1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số nội dung cơ bản của thuế TNDN

22 1,5K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 105,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung các nước đều quy định thu nhập của một pháp nhânkinh doanh phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.. của một đối tượng dựa trên nơi thường trú và hệ thống dựa trên nguồn gốcthu nh

Trang 1

Một số nội dung cơ bản của thuế TNDN:

1 Đối tượng nộp thuế:

Về nguyên lý chung thì tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanhhàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế đều thuộc đối tượng nộp thuếTNDN

Tuy nhiên, để thu thuế thu nhập, các nước chú trọng đến việc phân loạicông ty hoạt động dưới hình thức nào Các nước do các hệ thống pháp luậthoàn chỉnh nên đã quy định cụ thể một hoạt động kinh doanh trước khi tiếnhành phải thực hiện việc đăng ký và hoạt động theo luật kinh doanh tươngứng Trên cơ sở các quy định về pháp lý, tên gọi, chủ sở hữu hoặc đồng chủ

sở hữu, các sáng lập viên… mà đã định ra 2 hình thức thu thuế thu nhậpthích hợp Nhìn chung các nước đều quy định thu nhập của một pháp nhânkinh doanh phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Thu nhập của thể nhânkinh doanh hoặc cá nhân không kinh doanh phải nộp thuế thu nhập cá nhân

2 Cơ sở tính thuế hay căn cứ tính thuế:

Bao gồm thu nhập chịu thuế và thuế suất

2.1 Thu nhập chịu thuế:

2.1.1 Xác định thu nhập chịu thuế:

- Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập làm cơ sở đánh thuế thu nhập

Nó được xác định trên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi đã trừmột số khoản thu nhập và chi phí để tạo ra thu nhập đó

- Muốn xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp cần xem xétcác vấn đề sau:

+ Nguồn gốc của thu nhập

+ Địa điểm phát sinh thu nhập và thời hạn cư trú hoặc không cư trú củachủ sở hữu thu nhập

Hiện nay trên thế giới có hai hệ thống cơ bản để xác định nghĩa vụ nộpthuế thu nhập của một doanh nghiệp hay cá nhân tại một nước nào đó theoluật pháp của nước đó Hai hệ thống này là hệ thống xác định nghĩa vụ thuế

Trang 2

của một đối tượng dựa trên nơi thường trú và hệ thống dựa trên nguồn gốcthu nhập.

Đánh thuế trên cơ sở thường trú tức là phải xác định rõ thế nào là cơ sởthường trú và thuế thu nhập sẽ được điều chỉnh trên toàn bộ thu nhập củadoanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau không phân biệt lĩnh vực, thời gianphát sinh Nói cách khác cơ sở xác định khả năng chịu thuế của một công ty

là dựa trên khái niệm một công ty cư trú hay không cư trú ở một nước Mộtcông ty cư trú ở một nước có nghĩa vụ kê khai toàn bộ thu nhập chịu thuếphát sinh ở trong nước và ngoài nước Còn công ty không cư trú, nhưng có

cơ sở thường trú ở một nước chỉ có nghĩa vụ kê khai thu nhập phát sinh tạinước đó

Phương pháp đánh thuế dựa trên nguồn thu nhập (Đánh thuế trên cơ sởxuất xứ) tức là chỉ có những thu nhập phát sinh trong lãnh thổ của cơ sơ sảnxuất kinh doanh đó bị đánh thuế

Như vậy, việc đánh thuế dựa trên nguồn thu nhập sẽ có cơ sở tính thuế

eo hẹp hơn cách đánh thuế dựa trên tiêu chuẩn thường trú khi trên lãnh thổ 1quốc gia nào đó có nhiều công ty hoạt động kinh doanh của nước ngoài+ Tính thường xuyên hay không thường xuyên của việc phát sinh thunhập

- Khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN cần phải quán triệt cácnguyên tắc cơ bản sau đây:

+ Thu nhập chịu thuế là thu nhập bằng tiền, tức là chỉ những thu nhậpđược tính ra bằng tiền mới đưa vào thu nhập chịu thuế, theo đó thì những thunhập dưới dạng hiện vật phải được tính thành tiền và những thu nhập nhậnđược từ các lợi ích công cộng không được tính vào thu nhập chịu thuế

+ Thu nhập chịu thuế là thu nhập ròng, tức là thu nhập nhận được saukhi đã trừ đi các chi phí hợp lý và cần thiết để tạo ra thu nhập đó;

+ Thu nhập chịu thuế là thu nhập thực tế Tức là chỉ những thu nhập màdoanh nghiệp thực sự nhận được trong kỳ tính thuế mới được tính còn những

Trang 3

thu nhập đang ở dạng tiềm ẩn thì không được tính vào thu nhập chịu thuế Ví

dụ những khoản trừ chiết khấu giảm giá cho khách hàng, trị giá hàng bị trảlại sẽ được khấu trừ không được tính vào thu nhập chịu thuế, ngược lạinhững khoản trợ giá, phụ thu mà doanh nghiệp được hưởng lại được tínhvào thu nhập chịu thuế

2.1.2 Xác định thời gian tính thuế thu nhập doanh nghiệp:

Xác định đúng đắn thời gian tính thuế thu nhập doanh nghiệp là vấn đề

vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng và thực thi luật thuế vì việc xácđịnh đúng thời gian tính thuế sẽ đảm bảo giá trị đồng tiền nộp thuế trướctình trạng lạm phát, tránh sự lợi dụng chiếm dụng tiền thuế và thực hiện chitiêu theo kế hoạch của Nhà nước

2.1.3 Tuỳ theo chính sách thuế thu nhập của mỗi nước mà nội dung,

phương pháp xác định các khoản chi phí có sự khác nhau Các khoản chi phí được khấu trừ về nguyên tắc phải có các đặc trưng sau:

+ Chi phí phải liên quan tới doanh nghiệp hay có thể nói rõ hơn đó làcác chi phí phải được chi ra cho các mục đích tạo ra thu nhập chịu thuế.+ Chi phí phải thật được chi ra

+ Mức trả cho chi phí phải hợp lý

+ Chi phí phải có tính “thu nhập” hơn là tính vốn Chi phí mang tínhchất vốn là những khoản chi liên quan đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp Chiphí mang tính chất thu nhập là những khoản chi phí liên quan trực tiếp đếntạo ra thu nhập

Mặc dù có những nguyên tắc chung để xác định các khoản chi phí đượckhấu trừ nhưng nhiều khoản chi phí không nằm trong phạm vi các nguyêntắc trên Các chi phí đó là:

a Vốn thu hoạch lại: là số tiền thanh lý tài sản, nhượng bán tài sản Có

3 quan điểm về việc đánh thuế đối với vốn thu hoạch lại:

Trang 4

- Quan điểm 1: Đánh 1 phần vào 1 số loại vốn thu hồi được, chủ yếuđánh vào đất, cổ phần.

- Quan điểm 2: Không đánh thuế thu nhập vì nói không mang tính chấtthu nhập mà mang tính chất vốn

- Quan điểm 3: Đánh thuế thu nhập trên toàn bộ khoản vốn thu hồi lại

vì người ta coi đó là khoản thu nhập

Để đánh thuế chính xác, ở các nước có hệ thống thuế hiện đại, người tacho laọi trừ các nhân tố ảnh hưởng (ví dụ như lạm phát) Ở các nước hệthống thuế chưa phát triển, đánh thuế trên toàn bộ khoản vốn thu hồi lại

b Lợi tức cổ phần: là một khoản thu nhập của doanh nghiệp do doanhnghiệp đóng góp cổ phần vào công ty khác Có 2 quan điểm:

- Quan điểm 1: Không nên đánh thuế vì trước khi nhận được lợi tức cỏphần, khoản này đã bị đánh thuế ở doanh nghiệp mà mình góp cổ phần

- Quan điểm 2: Nếu coi đây là khoản thu nhập thì vấn đánh thuế

Người ta đưa ra cách xử lý:

- Khấu trừ tiền thuế đã nộp ở khâu trước khi nhận được thu nhập

- Đánh vào một phần thu nhập từ lợi tức cổ phần

c Lãi tiền gửi: Đây là khoản thu nhập của doanh nghiệp nên nên đánhthuế thu nhập doanh nghiệp Tuy nhiên nếu khuyến khích hoạt động cho vayvốn thì không đánh vào lãi tiền gửi

d Thu nhập từ nước ngoài: nếu căn cứ vào tiêu thức thường trú thì nênđánh Tuy nhiên đây là khoản thu nhập từ nước ngoài đã bị đánh thuế thunhập doanh nghiệp của nước ngoài nên nếu đánh thuế thu nhập doanhnghiệp sẽ dẫn đến đánh trùng thuế, hạn chế đầu tư, phát triển sản xuất kinhdoanh

e Khấu hao tài sản cố định: là một yếu tố của hci phí nhưng được phân

bổ như thế nào trong từng năm khi tính thu nhập chịu thuế Về nguyên tắc,

Trang 5

tỷ lệ khấu hao tài sản cố định nhằm mục đích tích luỹ và tính thuế phảitương ứng với vòng đời kinh tế hữu dụng của tài sản, nhưng thực tế ở nhiềuquốc gia, khấu hao đưa vào chi phí để tính thuế thường không tương ứng vớivòng đời hữu dụng của tài sản.

g Các khoản thuế được khấu trừ:

Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp thì không được coi là khoản chiphí khấu trừ

Đối với thuế đánh trên hàng hoá (thuế gián thu) thì được coi là chi phí

và được phép khấu trừ vì thực chất đây là một khoản chi phí mà Công typhải trả khi mua hàng hoá và nó được coi như là một chi phí tạo ra lợinhuận

h Chi phí quảng cáo, chi phí hội nghị, tiếp tân, tiếp khách…: Việc xácđịnh định mức bao nhiều là hợp lý chỉ mang tính chất ước lệ

2.2 Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế suất là mức động viên của Nhà nước trên một đơn vị của đốitượng tính thuế Thuế suất là linh hồn của một sắc thuế Nó phản ánh mức

độ điều tiết của nhà nước đối với một đối tượng tính thuế; thể hiện quanđiểm của Nhà nước về yêu cầu động viên nhằm khuyến khích hay khôngkhuyến khích sự phát triển của một ngành nghề, một loại sản phẩm cụ thểnào đó Thuế suất được xác định bằng đại lượng tuyệt đối hay bằng tỷ suất

Cơ cấu thuế suất thuế thu nhập công ty được thiết kế khác nhau tuỳthuộc điều kiện và chính sách kinh tế của từng nước Một chính sách thuếthu nhập thông minh không phải là đặt ra mức động viên thuế cao (thuế suấtcao), điều quan trọng là thuế suất cần quy định ở mức vừa phải trên cơ sởxem xét, cân nhắc đến cả lợi ích: Nhà nước và doanh nghiệp, đồng thời cầnphải mở rộng diện thu thuế, đa dạng hoá đối tượng thu và không bỏ sótnguồn thu, gánh nặng thuế được san sẻ cho nhiều người cùng chịu

Trang 6

3 Ưu đãi miễn, giảm thuế

3.1 Khái niệm:

Ưu đãi về thuế là việc một quốc gia, một tổ chức Quốc tế dành nhữngđiều kiện, những quyền lợi đặc biệt về thuế cho một tổ chức quốc tế, mộtquốc gia, một doanh nghiệp hay một cá nhân nào đó hơn so với những quốcgia khác, tổ chức khác hay đối tượng khác

Nói cách khác, ưu đãi thuế là hình thức cho người nộp thuế đượchưởng những điều kiện thuận lợi khi thực hiện nghĩa vụ thuế

3.2 Đặc điểm của các ưu đãi thuế

Ưu đãi thuế là một trong những bộ phận của chính sách ưu đãi nên nómang đầy đủ đặc điểm của chính sách ưu đãi Ngoài ra nó còn có một số đặcđiểm chủ yếu sau:

- Chỉ có tổ chức quốc tế và các quốc gia mới có quyền đặt ra ưu đãithuế vì tổ chức quốc tế và quốc gia có quyền quản lý Ưu đãi chỉ tồn tại khi

nó thực hiện được Muốn vậy, đối tượng ban hành ra nó phải có quyền lựcnhất định Tổ chức quốc tế có quyền lực quản lý trong phạm vi các quốc giatheo các cam kết mà các quốc gia này đã ký kết; Nhà nước có quyền quản lýquốc gia trên mọi phương diện hay nói cách khác có Nhà nước thì mới cóthuế, mới có ưu đãi thuế Vì vậy, chỉ có tổ chức quốc tế và Nhà nước ở cácquốc gia có quyền đặt ra ưu đãi thuế

- Ưu đãi thuế nhằm vào mục đích phát triển Vì vậy, các tổ chức quốc

tế, các khu vực, Nhà nước ở các quốc gia đều đưa ra hệ thống ưu đãi thuếkhác nhau tuỳ hoàn cảnh của mỗi nước, tuỳ mục tiêu phát triển nền kinh tếtrong từng thời kỳ

- Giới hạn về chủ thể và thời hạn ưu đãi thuế: Cũng như chính sách ưuđãi, chính sách ưu đãi thuế nhằm mục đích nhất định thì phải có chủ thể nhất

Trang 7

định Thời gian ưu đãi thuế cũng phải được tính đến để cho phù hợp với sựphát triển của doanh nghiệp Nếu thời gian quá ngắn thì các nhà đầu tư chưa

có khả năng khắc phục khó khăn nhưng nếu thời gian quá dài thì có khikhông những không có tác dụng lắm đối với kích thích đầu tư mà còn tạo ranhiều mặt tiêu cực vì chính sách ưu đãi nói chung và chính sách ưu đãi thuếnói riêng bên cạnh những mặt tích cực thì còn có rất nhiều những hạn chếnhư: tạo ra sự mất công bằng, gây méo mó nền kinh tế

- Chính sách ưu đãi thuế làm giảm cơ sở thuế bao gồm có thể là giảmthuế suất hoặc giảm số thu

- Mặc dù việc ban hành các ưu đãi thuế để khuyến khích đầu tư rấtphổ biến tại các nước trên thế giới, hiện nay vẫn còn nhiều tranh luận về tácdụng của các biện pháp ưu đãi thuế này đối với việc thu hút đầu tư Đối vớicác nhà đầu tư, việc quyết định đầu tư vào một nước thường phụ thuộc vàotoàn bộ các yếu tố của nước sở tại, trong đó ưu đãi thuế chỉ là một trong lý

do để cân nhắc và không phải là yếu tố quan trọng nhất Nguồn tài nguyên,

sự ổn định về chính trị và kinh tế, minh bạch trong hệ thống pháp luật, việc

có đầy đủ các hệ thống hỗ trợ (ví dụ: các hệ thống ngân hàng, vận tải, viễnthông và các tiện ích hạ tầng), khả năng dễ chuyển lợi tức ra nước ngoài vàlực lượng lao động chuyên nghiệp và giá rẻ thường là những yếu tố quyếtđịnh hơn vấn đề về thuế khi xem xét các vị trí đầu tư thích hợp Nếu các yếu

tố này là thuận lợi và hệ thống thuế quốc gia phù hợp với các chuẩn mựcquốc tế thì ưu đãi thuế sẽ không còn vai trò quyết định ảnh hưởng đến quyếtđịnh của nhà đầu tư

Một đặc điểm nữa của ưu đãi thuế là rất khó có thể định lượng phầnđầu tư tăng lên do áp dụng các ưu đãi thuế so với phần số thu đã mất, do đó

Trang 8

các đánh giá về tác dụng của từng loại ưu đãi thường mang tính chất địnhtính, không mang tính chất định lượng.

3.3 Cơ chế áp dụng ưu đãi

- Cơ chế tự động: cơ chế này cho phép doanh nghiệp/ dự án đầu tưnhận được các ưu đãi một cách tự động ngay khi đáp ứng đủ mục tiêu cụ thểtheo tiêu thức như số tiền đầu tư tối thiểu của dự án vào các khu vực nhấtđịnh của nền kinh tế Các tiêu thức này thường được quy định hoặc trongnhững luật có liên quan hoặc trong các quy định thực hiện luật

- Cơ chế xét duyệt: cơ chế này gắn liền với việc chấp thuận hay từchối đơn xin áp dụng ưu đãi trên cơ sở đánh giá mức thực tế đạt được so vớicác điều kiện ưu đãi đã đưa ra ban đầu

Đối với cả hai loại cơ chế lập ngưỡng đều có những hạn chế nhấtđịnh Cơ chế lập ngưỡng xét duyệt tốt hơn cơ chế tự động vì cơ chế xétduyệt có thể tạo cho cơ quan cấp ưu đãi nhiều linh hoạt trong việc xác định

ưu điểm của từng đơn xin hưởng ưu đãi Tuy nhiên, trên thực tế việc xétduyệt có thể thiếu minh bạch và tạo điều kiện cho nạn tham nhũng

3.4 Phạm vi ưu đãi:

Ưu đãi thuế có thể chia thành 2 cấp độ:

+ Ưu đãi trên phạm vi Quốc tế: Là việc một tổ chức Quốc tế, mộtquốc gia nào đó dành những điều kiện, những quyền lợi đặc biệt hơn về thuếcho một hay một số quốc gia khác trong phạm vi một công ước Quốc tế, mộthiệp định song phương, đa phương… so với các quốc gia khác khi tham giavào thương mại Quốc tế

Trang 9

+ Ưu đãi trên phạm vi quốc gia: Là việc một quốc gia dành nhữngđiều kiện, những quyền lợi đặc biệt hơn về thuế cho một tổ chức, một doanhnghiệp… nhằm khuyến khích hay hạn chế sự phát triển của một lĩnh vực,một ngành nghề hay một mặt hàng nào đó… theo mục tiêu hoặc đường lối

mà Chính phủ đă đặt ra Việc ưu đãi trên phạm vi quốc gia được Chính phủcác nước sử dụng dưới hình thức luật, các văn bản dưới luật hay đơn giảnchỉ là quy định của một địa phương nào đó Tuy nhiên, các quyết định màChính phủ các nước đưa ra phải phù hợp với các nguyên tắc, các cam kếtcủa các tổ chức Quốc tế mà Chính phủ đã ký kết trong tiến trình tham giavào thương mại Quốc tế

3.5 Hình thức ưu đãi chủ yếu

Các nước có thể sử dụng nhiều hình thức ưu đãi thuế khác nhau vớimức độ ưu đãi khác nhau tuỳ theo mục tiêu cần thu hút đầu tư của mình, tuynhiên các dạng ưu đãi thuế cơ bản thường gồm:

3.5.1 Miễn giảm thuế có thời hạn

Ưu đãi thuế có các hình thức cụ thể, đó là: miễn, giảm tín dụng thuếđầu tư, mức miễn trừ (mức tối thiểu không phải chịu thuế) v v Chế độ ưuđãi về thuế được thể hiện rõ nhất thông qua các quy định miễn giảm thuế.Miễn giảm thuế là số tiền thuế mà người nộp thuế phải nộp cho Nhà nước,song vì những lý do kinh tế, xã hội mà Nhà nước quy định cho phép khôngphải nộp toàn bộ (miễn thuế ) hay chỉ phải nộp một phần (giảm thuế) trong

số thuế phải nộp

Miễn giảm thuế có thời hạn là không đánh thuế hoặc giảm thuế thunhập đối với các dự án đầu tư đủ tiêu chuẩn trong một thời gian nhất định.Các thời kỳ doanh nghiệp được miễn giảm thuế thường được gọi là các kỳnghỉ về thuế

Đây là hình thức ưu đãi đầu tư phổ biến tại các nước đang phát triển

Ở những quốc gia khác nhau, chính sách miễn giảm thuế rất khác nhau cả về

Trang 10

thời hạn được miễn giảm và hình thức miễn giảm Thời hạn miễn giảm ngắn

có thể là một năm, dài hơn có thể kéo dai tới 20 năm dưới hình thức chomiễn toàn bộ thuế lợi tức ( thậm chí tất cả các loại thuế phải nộp) hoặc dướihình thức giảm mức thuế suất…

Thời điểm miễn giảm thuế có thể là: Ngày đăng ký thành lập công ty,ngày bắt đầu sản xuất kinh doanh, ngày công ty bắt đầu có thu nhập, nămđầu tiên công ty có lãi… Ở nhiều nước thời điểm miễn giảm ít nhất là mộtnăm hay lâu hơn trước khi một dự án đầu tư nước ngoài thực sự bắt đầu kinhdoanh và thường là khoảng 5 năm hay dài hơn trước khi công ty có lợi tức.Miễn giảm thuế có mối liên quan chặt chẽ với các quy định về khấu hao vàgiảm lỗ Trong một số trường hợp, việc miễn giảm có thời hạn có thể khôngđem lại lợi ích cho các nhà đầu tư

Phần lớn các nghiên cứu đều cho thấy, miễn giảm thuế với thời hạnngắn có ít tác dụng trong việc thu hút đầu tư Thời hạn miễn giảm dài hơn cótác dụng và sức hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư, song đối với nước nhậnđầu tư nó làm tăng chi phí hay giảm số thu thuế do giảm thuế Hơn nữa,miễn giảm thuế tạo ra nhiều khe hở cho việc luồn lách, trốn thuế và lạmdụng như tạo cơ hội cho tránh thuế vì các doanh nghiệp bị đánh thuế có thể

sử dụng quan hệ kinh tế với doanh nghiệp được miễn thuế để chuyển lợinhuận của mình sang cho doanh nghiệp miễn thuế thông qua chuyển giá hay

bị các nhà đầu tư lơi dụng thông qua việc tái tạo đầu tư mới từ đầu tư cũ

3.5.2 Thuế suất giảm: áp dụng mức thuế suất thấp hơn thuế suất chuẩn

đối với các dự án đầu tư đạt đủ điều kiện

3.5.3 Trừ chi phí đầu tư hoặc khấu trừ thuế; trợ cấp đầu tư và khấu hao nhanh

Trang 11

Qui định tỷ lệ phần trăm của chi phí đầu tư ban đầu (ví dụ: chi phí nhàxưởng, thiết bị) sẽ được trừ ngay trong chi phí của thời kỳ hiện hành, ngoàimức khấu hao thông thường (biện pháp trừ chi phí) hoặc qui định tỷ lệ phầntrăm chi phí đầu tư sẽ được trừ vào nghĩa vụ thuế thu nhập công ty (biệnpháp khấu trừ thuế) Mục tiêu của loại ưu đãi này là nhằm khuyến khích việcđầu tư đối với các nhà xưởng và thiết bị trong những ngành cần tập trung.

- Khấu hao nhanh: Là hình thức chi phí mua tài sản được khấu haovới tốc độ nhanh hơn so với mức khấu hao được cho phép theo lịch trìnhkhấu hao thông thường Nói cách khác nó cho phép trừ chi phí đầu tư trongnhững năm đầu tiên nhanh hơn so với năm sau

- Trợ cấp đầu tư: nhà nước chi từ ngân sách các khoản trợ cấp cho đầu

tư, kể cả những khoản đầu tư không mang lại lợi nhuận

Xét về mặt hiệu quả, các quy định về khấu trừ đầu tư hay trợ cấp đầu

tư có thể tốt hơn so với miễn giảm thuế có thời hạn Chi phí của các quyđịnh này có thể tính toán được và chi phí đó tương quan với số vốn đầu tư

Sự ưu đãi có thể áp dụng đối với tất cả các hình thức đầu tư vốn hoặc chỉ cóthể giới hạn đối với một số loại hình nhất định như máy móc, thiết bị côngnghệ thông tiên tiến, hoặc đầu tư nghiên cứu – phát triển Còn đối với việcmiễn giảm thuế có thời hạn thì lợi ích dành cho nhà đầu tư một phần phụthuộc vào mối quan hệ giữa quy định về ưu đãi với các nguyên tắc thôngthường về khấu hao và giảm lỗ Trong trường hợp khi phần lớn các khoảnđầu tư ban đầu có thể không mang lại lợi tức trong những năm đầu, cộng vớiviệc khấu hao nhanh sẽ không mang lại lợi ích cho những nhà đầu tư màngược lại có thể làm tăng thêm gánh nặng về thuế Trong những trường hợp

đó, việc thực hiện khấu trừ đầu tư trong những năm đó sẽ thực sự trở nênhấp dẫn đối với các nhà đầu tư

Ngày đăng: 22/01/2016, 18:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w