Giả thuyết khoa họcCó thể nâng cao chất lượng GDSK cho học sinh tiểu học huyện Nghi XuânTỉnh Hà Tĩnh nếu đề xuất được một số biện pháp Giáo dục sức khỏe cho học sinhtiểu học ở Huyện Ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ HÒA
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO HỌC SINH TIỂU HỌC HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐẶNG THỊ HÒA
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO HỌC SINH TIỂU HỌC HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN NGỌC HIỀN
Trang 3NGHỆ AN - 2015
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Vì đây là đề tài mới mẻ lại ít kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học nên trong quá trình làm đề tài này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ và quan tâm để hoàn thành đề tài.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục và khoa Sau Đại học trường Đại học Vinh cùng như toàn thể thầy
cô ở các khoa dạy các môn đại cương đã nhiệt tình dạy dỗ, tạo điều kiện cho tôi được học tập tốt trong suốt khóa học.
Và đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Ngọc Hiền đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện làm đề tài.
Nhân đây, cho tôi gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã động viên
và tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nghệ An, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Đặng Thị Hòa
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 4
8 Đóng góp mới của luận văn 5
9 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 11
1.2.1 Sức khỏe 11
1.2.2 Giáo dục sức khỏe 13
1.2.3 Biện pháp giáo dục bảo vệ sức khỏe 14
1.3 Một số vấn đề về GDSK cho học sinh tiểu học 14
1.3.1 Mục đích, yêu cầu của GDSK cho học sinh tiểu học 14
1.3.2 Nội dung GDSK cho học sinh tiểu học 16
1.3.3 Phương pháp và hình thức GDSK 18
1.3.4 Ý nghĩa của việc GDSK cho học sinh tiểu học 21
1.3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng GDSK cho học sinh tiểu học 22
Trang 61.4 Một số đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học 26
1.4.1 Đặc điểm cơ thể 27
1.4.2 Đặc điểm hoạt động 27
Kết luận chương 1 30
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH 2.1 Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng 31
2.1.1 Khái quát hoàn cảnh kinh tế - xã hội - giáo dục của huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh 31
2.1.2 Tình hình chung về GDSK cho học sinh tiểu học trên địa bàn huyện Nghi Xuân 34
2.2 Thực trạng công tác nâng cáo chất lượng giáo dục sức khỏe cho học sinh các trường tiểu học huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh 37
2.2.1 Mục đích khảo sát thực trạng 37
2.2.2 Phạm vi khảo sát thực trạng 38
2.2.3 Nội dung và hình thức khảo sát 38
2.3 Đánh giá chung về thực trạng 49
2.3.1 Những mặt thành công 50
2.3.2 Những mặt hạn chế 50
Kết luận chương 2 53
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC Ở HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH 3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng GDSK cho học sinh các trường tiểu học huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh 54
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 54
Trang 73.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, hệ thống và toàn diện 54
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kiên trì 55
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả, khả thi 55
3.2 Một số biện pháp nâng cao chất lượng GDSK cho học sinh tiểu học huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh 56
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên về tầm quan trọng của việc GDSK cho học sinh tiểu học 56
3.2.2 Nâng cao năng lực GDSK của giáo viên tiểu học 58
3.2.3 Trang bị đồ dùng, cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại cho hoạt động chăm sóc sức khỏe cho học sinh 60
3.2.4 Tích hợp, lồng ghép nội dung GDSK trong các môn học cho phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh tiểu học 63
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh trong việc thực hiện nội dung GDSK 68
3.3 Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất .69
3.3.1 Lấy ý kiến chuyên gia 69
3.3.2 Mục đích thực nghiệm 71
3.3.3 Đối tượng thực nghiệm 71
Trang 83.3.4 Nội dung và cách thực hiện 72
3.3.5 Thời gian thực nghiệm 73
3.3.6 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả thực nghiệm 73
3.3.7 Kết quả thực nghiệm 74
Kết luận chương 3 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
1 Kết luận 80
2 Kiến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 100
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Số lượng trường, lớp, học sinh, cán bộ quản lý, giáo viên từ
mầm non đến trung học cơ sở huyện Nghi Xuân 32
Bảng 2.2 Quy mô phát triển trường, lớp, học sinh tiểu học huyện Nghi Xuân 35
Bảng 2.3 Trình độ đào tạo của đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Nghi Xuân 36
Bảng 2.4 Xếp loại học lực học sinh tiểu học huyện Nghi Xuân 37
Bảng 2.5 Nhận thức của cán bộ, giáo viên Tiểu học về GDSK 39
Bảng 2.6 Nhận thức của học sinh tiểu học về sức khỏe và bảo vệ sức khỏe 41
Bảng 2.7 Hành vi BVSK của học sinh tiểu học 42
Bảng 2.8 Việc giữ gìn vệ sinh trang phục 43
Bảng 2.9 Khảo sát vệ sinh ăn uống 44
Bảng 2.10 Bảng khảo sát thực trạng tổ chức thực hiện 44
Bảng 2.11 Tình hình sức khỏe trẻ ở 11 trường khảo sát 49
Bảng 2.12 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDSK của hiệu trưởng ở các trường TH trên địa bàn huyện Nghi Xuân 48
Bảng 3.1 Kết quả thăm dò về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 69
Bảng 3.2 Trình độ học sinh lớp TN và lớp ĐC 72
Bảng 3.3 Kết quả bài kiểm tra kiến thức về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của lớp TN và lớp ĐC 74
Bảng 3.4 Kết quả xếp loại bài kiểm tra kiến thức về sức khỏe và bảo vệ sức khỏe của lớp TN và ĐC 75
Bảng 3.5 Kết quả thực hành kỹ năng bảo vệ chăm sóc sức khỏe cho bản thân và gia đình ở lớp TN và lớp ĐC 76
Bảng 3.6 Bảng kết quả bài thực hành kiểm tra kỹ năng bảo vệ sức khỏe của lớp TN và lớp ĐC 77
Trang 10KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CB, GV, NV Cán bộ, giáo viên, nhân viên
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc
Trang 11hướng nghiệp Trong đó, sức khỏe - thể lực là cơ sở để tiếp nhận các mặt còn lại[14]
Sức khỏe được định nghĩa là một trạng thái thoải mái về thể chất, về tinhthần, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật Khỏe mạnh không chỉ đơnthuần về thể chất mà còn phải có một cuộc sống thoải mái và hạnh phúc Giáo dụcnâng cao sức khỏe là một phần của y học lâm sàng, giúp cho bệnh nhân, gia đình
họ và cộng đồng có được sức khỏe tốt nhất Giáo dục nâng cao sức khỏe cũng làmột phần của công việc hàng ngày, các cán bộ y tế phải luôn nhớ đến vị trí của nótrong khung cảnh xã hội chung giữa nhiều yếu tố như nhà ở tiện nghi, giáo dục tốt,nghề nghiệp có ý nghĩa và những mối quan hệ khác
Sức khoẻ là vốn tài sản quý giá nhất của mỗi con người và của quốc gia, cónhiều yếu tố liên quan mật thiết với nhau, tác động ảnh hưởng đến sức khoẻ conngười trong đó chăm sóc sức khoẻ cho trẻ thơ là việc làm hết sức cần thiết [15].Mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng đều có vai trò quan trọng trong việc chăm sócgiáo dục hình thành ở trẻ một số nề nếp thói quen vệ sinh, hành vi văn minh và kĩnăng sống đơn giản ban đầu, góp phần tạo cơ hội cho trẻ sống, phát triển một cáchkhoẻ mạnh Nếu được chăm sóc tốt và hình thành những thói quen vệ sinh cá nhâncần thiết từ nhỏ thì sẽ tạo thành nền móng vững chắc về sau này
Để thúc đẩy công tác chăm sóc sức khỏe, bên cạnh việc đẩy mạnh các côngtác y tế trường học, các nhà nghiên cứu cũng nhận thức rằng phải đẩy mạnh côngtác giáo dục sức khỏe cho học sinh từ khi các em bước vào ngưỡng cửa nhàtrường Đặc biệt, học sinh tiểu học thuộc tuổi trẻ đang lớn nhanh và phát triển vềmọi mặt vì vậy muốn có thế hệ tương lai khỏe mạnh phải chú ý từ lứa tuổi này.Trên thực tế đa số bệnh ở tuổi trưởng thành đều bắt nguồn từ tuổi học đường như:suy dinh dưỡng, cận thị, cong vẹo cột sống, bướu cổ, các bệnh về tim mạch, tiêuhóa, bệng lây qua đường tình dục, và các bệnh truyền nhiễm Nhiệm vụ giáo dụcsức khỏe là công tác quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp giáo dục sức khỏe cho
Trang 12thế hệ trẻ và quan trọng ngang với các công tác khác của nhà trường tiểu học nhằmthực hiện khẩu hiệu: “Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai” [1]
Hiện nay, công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em nói chung, học sinh nói riêng
đã có những điều kiện thuận lợi để thực hiện Tuy nhiên, trên thực tế, việc triểnkhai GDSK trong Nhà trường Tiểu học hiện nay chưa đạt hiệu quả, chất lượng nhưmong đợi, có nhiều bất cập Cơ sở vật chất các nhà trường chưa đảm bảo, thư việncòn thiếu các tài liệu, phương tiện phục vụ giảng dạy GDSK Đội ngũ giáo viênchưa được tập huấn bài bản, giáo viên chưa có được nhiều các biện pháp phù hợp
để thực hiện nội dung GDSK, các cấp các ngành địa phương vẫn chưa quan tâmkịp thời Chính vì vậy, việc GDSK và bảo vệ sức khỏe cho học sinh tiểu học là rấtquan trọng, hình thành cho các em kiến thức và kỹ năng ban đầu về chăm sóc sứckhỏe cho bản thân, gia đình và xã hội, xây dựng cho các em thái độ, hành vi cư xửđúng để bảo vệ sức khỏe cho cá nhân và cộng đồng là cần thiết
Tuy nhiên, đến nay dù nhận được nhiều quan tâm của các ngành, các cấpnhưng công trình nghiên cứu đang rất ít cho việc đề xuất các biện pháp GDSK chohọc sinh nói chung, học sinh tiểu học nói riêng
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề nghiên cứu: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe cho học sinh Tiểu học huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh”.
Quá trình giáo dục sức khỏe cho học sinh tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp nâng cao chất lượng GDSK cho học sinh tiểu học huyện NghiXuân, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 134 Giả thuyết khoa học
Có thể nâng cao chất lượng GDSK cho học sinh tiểu học huyện Nghi XuânTỉnh Hà Tĩnh nếu đề xuất được một số biện pháp Giáo dục sức khỏe cho học sinhtiểu học ở Huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh có cơ sở khoa học và có tính khả thi
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về GDSK cho học sinh tiểu học.
5.2 Tìm hiểu thực trạng GDSK cho học sinh tiểu học huyện Nghi Xuân,
tỉnh Hà Tĩnh
5.3 Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng GDSK cho học sinh tiểu
học huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện có phạm vi nghiên cứu ở 3 trường tiểu học: Xuân An
2, Xuân Giang 1 và trường tiểu học Xuân Phổ trên địa bàn huyện Nghi Xuân, tỉnh
Hà Tĩnh
7 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
7.1 Nội dung nghiên cứu
Xây dựng một số biện pháp nâng cao chất lượng GDSK cho học sinh tiểuhọc ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
7.2 Các phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành các nhiệm vụ trên của đề tài, chúng tôi đã sử dụng kết hợpcác phương pháp sau: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá,khái quát hoá những tài liệu lý luận để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
7.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.3.1 Phương pháp quan sát
Phương pháp này sử dụng để tìm hiểu thực trạng các hoạt động của giáoviên, nhân viên và học sinh trường tiểu học về thực hiện công tác GDSK, đồngthời đó cũng là cơ sở để khẳng định, kiểm chứng các biện pháp đề xuất
7.3.2 Phương pháp điều tra (bằng bảng câu hỏi)
Trang 14Sử dụng phương pháp này nhằm đánh giá thực trạng công tác GDSK chohọa sinh tiểu học huyện Nghi Xuân, tỉnh Tỉnh Hà Tĩnh
7.3.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Tổng kết kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục, các nhàquản lý về các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá,tổng kết công tác GDSK cho học sinh tiểu học huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
7.4 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này được sử dụng để xử lý tất cả các mẫu phiếu điều tra Mặtkhác dùng để đánh giá tính cấp thiết và mức độ khả thi của các biện pháp
8 Đóng góp mới của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng GDSK chohọc sinh tiểu học
- Làm sáng tỏ thực trạng về vấn đề nâng cao chất lượng GDSK cho học sinhtiểu học huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng GDSK cho học sinh tiểuhọc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận - kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luậnvăn chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng GDSK cho học sinh tiểu
học Chương 2: Thực trạng công tác nâng cao chất lượng GDSK cho học sinh
các trường tiểu học huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Chương 3: Một số biện pháp nâng cao chất lượng GDSK cho học sinh tiểu
học, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Hiện nay, sức khỏe toàn cầu đang bị ảnh hưởng bởi ba xu hướng: dân số lãohóa, đô thị hóa nhanh chóng không có kế hoạch, và toàn cầu hóa Điều này dẫnđến tỷ lệ ngày càng tăng của bệnh không lây nhiễm và các nguy cơ của gây rabệnh tật đã trở thành một vấn đề toàn cầu ảnh hưởng đến cả các quốc gia thu nhậpthấp và trung bình Gần 45% gánh nặng bệnh tật cho người lớn ở những nước nàyhiện là do bệnh không lây nhiễm [2] Nhiều quốc gia thu nhập thấp và trung bìnhđang bắt đầu phải chịu gánh nặng kép của các bệnh truyền nhiễm và bệnh khônglây nhiễm và hệ thống y tế ở những nước này đang phải đối phó với các chi phí bổsung để điều trị cả hai
Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh cho thấy sức khỏe của thế hệtrẻ là nhân tố hết sức quan trọng có ảnh hưởng đến khả năng học tập, sáng tạo và
sự phát triển năng khiếu của họ đang học ở trường cũng như tương lai sau này
Từ thế kỷ 19 nhiều nước ở Châu Âu đã có những chủ trương và phươngpháp thực hiện chăm sóc sức khỏe cho học sinh trong các trường học Năm 1877,tác giả Babinski đã cho xuất bản cuốn sách giáo khoa về vệ sinh học Tác giảBreslauer, Herman Cahn từ năm 1864 đã nghiên cứu sự tăng nhanh bệnh cận thịtrường học có liên quan đến chiếu sáng [3]
Đến thế kỷ 20 đã có sự hợp tác chặt chẽ giữa bác sĩ trường học với các trungtâm phòng chống dịch bệnh và đã đánh dấu một bước tiến bộ theo lối dự phòng.Năm 1981, Vermer Kneist, viện vệ sinh xã hội Cộng hòa dân Chủ Đức đã công bố
mô hình xây dựng y tế trường học
Trang 16Năm 1973, Edith Ockel Nghiên cứu về gánh nặng trẻ em trong học tập vàchỉ rõ những em có hiệu suất học tập thấp có sự diễn biến vế huyết áp và tần sốmạch khác với trẻ em trung bình và đã đề xuất cải thiện sức khỏe nhằm nâng caohiệu suất học tập.
Năm 1995, Tổ chức Y tế thế giới đã xây dựng sáng kiến y tế trường họctoàn cầu (Global school Health Intiatives) nhằm đẩy mạnh công tác chăm sóc sứckhỏe cho học sinh [8]
Các chương trình sức khỏe trong nhà trường có thể cùng một lúc làm giảmcác vấn đề y tế chung, làm tăng hiệu quả của hệ thống giáo dục và vì vậy làm tiến
bộ nền y tế công cộng, giáo dục và sự phát triển xã hội “Nếu cơ thể trẻ em khỏemạnh thì sẽ có lợi thế nhất trong mọi thời cơ của học tập tốt, sẽ có một đời sốngđầu đủ, hạnh phúc và đóng góp xây dựng cho tương lai đất nuớc” (WTO 1998)[1]
Tuyên ngôn Alma-ata (1998) là một văn kiện quốc tế về chăm sóc sức khỏeban đầu và theo tổ chức y tế thế giới: “Trường học giáo dục sức khỏe là nơi trong
đó cả về lời nói lẫn việc làm đều có hoạt động hổ trợ và cam kết thúc đẩy sức khỏetòan diện cho tất cả mọi thành viên trong cộng đồng nhà trường từ tình cảm, xãhội, thể chất đến các vấn đề đạo đức” [3]
Nhìn chung, những kinh nghiệm về phương hướng,cách thức chăn sóc sứckhỏe cho học sinh tiểu học ở các nước phát triển là rất quí giá và đáng để chúng tahọc tập Tuy nhiên, việc vận dụng chúng vào điều kiện kinh tế - xã hội của chúng
ta đòi hỏi phải có một quá trình chọn lọc, thử nghiệm để phù hợp với những đặcđiểm cụ thể của Việt Nam
1.1.2 Ở Việt Nam
Việt Nam trong giai đoạn mở cửa, công nghiệp hóa, đô thị hóa phải cùng lúcđối phó với mô hình bệnh tật của các nước đang phát triển cũng như đã phát triển,nhiều loại bệnh và nhiều vấn đề xã hội đặt ra liên quan đến tình trạng sức khỏe của
Trang 17cá nhân và cộng đồng Trường học là nơi giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ cho nênlàm tốt công tác giáo dục sức khỏe cũng có nghĩa là làm tốt các nội dung giáo dụckhác như: đức, trí, thể, mỹ, lao động Trường học là nơi có thể có những can thiệpnhằm chăm sóc, bảo vệ sức khỏe và phòng bệnh có hiệu quả thông qua các hoạtđộng truyền thông giáo dục sức khỏe, thực hiện các chính sách sức khỏe và dịch
vụ sức khỏe
Nhiều công trình nghiên cứu về sức khỏe học sinh trong các trường học lầnlượt được nghiên cứu Tác giả Trần Văn Dần và cộng sự (1998) nghiên cứu chothấy tỉ lệ cận thị ở học sinh tiểu học là 9,6 %, tỷ lệ học sinh cận thị ở Thành phố
Hồ Chí Minh và Hà Nội cao như nhau [4] Năm 2005, Tác giả Trần Văn Dần vàcộng sự Đào Thị Mùi nghiên cứu tình hình cong vẹo cột sống ở học sinh Hà Nội ởcác cấp là 18,9% các nguy cơ chủ yếu là do bàn ghế không đúng chuẩn và tư thếngồi sai của học sinh, sự thiếu hụt về kiến thức, thực hành phòng tránh bệnh congvẹo cột sống học đường của học sinh còn rất thấp Năm 2008, sau đánh giá thửnghiệm biện pháp phòng tránh cong vẹo cột sống cho học sinh trường tiểu học Cổ
Bi trong 2 năm học 2005-2006 và 2006-2007 cho kết quả tư thế ngồi học sai củahọc sinh tiểu học là vấn đề bức xúc nhất [5] Cho tới nay tại Việt Nam, mặc dù cónhiều nghiên cứu về y tế trường học nhưng chủ yếu tập trung vào tình hình sứckhỏe học sinh, tìm hiểu về bệnh tật học đường [6], tai nạn thương tích và một sốyếu tố ảnh hưởng như nghiên cứu của tác giả Trần Văn Dần, nghiên cứu về congvẹo cột sống của Vũ Đức Thu, Chu Văn Thăng, Trần Thị Dung, Trần Công Huấn,
…Tất cả chưa thật sự đi sâu vào vấn đề chăm sóc và giáo dục sức khỏe cho sinhtừng cấp học cụ thể
Sau hội nghị Alma Ata, ngành Y tế Việt Nam cũng đã xác định để giáo dụcsức khỏe ở vị trí số 1 trong 10 nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu của tuyến y tế
cơ sở Chính vì thế mà nước ta đã và lần lượt ban hành các văn bản cụ thể hướng dẫncông tác chăm sóc và giáo dục sức khỏe cho học sinh
Trang 18Thông tư liên bộ Y tế và Giáo dục số 32/ TTLB ngày 27/02/1964 đã hướngdẫn công tác vệ sinh trường học Trong thời kỳ chiến tranh leo thang ra miền Bắc,các trường học phải sơ tán ra miền núi, nông thôn, Bộ Y tế đã tiến hành điều trasức khỏe, bệnh tật của 20.000 học sinh ở 13 tỉnh thành trong 2 năm học 1966-
1967 và 1967-1968 Trước tình hình bệnh tật của học sinh gia tăng, Chính phủ đãban hành chỉ thị 46/TTG ngày 02/ 06/1969 giao trách nhiệm cho các ngành các cấpphải giữ gìn và nâng cao sức khỏe học sinh Năm 1973 có thông tư liên bộ 09/LB/YT- GD ngày 07/06/1973 hướng dẫn y tế trường học, trong đó có phân cấp việckhám chữa bệnh và quản lý sức khỏe học sinh từ tuyến y tế xã đến các bệnh việnthành phố Đến năm 1982 có thông tư liên bộ 13/LB/YT- GD ngày 09/06/1982 vềviệc đẩy mạnh công tác vệ sinh trường học Nhưng tiếc rằng sau khi ban hành cònthiếu sự chỉ đạo phù hợp với tình hình mới của đất nước Cuối thập kỷ 80, với tàitrợ của UNICEF, môn học giáo dục sức khỏe đã được thí điểm giảng dạy ở một sốtrường tiểu học và đến năm 1996 sức khỏe được coi là môn học bắt buộc trong 9môn ở bậc tiểu học Đến nay, mặc dù môn sức khỏe đã được tích hợp lồng ghéptrong môn tự nhiên xã hội ở lớp1, 2, 3 và khoa học ở lớp 4, 5 nhưng vấn đề giáodục sức khỏe cho học sinh tiểu học vẫn là môn học hết sức cần thiết
Chính việc lần lượt ban hành các quy định trên đã chứng tỏ việc giáo dụcsức khỏe cho trẻ trong trường học là một việc làm hết sức cần thiết trong thời đạingày nay
Trường học phải tổ chức tốt dạy tốt chương trình giáo dục sức khỏe theođúng quy định như thực hiện đầy đủ các quy chế, tiêu chuẩn vệ sinh do Bộ Y tế và
Bộ GD&ĐT ban hành Trong các họat động của trường học như giảng dạy, họctập, lao động, phải đảm bảo các yêu cầu hợp lý, an tòan và hiệu quả Sinh hoạtgiải trí phải có nề nếp, điều độ, phù hợp với sức khỏe, độ tuổi, giới tính Xây dựngtrường học là một điển hình về môi trường “Xanh - Sạch - Đẹp” [3] Trong tất
Trang 19cả các vấn đề trên việc giáo dục sức khỏe cho học sinh tự biết chăm sóc sức khỏecho bản thân, gia đình, cộng đồng là một điều không kém phần quan trọng.
Như vậy, vấn đề GDSK cho học sinh các trường phổ thông nói chung và cáctrường tiểu học nói riêng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuynhiên, các tài liệu chỉ đưa ra các nội dung và phương pháp giảng dạy chứ chưa đềcập đến việc nâng cao chất lượng giảng dạy vấn đề này đi vào chiều sâu và có chấtlượng Trên cơ sở kế thừa và phát huy các nội dung nghiên cứu về giáo dục sứckhỏe, chúng tôi vận dụng nghiên cứu vào việc đề xuất “Một số biện pháp nhằmnâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe cho học sinh tiểu học Huyện Nghi Xuân,tỉnh Hà Tĩnh”
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Sức khỏe
Theo Tổ chức Y tế thế giới: " Sức khỏe là một trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật” [1] Sức khỏe là vốn quí nhất của mỗi người, là nhân tố cơ bản trong
toàn bộ sự phát triển của xã hội Có nhiều yếu tố tác động đến sức khỏe của mỗingười: yếu tố xã hội, văn hoá, kinh tế, môi trường và yếu tố sinh học như ditruyền, thể chất Muốn có sức khỏe tốt phải tạo ra môi trường sống lành mạnh vàđòi hỏi phải có sự tham gia tích cực, chủ động của mỗi cá nhân, gia đình và cộngđồng vào các hoạt động bảo vệ và nâng cao sức khỏe Như vậy có thể hiểu sứckhỏe gồm 3 mặt [7]:
1.2.1.1 Sức khỏe thể chất
Thể hiện một cách tổng quát sự sảng khoái và thoải mái về thể chất càngsảng khoái, thoải mái, càng chứng tỏ là người khỏe mạnh Cơ sở của sự sảngkhoái, thoải mái về thể chất là:
Trang 20- Sức lực: Khả năng hoạt động của cơ bắp mạnh, có sức đẩy, sức kéo, sức
nâng cao do đó làm công việc chân tay một cách thoải mái như mang vác, điềukhiển máy móc, sử dụng công cụ
- Sự nhanh nhẹn: Khả năng phản ứng của chân tay nhanh nhạy, đi lại, chạy
nhảy, làm các kỹ thuật, thao tác nhẹ nhàng, thoải mái
- Sự dẻo dai: Làm việc hoặc hoạt động chân tay tương đối lâu và liên tục mà
không cảm thấy mệt mỏi
- Khả năng chống đỡ được các yếu tố gây bệnh: ít ốm đau, nếu có bệnh
cũng nhanh chóng khỏi, chóng hồi phục
- Khả năng chịu đựng được các điều kiện khắc nghiệt của môi trường: chịu
nóng, lạnh, thời tiết thay đổi đột ngột
Cơ sở của các điểm vừa nêu chính là trạng thái thăng bằng của mỗi hệ thống
và sự thăng bằng của 4 hệ thống: tiếp xúc, vận động, nội tạng và điều khiển cơ thể
1.2.1.2 Sức khỏe tinh thần
Là hiện thân của sự thỏa mãn vể mặt giao tiếp xã hội, tình cảm và tinh thần.Thể hiện ở sự sảng khoái, cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tươi, thanh thản; ởnhững ý nghĩ lạc quan, yêu đời; ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủđộng; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan, lối sống không lành mạnh[1]
Có thể nói: Sức khỏe tinh thần là nguồn lực để sống khỏe mạnh; là nền tảngcho chất lượng cuộc sống, giúp cá nhân có thể ứng phó một cách tự tin và hiệu quảvới mọi thử thách, nguy cơ trong cuộc sống Sức khỏe tinh thần cho ta khí thế đểsống năng động, để đạt được mục tiêu đặt ra trong cuộc sống và tương tác vớingười khác với sự tôn trọng và công bằng Sức khỏe tinh thần chính là biểu hiệncủa nếp sống lành mạnh, văn minh, có đạo đức Cơ sở của sức khỏe tinh thần là sựthăng bằng và hài hòa trong hoạt động tinh thần giữa lý trí và tình cảm
1.2.1.3 Sức khỏe xã hội
Trang 21Là sự hòa nhập của cá nhân với cộng đồng Như Mác nói: “Con người là sựtổng hòa các mối quan hệ xã hội” Sức khỏe xã hội thể hiện ở sự thoải mái trongcác mối quan hệ chằng chịt, phức tạp giữa thành viên: gia đình, nhà trường, bạn
bè, xóm làng, nơi công cộng và cơ quan Nó thể hiện sự được chấp nhận và tánthành của xã hội Càng hòa nhập với mọi người, được mọi người đồng cảm, yêumến càng có sức khỏe tốt và ngược lại Cơ sở của sức khỏe xã hội là sự thăng bằnggiữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi xã hội, của nhữngngười khác; là sự hòa nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội [1]
Ba mặt sức khỏe trên liên quan chặt chẽ với nhau Nó là sự thăng bằng, hàihòa của tất cả những khả năng sinh học, tâm lý và xã hội của con người Nó là cơ
sở quan trọng của hạnh phúc con người Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói:
“Sức khỏe là sức sống, là lao động sáng tạo, là tình yêu và hạnh phúc”.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới 1977, GDSK là: “Một hoạt động nhằm vào các
cá nhân để đưa đến việc thay đổi hành vi”
Còn L.W Green, 1980 thì “GDSK là sự kết hợp toàn bộ các kinh nghiệm rèn
luyện có kế hoạch nhằm thúc đẩy sự thích nghi một cách tự nguyện những hành vi
dẫn tới sức khỏe“ [8].
“GDSK là một quá trình nhằm giúp nhân dân tự thay đổi những hành vi có
hại cho sức khỏe để chấp nhận thực hiện những hành vi tăng cường sức khỏe”Bộ Y
tế (1993)
Bruce G.Simons-Morton, Walter H.Greene, Nell Gottlieb (1995) xem
GDSK là “một nghề nghiệp tận dụng các tiến trình giáo dục sức khỏe và nâng cao
Trang 22sức khỏe để đẩy mạnh hành vi sức khỏe và thay đổi các điều kiện ảnh hưởng đếnhành vi này cũng như các điều kiện ảnh hưởng đến sức khỏe” [9].
Theo ý kiến của chúng tôi: "GDSK là quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch, bằng nội dung và phương pháp khoa học của các nhà giáo dục, cácphương tiện truyền thông đến tình cảm, lý trí của con người nhằm thay đổi hành
vi, thói quen sức khỏe có hại thành hành vi có lợi cho sức khỏe cá nhân và cộngđồng" [1]
Giáo dục sức khỏe làm thay đổi hành vi sức khỏe: từ việc thay đổi nhậnthức, thái độ bảo vệ và tự bảo vệ sức khỏe cá nhân và tập thể, đến niềm tin, từ đóhình thành những kỹ năng thích hợp
1.2.3 Biện pháp giáo dục bảo vệ sức khỏe
Dựa trên khái niệm chung về biện pháp và biện pháp giáo dục, chúng tôiđưa ra khái niệm về biện pháp giáo dục sức khỏe như sau:
Biện pháp GDSK là cách thức tổ chức nội dung giáo dục sức khỏe cho họcsinh nhằm hình thành ở các em nhận thức, thái độ và hành vi đúng đắn về sứckhỏe Biện pháp GDSK là cách thức tổ chức thông qua các hoạt động giáo dụcnhằm giúp con người có được sự hiểu biết, kĩ năng và giá trị tạo điều kiện cho họtham gia vào phát triển con người hoàn thiện trong một xã hội bền vững Các biệnpháp thực hiện phải nhằm vào việc vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìngiữ, bảo vệ, chăm sóc nâng cao sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật, sửa đổi tập quán,thói quen có hại cho sức khỏe, xây dựng lối sống lành mạnh có lợi cho sức khỏe
Từ đó, giúp cho mọi đối tượng tự nguyện, tự giác thay đổi hành vi sức khỏe có lợicho cá nhân và cộng đồng
1.3 Một số vấn đề về Giáo dục sức khỏe cho học sinh tiểu học
1.3.1 Mục đích, yêu cầu của GDSK cho học sinh tiểu học
1.3.1.1 Mục đích của GDSK
GDSK nhằm giúp mọi người:
Trang 23- Tự tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của cá nhân và cộng đồng bằngchính những hành động và nổ lực của cá nhân.
- Tự chịu trách nhiệm và quyết định lấy những hoạt động và biện pháp bảo
Trên cơ sở đó mục đích của việc GDSK cho học sinh là:
- Học sinh hiểu biết về những vấn đề sức khỏe và nhu cầu về sức khỏe củabản thân các em
- Xây dựng lối sống lành mạnh, khoa học thông qua những biểu hiện đúngđắn trong quan niệm về sức khỏe và thái độ sống để học sinh có thể lựa chọn cáchnâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống của bản thân
- Cải tiến môi trường sức khỏe trường học và gia đình
- Thúc đẩy vai trò học sinh trong việc phổ biến những hiểu biết về sức khỏecho gia đình và cộng đồng, tích cực ủng hộ, hưởng ứng các chương trình sức khỏeđược thực hiện ở địa phương
1.3.1.2 Yêu cầu của GDSK
Nội dung chương trình GDSK ở trường học phải được gắn liền với nội dungchăm sóc sức khỏe ban đầu của Nhà nước được tiến hành ở địa phương Phươngpháp giảng dạy phải trên nguyên tắc “Mọi người cùng tham gia”, học sinh đượchướng dẫn thực hành các kỹ năng, hành vi sức khỏe lành mạnh [1]
Để chọn ra một phương pháp giảng dạy giảng dạy hiệu quả, giáo viên cầnlưu ý:
Trang 24- Sự thích hợp của vấn đề trong nội dug GDSK
- Hấp dẫn đối với học sinh.
- Thích hợp đối với lứa tuổi và lớp học.
- Mức độ khuyến khích học sinh tham gia bằng những họat động và công
việc thực tế của công tác GDSK
- Thời gian và phương tiện để thực hiện công tác GDSK
- Sự phù hợp với từng địa phương
1.3.2 Nội dung Giáo dục sức khỏe cho học sinh tiểu học
1.3.2.1 Nguyên tắc chọn nội dung GDSK
Dựa vào mục đích GDSK đã xác định và kiến thức y học mà chúng ta có,những người làm GDSK vạch ra những nội dung cần phải giáo dục phù hợp vớiđối tượng, trong đó cần phân định rõ:
- Những gì phải biết: Phải giới hạn được chủ đề, tránh mở rộng miên man vàđưa ra nhiều thông tin một lúc Những thông tin phải biết là những thông tin màđối tượng khi được biết họ có thể tiếp thu và thực hiện được
- Những gì cần biết (thông tin hổ trợ): Giúp cho đối tượng hiểu biết nhiềuhơn, có liên quan mật thiết đến các vấn đề cần được giáo dục
- Những gì nên biết: Giúp cho đối tượng nắm vững chủ đề và có thể giải đápmột số câu hỏi, thắc mắc của người khác
- Lựa chọn nội dung GDSK: sau khi đã có một tập hợp những kiến thức và
kỹ năng cần thiết phục vụ cho mục tiêu GDSK, những người làm GDSK cần biếtlựa chọn các thông tin thích hợp để sọan thành “Một bài GDSK” cụ thể, đáp ứngyêu cầu của một bài viết
1.3.2.2 Những nội dung chủ yếu của GDSK cho học sinh tiểu học
Nội dung GDSK phải xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với lứa tuổi, vớinhững kiến thức mà các em học được ở từng cấp học, bậc học [7]
a Vệ sinh cá nhân
Trang 25Cần giáo dục cho học sinh biết thực hành các hành vi vệ sinh cá nhân có lợicho sức khỏe, khắc phục, loại bỏ các thói quen mất vệ sinh, có hại cho sức khỏe.
Vệ sinh cá nhân bao gồm: vệ sinh môi trường, vệ sinh thân thể, vệ sinh trangphục…
b Vệ sinh môi trường
Vệ sinh môi trường bao gồm: vệ sinh gia đình, vệ sinh trường học, vệ sinhhọc tập, vệ sinh trong lao động, luyện tập thể thao phù hợp với lứa tuổi, giới tính
để phòng tránh bệnh tật, tai nạn thương tích thường gặp và nâng cao sức khỏe chomỗi cá nhân
c Dinh dưỡng và vệ sinh ăn uống
Cải tiến bữa ăn, dinh dưỡng hợp lý Đảm bảo vệ sinh an toàn lương thực thựcphẩm Phòng tránh ngộ độc thức ăn và các bệnh do rối loạn dinh dưỡng (suy dinhdưỡng, béo phì, bướu cổ, thiếu máu) Đảm bảo vệ sinh ăn uống
Biết vận dụng kỹ năng sống để ứng phó với những thử thách hàng ngày củacuộc sống nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho cá nhân, gia đình và cộng đồng
Để GDSK cho học sinh đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải được sự quan tâm củachính quyền địa phương, các tổ chức xã hội và các bậc phụ huynh, đồng thời phảixây dựng môi trường nhà trường trở thành “Trường học nâng cao sức khỏe” để
Trang 26học sinh có điều kiện thực hiện tốt các nội dung GDSK mà nhà trường đã truyềnthụ.
1.3.3 Phương pháp và hình thức Giáo dục sức khỏe
1.3.3.1 Phương pháp giáo dục
PPGD là cách thức hoạt động của giáo viên, được thực hiện trong quá
trình dạy học để tác động đến người học và việc học của họ nhằm hướng dẫn họ học tập và giúp họ đạt mục tiêu học tập [10].
Mỗi mô hình lí luận dạy học, PPGD đều có những điểm mạnh, điểm hạn chếnhất định GDSK có chất lượng thể hiện ở các tiêu chí về kiến thức, thái độ vàhành vi, trong đó chủ yếu là hành vi Để đạt được điều đó phương pháp giáo dụcđóng vai trò quan trọng Phương pháp giáo dục phải huy động đến mức tối đa sựtham gia đóng góp của học sinh vào họat động học tập và thực tiễn bảo vệ sứckhỏe Quán triệt tư tưởng “Tập trung vào người học”, quá trình giáo dục sức khỏecho học sinh tiểu học có thể sử dụng các phương pháp sau qua 2 phương pháp chủyếu sau:
- Phương pháp giao tiếp trực tiếp: giữa người với người là cách làm tốt
nhất, tiết kiệm nhất nhưng đạt hiệu quả cao nhất đối với cá nhân, tập thể và cộngđồng Phương pháp giao tiếp trực tiếp bao gồm: Đối thọai trực tiếp giữa người làmcông tác GDSK với từng cá nhân trong lúc tiến hành các dịch vụ y tế Nói chuyệnphổ biến các kiến thức y học thường thức Trong phương pháp đối thọai trực tiếp,
ta có thể áp dụng các phương pháp dạy học tích cực như:
+ Phương pháp giải quyết vấn đề: là một hệ phương pháp yêu cầu học sinhphải tìm tòi, suy nghĩ, lập luận, xây dựng và tiến hành giải pháp đối với các vấn đềsức khỏe
+ Thảo luận nhóm: là sự trao đổi ý kiếm và quan niệm về một chủ đề giữangười học và giáo viên cũng như giữa những người học với nhau Kết thúc thảoluận nhóm phải dẫn đến một kết luận hay một giải pháp Phương pháp thảo luận
Trang 27giúp học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, học sinh có thểchia sẻ kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề môi trường nào đó.
+ Đóng vai: Là phương pháp học sinh thực hành, làm thử một số cách ứngxử nào đó trong những tình huống giả định (Ví dụ: trong các giờ học TN&XHchoc học sinh đóng vai trong các tình huống để GDSK một cách trực tiếp và manglại hiểu quả)
+ Trò chơi: Bản chất của phương pháp sử dụng trò chơi học tập là dạy họcthông qua việc tổ chức hoạt động cho học sinh Dưới sự hướng dẫn của GV, HSđược hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi chuyểntải mục tiêu của bài học Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháphọc, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và sự tự đánh giá Sử dụng tròchơi học tập để hình thành kiến thức, kỹ năng mới hoặc củng cố kiến thức, kỹnăng đã học (trong GDSK cũng như vậy) Trong thực tế dạy học, GV thường tổchức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kỹ năng Tuy nhiên việc tổ chức chohọc sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kỹ năng mới là rất cần để tạohứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới
+ Phương pháp thuyết trình là phương pháp dạy học mà cơ bản dùng đểthực hiện là lới nói sinh động của giáo viên (Trong các giờ học về GDSK trongTN&XH lớp 2, GV sẽ phân tích cho HS hiểu hơn vè tác dụng của việc ăn đủ chấtdinh dưỡng và luyện tập thể dục thể thao thường xuyên )
+ Phương pháp kể chuyện trong GDSK là một phương pháp dùng lời nói
để diễn tả một cách sinh động hấp dẫn, có hình ảnh về một câu chuyện đã xảy ratrong quá khứ Câu chuyện liên quan đến nội dung bài học nhằm mục đích GDSKcho học sinh (Ví dụ: Bài: Làm thế nào để xương và cơ phát triển tốt (TN&XH lớp2), GV sẽ lồng ghép những câu chuyện của những em học sinh biếng ăn và lườitập thể dục sẽ ẫn đến hậu quả như thế nào…Từ đó các em rút ra được bài học: Phải
Trang 28ăn uống đủ chất và luyện tập thể dục thường xuyên để xương và cơ phát triểntốt…).
+ Phương pháp điều tra: Điều tra là tìm tòi, khám phá một vấn đề nào đó
Và muốn GDSK cho học sinh đạt hiệu quả thì chúng ta cần tìm hiểu nhiều vấn đềxoay quanh GDSK Điều tra đòi hỏi cả một quá trình, một dãy những họat độngđược tiến hành theo một trật tự, nhằm khám phá câu trả lời cho một vần đề đãđược thừa nhận là có thật Từ đó mới tiến hành các biện pháp tránh xa rời thực tế
và không khả thi
- Phương pháp giao tiếp gián tiếp - thông tin đại chúng: Phương pháp này
kém hiệu quả và tốn kém hơn so với các phương pháp giao tiếp trực tiếp vì phảigián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng từ người làm GDSK tới các đốitượng GDSK Có nhiều hình thức khác nhau trong thông tin đại chúng: Sách, báo,tranh ảnh,… Các phương tiện nghe nhìn: đài, phim, sân khấu, video,…Tổ chứccâu lạc bộ sức khỏe, góc truyền thống giáo dục sức khỏe trong lớp Tóm lại, mụctiêu cuối cùng của giáo dục sức khỏe là nhằm giúp học sinh có những hiểu biết vềcác vấn đề sức khỏe, xây dựng các hành vi và thói quen có lợi cho sức khỏe
Vì vậy, khi thực hiện nội dung GDSK cần lựa chọn các phương pháp có khảnăng hình thành kỹ năng và hành vi bảo vệ sức khỏe Đó là những phương phápcho phép người học suy nghĩ một cách độc lập, tìm tòi vào những phán đoán có lílẽ
1.3.3.2 Hình thức GDSK trong nhà trường tiểu học
Trong nhà trường tiểu học các mục tiêu giáo dục sức khỏe như đã phân tích
ở trên được thực hiện theo hai hình thức tổ chức giáo dục chủ yếu Đó là:
a) Giáo dục sức khỏe thông qua nội dung các môn học
Bằng con đường giáo dục qua các môn học, học sinh được hiểu biết, phântích và tỏ thái độ trước những tình huống, được tiếp nhận thông tin đúng để hìnhthành kiến thức về sức khỏe và xây dựng các hành vi có lợi cho sức khỏe của bản
Trang 29thân, gia đình, cộng đồng ở bậc tiểu học, cơ hội GDSK qua các nội dung môn học
là rất lớn Có thể khái quát thành ba dạng cơ bản sau:
- Thứ nhất, nội dung chủ yếu của bài học, hay một số phần của nội dungmôn học có sự trùng lặp với nội dung GDSK
- Thứ hai, một số nội dung của bài hay một số phần nhất định của môn học
có liên quan trực tiếp đến nội dung GDSK
- Thứ ba, một số phần của nội dung môn học, bài học khác, các ví dụ, bàitập, bài làm được xem như là một dạng vật liệu dùng để khai thác các vấn đềGDSK
Phải truyền đạt kiến thức về sức khỏe cho học sinh theo từng dạng bài cụ thểđòi hỏi người giáo viên phải biết khai thác nội dung GDSK, vừa đảm bảo yêu cầucủa môn học
b) Giáo dục sức khỏe thông qua các hoạt động độc lập:
Bằng việc thực hiện các hình thức giáo dục phong phú như: thuyết trình,tranh luận, trò chơi, đóng vai, tổ chức các câu lạc bộ sức khỏe, các buổi chuyên đề,tham luận, trò chuyện, đọc sách, kể chuyện, hát, đọc thơ, đóng kịch, bản tin chocha mẹ,… học sinh sẽ được rèn luyện dần dần về thái độ, kĩ năng, hành vi bảo vệsức khỏe Các hình thức giáo dục sức khỏe thống nhất với nhau, hổ trợ cho nhau.Tuy nhiên, mỗi hình thức có ưu thế nhất định Vì vậy trong công tác GDSK cầnphải biết lựa chọn phối hợp nhịp nhàng của các phương pháp và hình thức giáodục để bài học đạt hiệu quả cao nhất Đó chính là nhờ vào nghệ thuật giảng dạycủa người giáo viên Ví dụ: trong giờ Thể dục để học sinh có ý thức luyện tập vàhứng thú học hơn GV sử dụng phương pháp thuyết trình để phân tích cho các emthấy được lợi ích của việc luyện tập thể dục thể thao…
1.3.4 Ý nghĩa của việc GDSK cho học sinh tiểu học
Bậc tiểu học là bậc học có quy mô lớn trong hệ thống giáo dục quốc dân.Nhà trường tiểu học với mạnh lưới phân bổ rộng khắp, do đó GDSK cho học sinh
Trang 30tiểu học có ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục tòan diện chohọc sinh Học sinh tiểu học có đặc điểm hồn nhiên, hiếu động, ham học hỏi và haybắt chước Các em cũng là lứa tuổi mà trong mối quan hệ với người thân trong giađình cũng như ngòai xã hội dễ gần gũi, điều đó thuận lợi trong việc tuyên truyềncác nội dung của GDSK.
Các em là một lực lượng lớn của xã hội và trong tương lai các em sẽ là chủnhân của gia đình và đất nước Những gì các em sẽ có trong tương lai: sức khỏe,trí thức, tình cảm, đạo đức đều được khởi nguồn từ hiện tại
Như vậy, nhà trường không chỉ quan tâm dạy chữ, dạy người, dạy nghề màcòn phải dạy cho học sinh biết cách bảo vệ và nâng cao sức khỏe bản thân, giađình và cộng đồng Để GDSK cho học sinh, trước hết cần phải quan tâm đến độingũ giáo viên, vì thầy cô giáo là người gần gũi vời các em hằng ngày Nếu thầy côgiáo có được những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm sống tốt thì hiệu quả củachương trình GDSK trong nhà trường càng cao Đồng thời nhà trường phải thực sự
là một môi trường “chuẩn bị sống tốt” cho mỗi học sinh, giúp họ trở thành nhữngcông dân cường tráng về thể chất, phong phú về tình tinh thần, trong sáng về đạođức và phát triển cao về trí tuệ, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
1.3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng GDSK cho học sinh tiểu học
1.3.5.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Sức khoẻ mỗi người đều do 3 yếu tố quyết định đó là: Di truyền, môi trường
và lối sống (hành vi cá nhân)
a) Di truyền: Tính di truyền được quyết định bởi bộ máy di truyền nằmtrong nhân tế bào Những đặc điểm cơ thể trong đó có những phản ánh về sức khỏenhư: màu da, màu tóc, chiều cao, cân nặng, tuổi thọ và một số bệnh tật do thế hệtrước truyền lại
Trang 31b) Môi trường: Những yếu tố có hại, nguy hiểm cho sức khỏe như:
- Các yếu tố tâm lý: là những stress trong sinh hoạt và đời sống và các mối
quan hệ công đồng giữa con người với nhau, thường cũng gây băn khoăn lo nghĩ,bất hòa căng thẳng với nhau, môi trường xã hội không ổn định,…ảnh hưởng tớisức khỏe
- Các yếu tố tai nạn: sự cố môi trường thiên nhiên (núi lửa, động đất, bão
lụt,… và các thiên tai khác có thể gây mất mùa, đói kém, thiếu ăn, gây thươngtích) và nghề nghiệp lao động,…
- Các yếu tố sinh vật: ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh (vi khuẩn, vi rút, ký sinh
trùng, nấm,…) trong môi trường không khí, nước, thực phẩm tác động đến sứckhỏe, sự sống của chúng ta hàng ngày Một số con vật khác như: một vài lọai rắn,ong,…hoặc ăn hay va chạm một số loại cây cũng có thể gây dị ứng phát ban…
- Các yếu tố vật lý: tiếng ồn, khí hậu, thời tiết nóng ẩm, bức xạ nhiệt mặt
trời và các lò nung, máy động cơ phát nhiệt, bức xạ ion hóa và không ion hóa, đặtbiệt các chất phóng xạ ngày càng tác động mạnh mẽ đến sức khỏe con người
- Các yếu tố hóa học: Đó là hàng loạt các chất hóa học, bụi độc, các lọai
thuốc tân dược độc, xăng dầu, khí đốt,… đang là mối nguy cơ cao, nguy hiểm đedọa tới sức khỏe, sự sống hằng ngày và lâu dài đến đời sống của các thế hệ tiếp.Rượu, thuốc lá cũng gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người
- Vì vậy giữ gìn môi trường sống là bảo vệ sức khỏe con người hiện tại,
đồng thời cũng là bảo vệ sự tồn tại của giống nòi mai sau Điều đó chỉ thực hiệnđược khi trong từng con người của toàn xã hội có nhận thức sâu sắc về môi trường,
về sức khỏe bản thân và tự giác bảo vệ gìn giữ môi trường sống của chính mình
c) Lối sống (hành vi cá nhân)
Một lối sống lành mạnh, văn minh thì có lợi cho sức khỏe, ngược lại một lốisống không lành mạnh, lạc hậu ảnh hưởng tới sức khỏe, tuổi thọ, chất lượng cuộcsống của cá nhân, gia đình và cả cộng đồng Hiện nay ta chưa tác động trực tiếp
Trang 32vào bộ máy di truyền để nâng cao sức khỏe, nhưng chúng ta có thể chủ động tácđộng lên môi trường, tác động lên hành vi nhằm phát huy cao vốn di truyền để đạtcàng gần giới hạn càng tốt.
Ba yếu tố trên tác động qua lại, liên quan mật thiết với nhau, tạo thành mộtthể thống nhất Nói cách khác: một tinh thần khỏe mạnh chỉ có thể được ở một cơ
thể khỏe mạnh và ở trong các mối quan hệ xã hội lành mạnh Sức khỏe là một quá
trình tự giáo dục bản thân mỗi cá nhân bằng những kinh nghiệm của chính họ làđiều quyết định mọi kết quả bền vững Muốn xây dựng nên những con người đápứng những yêu cầu phát triển một xã hội mới thì phải chú trọng tới giáo dục sứckhỏe học đường Giáo dục sớm ngay từ độ tuổi tiểu học nhằm hình thành nhâncách tốt với những hành vi lành mạnh ở trẻ Chương trình giáo dục sức khỏe họcđường có vai trò hết sức quan trọng và đem lại hiệu quả cao vì tuổi học sinh rấtnhạy cảm trong hình thành các hành vi sức khỏe lành mạnh, đồng thời qua giáodục sức khỏe học sinh sẽ có ảnh hưởng đến gia đình các em và cộng đồng nóichung
1.3.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình GDSK cho học sinh tiểu học
Có rất nhiều con đường để tiến hành GDSK cho mỗi cá nhân và cộng đồng,trong đó con đường đến với học sinh là có hiệu quả và rộng lớn nhất Bởi vì họcsinh là một lực lượng lớn của xã hội và tương lai, họ sẽ là chủ nhân của gia đình vàđất nước.Nhũng gì họ có trong tương lai: sức khỏe, tri thức, tình cảm, đạo đức…đều khởi nguồn từ hiện tại Học sinh tiểu học chiếm số lượng rất lớn vì thế thựchiện tốt công tác GDSK cho đối tượng này là đã có thể đưa công tác GDSK đếntoàn dân, toàn xã hội
Để GDSK cho học sinh tiểu học, trước hết cần qua tâm đến đội ngũ giáoviên tiểu học, vì thầy cô gần gũi và tiếp xúc hàng ngày với học sinh Nếu các thầy
Trang 33cô giáo có được những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm sống tốt thì hiệu quảcủa chương trình GDSK cho học sinh trong nhà trường ngày càng cao
Chính vì thế cần phải GDSK cho sinh viên khoa giáo dục tiểu học của cáctrường sư phạm dây là lực lượng không chỉ sẽ đảm nhận việc GDSK cho họcsinh tiểu học mà còn là những tuyên truyền viên đắc lực trong công tác này
Ngoài ra nhà trường phải thực sự là môi trường “chuẩn bị cho cuộc sống”cho mỗi học sinh, giúp họ trở thành những công dân cường tráng về thể chất,phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức và phát triển về trí tuệ, đáp ứng yêucầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Để GDSK cho học sinh tiểu học từ trước tới nay, gia đình luôn giữ vai tròquan trọng Trẻ em là thành phần quan trọng cấu thành gia đình Quan hệ huyếtthống và quan hệ nuôi dưỡng chính là hai trong ba mối quan hệ cơ bản tạo nên giađình Cha mẹ và các thành viên trong gia đình là những người gần gũi mật thiếtthường xuyên ở bên cạnh trẻ em, việc chăm sóc con trẻ không chỉ là trách nhiệm
mà còn là “bản năng” của họ Trong gia đình, việc bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ
em cần được thực hiện một cách khoa học với những kiến thức, kỹ năng phù hợp.Chăm sóc phải gắn liền với bảo vệ và cả giáo dục
Khi thực hiện GDSK cho trẻ gia đình không thể tách rời khỏi những thiếtchế khác là nhà trường và cộng đồng xã hội Không chỉ quan tâm tới những vấn đềcủa trẻ em khi sinh hoạt với gia đình mà còn phải biết được những hoạt động củacác cháu tại trường học tại những nơi sinh hoạt cộng đồng để kịp thời ngăn chặnnhững tiêu cực có thể xảy ra, bên cạnh đó phải phát huy được những thói quen,hành vi tốt để GDSK cho trẻ
Để thực hiện tốt chức năng giáo dục, mỗi thành viên trong gia đình tuỳthuộc vị trí của mình (ông, bà, cha, mẹ, anh, chị) phải trở thành những tấm gươngsáng cho con trẻ học tập, làm theo Hiện nay, phong trào: ông bà, cha mẹ mẫumực, con cháu thảo hiền đang thực sự phát huy hiệu quả, tác động quan trọng
Trang 34trong giáo dục của gia đình Những hành vi mà trẻ tiếp nhận, học tập trong giađình không chỉ là những kinh nghiệm của người lớn mà bằng cả những tình cảmcủa những người thân yêu nhất.
Như đã đề cập ở trên, mục tiêu của giáo dục sức khỏe là giúp mọi ngườinhận ra và loại bỏ các hành vi có hại cho sức khỏe và tạo ra những hành vi nhằmtăng cường sức khỏe cho mọi người Người giáo dục sức khỏe có thể thành côngtrong các chương trình giáo dục sức khỏe bằng cách:
- Nói với người được giáo dục và lắng nghe ý kiến của người được giáo dục.Suy nghĩ nghiêm túc về những hành vi hoặc hành động là các nguyên nhân củavấn đề, để giải quyết các vấn đề, đề phòng những vấn đề đó
- Tìm ra lý do của hành vi của người được giáo dục (do niềm tin, phong tụctập quán, do ảnh hưởng quan điểm, hành vi của những người khác, do thiếu tiền,thiếu nguồn lực, thiếu thời gian hoặc các lý do cụ thể khác)
- Giúp mọi người nhìn nhận ra các nguyên nhân của các hành động của họ
và các vấn đề sức khỏe của họ
- Đề nghị mọi người đề xuất các ý kiến riêng của họ để giải quyết vấn đề
- Giúp mọi người phân tích các ý kiến của họ, qua đó họ thấy được những ýkiến nào có lợi nhất và dễ dàng có thể thực thi được, phù hợp nguồn lực của họ.Các giáo viên, cán bộ y tế, cán bộ làm công tác giáo dục sức khỏe khi mới đến mộtcộng đồng công tác đôi khi cũng gặp khó khăn tương tự do đặc điểm nghề nghiệpcách nghĩ và cách làm việc khác nhau Vì thế trước khi tiến hành công việc họ phảinghiên cứu càng kỹ càng tốt về nguyên nhân của các hành vi của nhân dân trongcộng đồng, những đặc trưng của văn hoá cộng đồng, điều này sẽ giúp họ đượccộng đồng chấp nhận và tiến hành công việc thuận lợi Tìm hiểu kỹ những nguyênnhân của các hành vi chúng ta có thể có khả năng đề xuất những biện pháp thíchhợp nhằm góp phần giải quyết những vấn đề có liên quan đến sức khỏe của cánhân hay cộng đồng
Trang 351.4 Một số đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học
1.4.1 Đặc điểm cơ thể
- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xươngtay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập, Vìthế mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô (sau đây xingọi chung là các nhà giáo dục) cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạtđộng vui chơi lành mạnh, an toàn
- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơivận động như chạy, nhảy, nô đùa[11,12], Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các
em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự antoàn cho trẻ, đặc biệt trong môn Thể dục
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy củacác em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừutượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, cáccuộc thi trí tuệ, Dựa vào đặc điểm sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hútcác em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy cho các em Ví dụ: Trong Bài 7: Ănuống đầy đủ ( TN & XH 2), giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi: Thế nào là ăn uốngđầy đủ? Tại sao chúng ta cần ăn uống đầy đủ?
- Chiều cao của trẻ mỗi năm tăng thêm 4 cm, trọng lượng cơ thể mỗi nămtăng 2kg Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm ( đối vớinam) 104 cm (đối với nữ); cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ) Tuynhiên, con số này chỉ là trung bình, chiều cao của trẻ có thể xê dịch khoảng 4-5
cm, cân nặng có thể xê dịch từ 1-2 kg Tim của trẻ đập nhanh , khoảng 85 - 90lần/ phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoànchưa hoàn chỉnh
1.4.2 Đặc điểm hoạt động
Trang 36Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi thì đến tuổitiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt độngvui chơi sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các
em còn diễn ra các hoạt động khác như:
Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sangcác trò chơi vận động
Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân vàgia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa
Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào củatrường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,
Những thay đổi kèm theo:
- Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thểtham gia các công việc trong gia đình Điều này được thể hiện rõ nhất trong cácgia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, các em phảitham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ
- Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đềuthay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp,hình thức, thái độ học tập Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tậptốt
- Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mangtính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình) Đặc biệt là các emmuốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình [13]
Tóm lại, học sinh tiểu học là lứa tuổi mà nhân cách của các em đang địnhhình và phát triển Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học: Nét tính cách củatrẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ
có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn Sau 5 năm học, "Tính cáchhọc đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ Do đó, các em dễ tiếp thu những
Trang 37giá trị định hướng mới Các em hiếu động và rất thích tham gia các hoạt động xãhội Đây là những thuận lợi để đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác
giáo dục sức khỏe
Trang 38Kết luận chương 1
GDSK cho học sinh tiểu học có ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện mục tiêugiáo dục tòan diện cho học sinh Những nội dung GDSK gần gũi với đời sống vàđặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của các em Các em cũng là lứa tuổi mà trong mốiquan hệ với người thân trong gia đình cũng như ngoài xã hội dễ gần gũi, điều đóthuận lợi trong việc tuyên truyền các nội dung của GDSK
GDSK cho học sinh tiểu học nhằm mục đích giáo dục cho các em biết thựchiện các hành vi có lợi cho sức khỏe Bao gồm vệ sinh cá nhân, vệ sinh môitrường, vệ sinh ăn uống, phòng chống dịch bệnh và các vấn đề xã hội, rèn luyện lốisống Cần bám sát mục tiêu GDSK cho học sinh tiểu học để lựa chọn nội dung,phương pháp GDSK phù hợp
Ba yếu tố di truyền, môi trường và lối sống (hành vi cá nhân) tác động qualại, liên quan mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất[3] Muốn xây dựngnên những con người đáp ứng những yêu cầu phát triển một xã hội mới thì phảichú trọng tới giáo dục sức khỏe học đường Giáo dục sớm ngay từ độ tuổi tiểu họcnhằm hình thành nhân cách tốt với những hành vi lành mạnh ở trẻ Chương trìnhgiáo dục sức khỏe học đường có vai trò hết sức quan trọng và đem lại hiệu quả cao
vì tuổi học sinh rất nhạy cảm trong hình thành các hành vi sức khỏe lành mạnh,đồng thời qua giáo dục sức khỏe học sinh sẽ có ảnh hưởng đến gia đình các em vàcộng đồng nói chung Tóm lại, tùy theo từng lý do đằng sau các hành vi hay cácnguyên nhân dẫn đến hành vi mà chúng ta có các chiến lược hoạt động và cácphương pháp GDSK phối hợp để hổ trợ quá trình thay đổi hành vi
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC
HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
2.1 Khái quát về quá trình nghiên cứu thực trạng
2.1.1 Khái quát hoàn cảnh kinh tế - xã hội - giáo dục của huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
Nghi Xuân là huyện có 19 đơn vị hành chính cấp xã và hai thị trấn với tổngdiện tích tự nhiên là 220km2 Thị trấn Nghi Xuân là trung tâm kinh tế, văn hoá,chính trị của huyện, cách thành phố Vinh 10 km về phía nam, cách thị xã Hà Tĩnh
50 km về phía Bắc Nghi Xuân có bờ biển dài 32 km, sông Lam chảy phía Bắchuyện với chiều dài trong địa phận huyện là 28 km, đường quốc lộ chạy qua phầnphía Tây của huyện dài 11 km, đường 22/12 nối từ ngã ba thị trấn Nghi Xuân vàchạy xuyên qua các xã ven biển của huyện đến các xã của huyện Can Lộc, Thạch
Hà và thành phố Hà Tĩnh Huyện lại gần một số cảng sông (Bến Thuỷ, Xuân Hội)
và cảng biển (Cửa Lò, Cửa Hội) Vị trí địa lí như vậy đã tạo điều kiện thuận lợicho giao lưu thông thương với các tỉnh, các trung tâm kinh tế, xã hội trong vàngoài nước Người dân đa số là người Kinh, tập trung nhiều tôn giáo, đủ mọingành nghề Về khí hậu có hai mùa rõ rệt: Mùa nắng kéo dài từ tháng 4 đến tháng
10, khí hậu khô nóng nhất là từ tháng 5 đến tháng 8 Nhiệt độ trung bình từ 27,70C(tháng 4) đến 39,90C (tháng 6) Mùa này thường nóng bức, nhiệt độ có thể lên tới
40 – 420C Mùa mưa kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bìnhtháng từ 18,30C (tháng 1) đến 21,80C (tháng 11) với nhiều ngày có nhiệt độ trungbình thấp 10,60C (tháng 2) Di tích lịch sử, văn hóa: Đền Huyện Nghi Xuân, ĐềnThượng, Đền Chợ Củi, nhà thờ Nguyễn Công Trứ, khu lưu niệm Nguyễn Du,Đình hội Trống, nhà thờ vạ mộ Trịnh Khắc Lập, Đình Hoa Vân Hải, Đền thờNguyễn Ngọc Huấn, Đền làng Cam Lâm, Bãi biển Xuân Thành
Trang 40Từ năm 2012 đến năm 2015, cùng với việc hoàn thiện hệ thống chính trị,hành chính, Nghi Xuân quyết tâm đẩy mạnh sản xuất và tăng cường kinh tế Giaiđoạn này, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng mỗi năm 6% Doanh số dịch vụ tăngbình quân 15,04% năm, lĩnh vực dịch vụ phát triển nhanh về số cơ sở và doanhthu, trong đó một số ngành có giá trị gia tăng cao như tài chính, ngân hàng, tin học,tập trung hầu hết ở các tuyến đường lớn và các khu dân cư mới Năm 2012, toànÐảng bộ, toàn dân, toàn quân huyện Nghi Xuân đã tập trung huy động nguồn lựccủa doanh nghiệp và nhân dân, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm kết quảthu ngân sách, chăm lo cho các đối tượng chính sách và dân nghèo, giữ vững anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần thực hiện chủ trương của Chính phủkiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn.
Công tác xoá đói giảm nghèo được huyện tập trung thực hiện trên quanđiểm phát triển kinh tế gắn với nâng cao mức sống cho từng hộ dân nghèo Đếnnay, trên địa bàn quận không còn hộ đói, nhiều hộ nghèo trước đây đã từng bướcvươn lên, thoát khỏi chương trình
Hiện nay địa bàn huyện Nghi Xuân có 19 trường mầm non công lập rãi đềucho 19 xã trong huyện, 20 trường tiểu học, 11 trường THCS và 3 trường trung họcphổ thông 1 trung tâm dạy nghề, 1 trung tâm giáo dục thường xuyên
Bảng 2.1 Số lượng trường, lớp, học sinh, cán bộ quản lý, giáo viên
từ mầm non đến trung học cơ sở huyện Nghi Xuân (năm học 2012-2012)
trường Số lớp
Số học sinh
Số cán bộ quản lý, giáo viên