Thông qua việc đổi mới toàndiện về giáo dục và đào tạo: đối mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạyhọc theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”, phát huy tính sáng tạo,khả
Trang 1
PHÍ HỮU HÀO
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đình Phương
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo SauĐại học, Khoa Giáo dục trường Đại học Vinh và Ban Giám hiệu, Khoa Liên kếtđào tạo trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An đã tận tình truyền đạtkiến thức quý báu và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chương trình học tập và
có được những kiến thức, kỹ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện Luận vănThạc sĩ của mình
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tớiPGS.TS.Ngô Đình Phương- Phó Hiệu trưởng trường Đại học Vinh, người đãtận tâm, nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suất quá trình nghiên cứu vàhoàn thành Luận văn Thạc sĩ
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Phòng Tổchức- Hành chính, các cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên trường Đại họcĐồng Nai đã tích cực ủng hộ và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra,khảo sát, thu thập các dữ liệu liên quan đến đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn này khó tránh khỏi những thiếusót, hạn chế Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô,các nhà khoa học, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn.Xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Phí Hữu Hào
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
2 CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
5 GD-ĐT Giáo dục- Đào tạo
Trang 5Bảng 7 Bảng thống kê cơ cấu giới tính đội ngũ giảng viên.
Bảng 8 Bảng thống kê tuổi đời giảng viên theo từng khoa- tổ trực thuộc
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
3.1 Khách thể nghiên cứu 4
3.2 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Phạm vi nghiên cứu 5
8 Ý nghĩa của đề tài 5
9 Cấu trúc của luận văn 5
NỘI DUNG: 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 6
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu của đề tài 6
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài……… …… 9
1.2.1 Khái niệm về quản lý……… ………… 9
1.2.2 Khái niệm về quản lý giáo dục 11
1.2.3 Khái niệm về quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục 12
1.2.4 Khái niệm về nhà giáo 13
1.2.5 Khái niệm về đội ngũ nhà giáo 14
1.2.6 Khái niệm về xây dựng và phát triển 17
1.3 Các chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo nói chung, đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng nói riêng 18
Trang 71.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo 18
1.3.2 Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo 21
1.4 Đội ngũ giảng viên và phát triển đội ngũ giảng viên trường đại học … 22
1.4.1 Trường đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân 22
1.4.2 Đội ngũ giảng viên trường đại học 23
1.4.3 Phát triển đội ngũ giảng viên 27
Tiểu kết chương 1: 33
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ VÀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI 34
2.1 Khái quát chung về tỉnh Đồng Nai và trường Đại học Đồng Nai 34
2.1.1 Khái quát chung về tỉnh Đồng Nai 34
2.1.2 Khái quát về Trường Đại học Đồng Nai 39
2.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên trường Đại học Đồng Nai 43
2.2.1 Thực trạng về số lượng 43
2.2.2 Thực trạng về chất lượng 45
2.2.3 Về cơ cấu 52
2.2.4 Đánh giá chung về đội ngũ giảng viên 54
2.3 Thực trạng về công tác phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Đồng Nai 56
2.3.1 Sự cần thiết phải phát triển đội ngũ giảng viên của nhà trường …… 56
2.3.2 Định hướng phát triển trường Đại học Đồng Nai……… 57
2.3.3 Mục tiêu phát triển đội ngũ giảng viên ở trường Đại học Đồng Nai … 59
2.3.4 Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giảng viên của nhà trường 61
Tiểu kết chương 2 68
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI 69
Trang 83.1 Nguyên tắc đề ra các biện pháp 69
3.2 Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Đồng Nai…… 71
3.2.1 Biện pháp 1: Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên 71
3.2.2 Biện pháp 2: Đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho ĐNGV 77
3.2.3 Biện pháp 3: Sử dụng hợp lý đội ngũ giảng viên hiện có ………… 82
3.2.4 Biện pháp 4: Xây dựng và hoàn thiện chế độ chính sách đối với giảng viên 85
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường các điều kiện bảo đảm cho giảng viên thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và NCKH 87
3.2.6 Mối quan hệ giữa các biện pháp 92
3.4 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 93
Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
1 Kết luận 96
2 Kiến nghị 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 103
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”.
Yếu tố con người không phải là nguyên nhân duy nhất của sự hưng thịnh,trường tồn của chế độ, của quốc gia, nhưng nó là nguyên nhân trực tiếp có ýnghĩa quyết định vận mệnh đó Vì vậy, công tác phát triển đội ngũ cán bộ giáodục nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng trong giai đoạn hiện nay là mộtnhiệm vụ hết sức cấp bách, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từTrung ương đến địa phương Đổi mới một cách căn bản, đồng bộ trong tư duylẫn hành động, như vậy mới có thể đáp ứng được các yêu cầu của công cuộc đổimới đất nước theo xu thế hội nhập và phát triển như hiện nay
Đảng ta khẳng định “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong nhữngđộng lực quan trọng nhất thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiệntiên quyết để phát triển nguồn nhân lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển
xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Thông qua việc đổi mới toàndiện về giáo dục và đào tạo: đối mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạyhọc theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”, phát huy tính sáng tạo,khả năng vận dụng, thực hành của người học, phát triển nguồn nhân lực, chấnhưng giáo dục Việt Nam, trong đó đội ngũ giáo viên đóng vai trò then chốtquyết định chất lượng đào tạo
Phát triển quan điểm trên, trong dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xãhội 2011-2020 của Đảng xác định: “Phát triển giáo dục phải thực sự là quốcsách hàng đầu Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáodục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lậpnghiệp Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩnhóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản
lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”
Trang 10Đất nước chúng ta đang trong thời kỳ hội nhập và phát triển, để thực hiệnthành công công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước,nhất thiết phải coi chiến lược đào tạo con người, coi Giáo dục - Đào tạo(GD&ĐT) là động lực thúc đẩy sự tăng tốc nền kinh tế đất nước, là chìa khóa
mở cửa vào tương lai Có thể nói, thế giới chúng ta đang đổi thay mỗi ngày,phát triển và cạnh tranh quyết liệt trong mọi lĩnh vực, tận dụng thời cơ và nhữngthách đố của thời đại, mà quan trọng nhất là chiến lược cho công cuộc phát triểnnguồn nhân lực (NNL)… không phải là công việc của riêng quốc gia nào Thựctiễn lịch sử, nhất là trong thời đại ngày nay, đã chứng minh rằng, trong tất cảcác yếu tố tạo nên sự thành công của các nước, không có yếu tố nào quan trọnghơn giáo dục - đào tạo
Sự phát triển của kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ramạnh mẽ, làm thay đổi căn bản tư duy kinh tế, chính trị - xã hội trên phạm vitoàn thế giới theo xu hướng hội nhập cùng phát triển Để có thể thích ứng với xuthế của toàn cầu hóa, sự phát triển của KH&CN và nền kinh tế tri thức, cáctrường ĐH Việt Nam phải không ngừng đổi mới theo một chiến lược nhất quánvới tầm nhìn xa, rộng; đồng thời, tập trung xây dựng và phát triển năng lực cốtlõi và những năng lực chuyên biệt của ĐNGV, yếu tố quyết định chất lượng đàotạo để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững, lâu dài, đáp ứng yêu cầu phát triển GD-
ĐT trong nước, khu vực và quốc tế Việc phát triển đội ngũ GV trong các trườngđại học chính là thực hiện mục tiêu phát triển con người, phát triển nguồn nhânlực cao phục vụ cho lĩnh vực Giáo dục và đào tạo, phục vụ cho một chiến lược cótầm vĩ mô cho tương lai của các thế hệ sau và cho đất nước Việt Nam, điều nàyđòi hỏi chúng ta phấn đấu vượt qua lạc hậu, đuổi bắt kịp trình độ phát triển kinhtế- xã hội của các nước trong khu vực và trên thế giới Việc đào tạo đội ngũnguồn nhân lực có chất lượng cao là điều kiện tiên quyết, là trọng trách của
Trang 11ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, vấn đề cốt lõi mang tính đột phá cần
ưu tiên đó là xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên
Trường Đại học Đồng Nai được thành lập vào năm 1976, đến nay đã gần
40 năm Là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học của tỉnh Đồng Nai và khuvực Đông Nam Bộ Nhà trường có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có chấtlượng cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng Nai vàcác tỉnh lân cận trong khu vực Đông Nam Bộ Nghiên cứu, triển khai và ápdụng các thành tựu khoa học trong giáo dục nhằm phục vụ cho sự phát triển củanhà trường Trong những năm qua, Nhà trường đã đạt được những thành tựuđáng kể trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và sáng tạo Tuy nhiên trước sựphát triển nhân lực của ngành giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng,hiện nay việc phát triển đội ngũ giảng viên của trường còn nhiều bất cập vìnhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau
Nhận thức được vấn đề quan trọng trong phát triển ĐNGV, Đảng ủy, BanGiám hiệu Trường ĐHĐN đã khẳng định: “Việc xây dựng ĐNGV đủ về sốlượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu là vấn đề trọng tâm được đặt ra
và cần có những biện pháp giải quyết” Vì vậy, trong chiến lược phát triểnĐNGV từ năm 2010-2015 và tầm nhìn đến năm 2020, việc nâng cấp phát triểnĐNGV của Trường ĐHĐN, trong đó phát triển đội ngũ giảng viên có trình độsau đại học, nâng cao năng lực quản lý công tác đào tạo là xu thế tất yếu cho
sự ổn định, phát triển của nhà trường
Xuất phát từ những vấn đề thực tế về phát triển ĐNGV có năng lực, cótrình độ chuyên môn, có học hàm, học vị, phát triển mạnh nhân lực, nâng caochất lượng dạy và học, từng bước khẳng định, uy tín thương hiệu của TrườngĐHĐN đang là vấn đề cấp bách hiện nay
Trang 12Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, tôi đã quan quan tâm và địnhhướng nghiên cứu xây dựng phát triển đội ngũ giảng viên Trường ĐHĐN trên
cơ sở chọn lọc nghiên cứu và thể hiện đề tài:
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể
Hoạt động quản lý đội ngũ giảng viên trường đại học
3.2 Đối tượng
Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Đại học Đồng Nai
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên phù hợp,khả thi thì sẽ nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường đại học Đồng Nai
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận; Nghiên cứu thực trạng; Đề xuất các biện phápphát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Đồng Nai
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích, tổng hợp những cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực và
cụ thể là đội ngũ giảng viên
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Khảo sát thực tế, phiếu điều tra trưng cầu ý kiến, phỏng vấn, tham khảo
ý kiến chuyên gia và tổng hợp
Trang 13- Đội ngũ giảng viên Trường Đại học Đồng Nai, bao gồm giảng viên trongbiên chế và hợp đồng lao động
8 Ý nghĩa của đề tài
8.1 Về mặt lý luận
Xác định những cơ sở có tính khoa học về việc cần thiết phải phát triển độingũ giảng viên của Trường Đại học Đồng Nai đối với việc đào tạo nguồn nhânlực có chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước của khu vựcĐông Nam Bộ và cả nước
8.2 Về mặt thực tiễn
Nêu ra một số biện pháp cơ bản mang tính hiện thực và khả thi nhằm pháttriển đội ngũ giảng viên Trường Đại học Đồng Nai nói riêng và các trường Đạihọc thuộc khu vực Đông Nam Bộ nói chung
9 Cấu trúc luận văn
Trang 14NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1.Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ khi xuất hiện, hình thành và phát triển của xã hội loài người, con ngườichính là trung tâm của sự phát triển Xã hội ngày nay muốn phát triển, điều đầutiên phải biết dựa vào sức mạnh của tri thức đó là việc sử dụng tiềm năng tối đacủa con người, lấy việc phát huy tiềm lực con người là nhân tố cơ bản cho sựphát triển nhanh và bền vững Bởi vậy, con người vừa là mục tiêu, vừa là độnglực thúc đẩy sự phát triên kinh tế- xã hội của một quốc gia, dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”,
“Huấn luyện cán bộ là gốc của Đảng” [31]
Từ những nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở kế thừa và pháthuy những tư tưởng đó về chiến lược cán bộ trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, tại Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (đại hộiđổi mới năm 1986) đã nêu nên: “Dân chủ hóa công tác cán bộ Tiến hànhthường xuyên đánh giá, lựa chọn, bố trí đi đôi với đào tạo, bồi dưỡng qua họctập và hoạt động thực tiễn để có một đội ngũ cán bộ đủ tiêu chuẩn về phẩm chất
và năng lực lãnh đạo, quản lý Chú ý trẻ hóa đội ngũ cán bộ và chuẩn bộ độingũ cán bộ kế tục” [11]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóaVIII) đã chỉ rõ: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắnliền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trongcông tác xây dựng Đảng” [14]
Trang 15Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xem công tác cán bộ làmột trong ba khâu đột phá chiến lược: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất lànguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diệnnền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực và ứng dụngkhoa học, công nghệ” [19].
Trong xu hướng toàn cầu hóa như hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới vàkhu vực ngày càng coi trọng giáo dục đào tạo, coi đây là cứu cánh cho sự pháttriển kinh tế- xã hội và sự lớn mạnh của đất nước
Giáo dục và đào tạo ngày nay có tầm quan trọng đặc biệt, đã được Đảng vàNhà nước xem như là nhân tố quyết định cho tương lai của dân tộc Khi nghiêncứu về công tác quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên nói chung vàđội ngũ giảng viên trường Đại học Đồng Nai nói riêng là một nội dung quantrọng, cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, hướng tới đạt mục tiêu:
“ đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sứckhỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập của dân tộc vàchủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lựccủa công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [33]
Đội ngũ giáo viên là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ củaĐảng và Nhà nước ta Việc phát triển đội ngũ giáo viên đã trở thành nhiệm vụtrọng tâm, cấp thiết vì: “Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáodục đào tạo là phải đặc biệt chăm lo đào tạo và chuẩn hóa đội ngũ giáo viêncũng như đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức vànăng lực chuyên môn, nghiệp vụ”
Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng,nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nêu rõ: “Pháttriển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lựcquan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều
Trang 16kiện để phát huy nguồn lực con người Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàndân trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là động lực nòng cốt, có vaitrò quan trọng Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức
và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngay càng được nângcao Đội ngũ này đã đáp ứng quan trọng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhânlực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi vào sự nghiệp cách mạng củađất nước”[17]
Trong thời gian qua nhiều tác giả đã có những công trình nghiêm cứu khoahọc về công tác quản lý giáo dục, tiêu biểu có thể kể ra như: Đặng Quốc Bảo,Trần Kiểm, Thái Duy Tuyên, Phạm Minh Hạc, Hà Sĩ Hồ, Nguyễn Ngọc Quang,
Hà Thế Ngữ các nhà nghiêm cứu này đã tập trung đi sâu vào những vấn đề vềchiến lược phát triển và đổi mới giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, phát triểnĐNGV từ nhiều góc độ tiếp cận của các cấp học, ngành học Các luận văn đềcập đến công tác phát triển ĐNGV của một số trường như:
-“Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên của trường Đạihọc Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Văn Đệ (2006)
-“Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung học Giao thông vậntải Huế” của Nguyễn Đăng Thông (2010)
-“Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Ngoại ngữ- Đạihọc Huế” của Nguyễn Thị Thanh Huyền (2011)
-“Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Công nghiệpHuế” của Trần Hồng Thủy (2013)
Nhìn một cách toàn diện, các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã
đề cập khá toàn diện về lý luận, thực tiễn và đều xuất phát từ thực trạng cụ thểĐNGV của các cơ sở đào tạo, đề xuất những biện pháp, giải pháp phát triểnĐNGV hữu hiệu để đáp ứng yêu cầu của các cơ sở đào tạo tại từng địa phương
Trang 17Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và trường Đại học Đồng Nai chưa cónghiên cứu nào liên quan đến “Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trườngĐại học Đồng Nai”.
1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1 Khái niệm về quản lý
* Quản lý theo quan điểm của một số tác giả nước ngoài:
Một số tác giả nổi tiếng trên thế giới như: Henri Fayol (1841-1925) hayFrederick Winslow Taylor (1856-1915) và Max Weber (1864-1920) đều có chungquan điểm: “Quản lý vừa là một khoa học đồng thời lại là một nghệ thuật”
- F W Taylor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác các điều bạnmuốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc mộtcách tốt nhất và rẻ nhất”
- Còn Mary Parker Follett (1868-1933) lại khẳng định: “Quản lý là mộtquá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại”
* Theo quan điểm của một số tác giả ở Việt Nam:
- Theo Trần Kiểm thì: “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người,sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội Quản
lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kếthợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực và tài lực)trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu, nhằm đạt mục đíchcủa tổ chức với hiệu quả cao nhất” [28]
- Hai tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí có đồng quanđiểm: “Hoạt động quản lý là các hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủthể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vậnhành và đạt được mục đích của tổ chức” [6]
Trang 18- Xét về góc độ chức năng thì quản lý được hiểu: “Quản lý là quá trình đạtđến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kếhoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [6].
- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì khẳng định: “Quản lý là những tác động
có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động
là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến” [32]
Mặc dù các tác giả trong và ngoài nước đều có cách tiếp cận khác nhau vềkhái niệm quản lý, nhưng tất cả đều thống nhất quản lý được cấu thành do bayếu tố cơ bản sau đây:
- Chủ thể quản lý
- Khách thể quản lý
- Sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
Từ những cách tiếp cận và tham khảo nhiều quan điểm khác nhau, ta cóthể khẳng định: “Quản lý là một quá trình chủ thể quản lý tác động lên kháchthể quản lý một cách có chủ đích, có tổ chức, dựa trên các nguồn lực và nhữngđiều kiện có thể nhất định, nhằm đạt được mục đích đã xác định”
Quản lý luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống được bao gồm: Chủ thể quản
lý, khách thể quản lý, cơ chế quản lý và mục tiêu chung cho cả chủ thể quản lý,khách thể quản lý, đây là căn cứ để chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý.Phạm vi của quản lý tác động lên khách thể rất rộng, có thể nói quản lý lànhân tố quyết định thành công của sự phát triển kinh tế-xã hội trên các mặt như:nguồn nhân lực, nguồn vốn, khoa học công nghệ, tài nguyên, chất xám cả trongnước và nước ngoài
Bàn về hoạt động quản lý và người quản lý, chúng ta cần tìm hiểu người quản
lý phải làm gì - cũng chính là tìm hiểu các chức năng quản lý “Chức năng quản lý
là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thểquản lý” Có nhiều cách phân chia chức năng của hoạt động quản lý, tuy vậy, đại
Trang 19- Kế hoạch hóa: Là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai
của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mụcđích đó
- Tổ chức: Là quá trình hình thành cấu trúc các quan hệ giữa các thành
viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thànhcông các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức
- Lãnh đạo - chỉ đạo: Là cách thức tác động của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý nhằm điều khiển, tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch để đạtđược mục đích, mục tiêu đề ra
- Kiểm tra giám sát: Là việc kiểm tra, theo dõi, giám sát các thành quả hoạt
động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn sai sót trong quá trìnhthực hiện kế hoạch
Bốn chức năng nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau,tạo thành một quy trình quản lý thống nhất
Tóm lại: Quản lý là quá trình tác động có chủ đích, có tổ chức của chủ thể
quản lý lên khách thể quản lý thông qua các cơ chế quản lý nhằm sử dụng cóhiệu quả tốt nhất các nguồn lực bên trong và bên ngoài trong điều kiện môitrường luôn có biến động không ngừng để hệ thống ổn định, vận động theohướng phát triển tích cực để đạt được các mục tiêu đã định
1.2.2 Khái niệm về quản lý giáo dục:
Theo P.V.Khudominxki thì: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kếhoạch, có ý thức và mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp độ khác nhauđến tất cả các khâu của hệ thống, nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cộngsản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ.Trên cơ sở nhận thức và sử dụng những quy luật khách quan của quá trình dạyhọc, giáo dục, của sự phát triển về phẩm chất và tâm lý của trẻ em, thiếu niêncũng như là thanh niên”
Trang 20Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QLGD là hệ thống những tácđộng có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho
hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiệnđược tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ làquá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiếnlên trạng thái mới về chất” [32]
Từ những quan điểm của các tác giả trên, ta thấy bản chất của hoạt độngQLGD là quản lý hệ thống giáo dục, là sự tác động có mục đích, có hệ thống, có
kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý theo những quyluật khách quan nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kếtquả mong muốn
1.2.3 Khái niệm về quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục:
Quản lý nguồn nhân lực là một quá trình bao gồm thu nhận, sử dụng vàphát triển lực lượng lao động của một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu tổ chức
có hiệu quả Các hoạt động chủ yếu quản lý nguồn nhân lực gồm: Kế hoạch hóanguồn nhân lực, tuyển chọn- sử dụng- bồi dưỡng- phát triển nguồn nhân lực,kiểm tra hoạt động, điều chỉnh: đề bạt, luôn chuyển, thải hồi
Theo Leonard Nadlerd (Mỹ) thì nhiệm vụ của quản lý nguồn nhân lực baogồm:
+ Sử dụng nguồn nhân lực: tuyển dụng, sàng lọc, bố trí, đánh giá, đãi ngộ,
kế hoạch hóa sức lao động
+ Phát triển nguồn nhân lực: giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển,nghiên cứu, phục vụ
+ Nuôi dưỡng môi trường nguồn nhân lực: mở rộng thị trường lao động,
mở rộng quy mô làm việc, phát triển tổ chức
Trong Giáo dục và Đào tạo, quản lý nguồn nhân lực xét trên phạm vi rộng
là quản lý đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và công nhân viên chức trong nhà
Trang 21trường Nếu xét trong phạm vi hẹp hơn chính là quản lý đội ngũ giáo viên vàcán bộ QLGD Việc xây dựng, phát triển, đào tạo và bồi dưỡng về phẩm chất,trình độ, năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý để đáp ứng yêu cầu đặt ra
là nhiệm vụ trọng tâm của quá trình quản lý nguồn nhân lực trong ngành GD&ĐT
1.2.4 Khái niệm về nhà giáo:
Ngành giáo dục với bề dày lịch sử của mình đã mang lại cho chúng ta cơ
sở dữ liệu phong phú để tiếp cận khái niệm về nhà giáo
Ở thời cận đại của Khổng Tử (551- 479 TCN): nhà giáo được gọi bằng
“Sư” để chỉ người có học vấn uyên thâm và mang nó chuyền thụ cho ngườikhác Do tính chất công việc cao quý, “Sư” được người đầu tiên sáng lập chế độgiáo dục tư thục ở Trung Quốc đặt ở vị trí tôn kính “Quân- Sư- Phụ” trong thứbậc xã hội Chính Khổng Tử với nhân cách và đóng góp của mình đã đượcngười đời tôn là “Vạn thể sư biến”, tức là “Người thầy của muôn đời”
Đến thời Hán Vũ Đế (140- 87 TCN): người làm công việc giảng dạy ởThái học được gọi là “Ngũ kinh bác sĩ” Theo cách gọi này, nhà giáo được coi
là một bộ phận tri thức có học vấn uyên bác làm công việc giảng dạy “ngũkinh” (kinh điển của Nho giáo) trong nhà trường phong kiến
Khi tiếp thu văn minh phương Tây, “thầy giáo” được nhân dân ta gọi để
“chỉ người làm nghề dạy học nói chung” Có thể “thầy giáo” là phiên âm TiếngViệt của thuật ngữ “giáo sư” vốn có nguồn gốc từ danh tư “professor” củangười châu Âu Sau này, “thầy giáo” đôi khi chỉ được theo nghĩa hẹp chỉ ngườidạy học là nam giới, còn nữ giới nghề này được gọi là “cô giáo”
Ngày nay, chúng ta gọi thống nhất những người làm nghề dạy học là “nhàgiáo” Theo Điều 70 của Luật Giáo dục của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhàtrường hoặc cơ sở giáo dục khác” “Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục
Trang 22mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sởgiáo dục đại học, cao đẳng gọi là giảng viên”.
1.2.5 Khái niệm về đội ngũ nhà giáo:
Tóm lại, đội ngũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành mộtlực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặckhông cùng một nghề nghiệp nhưng cùng có chung một mục đích nhất định
* Đội ngũ nhà giáo:
Theo Virgil K.Rowland thì “đội ngũ nhà giáo là những chuyên gia trongngành giáo dục, họ nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thếnào và có khả năng cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực của họ cho giáo dục”
Từ khái niệm nêu trên về đội ngũ nhà giáo chúng ta có thể quan niệm rằng:Đội ngũ nhà giáo là một tập thể bao gồm những giáo viên và cán bộ quản lýgiáo dục, được tổ chức thành một lực lượng, có chung nhiệm vụ thực hiện cácmục tiêu giáo dục đã đặt ra cho nhà trường hoặc cơ sở giáo dục đó
* Vai trò của đội ngũ nhà giáo trong quá trình phát triển giáo dục
Lịch sử dân tộc Việt Nam ghi nhận sự đóng góp to lớn của nhà giáo trongtiến trình phát triển của đất nước Tùy điều kiện lịch sử ở mỗi thời kỳ mà vị trí,vai trò và đóng góp của nhà giáo đối với sự nghiệp phát triển của xã hội là khácnhau
Trang 23Thời ký Bắc thuộc (thế kỷ I TCN đến thế kỷ X): đóng góp của nhà giáotrong xã hội là không lớn Lịch sử ghi nhận tên tuổi của một số nho sĩ tiêu biểunhư: Lý Tiến, Lý Cầm, Trương Trọng, Khương Công Phụ, Khương Công Phục,Tinh Thiều… Phần lớn trong số họ tham gia vào bộ máy quan lại của chínhquyền đô hộ và góp sức truyền bá nền giáo dục nho học Các cuộc khởi nghĩacủa nhân dân ta thời kỳ này, nho sĩ (trong đó có các nhà giáo) ít tham gia và hầunhư không để lại ảnh hưởng.
Thời Ngô- Đinh- Tiền Lê (939- 1009): ở thời kỳ này phần lớn nhà giáo lànhà sư, trường học là chùa chiền Với lòng yêu nước, thương dân, các nhà sư-nhà giáo đương thời đã mang kiến thức của mình ra giúp triều đình xây dựngnền độc lập, tự chủ, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chính họ đãvận dụng sự am hiểu về chữ Hán để tạo ra chữ Nôm, góp phần làm phong phúthêm tiếng Việt Một số thiền sư nổi tiếng thời này như: Sư Đỗ Pháp Thuậnbằng tài ứng đối, xướng họa đã góp phần làm tăng vị thế của nước ta trong banggiao với nhà Tống (Trung Quốc); Thiền sư Đa Bảo và Vạn Hạnh vừa là thầydậy, vừa là người có công trong việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi, thiết lập triều
Lý, mở đầu thời ký hưng thịnh trong lịch sư phong kiến Việt Nam
Thời Lý- Trần- Hồ (1010- 1497): nhà giáo đóng vai trò chủ yếu trong đàotạo quan lại cho chính quyền Chu Văn An là nhà giáo tiêu biểu nhất của thời kýnày, Ông là người nêu gương mẫu mực về tư cách nhà giáo, trở thành tôn sưcủa nền giáo dục Việt Nam Mặc dù không trực tiếp giảng dạy, nhưng tư tưởngcải cách giáo dục của Hồ Quý Ly cũng có giá trị to lớn không chỉ cho nền giáodục đương thời mà còn cho cả chúng ta ngày nay
Thời Lê sơ (1428- 1527): đội ngũ nhà giáo đóng vai trò quan trọng trongxây dựng bộ máy nhà nước tập quyền đủ mạnh để giữ vững nền độc lập của đấtnước Nhiều hiền tài được đào tạo ra trong thời kỳ này như Lê Văn Hưu, MạcĐĩnh Chi, Nguyễn An, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật,
Trang 24Trần Nguyên Đán, Lương Thế Vinh… góp phần thúc đẩy sự phát triển vượtbậc nền văn hóa dân tộc, khoa học- kỹ thuật và tạo nên những chiến công hiểnhách trên mặt trận chống ngoại xâm Nguyễn Trãi là nhà giáo tiêu biểu nhấttrong giai đoạn này Ông đóng góp vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơndẫn đến sự ra đời của nhà Hậu Lê và đề ra nhiều kế sách để trị nước, an dân.Nguyễn Trãi cũng là vì sao sáng trong văn học giao đoạn này với nhiều tácphẩm có giá trị, tiêu biểu là Bình Ngô đại cáo vốn được xem là bản tuyên ngônđộc lập thứ hai của đất nước ta.
Thời Lê- Mạc, Trịnh- Nguyễn (thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII): ở thời kỳnày tuy giáo dục bắt đầu xuống dốc nhưng vẫn có hai nhà giáo tiêu biểu là LêQuý Đôn và Nguyễn Bỉnh Khiêm Lê Quý Đôn có những đóng góp về địa chí,văn hóa và khoa học tự nhiên Nguyễn Bỉnh khiêm là người để lại cho hậu thếnhiều tác phẩm văn học có giá trị và đào tạo, giúp đỡ nhiều nhân tài như PhùngKhắc Khoan, Nguyễn Dữ… Ngoài ra, một số nhà giáo cũng giúp sức cho việcđánh đổ triều đình phong kiến suy tàn, người đại diện cho xu hướng này là LaSơn Phu Tử Nguyễn Thiếp với vai trò là cố vấn tối cao của Hoàng đế QuangTrung
Thời Nguyễn (1802- 1945): các nhà giáo nổi tiếng ở thời nay như NguyễnTrường Tộ, Bùi Dương Lịch, Võ Trường Toản, Ngô Thế Vinh, Nguyễn ĐứcĐạt, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Đình Chiểu, Lương Văn Can, NguyễnQuyền… có vai trò quyết định trong truyền bá tư tưởng cách tân, chấn hưngđât nước, phát triển văn học yêu nước, tác động hoặc trực tiế tổ chức các hoạtđộng đấu tranh chống thực dân Pháp và triều đình phong kiến tay sai
Nửa đầu thế kỷ XX, nhà giáo là đội ngũ tiên phong trong việc truyền báChủ nghĩa Mác- Lênin vào nước ta chuẩn bị về chính trị, tư tưởng cho sự ra đờicủa Đảng Cộng sản Việt Nam- nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của Cáchmạng Việt Nam Người thầy giáo tiêu biểu cho giai đoạn này là Nguyễn Tất
Trang 25Thành đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc, truyền bá con đường đó vàoViệt Nam, trực tiếp giảng dạy, đào tạo cho cán bộ cách mạng Việt Nam Nhiềuhọc trò của Người cũng vốn là nhà giáo như Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh,Đặng Thai Mai, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên… trở thành nhà yêu nướclớn có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng Trong quá trình thực hiệncách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa, đội ngũ nhà giáo làlực lượng tiên phong trên mặt trận chống giặc dốt vốn được xem là nguy hiểmhơn cả giặc ngoại xâm Họ cũng đóng góp vai trò là người chiễn sĩ trên mặt trận
tư tưởng để truyền bá quan điểm, đường lối cách mạng của Đảng cũng như thựchiện nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết là bồi dưỡng thế hệ cách mạngcho giai đoạn sau Mặt khác, nhà giáo còn có vai trò quan trọng trong việc tổchức và phát động phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên trên mặt trậnđấu tranh chính trị chống ngụy quyền tay sai và thực dân đê quốc Đánh giánhững đóng góp to lớn của đội ngũ nhà giáo trong giai đoạn này, Chủ tịch HồChí Minh đã khẳng định “nhà giáo là những anh hùng vô danh”
Trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ nhà giáo là nhân tố quyết định đào tạo racon người xã hội chủ nghĩa vốn được Chủ tịch Hồ Chí Minh xem là điều kiệntiên quyết và then chốt để xây dựng chủ nghĩa xã hội Khi mà giáo dục đào tạo
và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu của đất nước thì vai trò của độingũ nhà giáo càng trở nên đặc biệt quan trọng Nhà giáo trở thành người quyếtđịnh tương lai của dân tộc vì sản phẩm của họ tạo ra sẽ là chủ nhân tương laicủa đất nước, của cả dân tộc
1.2.6 Khái niệm về xây dựng và phát triển
Theo Từ điển tiếng Việt thì “xây dựng” được hiểu theo các nghĩa sau:+ Xây dựng là làm nên một công trình kiến trúc theo một kế hoạch nhátđịnh
Trang 26+ Xây dựng là làm cho hình thành một tổ chức hay một chủ thể xã hội,chính trị, kinh tế, văn hóa theo hướng nhất định
+ Xây dựng tạo ra, sáng tạo ra cái có giá trị tinh thần, có nội dung nào đó.Trong luận văn này tôi vận dụng khái niệm về xây dựng theo nghĩa thứ 3,tức là “xây dựng là tạo ra cái có giá trị tinh thần, có nội dung nào đó”
Cũng theo Từ điển tiếng Việt thì khái niệm “phát triển” được hiểu là “Biếnđổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giảnđến phức tạp”
Từ những cách tiếp cận trên, theo tôi xây dựng và phát triển bao gồm cả sự
ra tăng về lượng và sự biến đổi về chất, đó là quá trình làm cho số lượng và chấtlượng vận động theo hướng đi lên trong mối quan hệ bổ sung cho nhau tạo nêngiá trị mới trong một thể thống nhất Xây dựng và phát triển có mối quan hệhữu cơ với nhau, xây dựng phải luôn gắn liền với phát triển và phát triển phảidựa trên cơ sở của xây dựng để ổn định
1.3 Các chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo nói chung và đội ngũ giảng viên trường đại học, cao đẳng nói riêng
1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890- 1969) rất quan tâm đến côngtác đào tạo con người thông qua hoạt động giáo dục Người khẳng định: “bồidưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(31) Để thực hiện nhiệm vụ cách mạng vẻ vang đó, theo Người cần phải tăngcường đầu tư cho giáo dục, trong đó có công tác xây dựng và phát triển đội ngũnhà giáo đóng vai trò quan trọng
Trước tiên, muốn thực hiện tốt công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhàgiáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần phải đánh giá đúng vai trò, vị trí củađội ngũ này trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Theo Người “….nếu không
Trang 27có thầy giáo thì không có giáo dục… Không có giáo dục, không có cán bộ thìcũng không nói đến kinh tế, văn hóa” [31] Do đó, Bác khẳng định: “Nhữngngười thầy giáo tốt là những người vẻ vang nhất, là những người anh hùng vodanh” [31] đồng thời với sự đánh giá cao vai trò của đội ngũ nhà giáo, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nêu lên nhiều quan điểm về công tác xây dựng, đào tạo đội ngũnhà giáo
Theo Hồ Chí Minh, vấn đề then chốt quyết định chất lượng giáo dục là xâydựng đội ngũ những người thầy giáo Người khẳng định trách nhiệm đó là củatoàn xã hội, trước hết là Đảng, Nhà nước với vai trò là người lãnh đạo và quản
lý Đảng và Nhà nước phải “quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chămsóc nhà trường về mọi mặt” [31], trong đó xây dựng đội ngũ nhà giáo là nộidung trọng tâm Người yêu cầu cán bộ làm công tác quản lý giáo dục “phải đàotạo cán bộ mới và giúp đỡ cán bộ cũ theo tôn chỉ kháng chiến và kiến quốc”[31] Muốn vậy, “phải đi sâu vào việc điều tra, nghiên cứu, tổng kết kinhnghiệm” để chủ động nắm bắt được suy nghĩ của đội ngũ nhà giáo, phát huy ưuđiểm, phát hiện và khắc phục những nhược điểm, thiếu sót trong quá trình quản
lý Đồng thời, phải trang bị cho đội ngũ nhà giáo lý luận của Chủ nghĩa Lênin vì trường học của chúng ta là trường học xã hội chủ nghĩa, mỗi thầy côgiáo phải là người chiến sĩ cách mạng trên mặt trận đó
Mác-Tạo ra cho nhà giáo những môi trường thuận lợi để nâng cao năng lựcgiảng dạy cũng được thể hiện trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về xâydựng và phát triển đội ngũ nhà giáo Mặc dù bận trăm công nghìn việc nhưngBác vẫn dành thời gian để chỉ đạo sát sao các phong trào thi đua như phong trào
“kế hoạch nhỏ”, công tác Trần Quốc Toản, đặc biệt là phong trào “dạy tốt, họctốt” Theo Người các phong trào thi đua góp phần tạo nên môi trường xã hộirộng lớn và thuận lợi cho nhà giáo Nó thể hiện sự quan tâm và hỗ trợ của xãhội đối với nhà giáo, tạo niềm tin và sự phấn khởi cho đội ngũ giáo viên khi
Trang 28thực hiện nhiệm vụ giáo dục Mặt khác, phong trào “hai tốt” còn góp phần xâydựng đội ngũ giáo viên về chất lượng.
Mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng sự nỗ lực phấn đấu của mỗi nhàgiáo là động lực chủ yếu để phát triển đội ngũ giáo viên cả về số lượng và chấtlượng Hệ thống những quan điểm của Hồ Chí Minh, chúng ta có thể rút ra một
số yêu cầu đối với nhà giáo như sau:
Nhà giáo phát huy tinh thần học tập không ngừng Người vẫn thường dẫnlại câu nói của Khổng Tử “Học không biết chán, dạy không biết mỏi” và lời dạycủa Leenin “Học, học nữa, học mãi” để nhắc nhở các thầy, cô giáo “dù khókhăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt….phải phấn đấu nângcao chất lượng văn hóa và chuyên môn… ” [31] Bác khuyên cán bộ và giáoviên “chó tự túc, tự mãn, cho là giỏi rồi thì dừng lại, mà dừng lại là lùi bước, làlạc hậu, mình tự đào thải trước Cho nên phải cố gắng học tập để cải tạo mình,cải tạo tư tưởng của mình, cải tạo con em và giúp vào việc cải tạo xã hội” [31].Bác rất quan tâm đến việc học ở nhân dân, có “biết làm học trò của dân thì mớilàm được thầy học của dân” Ngày nay, trước sự phát triển của nền kinh tế trithức thì thường xuyên phải tự bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, trình độ chuyênmôn, phươn pháp sư phạm là yêu cầu bức thiết của đội ngũ nhà giáo
Mỗi giáo viên phải không ngừng rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng,
ra sức học tập lý luận chính trị vì “giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị củaĐảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân” [31] đểthực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo
Trong quan hệ “thầy và trò thật thà đoàn kết, dùng cách dân chủ để giúpnhau tiến bộ mạnh, tiến bộ mãi” [31] Tuy nhiên, “dân chủ, nhưng trò phải kínhthầy, thầy phải quý trò” chứ không phải là “cá đối đầu bằng” [31] Đây khôngchỉ là lới khuyên dành cho mỗi nhà giáo mà còn là nền tảng cho Đảng và Nhà
Trang 29nước ta trong hoạch định chủ trương, chính sách xây dựng đội ngũ nhà giáotheo đúng nghĩa “thầy ra thầy, trò ra trò”.
Ngày nay, trước yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệpđổi mới đất nước, toàn xã hội và ngành giáo dục rất quan tâm đến việc xâydựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục,đảm bảo đủ về số lượng, cơ cấu cân đối và đạt chuẩn về trình độ, đáp ứng yêucầu của giáo dục trong thời kỳ mới Để thực hiện thắng lợi, Đảng và Nhà nướccần quán triệt sâu rộng và tích cực triển khai trong toàn xã hội, trước hết làngành giáo dục những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng và pháttriển đội ngũ nhà giáo
1.3.2 Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng
và phát triển đội ngũ nhà giáo
Quan điểm về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo được Đảng và Nhànước ta hết sức quan tâm trong suất quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt làtrong thời kỳ CNH- HĐH đất nước
Phát biểu tại Hội nghị Trung ương 2- khóa VIII, đồng chí Đỗ Mười nhấnmạnh: “Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặcbiệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng nhưcán bộ QLGD cả về mặt chính trị, tư tưởng đạo đức và năng lực chuyên môn,nghiệp vụ” [13]
Kết luận tại Hội nghị Trung ương khóa IX nêu rõ: “Các cấp ủy Đảng từTrung ương tới địa phương quan tâm thường xuyên công tác đào tạo, bồi dưỡngnhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục về mọi mặt, coi đây là một phần trọng tâmcủa công tác cán bộ; đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chấtlối sống của nhà giáo Xây dựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên
và cán bộ quản lý giáo dục, đảm bảo đủ về số lượng, cơ cấu cân đối, đạt chuẩnđáp ứng yêu cầu thời kỳ mới” [16] Quan điểm này được khẳng định lại tại Chỉ
Trang 30thị 40/CT-TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư: “Xây dựng đội ngũ giáo viên
và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về sốlượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩmchất, lối sống, lương tâm tay nghề của nhà giáo” [17]
Tại Điều 15, Luật Giáo dục năm 2005 khẳng định: “Nhà nước tổ chức đàotạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm các điều kiệncần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò trách nhiệm củamình” [33]
Tại điều 56, Luật Giáo dục Đại học năm 2012 nêu rõ:” Giảng viên trong
cơ sở giáo dục đại học được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyênmôn, nghiệp vụ; được hưởng tiền lương, phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấpthâm niên và các phụ cấp khác theo quy định của Chính phủ”[35]
Chiến lược phát triển giáo dục- đào tạo giai đoạn 2011- 2020 của Chínhphủ đã nhấn mạnh: “Củng cố, hoàn thiện hệ thống đào tạo giáo viên, đổi mớicăn bản và toàn diện nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm hìnhthành đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ sức thực hiện đổi mớichương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015” [8]
Nghị quyết số 29/NQ-TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục- đào tạokhẳng đinh:” Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp củaĐảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được
ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội”[2]
1.4 Đội ngũ giảng viên và phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học
1.4.1 Trường đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Giáo dục đại học và cao đẳng là một bộ phận nằm trong hệ thống giáo dụcquốc dân, nó có vai trò và vị trí hết sức quan trọng Theo Điều 39 của Luật Giáodục thì: “Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất
Trang 31chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thựchành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêucầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[33].
Trước tác động mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế,Nghị quyết Đại hội X tiếp tục xác định các nguy cơ tụt hậu về kinh tế đượcnhấn mạnh “Để phát triển kinh tế không có con đường nào khác là phải đào tạonguồn nhân lực cho đất nước Giáo dục đại học và cao đẳng có nhiệm vụ lớnlao là đào tạo nguồn nhân lực bậc cao và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
1.4.2 Đội ngũ giảng viên trường đại học
1.4.2.1 tiêu chuẩn và nhiệm vụ của người giảng viên
* Tiêu chuẩn của người giảng viên
Theo Điều 70 của Luật Giáo dục năm 2005, nhà giáo (giảng viên) phải cónhững tiêu chuẩn sau đây:
“a Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
b Đạt trình độ chuẩn, được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
c Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
d Lý lịch bản thân rõ ràng”
Căn cứ vào Quyết định số 202/QĐ-TCCB-VC ngày 08/0/1994 của Bộtrưởng, Trưởng ban Tô chức- Cán bộ của Chính phủ về việc ban hành tiêuchuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành GD& ĐT, thì giảng viên đại học,cao đẳng được chia thành giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư.Sau đây là tiêu chuẩn nghiệp vụ của từng ngạch công chức:
Theo quan điểm của các nhà giáo dục học, trình độ đội ngũ giảng viêntrước hết phải nói đến hệ thống tri thức mà người giảng viên nắm được Đốkhông phải là tri thức có liên quan đến môn học do người giảng viên trực tiếpphụ trách giảng dạy, mà còn là sự hiểu biết nhất định về các môn khoa học lâncận với bộ môn chuyên ngành nào đó Đặc biệt là các tri thức mang tính chất là
Trang 32công cụ, phương tiện để nghiên cứu khoa học như: toán học, ngoại ngữ, tinhọc… và phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu khoa học.
Theo Quyết định số 538/TCCB-BCTL ngày 18/12/1995 của Ban Tổ chứccán bộ Chính phủ yêu cầu về trình độ của giảng viên, giảng viên chính, giảngviên cao cấp như sau:
*Đối với giảng viên:
- Có bằng cử nhân trở lên
- Đã qua thời gian tập sự theo quy định hiện hành
- Phải có ít nhất 2 chứng chỉ bồi dưỡng sau đại học
+ Chương trình triết học nâng cao cho nghiên cứu sinh và cao học
+ Những vấn đề cơ bản của tâm lý học và lý luận dạy học bộ môn ở bậchọc cao đẳng và đại học
+ Sử dụng được một ngoại ngữ trình độ B (là ngoại ngữ thứ 2 đối vớigiảng viên ngoại ngữ)
*Đối với giảng viên chính:
- Có bằng Thạc sĩ trở lên
- Có thâm niên ở giảng viên ít nhất là 9 năm
- Sử dụng được một ngoại ngữ trong chuyên môn ở trình độ C (là ngoạingữ thứ 2 đối với giảng viên chính ngoại ngữ)
- Có đề án hoặc công trình sáng tạo được hội đồng khoa học nhà trườngcông nhận và được áp dụng có kết quả trong chuyên môn
* Đối với giảng viên cao cấp:
- Có bằng Tiến sĩ ở chuyên ngành đào tạo
- Là giảng viên chính có thâm niên ở ngạch tối thiểu là 6 năm
- Sử dụng được 2 ngoại ngữ để phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học vàgiao tiếp quốc tế (ngoại ngữ thứ nhất tương đương trình độ C đối với người dạyngoại ngữ)
Trang 33- Có tối thiểu 3 đề án hoặc công trình khoa học sáng tạo được hội đồngkhoa học nhà trường hoặc ngành công nhận và đưa vào áp dụng có hiệu quả.
* Nhiệm vụ của người giảng viên
Nhiệm vụ của người giảng viên được quy định tại Điều 72 của Luật Giáodục năm 2005 và các nhiệm vụ cụ thể tại Điều 46 của Điều lệ trường đại học,cao đẳng, đó là:
-“ Hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và NCKH được quy định theo giờchuẩn do Bộ GD& ĐT ban hành đối với các chức danh và ngạch tương ứng;
- Giảng dạy theo nội dung, chương trình đã được Bộ GD&ĐT, trường caođẳng- đại học quy định Viết giáo trình, bài giảng, tài liệu phục vụ giảng dạy-học tập theo sự phân công của các cấp quản lý;
- Không ngừng tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, cải tiến phương phápgiảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo;
- Tham gia và chủ trì các đề tài NCKH, phát triển công nghệ, dịch vụ khoahọc, công nghệ và các hoạt động khoa học, công nghệ khác;
- Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phươngpháp đào tạo và NCKH;
- Hướng dẫn, giúp đỡ người trong học tập, NCKH, rèn luyện tư tưởng, đạođức, tác phong, nối sống”
- Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
1.4.2.2 Đội ngũ giảng viên
* Khái niệm đội ngũ giảng viên:
Theo từ điển tiếng Việt, đội ngũ là “khối đông người cùng chức năng nghềnghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng”
Các khái niệm đội ngũ dùng cho các thành phần trong xã hội như đội ngũtrí thức, đội ngũ công nhân viên chức….đều có gốc xuất phát từ đội ngũ theo
Trang 34thuật ngữ quân sự Đó là một khối đông người, được tổ chức thành một lựclượng để chiến đấu hoặc bảo vệ.
Tóm lại: đội ngũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một
lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặckhông cùng nghề nghiệp nhưng cùng có chung một mục đích nhất định
Như vậy, đội ngũ nhà giáo là những chuyên gia trong ngành giáo dục, họnắm những tri thức, hiểu biết dạy học, giáo dục như thế nào và có khả năngcống hiến toàn bộ tài năng và sức lực của họ cho giáo dục
Từ khái niệm nêu trên về đội ngũ nhà giáo chúng ta có thể quan niệm rằng:đội ngũ giảng viên là một tập thể bao gồm những giảng viên và cán bộ quản lýgiáo dục ở bậc đại học- cao đẳng, được tổ chức thành một lực lượng, có chungnhiệm vụ thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đặt ra cho nhà trường hoặc cơ sởgiáo dục đó
Đội ngũ giảng viên Việt Nam là những người lao động trí tuệ sáng tạo, cótinh thần yêu nước, ý thức dân tộc cao, cần cù, thông minh, năng động và nhạybén với sự pháp triển của thời đại Đồng thời đây cũng là lực lượng nghiên cứukhoa học hùng hậu Chính từ lực lượng này đã xuất hiện nhiều nhà khoa họclớn, các chuyên gia đầu ngành Họ có khả năng và thực tế đã có nhiều đóng góptích cực và to lớn ở cả hai phương diện là: Đào tạo những tài năng trẻ, bồidưỡng đội ngũ trí thức, đồng thời nghiên cứu phát triển và ứng dụng khoa họccông nghệ, kỹ thuật, khoa học quản lý, văn hóa, nghệ thuật, phát triển kinh tế-
xã hội, góp phần đẩy nhanh quá trình xây dựng đất nước công nghiệp hóa, hiệnđại hóa
*Cơ cấu đội ngũ giảng viên:
Theo từ điển tiếng Việt “Cơ cấu là cách thức tổ chức các thành phần nhằmthực hiện các chức năng của chủ thể” Như vậy có thể hiểu cơ cấu của đội ngũgiảng viên là tổ chức bên trong của đội ngũ Cơ cấu đội ngũ giảng viên là một
Trang 35thể thống nhất, hoàn chỉnh bao gồm các thành phần sau: số lượng giảng viên,chất lượng đội ngũ giảng viên và các yếu tố bên trong của đội ngũ Ngoài sốlượng giảng viên và trình độ đào tạo, có thể có các yếu tố khác trong cơ cấu độingũ giảng viên như:
-Về chuyên môn: Đảm bảo tỷ lệ giảng viên trong các tổ chức chính trị xãhội (như tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh….) giữa các đơn vị (khoa, tổ) nhằm phát huy được vai trò của các
tổ chức chính trị- xã hội trong đội ngũ giảng viên
- Về lứa tuổi: Duy trì sự cân đối giữa các thế hệ già, trung niên, trẻ của độingũ để có thể phát huy được tính năng động, hăng hái của tuổi trẻ và khai thácđược vốn kinh nghiệm, từng trải của lớp già
- Về giới tính: Đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa giảng viên nam và giảng viên
nữ trong từng khoa, từng tổ, từng bộ môn và chuyên ngành được đào tạo
Cơ cấu chuyên môn, chính trị, lứa tuổi và giới tính thể hiện cấu trúc củađội ngũ giảng viên Giữa các yếu tố cần phải đảm bảo sự cân đối, hợp lý, nếu sựcân đối này bị phá vỡ thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến chất lượng đội ngũ giảngviên
Tóm lại: Chất lượng đội ngũ giảng viên phải được hiểu là gồm 5 yếu tố
cấu thành đó là số lượng, phẩm chất, trình độ, năng lực và cơ cấu đội ngũ Mỗimột yếu tố đều có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt, giữa các yếu tố đều có sựtác động qua lại lẫn nhau, nương tựa vào nhau tạo thành một hệ thống hoànchỉnh thống nhất giúp cho đội ngũ giảng viên vừa tồn tại, phát triển và hoànthành tốt các nhiệm vụ được giao
Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên là làm cho chất lượng đội ngũgiảng viên ngày càng hoàn thiện ở mức độ cao hơn Điều đó có nghĩa là cùngmột lúc chúng ta phải làm cho tất cả các yếu tố cấu thành nên chất lượng độingũ giảng viên phát triển đạt đến một trạng thái cao hơn
Trang 361.4.3 Phát triển đội ngũ giảng viên
Theo từ điển tiếng Việt thì khái niệm phát triển được hiểu là: “Biến đổihoặc làm biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn gian đếnphức tạp” [39]
Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng, con người, xã hội có sự gia tăng vềlượng, biến đổi về chất, làm cho số lượng và chất lượng vận động theo hướng đilên trong mối quan hệ bổ sung cho nhau tạo nên giá trị mới trong một thể thốngnhất đều có thể coi là phát triển
Đội ngũ giảng viên là nguồn nhân lực cơ bản của các trường đại học, caođẳng, phát triển đội ngũ giảng viên chính là phát triển nguồn nhân lực trongtrường đại học, cao đẳng
Tùy theo mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của nhà trường, cơ sở đào tạo màphát triển đội ngũ giảng viên có thể theo 3 chiều hướng khác nhau:
- Lấy việc phát triển cá nhân người giảng viên làm trọng tâm Đó là việctạo ra sự chuyển biến tích cực của các giảng viên trên cơ sở nhu cầu mà họ đặt
ra Điều đó nhằm khuyến khích tài năng, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ
và như vậy là thúc đẩy sự phát triển nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ
- Lấy phát triển nhà trường là trọng tâm, thì rõ ràng mục tiêu của nhàtrường là cơ sở cho sự phát triển của đội ngũ giảng viên Điều này thường tạo rasuy nghĩ cho rằng: Phát triển đội ngũ giảng viên là công việc của nhà trường, làviệc thực hiện mục tiêu của nhà trường với tư cách là thực hiện một nhiệm vụ
do cấp trên (lãnh đạo nhà trường) giao cho mà người giảng viên phải thực hiệnchứ không phải là nhu cầu của giảng viên Do đó, đã tạo ra một sức ỳ đáng kể,hạn chế sự tích cực, sáng tạo của đội ngũ giảng viên, dẫn tới hiệu quả công tácphát triển đội ngũ giảng viên thường là thấp
- Phát triển đội ngũ giảng viên trên cơ sở phát triển cá nhân giảng viênđồng thời với việc thực hiện mục tiêu nhà trường Với quan điểm này thì phát
Trang 37triển đội ngũ giảng viên được xem như một quá trình mà trong đó nhà trường và
cá nhân người giảng viên được đồng thời coi là trọng tâm Đây là quan điểmmang tính hợp tác, vì cho rằng: Các nhu cầu phát triển của nhà trường cũngquan trọng như các nhu cầu phát triển của giảng viên, vì vậy cả 2 loại nhu cầuđều cần phải cân nhắc, được hòa hợp và cân bằng với nhau thì công tác pháttriển đội ngũ giảng viên mới đạt kết quả tốt
Như vậy, mỗi quan điểm đều có những điểm tích cực, điểm hạn chế riêng,Vấn đề đặt ra là mỗi nhà trường cần xem xét vận dụng trên cơ sở thực trạng của
tổ chức để có bước đi thích hợp, sao cho đội ngũ giảng viên khi tiếp cận nhucầu nhà trường đều thấy có nhu cầu của mình trong đó, tạo cho họ sự hứng thú,say mê và yên tâm với nghề nghiệp
Tóm lại: phát triển đội ngũ giảng viên là phạm trù chỉ sự tăng tiến, chuyển
biến theo chiều hướng tích cực của đội ngũ giảng viên trong việc hoàn thànhmục tiêu giáo dục- đào tạo của trường đại học, cao đẳng Phát triển đội ngũgiảng viên là quá trình chuẩn bị lực lượng để đáp ứng nhu cầu phát triển củanhà trường Trong quá trình chuẩn bị lực lương phải chú ý toàn diện các yếu tố
về số lượng, về cơ cấu, về trình độ chuyên môn- nghiệp vụ, thái độ, trách nhiệmcủa mỗi giảng viên đối với nhà trường Để đạt được điều đó, phát triển đội ngũgiảng viên phải gắn liền với việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tạomôi trường sư phạm
Sự quan tâm chăm lo đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viêntrong các nhà trường là nhiệm vụ trung tâm, ưu tiên hàng đầu trong chiến lượcphát triển toàn diện của nhà trường
Menger cho rằng việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên phải
“Nhằm mục đích tăng cường hơn nữa đến sự phát triển toàn diện của ngườigiảng viên trong hoạt động nghề nghiệp”
Trang 38Còn theo Webb thì “Phát triển đội ngũ giảng viên phải mang tính đón đầuchứ không phải phản ứng nhất thời Những thiếu sót trong khâu đào tạo nghiệp
vụ, các yêu cầu cần cập nhật kỹ năng cần thiết không phải là nguyên nhân cănbản dẫn đến phát triển đội ngũ giảng viên”
Công tác phát triển đội ngũ giảng viên trong nhà trường phải nhằm vàonhững mục tiêu cơ bản là:
1 Chăm lo xây dựng đội ngũ để có đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu loạihình, vững về trình độ, có thái độ nghề nghiệp tốt, tận tụy với nghề, đảm bảochất lượng về mọi mặt để đội ngũ giảng viên thực hiện tốt nhất, có hiệu quảnhất chương trình, kế hoạch đào tạo và những mục tiêu chung của nhà trường
2 Phải làm cho đội ngũ giảng viên luôn có đủ điều kiện, có khả năng sángtạo trong việc thực hiện tốt nhất những mục tiêu của nhà trường, đồng thời tìmthấy lợi ích cá nhân trong mục tiêu phát triển của tổ chức Phát triển đội ngũgiảng viên phải tạo ra sự gắn bó kết hợp mật thiết giữa công tác quy hoạch, kếhoạch tuyển chọn, sử dụng, đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng và tạo môi trườngthuận lợi cho đội ngũ phát triển
3 Phát triển đội ngũ giảng viên là bao gồm sự phát triển toàn diện củangười giảng viên, nhà giáo giảng dạy đại học với tư cách là con người, là thànhviên trong cộng đồng nhà trường, là nhà chuyên môn, nhà khoa học trong hoạtđộng sư phạm về giáo dục
4 Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên là làm tốt công tác quyhoạch, xây dựng được kế hoạch tiếp nhận, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, đào tạolại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn thường xuyên, liên tục
5 Kết quả công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên khôngnhững chỉ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp cho các nhà giáo
mà còn cần phải quan tâm đến những nhu cầu thăng tiến, những quyền lợi thiết
Trang 39thực để thực sự làm cho người giảng viên gắn bó trung thành và tận tụy với “Sựnghiệp trồng người”.
Thuật ngữ “Phát triển đội ngũ giảng viên” được hiểu là một khái niệm tổnghợp bao gồm cả việc bồi dưỡng đội ngũ giảng viên và phát triển nghề nghiệpcủa họ Nếu như phạm vi bồi dưỡng bao gồm những gì mà người giảng viên cầnphải biết, phạm vi phát triển nghề nghiệp đội ngũ giảng viên bao gồm những gì
họ nên biết, thì phát triển đội ngũ giảng viên là bao quát tất cả những gì màngười giảng viên có thể trau dồi phát triển để đạt các mục tiêu cơ bản cho bảnthân, cho nhà trường Đó là con đường để người giảng viên phát triển toàn diệnnội lực của bản thân để hài hòa phù hợp với thỏa đáng trong sự phát triển chungcủa nhà trường
Ở đây chúng ta cần có sự phân biệt giữa hai nội dung: bồi dưỡng đội ngũgiảng viên và phát triển đội ngũ giảng viên
Nội dung Bồi dưỡng ĐNGV Phát triển ĐNGV
Phạm vi
- Hẹp (về mục tiêu, nội dung)
- Chỉ tập trung vào công tác bồi dưỡng.
- Rộng (về mục tiêu, nội dung)
- Gồm cả bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng
Nội dung - Trình độ chuyên môn
- Số lượng, cơ cấu, đội ngũ kế cận
Kế hoạch Thường là ngắn hạn, giải
Bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
có nghĩa là đưa người giảng viên từ một điểm khởi đầu đạt được một vài tiêu chí nhất định về trình độ, kỹ năng
Phát triển ĐNGV bao gồm không chỉ nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn
cả sự thỏa mãn của cá nhân, sự trung thành, tận tụy của người giảng viên đối với nhà trường, cùng bầu không khí làm việc dân
Trang 40chủ, lành mạnh và thoải mái
Tựu chung lại, công tác phát triển ĐNGV là một quá trình liên tục pháttriển nhằm hoàn thiện hoặc thay đổi tình hình hiện tại để là cho ĐNGV khôngngừng lớn mạnh về mọi mặt Thực chất đó cũng là một quá trình cải cách, cải tổ
về ĐNGV Phát triển ĐNGV là một quá trình tích cực có tính hợp tác cao, trong
đó người giảng viên có vai trò quan trọng trong sự trưởng thành về năng lực,trình độ về mặt nghề nghiệp cũng như nhân cách của bản thân họ cùng hòa hợp
và phát triển với đại gia đình nhà giáo của nhà trường