiTrực mà không táo bạoHay xem xét người
Làm việc phải:
Xem xét hoàn cảnh kỹ càngQuyết đoán
Dũng cảmPhục tùng đoàn thể” [31, tr.378-379]
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo nhân dân ta giànhthắng lợi trong cách mạng tháng Tám năm 1945 và tiến hành cuộc “kháng chiến,kiến quốc” thì giáo dục cán bộ, đảng viên, xây dựng và củng cố Đảng ta thànhmột Đảng Mác - Lênin chân chính, điều này đã trở thành vấn đề cốt tử
Ngay từ những năm đầu xây dựng đất nước, trên cương vị người lãnh đạo,Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới lối sống, tư tưởng, đạo đức của cáccán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước và người lao động mà đặc biệt là việcgiáo dục đạo đức nghề nghiệp cho tầng lớp thế hệ trẻ, sinh viên - những ngườichủ tương lai của đất nước Quan điểm đạo đức nghề nghiệp của Người bắtnguồn từ tư tưởng nhân văn cao cả và đạo đức cách mạng Bác cho rằng việc tudưỡng đạo đức, đặc biệt là đạo đức nghề nghiệp của người cán bộ phải được đặtlên hàng đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác Qua tìm hiểu tư tưởng HồChí Minh về đạo đức của người cán bộ, công chức thì ta thấy được phạm trù
Trang 25trung tâm là “đức” và “tài” Đức và Tài trong công cuộc xây dựng, đổi mới đấtnước hiện nay, được Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng và đặt ra những yêu cầunhất định đối với cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo và quản lý cácngành, các cấp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc, là nền tảng của người cán
bộ cách mạng, là “nguồn cội” làm cho tinh thần cách mạng không bao giờ
cạn: Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn;
cây phải có gốc, không có gốc thì cây khô héo Người cách mạng phải có đạođức cách mạng, không có đạo đức thì dù có tài giỏi đến mấy cũng không thể
lãnh đạo nhân dân được Người chỉ rõ: “Đạo đức là cái gốc của người cán bộ,
trăm sự thành bại đều do cán bộ tốt hay xấu”
Khi nói, người cán bộ, công chức có đức, có tài là muốn đề cập đếnnhững khía cạnh hết sức cụ thể chẳng hạn: Phẩm chất chính trị, phẩm chất đạođức, trình độ học vấn, chuyên môn, năng lực quản lý, điều hành… Ta có thểhiểu phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức thuộc về phạm trù đạo đức; còntrình độ và năng lực… thuộc về phạm trù tài Song việc tạm tách như vậy chỉmang tính chất tương đối, bởi ngay trong từng việc cụ thể đức và tài bao chứa ởtrong nhau Trong một chừng mực nào đó giữa hai phạm trù đức và tài trong đạođức của người cán bộ luôn cần sự thể hiện thống nhất như một chỉnh thể Đòihỏi cán bộ, công chức phải có đức, có tài trong thực thi công vụ là muốn đề cậptới những tiêu chuẩn chung nhất của người cán bộ, công chức Đối với cán bộcông chức, cán bộ quản lý nhà nước nhất thiết phải có kiến thức về khoa họcquản lý nhà nước; có năng lực điều hành và tổng kết thực tiễn; có khả năng thểchế hóa các Chỉ thị và Nghị quyết của Đảng, tinh thông về chính sách và phápluật; nghiệp vụ hành chính; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Hồ Chí Minh viết: Nước ta là một nước dân chủ, nghĩa là nhà nước do dân làmchủ Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phậncông dân giữ đúng đạo đức công dân
Trang 26Phần nhiều, các Nghị quyết của Đảng chỉ rõ rằng, phải coi trong việc đàotạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, phải coi trọng cả “đức” và “tài”, “đức” là gốc.Nói như vậy, không có nghĩa là tuyệt đối hóa vai trò của đạo đức, xem nhẹ yếu
tố “tài năng” thực chất muốn nhấn mạnh tới vị trí và tầm quan trọng của yếu tố
“đạo đức” trong chỉnh thể “đức” và “tài” Hồ Chí Minh chính là hiện thân củamối quan hệ “đức” và “tài” Ở Người, “đức” và “tài” là một, “đức” là biểu hiệncủa “tài” và “tài” là biểu hiện của “đức”
Như vậy, có thể thấy, những yêu cầu, những chuẩn mực đạo đức nghềnghiệp là sự thể hiện đặc thù những yêu cầu đạo đức chung của xã hội trongnhững lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp cụ thể Chúng bị quy định bởi chính đặcthù của từng hoạt động nghề nghiệp nhất định Tuy nhiên, tính đặc thù nàykhông có nghĩa là mỗi lĩnh vực hoạt động của xã hội và con người có nhữngchuẩn mực hoàn toàn riêng biệt Thực ra, tính đặc thù của đạo đức nghề nghiệp
là ở chỗ, mức độ và quy mô những yêu cầu, những đòi hỏi của xã hội đối vớicon người trong những lính vực hoạt động nghề nghiệp khác nhau là khác nhau
Do đó, với mỗi loại hình hoạt động nghề nghiệp có một số chuẩn mực đạo đứcthể hiện một cách nỗi bật, làm thành tính đặc thù đạo đức của nghề nghiệp đó.Như đã nêu trên, tình thương, lương tâm, trách nhiệm… là yêu cầu đồng thời làchuẩn mực đạo đức của người thầy thuốc; giữ chữ tín, trung thực là yêu cầu đạođức của người kinh doanh chân chính; tận tụy với công vụ, thanh liêm gươngmẫu là yêu cầu đạo đức của người quản lý xã hội, độc lập; khách quan và chínhtrực; bảo mật; năng lực chuyên môn và tính thận trọng; tư cách nghề nghiệp;tuân thủ chuẩn mực chuyên môn là yêu cầu của người làm kế toán và kiểm toánviên… Những yêu cầu, chuẩn mực đó một mặt, là sự phản ánh cụ thể những đòihỏi của xã hội; mặt khác, lại là động lực tinh thần để con người có được hiệuquả tích cực trong hoạt động nghề nghiệp
Trong xã hội truyền thống, do kém phát triển về kinh tế, sự phân công laođộng chưa sâu, nên chỉ có một số ít hoạt động tách ra khỏi nông nghiệp để trở
Trang 27thành hoạt động nghề nghiệp đặc thù với số lượng người không nhiều Đồng
thời, định hướng đạo đức truyền thống “trọng nghĩa khinh lợi”, như một điều
chỉnh, góp phần làm giảm thiểu những mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích
xã hội Vì thế, đạo đức nghề nghiệp tuy hình thành từ lâu đời, nhưng trên bìnhdiện quản lý xã hội, nó không trở thành vấn đề mang tính phổ biến và cấp báchnhư trong điều kiện xã hội hiện đại
Ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, sự phân công lao động trởnên cực kỳ sâu sắc, nhiều hoạt động trước đây không mang tính nghề nghiệp naytrở thành phương thức kiếm sống của con người, nhiều ngành nghề mới xuấthiện Những đặc thù của hoạt động nghề nghiệp gây ra những khó khăn cho conngười khi phải ứng xử trước những tình huống đạo đức Các chuẩn mực chungcủa đạo đức xã hội không còn đủ để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong hoạtđộng nghề nghiệp Đặc biệt, tác động của kinh tế thị trường đang làm cho nhữngđặc trưng và yêu cầu đạo đức nghề nghiệp thể hiện rõ hơn Do đó, việc xây dựng
và giáo dục đạo đức nghề nghiệp trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết
Khác với mọi loại hình kinh tế trước thị trường, kinh tế thị trường hoạtđộng dưới sự tác động cuả các quy luật: giá trị, cung cầu, cạnh tranh Những quyluật này đảm bảo cho nguyên tắc tối đa hoá lợi ích cá nhân được thực hiện Khithực hiện nguyên tắc tối đa hoá lợi ích cá nhân, các chủ thể tham gia vào quan
hệ thị trường có thể làm tổn hại đến lợi ích của người khác, của xã hội Chính vìthế mà đạo đức kinh doanh đang trở thành điểm nóng của việc xây dựng đạo đứcnghề nghiệp hiện nay
Xây dựng đạo đức kinh doanh chính là chế định và giáo dục nhữngnguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hoạt động kinh doanh nhằmgiải quyết một cách hợp lý nhất quan hệ giữa lợi ích cá nhân (chủ thể kinhdoanh) và lợi ích xã hội (lợi ích của các chủ thể khác, lợi ích xã hội nói chung).Tuy nhiên, hiện vẫn còn những cách nhìn nhận khác biệt nhau xung quanh việcgiải quyết một cách hợp lý quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong
Trang 28hoạt động kinh doanh.
Không ít người vẫn cho rằng, hành vi kinh tế (mà trong điều kiện kinh tếthị trường là hành vi kinh doanh) và hành vi đạo đức là hai loại hành vi hoàntoàn khác biệt nhau, thậm chí đối lập nhau Sự khác biệt hay sự đối lập chủ yếugiữa hai loại hành vi này là ở chỗ, hành vi kinh tế giả định lợi ích cá nhân, cònhành vi đạo đức lại hướng vào lợi ích của người khác Vì thế, không thể đòi hỏi
sự điều chỉnh đạo đức trong kinh doanh Do tính đặc thù của mình, kinh doanhchỉ có thể thực hiện và phát triển được thông qua cạnh tranh kinh tế Việc giảiquyết một cách hợp lý, quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội chỉ có nghĩa làchủ thể kinh doanh, trong khi thực hiện lợi ích của mình, không làm tổn hại đếnlợi ích được đảm bảo bằng pháp luật của người khác Như vậy theo cách nhìnnày, vấn đề đặt ra không phải là xây dựng đạo đức kinh doanh với tư cách mộtloại hình đạo đức nghề nghiệp, mà là xây dựng, hoàn thiện và phát huy hiệu quảđiều chỉnh của pháp luật, đặc biệt là luật kinh tế, luật kinh doanh
Sự tiến bộ của xã hội đòi hỏi người hành nghề trong bất cứ lĩnh vực nàocũng phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp cơ bản Những người hành nghề đềudựa vào đặc thù và những nguyên tắc chuẩn mực cơ bản có ảnh hưởng trọng yếuđến nghề nghiệp để làm nền tảng xây dựng đạo đức nhằm đảm bảo cho nghềnghiệp và sản phẩm của ngành nghề được xã hội trọng dụng, tôn vinh
Nghề dạy học, các thầy giáo, cô giáo không chỉ dạy cái chữ để chống lại
sự dốt nát, mà mục tiêu cao cả của nghề dạy học là dạy cách làm người Làmngười phải đạo, làm người có đủ phẩm chất, Chân, Thiện, Mỹ Do mục tiêu cao
cả ấy ''Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, ''Tôn sư trọng đạo” đã trở thành truyền thống
của mọi dân tộc
Nghề chữa bệnh, các thầy thuốc cầu cho con người thoát khỏi cảnh ốmđau, bệnh tật, chống lại thần chết, kéo dài tuổi thọ, góp phần cho mọi người, mọinhà được khoẻ mạnh, hạnh phúc Với mục tiêu cao cả ấy, người làm nghề chữabệnh không bao giờ coi trọng đồng tiền hơn việc cứu người Chính vì thế, cả xã
Trang 29hội tôn vinh “Thầy thuốc như mẹ hiền”.
Nghề sản xuất, kinh doanh, người làm nghề đương nhiên phải tính toánsao cho có lợi nhuận Những khoản lợi nhuận ấy phải do bàn tay khéo léo vàkhối óc thông minh tạo ra, nó không thể có sự gian dối Đó là đạo đức của ngườilàm nghề chân chính
Người làm nghề luật sư cũng giống như mọi người làm nghề khác ở chỗ:
có học, được đào tạo thành người có đủ phẩm chất Chân, Thiện, Mỹ, cũng đòihỏi có khối óc thông minh và tấm lòng ngay thẳng, nhân hậu Nhưng nghề luật
sư lại có đặc thù riêng, đó là phải gắn liền với mọi lĩnh vực pháp luật của Nhànước Các ngành nghề khác chỉ quan hệ đến một vài lĩnh vực pháp luật có liênquan mà thôi v.v…
Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo là một bộ phận hữu cơ trong đạo đứccủa người làm báo đó là phải trung thực không ba hoa, không nên chỉ viết cái tốt
mà giấu cái xấu Khi cầm bút viết phải đề ra mục tiêu: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc
Ai cũng biết rằng, người ta bất cứ làm nghề gì cũng đều phải có lươngtâm, trách nhiệm đối với việc làm của mình Nhưng, do quy luật sinh tồn và pháttriển không đồng đều nên mỗi ngành nghề khác nhau đều có tính chất khácnhau, đòi hỏi lương tâm, trách nhiệm, đạo đức của người làm nghề có sự khácnhau, không ai có thể đánh đồng được mà đạo đức nghề nghiệp được tuân theotrong hoạt động nghề nghiệp, có chuẩn mực và quy phạm đạo đức đặc trưng củabản thân nghề nghiệp đạo đức nghề nghiệp xuất hiện theo sự phân công màtừng bước hình thành, theo sự phát triển của phân công mà không ngừng pháttriển Trong xã hội có bao nhiêu nghề nghiệp, thì có bấy nhiêu ĐĐNN Trongbất cứ thời kỳ lịch sử nào, ĐĐNN đều là đạo đức xã hội hoặc giai cấp đươngthời, biểu hiện đặc thù và quán triệt cụ thể trong các hoạt động nghề nghiệp Dođạo đức nghề nghiệp có liên hệ với hoạt động nghề nghiệp của người ta, so vớiđạo đức chung của xã hội hoặc đạo đức giai cấp, nó có cách thức và có tác dụng
Trang 301.1.3.2 Khái niệm giáo dục đạo đức nghề nghiệp
Trong những năm gần đây, có một thuật ngữ được nhiều nhà nghiên cứu,nhà khoa học khi phân tích chất lượng lao động của nước ta đã sử dụng rất nhiều
đó là thuật ngữ “Văn hoá nghề” Theo các nhà nghiên cứu “Văn hóa nghề” đượcxem là nền tảng, là tài sản quý giá của người lao động mà cốt lõi là chuẩn mựcđạo đức nghề nghiệp Người lao động có nhận thức đầy đủ về nghề thì mới cóthể thực hiện được chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và ngược lại, có tuân thủ tốtđạo đức nghề nghiệp người lao động mới được công nhận là người lao động cóvăn hóa Thực tế hiện nay, ý thức, tác phong làm việc của một bộ phận ngườilao động chưa cao, ý thức làm việc còn yếu, không tuân thủ nội quy, tình trạng
đi muộn về sớm, làm việc riêng, thiếu trách nhiệm, dễ dàng bỏ việc… Cácdoanh nghiệp đều mong người lao động gắn bó tận tâm với công việc, có tinhthần kỷ luật và năng suất lao động hiệu quả Nhiều người lao động thiếu kỹ năngkhi đi xin việc, khi doanh nghiệp nêu một số khó khăn để thử thách và kiểm trakhả năng thuyết phục của ứng viên thì người đến tuyển đã tỏ ý rút lui mà khôngchứng minh được nguyện vọng tha thiết cần có việc làm của mình Các doanhnghiệp không chỉ coi trọng trình độ chuyên môn, tay nghề mà còn rất chú ý tới ýthức làm việc, phong cách ứng xử trong công việc của người lao động Vì vậy,nếu không chú ý nâng cao đạo đức nghề nghiệp, không có thái độ làm việcnghiêm túc, thì người lao động sẽ không được đánh giá cao, khó có cơ hội tìmđược việc làm hoặc ít cơ hội thăng tiến
Trang 31Vấn đề đạo đức nghề nghiệp không phải chỉ tồn tại ở phạm vi các cá nhânriêng rẽ mà ở cả một thiết chế lao động trong mối quan hệ lao động, một phạm
vi rộng lớn Trong không gian văn hoá nghề của xã hội, không phải chỉ cónhững người lao động nghề nghiệp mà cả những nhà đầu tư, quản lý, giáo dục,dạy nghề, cũng như tất cả chúng ta đều sống trong một không gian này, đều phảibiết cư xử với nghề một cách có văn hoá Chẳng hạn, nhà đầu tư có nhận thức vềđạo đức nghề nghiệp thì không thể chỉ toan tính tới lợi nhuận kinh tế mà cònphải biết đầu tư, lựa những lĩnh vực đầu tư nào phát triển bền vững, không huỷhoại môi trường, không xâm hại tới con người Người sử dụng và quản lý laođộng tốt thì phải biết chăm lo tới đời sống của những người lao động, chú ý tớinhững mặt phúc lợi xã hội, mặc dù trong nhiều trường hợp có thể làm hạn chếdoanh thu của họ Họ cũng không thể vì lợi nhuận mà sử dụng lao động trẻ emhoặc trốn thuế Người đào tạo nghề thì không thể chỉ dựa vào nguồn thu họcphí hoặc ý muốn chủ quan mà phải căn cứ vào nhu cầu đào tạo trong thực tiễn
và định hướng nghề nghiệp của người học
Sinh viên Việt Nam là vốn quý, nguồn nhân lực chất lượng cao của đấtnước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Mục tiêu của giáo dục là hình thành,bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân; đào tạo những người laođộng có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ýchí vươn lên góp phần thực hiện mục tiêu chung cho dân giàu, nước mạnh, xãhội dân chủ, công bằng, văn minh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc
Sinh viên Việt Nam hiện nay có những ưu điểm căn bản là nhiệt tình cáchmạng, có nhiều ước mơ, hoài bão cao đẹp, muốn làm những công việc ích nướclợi dân Họ là bộ phận có trình độ học vấn phổ thông, có vốn nhất định về chínhtrị, đạo đức, văn hoá, sức khoẻ do được giáo dục dưới mái trường XHCN Tuynhiên, họ còn ít được rèn luyện, thử thách trong cuộc sống, trong hoạt động cáchmạng nên các quan điểm, lập trường chính trị, các đức tính và các chuẩn mực
Trang 32đạo đức mới chưa được củng cố, chưa được bền chặt, chưa được phát triển đầy
đủ Vì thế, họ dễ bị ảnh hưởng bởi những thói hư tật xấu của xã hội cũ, mặt tráicủa mô hình kinh tế thị trường thời kỳ quá độ ở nước ta Vì vậy, công tác giáodục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên là một hoạt động mang tính xã hội phứctạp từ nhiều phía: Gia đình, nhà trường, xã hội, được thực hiện đồng bộ trên cácmặt (giáo dục tư tưởng chính trị, giáo dục hành vi, lối sống, nếp sống, truyềnthống…) Kết quả đều phục vụ mục tiêu chung là hình thành ở họ những tri thứcđạo đức, tình cảm, hành vi đạo đức lành mạnh Từ nhận thức về các giá trị vàchuẩn mực đạo đức dần hình thành các nhu cầu, động cơ bên trong thúc đẩy các
em có hành vi, hành động thể nghiệm chúng trong cuộc sống hàng ngày
Tóm lại, Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là quá trình xây dựng và điềuchỉnh hành vi hoạt động của cá nhân phù hợp với mục tiêu đã định Việc giáodục đạo đức nghề nghiệp có ý nghĩa vô cùng to lớn, nhằm mục đích tạo ra mộtđội ngũ những người lao động có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ của đất nước trong giai đoạn mới
1.2 Tầm quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với nước ta hiện nay
1.2.1 Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trước đây, vào thế kỷ XVII, XVIII, khi cuộc cách mạng công nghiệpđược tiến hành ở Tây Âu, công nghiệp hóa được hiểu là quá trình thay thế laođộng thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Nhưng theo dòng thời gian,khái niệm công nghiệp hóa luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nềnsản xuất xã hội, của khoa học công nghệ, tức là khái niệm công nghiệp hóamang tính lịch sử
Trang 33Hiện nay trên thế giới sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ trithức đồng diễn ra với tốc độ chóng mặt, cuộc cách mạng đó đã đem đến thànhtựu to lớn cho nhiều nước biết vận dụng vào hàng sản xuất, đưa họ trở thànhnhiều cường quốc phát triển trên thế giới hiện nay Việt Nam đang ở trong thời
kỳ quá độ lên CNXH, nền kinh tế vẫn ở trong trình độ thấp, chịu ảnh hưởng củanền kinh tế phong kiến kéo dài, nông nghiệp vẫn chủ yếu là trồng lúa Nền côngnghiệp lạc hậu chưa có thành tựu nào quan trọng đóng góp cho nền kinh tế quốcdân Muốn đưa nền kinh tế đi lên để có thể sánh ngang với các nước trong khuvực Châu Á - Thái Bình Dương và để trở thành cường quốc kinh tế thì CNH,HĐH phải được coi trọng, đánh giá đúng mức sự cần thiết của nó trong giaiđoạn hiện nay
Trong quá trình thực hiện CNH, HĐH nền kinh tế nước ta đã đạt đượcnhững thành tựu lớn: Đã xây dựng được một cơ sở vật chất kỹ thuật nhất địnhcho xã hội mới, đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ hơn (tăng tỷtrọng của các nghành công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu GDP, phát triển nôngnghiệp toàn diện hơn ) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhândân Vậy thế nào là CNH, HĐH? và vai trò của CNH, HĐH ở nước ta trong sựnghiệp xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay như thế nào?
Trước đây, vào thế kỷ XVII, XVIII, khi cuộc cách mạng công nghiệpđược tiến hành ở Tây Âu, công nghiệp hóa được hiểu là quá trình thay thế laođộng thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Nhưng theo dòng thời gian,khái niệm công nghiệp hóa luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nềnsản xuất xã hội, của khoa học công nghệ, tức là khái niệm công nghiệp hóamang tính lịch sử Dựa trên việc kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minhcủa nhân loại và rút kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành công nghiệp hóa, Hộinghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ VII khoá VI và Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VII Đảng cộng sản Việt Nam xác định: công nghiệp hóa là quátrình chuyển đổi căn bản toàn diện các nền hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
Trang 34vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sửdụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện vàphương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộkhoa học - công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Như vậy, công nghiệp hóa theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm
vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển laođộng thủ công thành lao động cơ khí như trước đây mà bao hàm cả về các hoạtđộng sản xuất kinh doanh, cả về ngành dịch vụ và quản lí kinh tế - xã hội, được
sử dụng bằng các phương tiện và các phương pháp tiên tiến hiện đại cùng với kỹthuật và công nghệ cao
Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa còn cần phải hoàn thiện cơ cấu tổchức và vận hành xã hội, nâng cao chất lượng sống của người dân trong cảnước, tích cực xoá đói giảm nghèo, phấn đấu tăng mức thu nhập bình quân đầungười cả nước…
Như vậy quá trình công nghiệp hoá đất nước nhằm giải quyết hai nộidung cơ bản là: thay đổi kỹ thuật - công nghệ trong nền kinh tế, làm cho lựclượng sản xuất phát triển và hình thành cơ cấu kinh tế mới, tiến bộ, hợp lí vớicác ngành nghề, quy mô sản xuất kinh doanh phù hợp
Đặt CNH, HĐH trong bối cảnh chung của phát triển kinh tế với nội dung
cơ bản là phát triển cơ cấu kinh tế trên cơ sở công nghiệp hiện đại nhằm đẩymạnh nhịp độ phát triển đồng thời hướng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế
xã hội Tổ chức phát triển tốt CNH, HĐH mới có khả năng thực tế để quan tâmđầy đủ đến sự phát triển tự do và toàn diện của nhân tố con người
CNH, HĐH còn tạo vật chất kỹ thuật cho việc củng cố tăng cường tiềmlực phát triển quốc phòng vững mạnh,có thể chúng ta mới có thể yên tâm pháttriển kinh tế và phát triển kinh tế mạnh thì mới có thể tạo ra cơ sở vật chất kỹthuật cho nền an ninh quốc phòng phát triển Mặt khác CNH, HĐH còn tạo ranhiều khả năng cho việc thực hiện tốt phân công và hợp tác quốc tế khoa học
Trang 35công nghệ tăng cường trọng lượng tiếng nói của ta trên diễn đàn quốc tế Tronggiai đoạn hiện nay, tính quy luật của giá thành công nghiệp hoá càng đòi hỏi bứcthiết đối với nước ta vì nguy cơ tụt hậu ngày càng xa với các nước trên thế giới
và trong khu vực
Tư tưởng công nghiệp hoá, hiện đại hoá được Đảng ta đưa ra từ nhữngnăm 1960 - Đại hội III của Đảng, tuy nhiên do hoàn cảnh lịch sử của đất nướcnên đường lối CNH, HĐH có những cách vận dụng khác nhau và đã có nhữngkết quả nhất định
- Hội nghị Trung ương 7 khoá VII (tháng 1-1994), đã có bước đột phámới trong nhận thức về công nghiệp hoá Bước đột phá này thể hiện trước hết ởnhận thức về khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Công nghiệp hoá, hiệnđại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chínhsang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện vàphương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộkhoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao
- Đại hội VIII của Đảng (tháng 6-1996) nhìn lại đất nước sau mười nămđổi mới đã có nhận định quan trọng: nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xãhội, nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đềcho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mớiđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Đến Đại hội IX (tháng 4-2001) và Đại hội X (tháng 4-2006) Đảng tatiếp tục bổ sung và nhấn mạnh một số điểm mới về công nghiệp hoá:
+ Con đường công nghiệp hoá ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian
so với các nước đi trước
+ Hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta là phải phát triển nhanh
và có hiệu quả các sản phẩm, các ngành, các lĩnh vực có lợi thế, đáp ứng nhucầu trong nước và xuất khẩu
Trang 36+ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bảo đảm xây dựng nềnkinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tức là phải tiến hànhcông nghiệp hoá trong một nền kinh tế mở, hướng ngoại.
- Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn hướngvào việc nâng cao năng suất, chất lượng, sản phẩm nông nghiệp
Như vậy, khái niệm công nghiệp hoá Đảng ta đã xác định rộng hơn nhữngquan điểm trước đó bao gồm tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh, cả về dịch vụ
và quản lý kinh tế xã hội được sử dụng bằng các phương tiện tiên tiến hiện đạicùng với kĩ thuật và công nghệ cao Tư tưởng CNH không bó hẹp trong phạm vicác trình độ lực lượng sản xuất đơn thuần, kĩ thuật đơn thuần để chuyển laođộng thủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây
Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của đấtnước, CNH ở Việt Nam hiện nay có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: CNH phải gắn liền với HĐH Sở dĩ như vậy là vì trên thế giới
đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Một số nước pháttriển đã bắt đầu chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nên phảitranh thủ ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ, tiếp cận với kinh tếtri thức để hiện đại hoá những ngành, những khâu, những lĩnh vực có khả năngnhảy vọt
Thứ hai: CNH phải nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
CNH là tất yếu của các nước nhưng với mỗi nước mục tiêu và tính chất củaCNH lại khác Ở nước ta, CNH nhằm xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, tăngcường sức mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc
Thứ ba: CNH trong điều kiện kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà
nước Điều này làm cho CNH trong giai đoạn hiện nay khác với CNH trong giaiđoạn đổi mới Trong cơ chế quản lí kinh tế kế hoạch hoá tập trung - hành chính,bao cấp, CNH được thực hiện theo kế hoạch, mệnh lệnh của nhà nước Trong cơchế kinh tế hiện nay nhà nước vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình
Trang 37CNH Nhưng CNH không xuất phát từ chủ quan nhà nước, nó đòi hỏi phải vậndụng các quy luật khách quan mà trước hết là quy luật thị trường.
Thứ tư: CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàn cầu hoá nền
kinh tế Vì thế mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế là tấtyếu đối với nước ta hiện nay
CNH trong điều kiện “chiến lược” kinh tế mở có thể đi nhanh nếu chúng
ta biết tận dụng, tranh thủ được thành tựu của thế giới và sự giúp đỡ quốc tế
Công nghiệp hoá trong điều kiện”chiến lược” kinh tế mở cũng gây ra không ít
những trở ngại do những tác dụng tiêu cực của nền kinh tế thế giới, do trật tựcủa nền kinh tế thế giới mà các nước tư bản phát triển thiết lập không có lợi chocác nước nghèo, lạc hậu.Vì thế, CNH, HĐH phải đảm bảo xây dựng nền kinh tếnước ta là một nền kinh tế độc lập
Việc thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước có tácdụng về nhiều mặt:
- CNH, HĐH, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại và cơ cấu kinh
tế mới tạo điều kiện biến đổi về chất lượng sản xuất, tăng năng suất lao động,tăng sức chế ngự của con người với thiên nhiên, tăng trưởng kinh tế và phát triểnkinh tế, do đó góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân; góp phần quyếtđịnh tới thắng lợi của xã hội mới của nước ta
- CNH, HĐH tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố, tăng cường vai tròkinh tế của nhà nước, nâng cao năng lực tích luỹ của đất nước và tạo công ănviệc làm cho người lao động
- Mỗi bước phát triển mới của cơ sở vật chất - kỹ thuật do quá trình côngnghiệp hóa đem lại sẽ tạo ra những đIều kiện mới cho việc xây dựng nền vănhoá mới, thủ tiêu tình trạng lạc hậu về xã hội, tạo thuận lợi cho sự phát triển tự
do toàn diện của con người - nhân tố trung tâm của thời đại, đưa đất nước đếntrình độ văn minh cao hơn
Trang 38- CNH, HĐH góp phần cung cấp và đảm bảo cho quốc phòng các yếu tốvật chất - kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để thực hiện tốt nhiệm vụ giữgìn an ninh, chủ quyền của đất nước.
- CNH, HĐH tạo nhiều khả năng cho nước ta trong việc tham gia vàophân công lao động và hợp tác quốc tế, do đó tận dụng được sức mạnh trongnước và sức mạnh kinh tế quốc tế
Chính vì những tác dụng to lớn, tích cực, toàn diện đã nêu trên, từ đại hộiIII (1960) đến nay, Đảng ta luôn khẳng định vị trí hết sức quan trọng của CNH,HĐH trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta Đồng thời, qua mỗi lầnđại hội, Đảng ta lại nhận thức sâu thêm và cụ thể hoá thêm nhiệm vụ này chothích hợp với đIều kiện và hoàn cảnh của đất nước ta trong những thời kỳ Tronghội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đại Hội VII (1991), Đảng ta cònnêu rõ: Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời giantới CNH, HĐH là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nướcxung quanh, giữ được ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ được độc lập, chủ quyền
Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xãhội là sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất; sự phát triển khoa học -
kỹ thuật; tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội; đặc biệt là quan hệ sảnxuất thống trị
Trang 39Nói cơ sở vật chất - kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó là nói
cơ sở vật chất - kỹ thuật đó đã đạt đến một trình độ nhất định làm đặc trưng chophương thức sản xuất đó
Đặc trưng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của các phương thức sản xuấttrước chủ nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu Đặctrưng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là nền đại côngnghiệp cơ khí hoá
Chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của phương thức sản xuất mới cao hơnchủ nghĩa tư bản - đòi hỏi một cơ sở vật chất - kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt:trình độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại
Do vậy, có thể hiểu, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nềncông nghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa caodựa trên trình độ khoa học và công nghệ hiện đại được hình thành một cách có
kế hoạch và thống trị trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Từ chủ nghĩa tư bản hay từ trước chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếukhách quan, một quy luật kinh tế mang tính phổ biến và được thực hiện thôngqua CNH, HĐH
Đối với các nước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, dù đã
có công nghiệp, có cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản tiến bộ đến đâucũng chỉ là những tiền đề vật chất chứ chưa phải là cơ sở vật chất - kỹ thuật củachủ nghĩa xã hội Muốn có cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, cácnước này phải thực hiện quy luật nói trên bằng cách tiến hành cách mạng xã hộichủ nghĩa về quan hệ sản xuất; tiếp thu vận dụng và phát triển cao hơn nhữngthành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất; hình thành cơ cấu kinh tế mới xãhội chủ nghĩa có trình độ cao và tổ chức, sắp xếp lại nền đại công nghiệp tư bảnchủ nghĩa một cách hợp lý, hiệu quả hơn
Trang 40Đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên chủ nghĩa xãhội như nước ta, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội phảithực hiện từ đầu, từ không đến có, từ gốc đến ngọn thông qua công nghiệp hóa,hiện đại hóa Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là mộtbước tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triểnmạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hộichủ nghĩa.
Trong những năm 1986-1988, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ở nước
ta đã trở nên gay gắt nhất, khi lạm phát lên tới mức “phi mã” (3 con số), những
cơ sở sản xuất kinh doanh của nhà nước bị đình đốn, thua lỗ, sản xuất cầmchừng, thậm chí phải đóng cửa; bội chi ngân sách lớn; giá cả thì tăng vọt; tiềnlương thực tế giảm khiến cho đời sống nhân dân giảm sút nghiêm trọng, khókhăn chồng chất khó khăn, có lúc tưởng chừng không thể vượt qua Trong khi
đó, công cuộc “cải tổ” ở Liên Xô người anh của chủ nghĩa xã hội trên thế giới đang ngày càng đi vào con đường bế tắc Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tớicông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta Bên cạnh đó, nước ta tiến lênchủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất - kỹ thuật thấpkém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển, chưa được hoàn thiện, sảnxuất nhỏ lẻ, lao động thủ công là chủ yếu Vì vậy, quá trình công nghiệp hoáchính là con đường duy nhất để đất nước ta có thể thoát ra khỏi cảnh đói nghèo,xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại Có tiến hànhcông nghiệp hóa thì chúng ta mới: xây dựng được cơ sở vật - chất kỹ thuật chochủ nghĩa xã hội ở nước ta; tiến hành tái sản xuất mở rộng nâng cao đời sống vậtchất tinh thần của nhân dân; tăng cường phát triển lực lượng giai cấp công nhân;củng cố quốc phòng giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội; góp phần xâydựng và phát triển nền văn hoá dân tộc, xây dựng con người mới ở Việt Nam.Mỗi bước tiến của quá trình CNH, HĐH là một bước tăng cường cơ sở vật chất -
-kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp