1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên văn hoá đồng nai

244 364 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 244
Dung lượng 3,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Về phương diện lý luận, các kết quả nghiên cứu cung cấp những dữ liệu có cơ sở khoa học cho các biện pháp lâm sinh được đề xuất áp dụng cho rừng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

TÔ BÁ THANH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ RỪNG TRỒNG LÀM CƠ SỞ

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHỤC HỒI CÁC LOÀI CÂY HỌ DẦU TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN - VĂN HOÁ ĐỒNG NAI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

TÔ BÁ THANH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ RỪNG TRỒNG LÀM CƠ SỞ

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHỤC HỒI CÁC LOÀI CÂY HỌ DẦU TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN - VĂN HOÁ ĐỒNG NAI

Chuyên ngành: Lâm sinh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

NCS TÔ BÁ THANH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án được hoàn thành tại trường Đại học Lâm nghiệp (ĐHLN) Việt Nam năm 2015 Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ có hiệu quả của Bộ môn Lâm sinh, Khoa Lâm học; Phòng Đào tạo Sau đại học; Cơ sở

2 của trường ĐHLN và Ban Giám hiệu nhà trường; cán bộ viên chức và người dân trong Khu Bảo tồn Thiên nhiên-Văn hóa Đồng Nai Nhân dịp này, tác giả xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất về những giúp đỡ đó

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Xuân Hoàn và TS Bùi Việt Hải là những người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều công sức giúp đỡ tác giả hoàn thành luận án Xin chân thành cám ơn ông Võ Văn Một, nguyên Bí thư tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai là người đã động viên, tạo điều kiện cho NCS có được những nỗ lực, quyết tâm hoàn thành Luận án cho tới ngày hôm nay Cảm ơn quí thầy cô và lãnh đạo Cơ sở 2 của trường đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho NCS trong quá trình học tập và thực hiện luận án

Cũng nhân dịp này, xin được cảm ơn GS.TS Vũ Tiến Hinh, PGS.TS Trần Quang Bảo và TS Lê Xuân Trường (Đại học Lâm nghiệp), PGS.TS Nguyễn Văn Thêm và PGS.TS Viên Ngọc Nam (Đại học Nông Lâm TP.HCM); PGS.TS Phạm Thế Dũng (Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ), TS Giang Văn Thắng (Hội Khoa học Lâm nghiệp TP.HCM), đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình hoàn thành Luận án

Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo tỉnh Đồng Nai, huyện Vĩnh Cửu, xã Mã Đà

và gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ và chia sẻ những khó khăn cùng tác giả trong quá trình thực hiện luận án

Xin được tri ân tất cả những giúp đỡ đó

Tác giả NCS Tô Bá Thành

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Trên thế giới 5

1.1.1 Cây họ Dầu và đặc điểm lâm học của các quần xã cây họ Dầu 5

1.1.2 Về kỹ thuật gây trồng cây họ Dầu ở khu vực châu Á 8

1.1.3 Về kỹ thuật gây trồng Sao đen và Dầu rái 9

1.2 Ở Việt Nam 12

1.2.1 Cây họ Dầu và đặc điểm lâm học của các quần xã cây họ Dầu 12

1.2.2 Một số kết quả nghiên cứu về nhân giống và trồng cây họ Dầu tại miền Đông Nam Bộ 17

1.3 Một số nhận xét và bình luận 25

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN-VĂN HÓA ĐỒNG NAI 27

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 27

2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 27

2.1.2 Khí hậu, thủy văn 28

2.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 30

2.2 Tình hình quản lý bảo vệ rừng và đặc điểm tài nguyên 32

2.2.1 Tình hình quản lý bảo vệ rừng của Khu BTTN 32

2.2.2 Đặc điểm tài nguyên rừng khu vực nghiên cứu 33

2.3 Đặc điểm rừng trồng tại khu vực nghiên cứu 35

2.3.1 Hiện trạng sử dụng đất và trồng rừng tại Khu BTTN 35

2.3.2 Một số thuận lợi, khó khăn trong các hoạt động phục hồi rừng 38

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

3.1 Nội dung nghiên cứu 39

Trang 6

3.2 Quan điểm và phương pháp luận 39

3.2.1 Quan điểm nghiên cứu 39

3.2.2 Phương pháp luận 40

3.3 Phương pháp nghiên cứu 41

3.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu nghiên cứu có liên quan 41

3.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu trên ô tiêu chuẩn 41

3.3.3 Phương pháp tính toán và phân tích số liệu 45

3.3.4 Công cụ cho xử lí và phân tích số liệu 51

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52

4.1 Đặc điểm lâm học của mô hình rừng trồng Sao đen, Dầu rái 52

4.1.1.Phân chia các mô hình và một số đặc điểm cơ bản của rừng trồng 52

4.1.2 Biến động mật độ cây trồng theo loại đất và kỹ thuật trồng rừng 56

4.1.3 Biến động phẩm chất cây trồng ở các loại đất và kỹ thuật trồng 66

4.1.4 Cấu trúc số cây ở các mô hình rừng trồng 72

4.2 Sinh trưởng của Sao đen, Dầu rái ở các mô hình rừng trồng 80

4.2.1 Khái quát về những đặc trưng sinh trưởng của hai loại hình rừng trồng 80

4.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố trồng rừng tới sinh trưởng rừng trồng 83

4.2.3 Quá trình sinh trưởng của Sao đen và Dầu rái ở rừng trồng 95

4.2.4 Đặc điểm sinh khối của Sao đen, Dầu rái ở các mô hình rừng trồng 109

4.3 Hiệu quả lâm sinh của các mô hình rừng trồng 119

4.3.1 Xác định các tiêu chí cho đánh giá hiệu quả lâm sinh 119

4.3.2 Kết quả đánh giá hiệu quả lâm sinh của rừng trồng Sao đen, Dầu rái 121

4.4 Đề xuất các biện pháp phục hồi rừng với cây họ Dầu 127

4.4.1 Tổng hợp các tiêu chí đánh giá hiệu quả của rừng trồng 127

4.4.2 Kết quả chọn và đánh giá khả năng phục hồi của các mô hình rừng trồng 130 4.4.3 Một đề xuất biện pháp trồng rừng phục hồi 131

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 134

1 Kết luận 134

2 Tồn tại 135

3 Kiến nghị 136

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

KTLS&ĐĐ Kỹ thuật lâm sinh và đất đai

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Hiện trạng rừng và sử dụng đất lâm nghiệp tại Khu BTTN 35

Bảng 2.2 Hiên trạng rừng trồng của các mô hình có loài cây Sao đen, Dầu rái 37

Bảng 3.1 Thống kê các ô điều tra theo mô hình – loài cây – diện tích 43

Bảng 4.1 Một số đặc điểm cơ bản của mô hình rừng trồng Sao, Dầu xen NLG 53

Bảng 4.2 Một số đặc điểm cơ bản của mô hình rừng trồng Sao, Dầu xen NNd 54

Bảng 4.3 Biến động tỷ lệ cây sống bình quân ở hai loại đất trồng rừng 56

Bảng 4.4 Biến động tỷ lệ cây sống ở các phương thức trồng rừng 58

Bảng 4.5 Biến động tỷ lệ sống của cây ở các quy cách trồng rừng 60

Bảng 4.6.Tỷ lệ sống và mật độ Sao đen, Dầu rái ở các mô hình trồng với NLG 62

Bảng 4.7 Tỷ lệ sống và mật độ Sao đen, Dầu rái ở các mô hình trồng với NNd 64

Bảng 4.8 Biến động phẩm chất cây trồng trên các loại đất trồng rừng 67

Bảng 4.9 Biến động phẩm chất cây trồng trên các phương thức trồng 68

Bảng 4.10 Biến động phẩm chất cây trồng theo các quy cách trồng 69

Bảng 4.11a Kết quả kiểm tra các dạng phân bố lý thuyết ở rừng NLG 77

Bảng 4.11b Kết quả kiểm tra các dạng phân bố lý thuyết ở rừng NNd 78

Bảng 4.12 Đặc trưng sinh trưởng của Sao đen, Dầu rái ở các mô hình trồng NLG 81

Bảng 4.13 Đặc trưng sinh trưởng của cây Sao đen, Dầu rái ở các mô hình NNd 82

Bảng 4.14a Kết quả so sánh sinh trưởng D0.0, Hvn giữa hai loại đất ở NLG 84

Bảng 4.14b Kết quả so sánh sinh trưởng D0.0, Hvn giữa hai loại đất ở NNd 84

Bảng 4.15a Kết quả so sánh sinh trưởng D0.0, Hvn giữa hai phương thức ở NLG 86 Bảng 4.15b Kết quả so sánh sinh trưởng D0.0, Hvn giữa hai phương thức ở NNd 87

Bảng 4.16a Kết quả so sánh sinh trưởng D00, Hvn giữa hai quy cách ở NLG 89

Bảng 4.16b Kết quả so sánh sinh trưởng D00, Hvn giữa hai quy cách ở NNd 89

Bảng 4.17a Kết quả so sánh sinh trưởng D00, Hvn giữa hai loại cây hỗ trợ 92

Bảng 4.17b Kết quả so sánh sinh trưởng D00, Hvn giữa hai loại cây hỗ trợ 92

Bảng 4.18 Sinh trưởng D00, Hvncủa Sao đen và Dầu rái ở hai phương thức trồng tại loại hình rừng NLG 96

Bảng 4.19 Các hàm sinh trưởng D, H Sao, Dầu ở hai phương thức trồng 97

Bảng 4.20 Sinh trưởng D00, Hvn của Sao đen và Dầu rái ở hai phương thức trồng tại loại hình rừng NNd 98

Bảng 4.21 Các hàm sinh trưởng D, H Sao, Dầu ở hai phương thức trồng 99

Trang 9

Bảng 4.22 Sinh trưởng D và H cây Sao, Dầu từ cây giải tích ở rừng NLG 100

Bảng 4.23 Sinh trưởng D và H cây Sao, Dầu từ cây giải tích ở rừng NNd 102

Bảng 4.24a Số liệu sinh trưởng và tăng trưởng D00 của Sao, Dầu ở NLG 103

Bảng 4.24b Số liệu sinh trưởng và tăng trưởng Hvn của Sao, Dầu ở NLG 104

Bảng 4.25a Số liệu sinh trưởng và tăng trưởng D1,3 của Sao, Dầu ở NNd 105

Bảng 4.25b Số liệu sinh trưởng và tăng trưởng Hvn của Sao, Dầu ở NNd 105

Bảng 4.26 Số liệu sinh trưởng thể tích (V) và trữ lượng (M) của Sao đen, Dầu rái 107

Bảng 4.27 Số liệu tăng trưởng trữ lượng rừng trồng (M/ha) của Sao đen, Dầu rái 108

Bảng 4.28a Đặc trưng sinh khối tươi của Sao đen và Dầu rái theo cấp tuổi 110

Bảng 4.28b Đặc trưng sinh khối khô của Sao đen và Dầu rái theo cấp tuổi 110

Bảng 4.29 Tỷ lệ sinh khối các bộ phận của Sao đen và Dầu rái theo cấp tuổi 111

Bảng 4.30 Quan hệ giữa tổng sinh khối tươi và khô với tuổi của cây 112

Bảng 4.31 Quan hệ giữa tổng sinh khối tươi và khô với đường kính cây 114

Bảng 4.32 Sinh khối của rừng Sao đen và Dầu rái ở các loại hình trồng 116

Bảng 4.33 Lượng tăng trưởng sinh khối của rừng trồng Sao đen và Dầu rái 116

Bảng 4.34a Sinh khối và tăng trưởng sinh khối của Sao và Dầu ở rừng NLG 125

Bảng 4.34b Sinh khối và tăng trưởng sinh khối của Sao và Dầu ở rừng NNd 125

Bảng 3.35 Thống kê diện tích trồng theo mô hình – loài cây – giai đoạn 126

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hành chính Khu BTTN-VH Đồng Nai 28

Hình 2.2 Bản đồ hiện trạng rừng Khu BTTN-VH Đồng Nai 36

Hình 4.1 Tỷ lệ sống của Sao đen và Dầu rái ở hai loại đất trồng rừng 57

Hình 4.2 Tỷ lệ sống của Sao đen và Dầu rái ở hai phương thức trồng 59

Hình 4.3 Tỷ lệ sống của Sao đen và Dầu rái ở các quy cách trồng rừng 60

Hình 4.4 Biến động mật độ của Sao đen và Dầu rái ở rừng trồng xen với NLG 61

Hình 4.5 Biến động mật độ của Sao đen và Dầu rái ở rừng trồng xen với NNd 63

Hình 4.6 Biến động mật độ của Sao đen và Dầu rái ở hai loại hình rừng trồng 65

Hình 4.7 Biến động mật độ của Sao đen và Dầu rái ở hai loại hình rừng trồng 65

Hình 4.8 Biến động tỷ lệ cây tốt trên hai loại đất trồng ở hai loại rừng 67

Hình 4.9 Biến động phẩm chất của cây trồng ở các phương thức trồng 68

Hình 4.10 Biến động tỷ lệ cây tốt ở các quy cách trồng của hai loại rừng 69

Hình 4.11a Biến động phẩm chất của cây trồng ở rừng trồng tuổi 5 71

Hình 4.11b Biến động phẩm chất của cây trồng ở rừng trồng tuổi 9 71

Hình 4.12a Phân bố N-D của Sao đen và Dầu rái ở rừng trồng thuần NLG 73

Hình 4.12b Phân bố N-D của Sao đen và Dầu rái ở rừng trồng thuần NNd 73

Hình 4.13a Phân bố N-H của Sao đen và Dầu rái ở rừng trồng thuần NLG 74

Hình 4.13b Phân bố N-H của Sao đen và Dầu rái ở rừng trồng thuần NNd 74

Hình 4.14a Phân bố N-D của Sao đen và Dầu rái ở rừng hỗn giao xen NLG 75

Hình 4.15a Phân bố N-H của Sao đen và Dầu rái ở rừng hỗn giao xen NLG 76

Hình 4.15b Phân bố N-H của Sao đen và Dầu rái ở rừng hỗn giao xen NNd 76

Hình 4.16a Sinh trưởng D00và Hvncủa Sao đen trên hai loại đất trồng 85

Hình 4.16b Sinh trưởng D0và Hvncủa Dầu rái trên hai loại đất trồng 85

Hình 4.17a Sinh trưởng D00, Hvn của Sao đen trồng thuần và hỗn giao 87

Hình 4.17b Sinh trưởng D00, Hvn của Dầu rái ở trồng thuần và hỗn giao 88

Hình 4.18a Sinh trưởng D00 và Hvn của Sao đen ở các quy cách trồng 90

Hình 4.18b Sinh trưởng D00 và Hvn của Dầu rái ở các quy cách trồng 90

Hình 4.19a Sinh trưởng D00 và Hvn của Sao đen với hai loài cây hỗ trợ 93

Hình 4.19b Sinh trưởng D00 và Hvn của Dầu rái ở hai loài cây hỗ trợ 93

Hình 4.20a Sinh trưởng D00 và Hvn của Sao đen ở rừng trồng NLG 97

Hình 4.20b Sinh trưởng D00 và Hvn của Dầu rái ở rừng trồng NLG 97

Trang 11

Hình 4.21a Sinh trưởng D00 và Hvn của Sao đen ở rừng trồng NNd 99

Hình 4.21b Sinh trưởng D00 và Hvn của Dầu rái ở rừng trồng NNd 99

Hình 4.22 Sinh trưởng D00 và Hvn của Sao đen và Dầu rái ở rừng trồng NLG 101

Hình 4.23 Sinh trưởng D1,3và Hvn của Sao đen và Dầu rái ở rừng trồng NNd 103

Hình 4.24 Lượng tăng trưởng D00, Hvn của Sao đen, Dầu rái ở rừng trồng NLG 104

Hình 4.25 Lượng tăng trưởng D1,3, Hvn của Sao đen, Dầu rái ở rừng trồng NNd 106 Hình 4.26 Quá trình sinh trưởng thể tích và trữ lượng của Sao đen và Dầu rái 108

Hình 4.27 Lượng tăng trưởng trữ lượng Sao và Dầu ở loại hình rừng NNd 109

Hình 4.28 Tỷ lệ sinh khối bình quân của các bộ phận ở cây Sao đen và Dầu rái 111

Hình 4.29 Tương quan giữa tổng sinh khối tươi và khô theo tuổi của cây 113

Hình 4.30 Tương quan giữa tổng sinh khối tươi và khô theo đường kính 115

Hình 4.31 Sinh khối và tăng trưởng bình quân sinh khối ở các cấp tuổi 117

Hình 4.32 Tổng sinh khối khô của Sao đen, Dầu rái ở các loại hình rừng trồng 125

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai (tên cũ là Khu Bảo tồn thiên nhiên và di tích Vĩnh Cửu, sau đây sẽ gọi tắt là Khu bảo tồn-KBT) là đơn vị sự nghiệp khoa học có thu trực thuộc UBND tỉnh Đồng Nai, nằm trong hệ thống rừng đặc dụng và di sản văn hóa của Việt Nam Tổng diện tích tự nhiên của KBT là

97.152,1 ha, trong đó đất lâm nghiệp là 64.752,1 ha, bao gồm rừng đặc dụng

59.792,1 ha và rừng sản xuất 4.959,9 ha (UBND huyện Vĩnh Cửu) [47] Về tổng thể, KBT là nơi tập trung phần lớn rừng tự nhiên của tỉnh Đồng Nai, với độ che phủ của rừng (kể cả rừng trồng) xấp xỉ 85,9% Trong KBT có nhiều kiểu rừng tiêu biểu của vùng khí hậu nhiệt đới mưa mùa như: rừng kín thường xanh, rừng nửa rụng lá mưa mùa, rừng lá rộng rụng lá, …(Phân viện ĐTQHR Nam Bộ) [42], [44]

Kết quả điều tra xây dựng danh lục thực vật rừng do Phân viện điều tra qui hoạch rừng (ĐTQHR) Nam Bộ năm 2009 cho thấy, tài nguyên thực vật rừng bậc cao sống trên cạn của KBT phong phú và đa dạng với hơn 1.400 loài thuộc 156 họ,

92 bộ của 6 ngành thực vật khác nhau Riêng họ Dầu (Dipterocarpaceae) có số lượng 18 loài; họ Xoài (Anacardiaceae) có 18 loài; họ Tử vi (Lythraceae) với 8

loài, là những họ không phải là giàu loài nhất nhưng có số lượng cá thể lớn, chiếm

ưu thế của tầng cây gỗ (tầng ưu thế sinh thái), giữ vai trò rất quan trọng trong cấu trúc rừng và thực sự là những loài đã mang lại “tên tuổi” cho KBT Đặc trưng nổi

bật về hệ sinh thái rừng cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) ở đây là có các loài cây phổ

biến không chỉ có giá trị cao về mặt sử dụng lẫn vai trò phòng hộ đầu nguồn mà còn

có những giá trị cao về đa dạng sinh học và nguồn gen như: Dầu song nàng

(Dipterocarpus dyeri), Dầu rái (D alatus), Vên vên (Anisoptera cochinchinensis),

Chai (Shorea vulgaris), Sao đen (Hopea odorata), Làu táu xanh (Vatica dyeri), Dầu lông (D intricatus), v.v… (Phân viện ĐTQH rừng Nam Bộ) [45] Cũng theo Phân

viện ĐTQHR Nam Bộ (2003), diện tích cây họ Dầu trên khu vực của 3 lâm trường (cũ) Mã Đà, Hiếu Liêm và Vĩnh An là 39.200 ha, chiếm 57% tổng diện tích rừng và

Trang 13

đất rừng của khu vực này [42] Rõ ràng, KBT hiện là nơi phân bố cây họ Dầu lớn

nhất miền Đông Nam Bộ và lưu vực sông Đồng Nai

Tuy nhiên, khu vực Mã Đà thuộc tỉnh Đồng Nai còn được biết đến như là một di tích lịch sử nằm trong vùng chiến khu Đ, là một trong số 5 khu vực bị rải chất độc hoá học nặng nề nhất trong thời kỳ chiến tranh Nhiều cánh rừng ở Mã Đà

đã bị hủy diệt mà cho đến nay sau hơn 35 năm vẫn chưa được phục hồi trở lại (Nguyễn Xuân Quýnh và ctv, 2010) [29] Đánh giá khả năng phục hồi của rừng sau

chiến tranh là một vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ

Từ năm 1996, thực hiện chủ trương đóng cửa rừng của UBND tỉnh Đồng Nai, đến nay sau hơn 15 năm, tài nguyên rừng của KBT đã từng bước được phục hồi với sự gia tăng diện tích các trạng thái rừng trồng và giảm mạnh diện tích đất trống không rừng [44] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quýnh và ctv (2010) cũng đã khẳng định rằng, trong 3 năm (2007-2010) so với giai đoạn 2002-2005 cho thấy khu hệ thực vật ở Mã Đà đã và đang dần dần được hồi phục Năm 2005, tại Mã

Đà chỉ xác định được 2.179 loài, đến năm 2010 đã xác định được 3.529 loài, bổ

sung cho khu hệ sinh vật ở Mã Đà 1.350 loài [29]

Một trong các chức năng chính của KBT là “bảo tồn, khôi phục hệ sinh thái rừng cây gỗ lớn bản địa, đặc biệt là họ Dầu” (Quyết định số 10/2006/QĐ-UBND, 2006) [49] Từ năm 2009, để thực hiện chương trình bảo tồn di tích lịch sử và góp phần bảo vệ môi trường, bảo tồn gen, tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững về kinh tế-xã hội của khu vực, UBND tỉnh Đồng Nai đã chủ trương xây dựng dự án trồng

và khôi phục rừng cây gỗ lớn bản địa tại các vùng đất đã bị tác động của chất độc hóa học (văn bản số 145/CV-UBND-2005) nhằm phục hồi tích cực diện tích rừng bằng các loài thực vật tiêu biểu của vùng Đông Nam Bộ [48] Điều này cho thấy,

cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) ở KBT không những có giá trị về hệ sinh thái mà

còn là những loài cây được đưa vào danh sách bảo tồn gen đã được tỉnh Đồng Nai

quan tâm và triển khai thực hiện

Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm

cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hoá Đồng Nai đã được thực hiện

Trang 14

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá hiệu quả của các mô hình rừng trồng Sao đen và Dầu rái làm cơ sở

đề xuất các giải pháp trồng và khôi phục rừng cây gỗ lớn bản địa thuộc họ Dầu cho

mục đích bảo tồn tại Khu Bảo tồn thiên nhiên-văn hóa Đồng Nai

(3) Đề xuất các giải pháp nhằm phục hồi cây họ Dầu cho mục tiêu bảo tồn và

phát triển tại khu vực nghiên cứu

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về phương diện lý luận, các kết quả nghiên cứu cung cấp những dữ liệu có

cơ sở khoa học cho các biện pháp lâm sinh được đề xuất áp dụng cho rừng trồng cây họ Dầu nhằm phục hồi thành công loại rừng này tại KBT

Về phương diện thực tiễn, đề tài cung cấp những minh chứng cụ thể về hiệu quả của các kỹ thuật lâm sinh đã áp dụng thông qua đánh giá những mô hình trồng rừng cây họ Dầu, dự đoán quá trình sinh trưởng và sinh khối của cây cá thể và quần thụ rừng trồng, đồng thời xác định các biện pháp lâm sinh thích hợp cho rừng trồng

cây họ Dầu tại KBT

4 Những đóng góp mới của đề tài

- Đã mô tả và đánh giá đầy đủ về những đặc trưng lâm học của rừng trồng Sao đen và Dầu rái trên đất trống giai đoạn rừng non và rừng sào ở các loại đất trồng, phương thức trồng và mật độ trồng khác nhau

- Đã xác định được ảnh hưởng của các loại đất trồng, phương thức trồng và mật độ trồng đến sinh trưởng của rừng trồng Sao đen và Dầu rái trong giai đoạn đầu; đồng thời phân tích so sánh quá trình sinh trưởng của rừng trồng ở hai phương thức trồng khác nhau

Trang 15

- Xây dựng được những tiêu chí và chỉ báo đánh giá hiệu quả về mặt lâm sinh đối với rừng trồng Sao đen và Dầu rái

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng được đưa vào nghiên cứu trong đề tài này là đất có rừng trồng từ năm 1982 cho đến thời điểm năm 2013 và đất trống có thể trồng mới hay cải tạo thành rừng cây họ Dầu Dựa vào loài cây trồng chính và loài cây trồng phụ trợ, đối tượng nghiên cứu được chia ra thành 2 loại hình rừng trồng:

(1) Loại hình rừng trồng Sao đen, Dầu rái xen trong rừng nguyên liệu giấy (2) Loại hình rừng trồng Sao đen, Dầu rái xen cây nông nghiệp dài ngày Mỗi loại mô hình này có 3 phương thức: (i) trồng Sao thuần, (ii) trồng Dầu thuần, (iii) trồng hỗn giao Sao và Dầu Trong mỗi phương thức trồng có 3 quy cách

về mật độ trồng: (a) quy cách trồng 6x4 m (mật độ trồng 417 cây/ha), (b) quy cách trồng 6x8 m (mật độ 208 c/ha), và (c) quy cách trồng 9x5m (mật độ 222 c/ha)

Phạm vi nghiên cứu là các mô hình rừng trồng có cây họ Dầu thuộc phân khu phục hồi sinh thái của KBT Các mô hình trong KBT có cây họ Dầu nhưng diện tích nhỏ dưới 1 ha, mô hình trồng hỗn giao với 3 loài cây trồng chính trở lên không thuộc đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Việc đánh giá hiệu quả rừng trồng cây họ Dầu trong loại rừng đặc dụng chỉ giới hạn về mặt lâm sinh, đề cao giá trị bảo tồn loài cây gỗ bản địa, không đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội và môi trường của các loại rừng trồng này

6 Kết cấu của luận án

Ngoài các nội dung mang tính thủ tục như: Lời cam đoan; Phần mở đầu; Danh mục các từ viết tắt; Danh mục các công trình đã công bố; Tài liệu tham khảo

và Phụ lục Phần chính của luận án dài 136 trang và có kết cấu như sau:

- Phần mở đầu: 4 trang

- Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 22 trang

- Chương 2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội khu vực: 12 trang

- Chương 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu: 13 trang

- Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 82 trang

- Kết luận, tồn tại và kiến nghị: 3 trang

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Trên thế giới

1.1.1 Cây họ Dầu và đặc điểm lâm học của các quần xã cây họ Dầu

1.1.1.1 Đặc điểm chung về hình thái và phân bố cây họ Dầu

Họ Dầu (Dipterocarpaceace) được coi là một họ thực vật độc đáo và nổi

tiếng nhất của vùng nhiệt đới cả trên phương diện thực vật học, giá trị sử dụng và giá trị bảo tồn đa dạng sinh học (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [25]

Về hình thái, các cây họ Dầu thường có kích thước lớn, nhiều loài có bạnh vè chiều cao trung bình từ 40 đến 50 mét và đường kính lớn nhất biến động từ 2 đến 3 mét Đặc điểm điển hình là lá đơn, mọc cách với các lá kèm để bảo vệ chồi và các phần non và hoa luôn được phủ một lớp lông Hoa tự hình chùy và có nhiều chùm Nhìn chung, tất cả các đặc điểm về hình thái hay giải phẫu của các loài trong họ Dầu đều có liên quan đến chức năng sinh học và các chức năng đó lại gắn với các quần xã sinh vật và các đặc điểm môi trường khí hậu mà chúng ảnh hưởng trực tiếp đến việc thụ phấn hoa hay phát tán hạt giống cũng như sự sống sót của hạt Đại bộ phận các loài cây thuộc họ này đều có tiềm năng thương mại cao (Andreas Schulte

và ctv, 1998; Appanah S và Turbull, 1998) [55,58]

Phần lớn các loài cây họ Dầu phân bố ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Châu

Á hiện được coi là trung tâm của cây họ Dầu và có số lượng loài nhiều nhất, đặc biệt là khu vực nhiệt đới ẩm vùng Đông Nam Á Ba khu vực tập trung của cây họ Dầu của khu vực Đông Nam Á là đảo Borneo, đảo Sumatra (Indonesia) và Malaixia (CIFOR, 1998) [61] Cũng theo CIFOR (1998), tại khu vực này họ Dầu có 10 chi và

360 loài, chúng được phân bố chủ yếu ở các chi Shorea (163 loài), Hopea (84 loài),

Vatica (55 loài), Dipterocarpus (53 loài) và số loài còn lại thuộc các chi khác Mặc

dù chi Shorea có số loài lớn và được coi là quan trọng nhất, nhưng hiện khả năng có thể gây trồng lại thành rừng chủ yếu tập trung ở một số loài thuộc các chi Hopea và

Dipterocarpus

Trang 17

1.1.1.2 Một số đặc điểm sinh học của Sao đen và Dầu rái

(1) Đặc điểm sinh học và giá trị sử dụng của Sao đen

Sao đen (Hopea odorata Roxb) là một trong số 84 loài của chi Hopea Là

loài cây gỗ có kích thước lớn, thường xanh, chiều cao tối đa có thể đạt tới 40 mét và đường kính trung bình từ 60-80 cm Thân cây thẳng, chiều cao dưới cành từ 15-25

m, vỏ ngoài màu nâu đen, nứt sâu Lá hình trái xoan hay mũi mác dài từ 8-12 cm và rộng từ 3-6 cm; gốc lá hơi lệch Mặt trên phiến lá màu xanh sẫm, mặt dưới màu nhạt hơn và có nhiều tuyến ở nách gân cấp hai Hoa nhỏ mọc thành chùm, màu trắng ngà

có mùi thơm; cuống hoa nhỏ và rất ngắn Quả có hai cánh phủ lông mịn và mỏng, khi non màu xanh, khi quả chín có màu nâu (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [25]

Trong tự nhiên, Sao đen thường mọc trong các loại rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới; đôi khi cũng xuất hiện trong tự nhiên các quần thể thuần loài Phân bố tự nhiên chủ yếu ở các nước Ấn Độ (đảo Adaman), Indonesia, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào, Malaixia và Việt Nam (Joker, 2000) Đây là loài ưa ẩm, tầng đất sâu và dày có độ pH từ 4-5 và sinh trưởng tốt trên các loại đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét, phiến thạch mica và đất bazan nhất là các khu vực thấp ven sông suối Sao đen là loài phát tán hạt nhờ gió và có thể tái sinh đồng loạt ở những nơi có độ tàn che thấp (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [25]

Về giá trị sử dụng, Sao đen là loài cung cấp gỗ lớn Gỗ rất cứng và nặng (755 kg/m3) thường được sử dụng trong đóng tàu, thuyền, xây dựng và làm đồ gỗ gia dụng Sao đen còn là loài cây cho những giá trị ngoài gỗ khác như nhựa, tannin, vỏ cây làm thuốc chống viêm (Turnbull, 1998) Ngoài ra, có thể chiết xuất được một số hợp chất từ Sao đen có tác dụng chống oxy hóa và gây độc dòng tế bào ung thư Hela và Raji ở người (Atun và ctv, 2012-dẫn theo Nguyễn Thị Hải Hồng, 2013) [17]) Về giá trị bảo tồn, Sao đen được IUCN1 (2003) xếp ở mức sẽ nguy cấp VU A1cd+2cd (dẫn theo Nguyễn Thị Hải Hồng, 2013) [17] Ở Việt Nam, gỗ Sao đen được xếp trong nhóm gỗ I

1 International Union for Conservation of Nature: Hiệp hội Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên

Trang 18

Từ những giá trị trên cho ta thấy, triển vọng gây trồng và phát triển loài cây Sao đen nhằm vào cả hai mục tiêu cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và bảo tồn đều rất

có ý nghĩa

(2) Đặc điểm sinh học và giá trị sử dụng của Dầu rái

Dầu rái (Dipterocarpus alatus Roxb ex G.Don) còn có tên gọi khác như Dầu

nước, Dầu con rái Đây là loài cây gỗ lớn, chiều cao trung bình từ 30-35 m, cá biệt

có những cây có thể đạt tới 45 m chiều cao và 250 cm đường kính Ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, cây Dầu rái phân bố tự nhiên ở các nước như Bangladesh, Campuchia, Lào, Myanmar, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan và Việt Nam Trong các quần xã tự nhiên, Dầu rái thường chiếm tầng cao nhất hoặc tầng ưu thế Cây có thân thẳng, tròn đều Trước tuổi thành thục, cây thường có tán hình tháp, nhưng khi thành thục tán có hình ô Cây có khả năng tỉa cảnh tự nhiên tốt, chiều cao dưới cành lớn Vỏ cây màu trắng xám, mỏng và nhẵn (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [25]

Về hình thái lá, Dầu rái có lá lớn hình bầu dục, mọc cách dài từ 10-20 cm, rộng từ 5-15 cm, đầu lá hơi nhọn, gốc lá hình nêm Lá có màu xanh thẫm ở mặt trên, mặt dưới xanh nhạt và có lông mịn Lá kèm có lông màu xám nhạt Hoa thường mọc thành chùm hướng về một phía Hoa có 5 cánh, cánh hoa dài hơn đài hoa Đài hoa dài, mang quả; quả có hai cánh mỏng dạng màng, cánh dài từ 10-14

cm Mỗi quả có từ 1-2 hạt (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [25]

Dầu rái là cây có nhiều giá trị sử dụng Gỗ có giá trị thương mại cao và thường được dùng trong xây dựng, đóng tàu, thuyền Đặc biệt, sản phẩm có giá trị nữa là nhựa dầu tiết ra từ thân cây được dùng để vô trùng các vết thương, chống thấm nước, làm mực in trên đá, Cây Dầu rái ở độ tuổi từ 50-100 năm có thể cho được 20-30 lít dầu/năm Vỏ cây cũng được sử dụng để chữa thấp khớp (Appanath

và Turnbull, 1998) [58]

Về giá trị bảo tồn, cũng theo IUCN (2003), Dầu rái được xếp vào nhóm EN A1 cd+2cd, B1+2c Tương tự như Sao đen, với những đặc điểm và giá trị đa dạng, cho nên việc gây trồng, phát triển và bảo tồn Dầu rái là thực sự có ý nghĩa

Trang 19

1.1.2 Về kỹ thuật gây trồng cây họ Dầu ở khu vực châu Á

Tại khu vực châu Á, Malaixia được coi là “quê hương” của việc áp dụng các

kỹ thuật lâm sinh trong trồng rừng các loài cây họ Dầu với diện tích thử nghiệm lớn

và mang tính hệ thống Theo Appanah và Weinland (1993), loài cây họ Dầu đầu

tiên được gây trồng là Dryobalanops aromatic vào năm 1899 trên các vùng đất

hoang hóa sau khai thác mỏ ở Malaixia (dẫn theo Nguyễn Thị Hải Hồng, 2013) [17] Cho tới nay, Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Malaixia (FRIM) là cơ sở lớn nhất thực hiện các thử nghiệm trồng các loài cây họ Dầu ở khu vực Hiện có tới 115 loài cây họ Dầu khác nhau được trồng và có tới xấp xỉ 30 loài cho triển vọng cao sau

thời gian từ 30-45 năm Điều đáng nói là các chi Hopea, Dipterocarpus và Shorea

là những chi có rất nhiều loài khác nhau được đưa vào thử nghiệm (dẫn theo Nguyễn Thị Hải Hồng, 2013) [17]

Cũng tại Malaixia, một kỹ thuật phục hồi rừng khác được chú ý từ những năm sau Đại chiến thế giới lần thứ II là phương thức trồng làm giàu rừng bằng cây

họ Dầu, được biết đến như là một phương thức lâm sinh đem lại rừng đều tuổi (MUS: Malayan Uniform System) Từ năm 1960 đến năm 1978, đã có tới 13.000 ha được trồng theo phương thức này Tuy nhiên, chi phí khá lớn và không phải tất cả các xử lý đều thành công

Một quốc gia khác cũng có những thành tựu và cũng được coi là một trong những nước đi đầu trong tái tạo cây họ Dầu bằng tái sinh nhân tạo là Philippines Một số thử nghiệm trồng cây họ Dầu tại khu vực núi Maquilling cho đến nay đã xấp

xỉ 100 tuổi cho thấy việc trồng cây họ Dầu là rất khả thi Hiện tại, nước này đang áp dụng hệ thống khai thác chọn và xúc tiến tái sinh tự nhiên cây họ Dầu, chủ yếu là

các loài Shorea contora, S polysperma Đối với trồng lại trên đất sau nương rẫy, loài S contora sau 12 năm cây đã đạt chiều cao tới 28 mét và đường kính lớn nhất

có thể đạt được 48 cm; trung bình về chiều cao và đường kính lần lượt là 18 m và

32 cm (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [25]

Tại Indonesia, các khu vực rừng đã bị khai thác bắt buộc phải phục hồi lại bằng tái sinh nhân tạo (Anto Rimbawato, 2006) [56] Nhiều khu vực tại đảo Java

được trồng lại bằng các loài thuộc chi Shorea với luân kỳ 30 năm đã cho tăng

Trang 20

trưởng vào khoảng 20 m3/ha/năm (Bundit H, 2001) [60] Một số công ty tư nhân ở

nước này đã đưa vào thử nghiệm ba loài S leprosula, S laevis và D lanceolata

trồng từ năm 1976, cho thấy có loài đạt tăng trưởng đường kính bình quân đạt 2

cm/năm Đặc biệt, loài S pinanga được trồng trên đất phù sa, ở tuổi 19 tăng trưởng

đường kính bình quân có thể đạt tới 3 cm/năm

Thái Lan và Lào là những nước có nhiều quần xã rừng tự nhiên có cây họ Dầu phân bố Tuy nhiên, việc nghiên cứu thử nghiệm gây trồng nhân tạo cây họ Dầu không thực sự được quan tâm bởi hầu hết rừng mưa ở phía Nam nước này đã chuyển đổi sang đất trồng cây nông nghiệp dài ngày Những nỗ lực trồng rừng đều tập trung vào các loài cây mọc nhanh Một số loài như Dầu rái, Sao đen, Chò…cũng

đã được gây trồng thử với các chu kỳ dự kiến là từ 40-80 năm Những kết quả công

bố về các thử nghiệm này chưa thực sự đạt được kết quả như mong muốn (Chanhsamone và ctv, 2006; Elliott và ctv, 2006) [62, 63]

Tại Bangladesh và Myanmar, hoạt động nương rẫy và khai thác trắng đã để lại nhiều diện tích rừng trước đây có cây họ Dầu phân bố trở thành đất hoang hóa

Kỹ thuật Taungya được biết đến như là kỹ thuật nông lâm kết hợp đầu tiên ở khu

vực này không chỉ đối với Tectona grandis mà còn cả đối với nhiều loài cây họ

Dầu Tuy nhiên, cũng như Thái Lan, quốc gia này chú trọng vào tái sinh nhân tạo các loài cây mọc nhanh là chính Đối với cây họ Dầu, các thử nghiệm còn tương đối

manh mún và các loài đưa vào trồng còn rất khiêm tốn, chủ yếu là Shorea robusta,

Shorea odorata với tăng trưởng bình quân chỉ đạt được 8,4 m3/ha/năm, với luân kỳ ước tính là 40 năm (Apdul Rahman và ctv, 2002) [57]

1.1.3 Về kỹ thuật gây trồng Sao đen và Dầu rái

1.1.3.1 Một số kết quả bước đầu về chọn và nhân giống Sao đen, Dầu rái

Chọn giống, cải thiện và nhân giống cây rừng là một trong những yếu tố quan trọng đầu tiên quyết định tới số lượng và chất lượng rừng trồng Đối với hai loài Sao đen và Dầu rái lại càng có ý nghĩa hơn bởi những đặc trưng sinh học đặc thù của hai loài như đã phân tích ở nội dung trước Tuy nhiên, những thông tin về lĩnh vực này hiện còn rất tản mạn và chưa nhiều

Trang 21

Ở Thái Lan, Dầu rái được đánh giá là một trong 4 loài cây trồng rừng quan trọng nhất Hai loài Sao đen và Dầu rái cũng được xác định là hai trong số loài cây trồng bản địa quan trọng được bảo tồn trong các khu bảo tồn nguồn gen tại các Trạm nghiên cứu lâm nghiệp (Pooma R, 2003) [69] Viện nghiên cứu lâm nghiệp Malaixia cũng đã nghiên cứu bảo quản hạt nhiều loài cây, trong đó có Sao đen và Dầu rái Đối với Sao đen cũng đã được Viện này thử nghiệm nghiên cứu nhân giống bằng công nghệ nuôi cấy mô (ITTO)2 [73] Tại Campuchia, theo Joker D (2000; 2002) [65, 66], việc thu hái hạt giống để gieo ươm trước đây chủ yếu từ các quần xã

tự nhiên Gần đây, thông qua sự hỗ trợ của một số dự án giống cây lâm nghiệp, hiện

đã có 7 hecta rừng giống Dầu rái tại Siêm Reap được xây dựng, vào năm 2003 đã có

1 hecta rừng giống Sao đen được đưa vào quản lý Về quá trình nảy mầm của hạt giống, có một số kết quả nghiên cứu đáng chú ý như sau:

- Độ ẩm hạt và các điều kiện tồn trữ hạt khác nhau có quan hệ chặt chẽ tới

sức sống và khả năng nảy mầm của hạt 5 loài khác nhau thuộc chi Dipterocarpus,

trong đó có Dầu rái (Tompsett, 1987- dẫn theo Nguyễn Thị Hải Hồng, 2013) [17] Kết quả nghiên cứu này còn cho thấy hạt Dầu rái có thể làm khô ở độ ẩm hạt 17% vẫn không bị hư hại và vẫn còn sức nảy mầm; hạt thực sự hoàn toàn mất sức nảy mầm khi độ ẩm xuống 8% Theo Jocker (2002), khi làm khô tới độ ẩm 10-15% hạt giống Dầu rái có thể lưu trữ ở nhiệt độ 10-200C Sau 3 tháng, tỷ lệ nảy mầm giảm từ 41% xuống 30%; ở nhiệt độ trong phòng hạt sẽ bị chết hoàn toàn sau 2 tháng bảo quản

- Với Sao đen, số lượng mẫu cần và đủ để xác định độ ẩm hạt chính xác là 20-25 hạt Nhiệt độ sấy khô hạt để xác định độ ẩm thích hợp là 1030C trong 20 giờ hoặc 900C trong 24 giờ Trước đó, cũng tác giả này đã xác định được là Sao đen có thể nảy mầm 100% ở độ ẩm hạt ban đầu là 48,5% Tỷ lệ này giảm dần theo độ ẩm giảm và không thể nảy mầm khi độ ẩm hạt nhỏ dưới 22,9% Theo Jocker (2000) [65], hạt có thể bảo quản trong vòng 1 tháng nếu đóng gói trong túi vải đặt nơi thoáng mát, còn nếu muốn bảo quản lâu hơn cần làm khô hạt ở độ ẩm 40% và trữ trong túi nilon hàn kín tại nhiệt độ 150C

2 International Tropical Timber Organization: Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế

Trang 22

Đối với kỹ thuật nhân giống Sao đen và Dầu rái tại vườn ươm, theo Jocker (2000, 2002) [65, 66], hạt được gieo vào các luống, sau nảy mầm cây mầm sẽ được cấy vào bầu với độ che sáng 50% Sau thời gian 6-9 tháng, cây con có chiều cao từ 40-60 cm có thể đủ tiêu chuẩn đem trồng Tuy nhiên, ở một nghiên cứu khác, Rahman và ctv (2002) lại cho thấy cây con Sao đen khi có chiều cao từ 10-15 cm đem trồng lại có tỷ lệ sống cao hơn (90%) so với cây con có chiều cao từ 20-30 cm (73%) Việc bón phân cho Sao đen cũng đem lại hiệu quả tốt khi sử dụng NPK có tỷ

lệ 20:10:5 với liều lượng 30 gam/cây (Hashim và ctv, 2005) [64]

1.1.3.2 Kỹ thuật trồng và các biện pháp lâm sinh ở rừng trồng Sao đen, Dầu rái

Hầu hết các cây họ Dầu đều được trồng từ cây con từ hạt có bầu Với luân kỳ ước tính từ 40-80 năm, hai loài Sao đen và Dầu rái đã được trồng thử nghiệm tại Thái Lan Sao đen được trồng dưới tán cây mọc nhanh và Dầu rái được trồng với các công thức xử lý ánh sáng khác nhau Ở giai đoạn từ 1-5 tuổi, cả hai loài này đều cho thấy sự cần thiết của kỹ thuật che bóng trong 3 năm đầu sau khi trồng Tốc độ sinh trưởng cao nhất của cây con ở giai đoạn này đều được xác định tại độ che sáng 25-30%; tuy nhiên, sau giai đoạn này cây sẽ sinh trưởng tốt hơn khi được chiếu sáng đầy đủ (Blaksley, Elliott và ctv, 2002 và David Lamb, 1977) [59, 67]

Về phương diện kỹ thuật, mật độ trồng Sao đen, Dầu rái phổ biến được đề xuất là 3×3m; 3×5m; 3×10m hoặc 5×4m; 5×10m; 6×10m và 7×11m Phân bón có ảnh hưởng rất rõ tới sinh trưởng của cây con cả hai loài ở năm thứ hai rõ hơn là ở năm thứ nhất sau khi trồng (Mindawati N và ctv, 2004) [68]

Việc trồng hỗn giao Sao đen và Dầu rái theo hàng với Keo tai tượng cũng đã được thử nghiệm tại Malay Peninsula (Malaysia) Kết quả cho thấy, Sao đen và Dầu rái sinh trưởng tốt hơn so với mô hình trồng thuần loài, tiểu khí hậu dưới tán Keo tai tượng đã được cải thiện đáng kể, nhất là giảm cường độ bốc hơi nước làm cho độ

ẩm đất tăng đáng kể (Suzuki K, Ishii K và ctv, 2006) [71] và Wachrinrat và ctv, 2005) [72]

Phương thức trồng theo rạch là kỹ thuật lâm sinh tỏ ra thích hợp cho hai loài cây Sao đen và Dầu rái trong quá trình làm giàu rừng thứ sinh nghèo, nơi mà tái sinh tự nhiên thường thiếu hụt do nguồn giống và điều kiện tiểu khí hậu bất lợi cho

Trang 23

tái sinh tự nhiên ở một số quốc gia như Malayxia, Philippines, Indonesia, Thái Lan

và Bangladet (Bundit H., 2001) [60] Ở Malayxia, đã có khoảng 13.000 ha rừng Sao đen, Dầu rái được trồng theo phương thức này với chi phí khá lớn do tiêu chuẩn cây con đem trồng phải có kích thước lớn hơn so với các phương thức trồng khác

Về kỹ thuật chặt nuôi dưỡng, khi nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng và sản lượng rừng trồng hỗn giao giữa Dầu rái và Keo tai tượng 5 tuổi ở Thái Lan cho thấy sau hai năm tỉa thưa, tất cả các chỉ số về tăng trưởng chiều cao và đường kính của Dầu rái đều lớn hơn so với đối chứng (không tỉa) Dầu rái nhạy cảm hơn so với Keo tai tượng về hiệu quả tỉa thưa Đối với Sao đen, phản ứng của cây con với các khoảng trống giữa các tán cây tại rừng trồng cũng đã được nghiên cứu Kết quả cho thấy quá trình tăng trưởng về chiều cao và đường kính tỷ lệ thuận với kích thước khoảng trống Những cây được trồng chính giữa khoảng trống có các chỉ

số sinh trưởng tốt hơn cây trồng ở các vị trí khác Điều này cho thấy Sao đen có thể trở thành cây ưa sáng sớm hơn so với Dầu rái sau khi trồng (Bundit H, 2001) [60]

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Cây họ Dầu và đặc điểm lâm học của các quần xã cây họ Dầu

1.2.1.1 Một số thông tin chung về cây họ Dầu ở Việt Nam

Cây họ Dầu ở Việt Nam được nghiên cứu một cách có hệ thống đầu tiên là các công trình nghiên cứu của người Pháp, trong đó phải kể đến bộ Thực vật chí Đông Dương gồm 8 tập của H Lecomte (1905-1952) Trong công trình về những

hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978, 1998) [38, 39] có liệt

kê lại toàn bộ những kết quả nghiên cứu có liên quan đến thảm thực vật và các hệ sinh thái rừng chủ yếu ở nước ta, trong đó có nhiều công trình về cây họ Dầu Gần đây hơn, Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) [25] trong tác phẩm “Cây họ Dầu ở Việt Nam” đã hệ thống và tập hợp được một cách khá đầy đủ về những đặc trưng thực vật học, phân loại học, kỹ thuật trồng và mô tả 46 loài cây họ Dầu ở Việt Nam

Theo đó, tại Việt Nam cây họ Dầu có xấp xỉ 50 loài thuộc 6 chi (Anisoptera,

Dipterocarpus, Hopea, Parashorea, Shorea và Vatica); trong đó, chi Dipterocarpus

có 12 loài, chi Hopea có 11 loài Các loài cây họ Dầu phân bố rải rác trên cả nước,

nhưng phân bố tập trung chủ yếu là vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên

Trang 24

Cây Sao đen và Dầu rái ở Việt Nam đã có nhiều nhà khoa học mô tả về hình thái, giải phẫu cũng như các đặc điểm sinh học, về cơ bản không có sự khác biệt so với các đặc điểm chung của loài này ở các nước khác Tại Việt Nam, Sao đen và Dầu rái phân bố tự nhiên ở hầu hết các tỉnh miền Nam từ Kon Tum trở vào, đặc biệt nhiều ở vùng Đông Nam Bộ như Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và các tỉnh Tây Nguyên Hiện nay, cả hai loài cây này đã được dẫn giống trồng nhiều nơi, kể cả các tỉnh phía Bắc, nhất là Sao đen được trồng trên các trục đường

phố, đường giao thông và ở một số ít mô hình trồng cây bản địa

1.2.1.2 Đặc trưng lâm học cơ bản của các quần xã cây họ Dầu

(1) Đặc trưng về phân bố của các quần xã cây họ Dầu

Về mặt giới hạn phân bố, theo nhiều tác giả trong và ngoài nước đều nhất trí cho rằng các loài trong họ Dầu thường phân bố ở vùng khí hậu nhiệt đới với lượng mưa trung bình hàng năm trên 1.000 mm và có mùa mưa kéo dài từ 3 đến 6 tháng Tuy nhiên, vẫn có một vài ngoại lệ như vùng khô hạn Phan Rang, rừng khộp ở Tây Nguyên và rừng cây họ Dầu vùng thấp tại Bình Châu-Phước Bửu (Bà Rịa) Theo Thái Văn Trừng (1998) [39], nếu dựa vào lượng mưa và chế độ khô hạn, các quần

xã cây họ Dầu ở Việt Nam có thể chia thành các vùng phân bố chính như sau:

(1-1) Rừng khô cây họ Dầu hay còn gọi là rừng Khộp: Loại rừng này phân

bố chủ yếu là các loài cây chịu được khô hạn và lửa rừng vào mùa khô, nhưng chịu

được úng ngập vào mùa mưa Cấu trúc tổ thành gồm các loài như Cà chắc (Shorea

obtuse), Cẩm liên (Shorea siamensis), Sến mủ (Shorea roxburghii), Dầu trà beng (Dipterocarpus obtusifolius), Dầu đồng (D tuberculatus), Dầu lông (D intricatus)… Không phải là dạng rừng khộp, nhưng các quần xã Săng đá (Hopea ferrea), Sao cà ná (H reticulate) ở vùng khô hạn Nam Trung Bộ (tỉnh Ninh Thuận)

cũng là một dạng quần xã cây họ Dầu khô hạn đặc biệt ở vùng này

(1-2) Rừng thường xanh và nửa rụng lá mưa mùa: Phần lớn những loài họ Dầu trong các quần xã này là những loài thường xanh ít rụng lá hoặc rụng lá một phần Kiểu rừng này phân bố dọc ven biển miền Trung tới vùng Đông Nam Bộ, đôi chỗ xuất hiện rừng cây họ Dầu gần như thuần loài, nhưng đại bộ phận là hỗn giao với các loài cây lá rộng thường xanh khác Ưu thế trong các quần xã này thường là

Trang 25

các loài như Dầu cát (D caudatus aff condorensis) có khả năng tái sinh tự nhiên tốt, Sến cát (Shorea roxburghii), Dầu rái (D alatus), Vên vên (Anisoptera costata), Cẩm liên, Táu duyên hải (Vatica mangachapoi) Điển hình cho loại rừng này là tại

khu vực Bình Châu-Phước Bửu (Bà Rịa) và Khu bảo tồn thiên nhiên Takou (Bình Thuận) Dọc theo các dải đất vùng cát ven biển của các tỉnh như Khánh Hòa, Phú

Yên còn có các quần thể Chai lá cong (S falcata) và Sao lá hình tim (H cordata)

còn sót lại phân bố rải rác

(1-3) Rừng kín ẩm thường xanh mưa mùa: Loại rừng này phân bố ở những vùng có lượng mưa trên 2.000 mm và có một mùa khô rất rõ ràng Trong các quần

xã này không xuất hiện những loài câu họ Dầu chịu lửa và khô hạn Đặc trưng lâm học cơ bản là những loài cây này thường phân bố theo cụm dạng “tổ quần thụ” như

các loài Vên vên (A costata), Dầu mít (D costatus), Dầu song nàng (D dyery) và

có những loài như Sao đen, Dầu rái lại có thể mọc thành những quần thụ lớn ở Đồng Nai, Bình Phước và được gọi với tên là các “láng Sao” hay “láng Dầu” Đây

là một trong những đặc trưng lâm học rất quan trọng cho việc ứng dụng “lâm sinh học gần với tự nhiên” để gây trồng những loài cây này

Ở vùng có mùa khô ngắn hơn vùng Đông Nam Bộ như Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng… các loài cây họ Dầu lại có sự xuất hiện thêm một số loài

cũng có khả năng hình thành các quần thụ lớn như Kiền kiền (H pierrei), Chò đen

(Parashorea stellata), Sao đen (H odorata), Dầu đọt tím (D gradiflorus)…

(1-4) Tại một số tỉnh phía Bắc, theo Thái Văn Trừng (1998) [39] , trên tuyến

đẳng nhiệt 200C (khoảng trên 16 độ vĩ Bắc), tại những vùng có độ cao trung bình dưới 700 mét (trừ cây Táu có thể phân bố ở độ cao trên 900 mét, nhưng cũng chỉ tập trung ở đai 700-800 mét) có phân bố cây họ Dầu Khác với ở phía Nam, cây họ Dầu tại các tỉnh phía Bắc thường hình thành những ưu hợp nhỏ hoặc mọc rải rác trong các vùng thấp ven sông lớn hay tại các thung lũng vùng núi đá vôi, nơi có hiện tượng bồi tụ với tầng đất dày và phì nhiêu Một số ưu hợp điển hình là ưu hợp Chò nâu+Chò lông mọc tự nhiên ở Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên và Thanh Hóa, hay

ưu hợp Chò chỉ ở các thung lũng những sông lớn ở Yên Bái, Lào Cai và Tuyên Quang Những quần xã có cây họ Dầu ở đây được đặc trưng bằng độ ưu thế của một

Trang 26

số loài trong họ cây này và thường phân bố ở tầng vượt tán Đại diện là các loài Sao

đen (Hopea odorata), Sao xanh (H dealbata), Kiền kiền (H pierrei), Táu mặt quỉ

(Vatica astroticha), Táu lá nhỏ (V tonkinensis), Táu muối (V fleuryana), Chò nâu (D tonkinensis), Chò chỉ (Parashorea sinensis) và đây cũng loài loài duy nhất của

chi này có ở Việt Nam

(2) Đặc trưng về cấu trúc quần xã cây họ Dầu

Rất nhiều nghiên cứu đều cho thấy, cây họ Dầu ở Việt Nam mà chủ yếu là vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng

tự nhiên (Phân viện Điều tra qui hoạch rừng Nam Bộ, 1994) [41] Số loài cây trong

họ Dầu có thể không nhiều bằng những họ khác, nhưng số cá thể thường chiếm ưu thế ở nhiều ưu hợp thực vật rừng hay trạng thái rừng Ở vùng Đông Nam Bộ, cây họ Dầu có 6 chi với gần 40 loài Ở các khu vực nhỏ của vùng như Khu BTTN Bình Châu-Phước Bửu (tỉnh Bà Rịa) có 13 loài, Khu Bảo tồn thiên nhiên – Văn hoá (tỉnh Đồng Nai) có 18 loài Những ưu hợp có cây họ Dầu thường thấy ở vùng Đông Nam

Bộ là: ưu hợp họ Dầu + họ Thị + họ Sến, ưu hợp họ Dầu + họ Sến, ưu hợp họ Dầu +

họ Bồ hòn + họ Sim, ưu hợp họ Dầu + họ Bồ hòn + họ Thị (Phân viện ĐTQHR Nam Bộ, 2000, 2003 và 2009) [42], [43], 46]

Khả năng kết nhóm của các loài cây họ Dầu là một đặc điểm lâm học quan trọng, giữa các loài cây luôn có các quan hệ hỗ trợ nhau trong quá trình sinh tồn và phát triển Nguyễn Văn Thêm (1993) đã áp dụng phương pháp phân tích để nghiên cứu sự kết nhóm của 4 loài Dầu rái, Dầu song nàng, Cám, Trâm quầng ở rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới khu vực Tân Phú (tỉnh Đồng Nai) Tác giả đã chỉ ra rằng, trong tổ thành của kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đối có hai nhóm sinh thái khá rõ rệt: nhóm Dầu song nàng – Dầu rái và nhóm Dầu rái – Cám – Trâm quầng (Nguyễn Văn Thêm, 1993) [34]

Kết quả nghiên cứu sự kết nhóm sinh thái giữa một số loài cây gỗ rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới của một số tác giải khác như Trần Văn Con (2006) [5], Nguyễn Xuân Hùng (2009) [19] cũng là một trong số những nghiên cứu theo hướng

đó Một số kết quả chỉ ra rằng, trong kết cấu rừng của các ưu hợp ở khu vực rừng Bình Châu-Phước Bửu tồn tại các dạng kết nhóm theo cặp loài và tổ hợp loài Kết

Trang 27

nhóm theo cặp (hai loài) có: Dầu cát – Cầy, Dầu cát – Sến cát, Dầu cát – Trâm trắng; kết nhóm theo tổ hợp (trên hai loài) có: Dầu cát – Trâm trắng – Cầy, Trâm trắng – Dầu cát – Sến cát Khi xử lý kiểu rừng này cần bảo vệ độ ưu thế của các loài trong kết cấu rừng (Nguyễn Duy Chuyên, 1994) [3]

Ở phía Bắc, cùng mọc với các loài trong họ Dầu ở tầng tán rừng và dưới tán còn có những loài cây lá rộng thường xanh khác trong hệ thực vật bản địa như các

loài trong họ Đậu (Leguminosaseae), họ Dẻ (Fagaceaea), họ Sim (Myrtacceae), họ Xoan (Meliaceae),…

(3) Đặc trưng về tái sinh của cây họ Dầu trong tự nhiên

Nghiên cứu tái sinh là một vấn đề được đặc biệt quan tâm trong những nghiên cứu về đặc điểm lâm học cây họ Dầu Khi giải quyết vấn đề này, nhiều tác giả đều thống nhất là phải làm rõ nguồn cây mẹ có khả năng phát tán hạt giống cho tái sinh, động thái biến đổi của cây con trong mối quan hệ với các yếu tố sinh thái Tuy vậy, để phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng các biện pháp lâm sinh thì chỉ cần biết về số lượng và thành phần loài cây hiện có [3], [29]

Với nội dung tái sinh cây họ Dầu, nghiên cứu của Nguyễn Văn Thêm (1993)

[34] về tái sinh tự nhiên của cây Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri) trong rừng

nhiệt đới ẩm, nửa rụng lá Tác giả có một vài nhận định liên quan đến vấn đề này như sau: Sự phát sinh, phát triển và tính ổn định về sức sống của cây con Dầu song nàng phụ thuộc vào độ ưu thế của quần thể loài ở tầng trên Khi cây mẹ càng đông đúc thì khả năng tái sinh càng lớn, nhưng chất lượng cây con càng kém, đặc biệt trong rừng hỗn giao cây lá rộng rụng lá

Nguyễn Duy Chuyên và Ngô An (1997) [4] trong công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, lâm học rừng cây họ Dầu vùng Đông Nam Bộ cũng đã xác định được các vùng sinh thái thích nghi cho cây họ Dầu Về tái sinh, các tác giả cho rằng, tùy theo các ưu hợp thực vật cây họ Dầu khác nhau, cây con tái sinh phụ thuộc chủ yếu vào loài cây mẹ gieo giống

Cây tái sinh phụ thuộc rất chặt chẽ vào cây ưu thế ở tầng trên Đối với các ưu hợp có cây họ Dầu cũng vậy, những loài cây họ Dầu có ưu thế ở tầng trên thì cũng

sẽ chiếm ưu thế ở tầng dưới Ngay cả khi không có cây ưu thế là họ Dầu thì thành

Trang 28

phần của cây tái sinh có họ Dầu cũng vẫn chiếm một tỷ lệ nhất định Đặc điểm tái sinh của các trạng thái rừng kín mưa ẩm nhiệt đới có mặt của các loài cây họ Dầu, mặc dù về họ có thể là họ có số loài ưu thế nhưng riêng cho loài thì không hẳn là loài ưu thế và dẫn đến lớp cây tái sinh cũng như vậy (Nguyễn Văn Thêm, 2000 [35]

và 2002 [36])

(4) Liên quan tới các trạng thái rừng tự nhiên và đặc điểm lâm học của nó làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi rừng, tác giả Lê Văn Mính (1986a) [23] cho rằng đối với các loài cây họ Dầu trong rừng IIIA1, do trữ lượng còn thấp, chất lượng rừng kém nên giải pháp lâm sinh đi theo hai cách sau: (i) thực hiện trồng rừng theo rạch với loài cây trồng chính là họ Dầu, (ii) tiến hành phát luỗng dây leo bụi rậm để vừa xúc tiến tái sinh tự nhiên vừa trồng dặm cây con của họ Dầu và những loài cây

(1) Nhóm cây họ Dầu ưa ẩm trên vùng đồi núi thấp: Nhóm này gồm các loài Dầu rái, Dầu mít, Dầu lá bóng, Sao đen, Sến mủ, Vên vên, Táu…

(2) Nhóm cây họ Dầu ưa ẩm trên mọc trên vùng bán bình nguyên gợn sóng: Đại diện là các loài Dầu song nàng, Chai thorel, Táu trắng, …

(3) Nhóm cây họ Dầu mọc trên đất xám, xương xẩu: Bao gồm các loài cây

họ Dầu rụng lá vào mùa khô như Dầu đồng, Dầu lông, Dầu trà beng, Cà chắc…

(4) Nhóm cây họ Dầu trên đất cát ven biển: Nhóm này bao gồm cả những loài cây thường xanh và những loài rụng lá vào mùa khô; tiêu biểu là Sến cát, Dầu cát, Vên vên, Cẩm liên…

1.2.2.1 Một số kết quả về chọn và nhân giống

Ở nước ta, những hoạt động nổi bật gần đây là phát hiện và nghiên cứu các giống lai tự nhiên, tạo giống lai nhân tạo, nhân giống hom và nuôi cấy mô phân

Trang 29

sinh, cũng như ứng dụng chỉ thị phân tử vào cải thiện giống cây rừng Tuy nhiên, rất

ít cây bản địa và nhất là các loài họ Dầu được nghiên cứu

Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005), để triển khai một chương trình chọn giống, xây dựng vườn giống hữu tính hay vô tính cho cây họ Dầu là khá tốn kém

Vì thế cho nên chương trình chọn giống phải dựa vào chọn lọc có hiệu quả và kiểm tra các cây trội từ rừng tự nhiên là cách hữu hiệu để khai thác biến dị di truyền Đối với chương trình bảo tồn nguồn gen và đa dạng di truyền thì có thể được duy trì trong rừng trồng thông qua thu hái hạt giống

Nguồn giống cho Dầu rái hiện có 7 nguồn, trong đó có 462 ha rừng giống chuyển hóa và 20 ha rừng giống trồng Đối với Sao đen, số lượng nguồn giống là 6, trong đó có 18 ha lâm phần xác định, 169 ha rừng giống và 1 ha vườn giống (www.dof.mard.gov.vn) [74]

Theo Nguyễn Thị Hải Hồng, (2013) [17] tại Đông Giang (tỉnh Bình Thuận), một số rừng giống cây họ Dầu với diện tích 50 ha gồm 3 loài Dầu rái (792 cây), Sao đen (234 cây) và Vên vên (93 cây) Đây là quần thụ rừng tự nhiên khá nguyên vẹn, được bảo vệ tốt và hiện đang cung cấp giống cho các cơ sở trồng rừng Ngoài ra, rừng giống Dầu rái được quy hoạch trên cơ sở rừng trồng năm 1984 tại Dương Minh Châu (Tây Ninh) có thể kết hợp làm khu bảo tồn nguồn gen, với phương thức trồng thuần loại không có cây che phủ Sao đen trồng năm 1980 tại Xuân Sơn (tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu) trên diện tích 380 ha hiện sinh trưởng tốt, có thể được coi là rừng bảo tồn nguồn gen kết hợp cung cấp giống (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) Thêm vào đó, nguồn giống Dầu rái và Sao đen phục vụ trồng rừng còn được thu hái

Trang 30

dày, cân đối, dáng đẹp, thẳng, cây không bị tổn thương, sâu bệnh hại và chưa bị trích nhựa

Hạt Dầu rái và Sao đen là loại hạt ưa ẩm, mất sức nảy mầm nhanh nên cần phải gieo hạt ngay sau khi thu hái Trong điều kiện bình thường, trải quả thành lớp dày 8-10 cm ở nơi thoáng mát, nhiệt độ bình thường hoặc thấp nhất 15-20°C, hàng ngày đảo lại quả và phun sương giữ ẩm quả, có thể duy trì từ 1-2 tuần Ở nhiệt độ thấp 5-10°C, hạt được đựng trong bao PE hàn kín với độ ẩm nhất định và bảo quản

ở nhiệt độ 5-10°C trong tủ lạnh, thời gian bảo quản 3-4 tháng (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005)

Nhân giống bằng hạt là phương pháp chính để sản xuất cây con phục vụ trồng rừng Dầu rái và Sao đen từ trước đến nay Xử lý hạt bằng cách ngâm hạt vào nước ấm 30-35°C trong 4 giờ (Dầu rái) và 8 giờ (Sao đen), sau đó gieo vào bầu hoặc gieo trên luống lấp đất sâu 1-2 cm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [25]

Tại vườn ươm, hạt được gieo vào các luống gieo, sau khi nảy mầm sẽ được cấy vào túi bầu đặt dưới điều kiện che bóng 50% Túi bầu bằng polyetylen kích thước 14 x 25 cm cho cây 1 năm tuổi, riêng đối với cây Dầu rái 3 tháng tuổi thì bầu chỉ cần 12 x 15 cm Thành phần ruột bầu bao gồm 85% đất mặt, 10-13% phân chuồng hoai và 1-2% super lân Hàng ngày, tưới nước ngày 2 lần, tưới đủ ẩm cho đất Sau 1 tháng tưới mỗi ngày một lần Cần làm giàn che với độ che sáng bằng 70-80% trong tháng đầu, tháng thứ hai che 40%, tháng thứ ba che 20% và tháng thứ tư trở đi không cần che Phải phun thuốc trừ sâu bệnh hại theo định kỳ 2 lần/tháng Các loại thuốc thường dùng như Benlát 0,05%, Boocdo nồng độ từ 0,5-1,0%

Tiêu chuẩn cây con xuất vườn đem trồng yêu cầu đối với Sao đen và Dầu rái phải đạt đường kính gốc hơn 5 mm, chiều cao hơn 50 cm, cây khoảng 12-14 tháng tuổi, sinh trưởng tốt, thân thẳng, cân đối, không bị sâu bệnh, không bị cụt ngọn Riêng đối với Dầu rái, cũng có thể sử dụng cây con được 2-3 tháng tuổi để trồng rừng với yêu cầu đường kính gốc phải hơn 3 mm, chiều cao trên 20 cm (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam-KHLN, 2002) [52]

Nhân giống vô tính đang được đưa vào sử dụng và đóng một vai trò quan trọng trong công tác cải thiện giống cây rừng ở nước ta Trong đó, nhân giống bằng

Trang 31

mô và hom là chiếm ưu thế Các loài cây họ Dầu cũng là đối tượng cho nghiên cứu

vì chúng thường phải mất 3-5 năm mới có một năm sai quả, quả ưa ẩm nên không thể bảo quản lâu được (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) Vì thế cho nên, nhân giống bằng hom cây Sao đen và Dầu rái được nghiên cứu cùng với một số cây gỗ lớn, gỗ quý khác như Tếch và Vên vên (Mạc Văn Chăm, 2004) [2] Tuy nhiên, theo Nguyễn Thị Hải Hồng (2013), kết quả nghiên cứu còn rất hạn chế Theo kết quả đã được cải thiện trong nghiên cứu của Lê Quốc Huy và Tạ Minh Hòa (1998), khi hom được cắt có độ dài khoảng 5-10 cm, có 2 lá được cắt bớt 1/3 - 2/3, được xử lý chất kích thích ra rễ IBA 1.000 ppm cho kết quả 86% ra rễ đối với Sao đen, 81% đối với Dầu rái Sau đó, Lê Đình Khả và cộng sự (2000) cũng đã tiến hành nhân giống bằng hom Sao đen và Dầu rái, kết quả rất thành công 85-96% ra rễ đối với Sao đen và 80-90% đối với Dầu rái Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005), hom thân có tỷ lệ ra rễ giảm đáng kể từ 75% nếu lấy hom từ cây non 6-12 tháng tuổi xuống còn 50% ở cây con 18-21 tháng tuổi Cây hom cành sau 1 năm có tỷ lệ sống 87% nhưng chỉ có 7% trở thành cây thẳng đứng Sau khi chặt sát gốc và cách mặt đất 30 cm, cây hom cành

có tỷ lệ chồi đứng thẳng tương ứng là 22% và 14%

Cho đến nay, ngoài những tài liệu trên, việc nhân giống cây Sao đen và Dầu

rái hiện nay vẫn chưa thấy tài liệu nào công bố ở nước ta

1.2.2.2 Một số kết quả nghiên cứu trồng cây họ Dầu trong phục hồi rừng

Công trình trồng cây họ Dầu đầu tiên ở Việt Nam được biết đến là của Paul Mourand (1920), đã thử nghiệm trồng Dầu rái và Sao đen tại Trạm thực nghiệm Trảng Bom theo ba công thức:

Công thức 1: Trồng thuần loài với mật độ cao lên tới 20.000 cây/ha Ưu điểm

là rất sớm hình thành quần thể nhưng nhược điểm rõ nhất là cạnh tranh và sớm, phải tỉa thưa và tốn kém trong việc tạo rừng

Công thức 2: Trồng theo rạch dưới tán rừng tự nhiên Ở công thức này, cây trồng sinh trưởng kém do không cạnh tranh được với cây tự nhiên Sau này, có cải tiến mở các băng rộng hơn thay thế cho các rạch hẹp

Trang 32

Công thức 3: Trồng Sao đen, Dầu rái với các loài cây phù trợ như Đậu chàm

(Indigofera teysmanii) và Muồng đen (Senna siamea) Đây là hai loài cây che phủ

đất ban đầu, ngăn chặn cỏ dại và che bóng ban đầu

Từ những nghiệm thức này, về sau nhiều loài cây họ Dầu khác cũng đã được

thử nghiệm trồng và những cây phù trợ cũng đa dạng hơn như Keo lá tràm (Acacia

auriculiformis), Keo tai tượng (A mangium), Keo dậu (Leucaena leucocephala)

hoặc một số loài cây nông nghiệp dài ngày khác như Điều (Anacardium

occidentale), Xoài, Mít, Bưởi, …

Có thể nói, Đông Nam Bộ là vùng có nhiều loài cây họ Dầu nói riêng và cây bản địa nói chung được đưa vào thử nghiệm trồng đa dạng nhất ở nước ta, đặc biệt

là các loài của rừng ẩm nhiệt đới như Dầu song nàng, Dầu rái, Vên vên, Sao đen, Sến mủ… Thống kê bước đầu có 24 loài cây bản địa đã được gây trồng ở vùng Đông Nam Bộ thời gian qua Các loài cây trồng bản địa trong các mô hình thường gồm: Dầu rái, Dầu trà beng, Sao đen, Vên vên, Bằng lăng, Gõ đỏ, Muồng đen, Gáo vàng,… Các loài tiêu biểu gồm có: Dầu rái, Sao đen, Vên vên, Dầu song nàng, Dầu trà beng, Dầu mít, Sến cát, Gõ đỏ, Cẩm lai, Bằng lăng, Dáng hương, Gõ mật, Ươi, v.v (Nguyễn Chí Thành, 2005) [33] Có thể điểm lại một số kết quả chính về trồng cây họ Dầu trong vùng như sau:

(1) Tại Đồng Nai, có 94 mô hình trồng rừng có cây bản địa bao gồm: trồng thuần loại một loài cây có 10 mô hình, trồng hỗn giao hai loài cây có 36 mô hình, hỗn giao ba loài cây có 36 mô hình, hỗn giao bốn đến năm loài cây có 12 mô hình

Có hai phương thức trồng chính được áp dụng là trồng Sao đen và Dầu rái thuần loài hoặc hỗn loài có xen với một số loài cây phù trợ như Keo lá tràm, Điều và cây

ăn quả như Xoài, Mít Ở những nơi có mật độ trồng cao (trên 1.600 cây/ha), cây sinh trưởng trung bình hoặc kém trong khi cây trồng có mật độ thấp hơn lại có các giá trị sinh trưởng tốt hơn

Tại rừng trồng Sao đen và Dầu rái thuần với mật độ 416 cây (Sao đen) và

312 cây (Dầu rái) có xen cây nông nghiệp sinh trưởng tương đối tốt trong những năm đầu do được chăm sóc và bảo vệ tốt Khi cây nông nghiệp được thu hoạch,

Trang 33

người ta thường không tập trung vào các cây Sao đen, Dầu rái nên có sự suy giảm mật độ và sinh trưởng (Tô Bá Thanh, 2009 [32] và Bùi Minh Tân, 2009 [31])

Năm 2013, trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Hồng [17] đã tiến hành nghiên cứu bổ sung kỹ thuật gây trồng Sao đen và Dầu rái tại Lâm Đồng, Bình Phước và Gia Lai Kết quả đã cho thấy các biện pháp làm đất (san ủi, cày toàn diện và cuốc hố) đều cho tỷ lệ cây sống và sinh trưởng tốt ở cả hai loài cây trồng này Ở giai đoạn đầu, các phương thức trồng khác nhau chưa ảnh hưởng đến sinh trưởng của Dầu rái nhưng với Sao đen, phương thức hỗn giao với Keo lai cho tăng trưởng tốt nhất cả về đường kính và chiều cao

(2) Tại Bình Phước, hầu hết các mô hình trồng Sao-Dầu thuần loài đều cho kết quả tốt hơn so với các mô hình trồng xen với Keo lá tràm hoặc với Điều Ở các rừng trồng có mật độ cao, theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005), trồng Sao đen với 1.250 cây/ha (năm 1982) vẫn cho tăng trưởng bình quân về đường kính là 1,35 cm/năm và chiều cao là 0,97m/năm Trong các mô hình trồng xen với Keo lá tràm cho thấy hầu hết cả Sao đen và Dầu rái đều có tăng trưởng thấp, nguyên nhân chính vẫn là tỉa thưa Keo lá tràm chưa kịp thời và chưa xem xét tới nhu cầu ánh sáng của Sao đen và Dầu rái ở giai đoạn Keo khép tán

Trần Quốc Hoàn (2013, 2014) [13,14] đã tiến hành nghiên cứu phân vùng lập địa phục vụ cho phát triển sản xuất Lâm nghiệp tại Bình Phước, trong đó có xác định rõ vùng thích hợp để gây trồng hai loài Sao đen và Dầu rái tại địa phương

(3) Tại Tây Ninh, mô hình trồng Sao –Dầu phổ biến là xen với cây Điều với mật độ Sao-Dầu từ 200-400 cây/ha Giai đoạn đầu cả cây trông chính và cây trồng xen đều sinh trưởng tốt; nhưng khi Điều ra trái, cây Sao đen và Dầu rái bị tỉa cành quá nhiều dẫn đến sinh trưởng kém Mô hình trồng xen với Keo lá tràm cũng được xác định là mô hình không thành công Tại tỉnh này, mô hình trồng Dầu rái thuần loài tại Dương Minh Châu được coi là thành công nhất (Trần Quốc Dũng, 1995) [8]

(4) Tại Bình Dương, từ năm 1982 người ta đã trồng thử nghiệm xen Keo lá tràm, Xà cừ với Sao đen-Dầu rái Hiện trạng sinh trưởng của cây trồng trong các mô hình trồng xen cũng tương tự như ở các tỉnh nêu trên, nghĩa là phụ thuộc rất lớn vào thời điểm và cường độ tỉa thưa cây phù trợ Trong những năm đầu, tăng trưởng của

Trang 34

Dầu rái và Xà cừ đều khá tốt, rất có triển vọng (Nguyễn Minh Cảnh, 2003 [1] và Lục Văn Cường, 2009 [6])

(5) Ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, những mô hình trồng Sao đen, Dầu rái ở đây được đánh giá là cho kết quả khả quan hơn, kể cả ở những mô hình có trồng xen Keo lá tràm khi được chặt tỉa kịp thời và phù hợp với giai đoạn sinh trưởng của cây trồng chính Rừng Sao đen ở Xuyên Mộc trồng thuần là một ví dụ điển hình cho nhận xét trên

(6) Tại tỉnh Bình Thuận, ở đây mô hình trồng Sao đen và Sến cát theo rạch dưới tán rừng bị đánh giá là không thành công không chỉ vì những lý do kỹ thuật

mà còn cả những lý do liên quan đến quản lý, bảo vệ Người dân chặt phá không kiểm soát được các khâu chăm sóc và nuôi dưỡng cây trồng ở giai đoạn đầu Đối với mô hình trồng xen hai loài này với Điều cho thấy kết quả khả quan hơn và cả hai loài cây trồng trên đều có tăng trưởng bình thường

1.2.2.3 Các biện pháp lâm sinh tác động

Đối với rừng trồng Sao, Dầu có cây phụ trợ, cây sinh trưởng rất tốt trong những năm đầu Tuy nhiên, vấn đề nổi cộm trong phương thức trồng này cần khắc phục sớm là việc chặt bỏ cây phụ trợ theo thời gian để đảm bảo nhu cầu ánh sáng cho cây trồng chính, không làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây

Mô hình trồng xen với Điều và Cà phê là một ví dụ, nông dân thường chặt tỉa mạnh cành Sao, Dầu cho cây không thể sinh trưởng tốt và khó phát riển thành rừng Trường hợp sử dụng cây Khoai mì (sắn) làm cây che phủ ban đầu được cho là có tác dụng rất tốt đối với rừng trồng Sao, Dầu vì Khoai mì là một trong ít cây nông nghiệp ngắn ngày giữ được tán lá xanh suốt mùa khô tại miền Nam, trừ khi đất đai quá cằn cỗi hoặc trồng sai thời vụ

Phương thức trồng theo rạch dưới tán rừng tự nhiên của Paul Mourand cho thấy cây mới trồng dễ sống nhưng chỉ đến năm thứ 2 thì chúng đã thể hiện thiếu ánh sáng trực xạ trực tiếp một cách rõ rệt (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1978) Chỉ có những cây ở khoảng trống của tán rừng bên trên thì sinh trưởng bình thường, còn tất

cả đều sinh trưởng yếu, bệnh tật Mô hình trồng Sao đen theo rạch trong rừng tự nhiên tại Bình Thuận năm 1994 được coi là thất bại vì những nguyên nhân như rừng

Trang 35

trồng không được chăm sóc, bảo vệ, dân tự do chặt phá làm rẫy; mặc dù cây sinh trưởng khá tốt, đường kính tăng trưởng 1,53 cm/năm, chiều cao 1,13 cm/năm (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005 [34])

Khi trồng theo rạch trên hiện trạng rừng phục hồi nghèo kiệt, thực bì chủ yếu

là cây bụi, các kết quả thử nghiệm cho thấy mật độ trồng cao (lớn hơn 1600 cây/ha) thường chỉ cho kết quả sinh trưởng trung bình hoặc kém, trong khi đó mật độ thấp lại cho kết quả sinh trưởng khá hơn (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) Trong quy phạm

kỹ thuật trồng rừng Dầu rái (Bộ Lâm nghiệp, 1988), mật độ trồng đề xuất là 833 cây/ha (4 x 3m), 660 cây/ha (5 x 3m), 400 cây/ha (10x 2,5m) Kỹ thuật gây trồng Dầu rái và Sao đen đã được hướng dẫn khá chi tiết trong quy phạm kỹ thuật trồng

rừng Dầu rái (Dipterocarpus alatus) đã được Bộ Lâm nghiệp ban hành năm 1988

cũng như trong quy trình kỹ thuật trồng rừng Sao đen và Dầu rái được Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam xây dựng (2005) Tuy nhiên, khâu chăm sóc rừng sau khi trồng được hướng dẫn chủ yếu tập trung vào làm cỏ, xới đất xung quanh gốc, vun gốc, gỡ dây leo cuốn vào cây trồng và chặt bỏ cây tái sinh lấn át cây trồng Các nghiên cứu về tác động lâm sinh như bón phân, tỉa cành, tỉa cây để nâng cao hiệu quả kinh tế của trồng Dầu rái và Sao đen vẫn còn rất hạn chế

Qua quan sát tại khu vực nghiên cứu, các kỹ thuật chăm sóc và bảo vệ đối với rừng trồng Sao đen, Dầu rái phải được thực hiện nghiêm túc sau khi trồng tối thiểu là 4 năm liền Trong phương thức trồng xen thì sau 1-2 năm phải tiến hành tỉa cành nhánh hoặc chặt ngang thân không để cây phụ trợ chụp lên tán cây Sao đen, Dầu rái Công việc này nhất thiết phải thực hiện đúng lúc

Rừng trồng thuần loài Sao đen, Dầu rái không có cây che phủ ban đầu (Dương Minh Châu, Tây Ninh) hay có xen cây nông nghiệp trong những năm đầu (Đồng Nai) cho sinh trưởng khá tốt trong những năm đầu Tăng trưởng bình quân năm về chiều cao là 0,78-0,95 m/năm, đường kính 1,10-1,92 cm/năm đối với Sao đen, còn Dầu rái khoảng 1,13 m/năm chiều cao và 1,63 cm/năm đường kính Nhìn chung, Sao đen tăng trưởng chiều cao kém hơn Dầu rái

Trang 36

sẽ là không khoa học nếu tất cả các loài này đều được đưa vào danh sách cần khôi phục Việc chọn loài nào trong số các loài cây họ Dầu ở đây là một câu hỏi lớn của

đề tài này Nó không đơn giản là loài phổ biến hay loài có số cá thể nhiều hay loài cây đang có giá trị kinh tế, mà quan trọng là loài có khả năng thành rừng hay không (trên quan điểm sinh thái), đặc biệt là ở rừng trồng mới? Điều đó có thể dẫn tới việc một loài cây họ Dầu có thể sinh trưởng tốt trong rừng tự nhiên, nhưng chưa chắc sẽ

là loài cây trồng được chọn để khôi phục rừng trên đất trống Do đó, đối tượng nghiên cứu là cây họ Dầu đã được trồng từ nhiều năm trước đây sẽ là một trong số

các ưu tiên của việc chọn loài cây

Thứ hai, các nghiên cứu về cây họ Dầu ở rừng trồng cũng rất phong phú Điểm qua các công trình đã công bố, có thể thấy chủ yếu là những kết quả đánh giá khả năng sinh trưởng của rừng này Biết rằng, đánh giá kết quả và hiệu quả của rừng trồng dựa trên khả năng sống sót và sinh trưởng của cây trồng sẽ là những chỉ báo cơ bản nhất, dễ đánh giá nhất Song, để gọi rừng trồng như một “hệ sinh thái” thì phải cần có những đánh giá bổ sung, ấy là mối quan hệ sinh thái giữa cây trồng với các yếu tố khác như địa hình, loại đất, mật độ, cây kết nhóm cũng phải được quan tâm Do vậy, những chỉ báo để xác định khôi phục được rừng tại những mô hình rừng trồng ở nghiên cứu này sẽ gồm nhiều yếu tố hơn so với những đánh giá sinh trưởng thông thường ở rừng trồng Trọng tâm của đề tài luận án sẽ phải tập trung để giải quyết những vấn đề còn tồn tại này và những kết quả mong đợi chính

Trang 37

của luận án sẽ luận giải tính hiệu quả lâm sinh của kỹ thuật phục hồi rừng cây họ

Dầu (Sao đen và Dầu rái) tại Khu BTTN theo định hướng đó

Thứ ba, do hiện trường gồm rất nhiều dạng mô hình rừng trồng cây họ Dầu, cộng với các loại đất trồng, phương thức trồng, mật độ trồng cây trồng chính và thời điểm trồng cây hỗ trợ cũng khác nhau, dẫn đến tồn tại rất nhiều công thức trồng khác nhau Do đó, đề tài phải nhất quán về đơn vị điều tra cơ sở Đơn vị điều tra cơ

sở là cấp điều tra có cùng loài cây trồng, loại đất trồng, phương thức trồng và mật

độ trồng Loại đất trồng có 2 loại, phương thức trồng có trồng thuần và xen (với cây trồng chính), mật độ trồng quy về 3 loại; như vậy mỗi loài cây trồng là Sao đen hay Dầu rái có thể có đến 12 loại mô hình rừng trồng khác nhau Đề tài luận án lấy ô tiêu chuẩn (OTC) có kích thước 2.000 m2 là đơn vị điều tra tại hiện trường Việc so sánh ảnh hưởng của các yếu tố đến sinh trưởng của loài Sao, Dầu sẽ dựa vào các đơn yếu tố, nếu sự khác biệt giữa chúng là không có ý nghĩa sẽ được gộp vào theo loại hình, mô hình tùy theo mục tiêu phân tích Phương pháp so sánh số liệu cơ bản dựa vào phân tích phương sai (ANOVA) và phân tích hồi quy (Regression) Tất cả đều nhắm đến việc chọn mô hình rừng trồng tốt hơn trong số các mô hình rừng trồng đã xem xét

Cuối cùng, một nghiên cứu bài bản phải xuất phát từ những thí nghiệm có hệ thống cả về cách bố trí và các nghiệm thức Do những khó khăn về mặt hoạch định thực nghiệm mà đề tài này ít nhiều mang tính bị động Do đó, phải lấy hiện trường các mô hình rừng trồng khác nhau làm đối tượng nghiên cứu Điều đó, thay vì phải chủ động tạo ra các nghiệm thức và các bố trí thí nghiệm thì ở đây sẽ thay thế bằng cách điều tra, so sánh và lựa chọn các mô hình sao cho chúng đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu để phân tích về phương diện thống kê Vì thế, những tiêu chí để chọn các mô hình rừng trồng nào đưa vào thành đối tượng nghiên cứu sẽ phải xác định trước, tương tự như việc hoạch định các thí nghiệm với đối tượng này Tuy nhiên, không phải tất cả các mô hình rừng trồng đã có đáp ứng được hoàn toàn các tiêu chí ấy Theo đó, đây sẽ là phần hạn chế của đề tài nghiên cứu này Phần phương pháp nghiên cứu của đề tài sẽ trình bày cụ thể các tiêu chí cho việc chọn lựa mô hình trồng rừng

Trang 38

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI

KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN-VĂN HÓA ĐỒNG NAI

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý, địa hình

Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai (gọi tắt là Khu bảo tồn -KBT) nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Đồng Nai, thuộc vùng lưu vực phía Tây sông Đồng Nai Diện tích quản lý của KBT thuộc địa giới hành chính của các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm, thị trấn Vĩnh An của huyện Vĩnh Cửu; xã Thanh Sơn, La Ngà, Phú Cường, Ngọc Định, Phú Ngọc, Túc Trưng của huyện Định Quán và xã Đăk Lua của

huyện Tân Phú

Tổng diện tích tự nhiên của KBT là 97.152,1 ha, trong đó có 32.400 ha diện tích mặt nước hồ Trị An (Phân viện ĐTQHR Nam Bộ, 2011) [44]:

Phạm vi ranh giới cụ thể như sau:

- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước và huyện Tân Phú của Đồng Nai

- Phía Nam giáp sông Đồng Nai, huyện Trảng Bom và huyện Thống Nhất

- Phía Đông giáp VQG Cát Tiên, huyện Tân Phú và huyện Định Quán

- Phía Tây giáp tỉnh Bình Phước và tỉnh Bình Dương

Toàn bộ diện tích KBT nằm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nằm trong khu vực địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên Bảo Lộc – Lâm Đồng xuống vùng địa hình bán bình nguyên của Đông Nam Bộ Địa hình thuộc dạng địa hình vùng đồi, với 3 cấp

độ cao: đồi thấp - đồi trung bình và đồi cao, độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam, nghiêng từ Đông sang Tây Độ chênh cao giữa các khu vực không nhiều và có sự chuyển tiếp từ từ Độ cao lớn nhất: 368 mét, thấp nhất: 20 mét, bình quân: 100 - 120 mét Độ dốc lớn nhất: 350, độ dốc bình quân: 80 – 100 Nhìn chung, địa hình là rất lý

tưởng cho các hoạt động lâm nghiệp

Trang 39

Hình 2.1 Bản đồ hành chính Khu BTTN-VH Đồng Nai [51]

2.1.2 Khí hậu, thủy văn

2.1.1.1 Đặc điểm khí hậu

Khí hậu Đồng Nai nói chung và KBT nói riêng là khí hậu nhiệt đới gió mùa

cận xích đạo, có hai mùa, với nền nhiệt cao đều quanh năm là điều kiện đảm bảo nhiệt lƣợng cao cho cây trồng phát triển quanh năm [43]

Nhiệt độ không khí trung bình quanh năm cao với nhiệt độ bình quân

25-270C, chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất chỉ có 4,20C Nhiệt độ trung bình tối cao các tháng là 29-350C, nhiệt độ tối thấp trung bình tháng

Trang 40

trong năm từ 18-250C Tổng tích ôn tương đối cao (9.000-9.7000C) và phân bố tương đối đều theo mùa vụ, cho phép sản xuất cây trồng quanh năm Độ ẩm tương đối 80-82% Ít có gió bão và sương muối

Khu vực Vĩnh Cửu có lượng mưa tương đối cao (2.000-2.800 mm), sự phân

bố mưa theo không gian đã hình thành 3 vành đai chính: (i) vành đai phía Bắc giáp Bình Phước có lượng mưa rất cao trên 2.800 mm và có số ngày mưa 150-160 ngày; (ii) vành đai trung tâm huyện có lượng mưa 2.400 -2.800 mm và số ngày mưa trong năm là 130-150 ngày; (iii) vành đai phía Nam có lượng mưa thấp nhất nhưng vẫn có trị số 2.000- 2.400 mm

Lượng mưa lớn và phân hoá theo mùa và đã tạo ra hai mùa trái ngược nhau Mùa khô kéo dài trong 6 tháng, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa rất thấp chỉ chiếm khoảng 10-15% lượng mưa cả năm, trong khi đó lượng bốc hơi rất cao, chiếm khoảng 64-67% tổng lượng bốc hơi cả năm Mùa mưa kéo dài 6 tháng,

từ tháng 5 đến tháng 10, mưa rất tập trung và chiếm 90% tổng lượng mưa cả năm, chỉ riêng 4 tháng mưa lớn nhất, lượng mưa đã chiếm 62-63% lượng mưa cả năm Ngược lại, lượng bốc hơi và nền nhiệt thấp hơn mùa khô

2.1.2.2 Chế độ thủy văn

Chế độ thuỷ văn tại Vĩnh Cửu phân hoá theo mùa Có 2 mùa phân biệt khá rõ rệt như sau [40]:

- Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 6 năm sau, lượng nước mưa chỉ xấp

xỉ 15% lượng nước cả năm Mùa khô lượng dòng chảy nhỏ nước trên sông Đồng Nai xuống thấp, nên khả năng cung cấp nước bị hạn chế đã gây tình trạng thiếu nước cho sinh hoạt và nông nghiệp

- Mùa mưa kéo dài từ tháng 7 đến tháng 10 hàng năm, kèm theo lượng mưa lớn thường xuất hiện lũ, nước trên sông Đồng Nai lớn có năm gây hiện tượng ngập úng ở khu vực địa hình thấp thuộc hạ lưu, nhất là những năm mưa lớn hồ Trị An phải xả ở mức độ tối đa

- Dòng chảy và bồi đắp phù sa: Hàm lượng phù sa trên sông Đồng Nai rất nhỏ (độ đục bình quân 15 - 30 g/m3), chứng tỏ sự xâm thực của dòng chảy các sông

đổ vào sông Đồng Nai rất yếu, nên vấn đề lắng đọng phù sa ít

Ngày đăng: 22/01/2016, 16:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Minh Cảnh (2003). Lập biểu thể tích cây đứng cho rừng trồng Sao đen (Hopea odorata) tại vùng Đông Nam Bộ. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập biểu thể tích cây đứng cho rừng trồng Sao đen (Hopea odorata) tại vùng Đông Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Minh Cảnh
Nhà XB: Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2003
2. Mạc Văn Chăm (2004). Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng trồng Tếch ở miền Đông Nam Bộ. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng trồng Tếch ở miền Đông Nam Bộ
Tác giả: Mạc Văn Chăm
Nhà XB: Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2004
3. Nguyễn Duy Chuyên (1994). Báo cáo kết quả điều tra lâm học rừng có cây họ Dầu vùng Đông Nam Bộ. Phân viện Điều tra quy hoạch rừng II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra lâm học rừng có cây họ Dầu vùng Đông Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Duy Chuyên
Nhà XB: Phân viện Điều tra quy hoạch rừng II
Năm: 1994
4. Nguyên Duy Chuyên và Ngô An (1997). Sinh thái, lâm học rừng miền Đông Nam Bộ. Viện Điều tra qui hoạch rừng. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: thái, lâm học rừng miền Đông Nam Bộ
Tác giả: Nguyên Duy Chuyên và Ngô An
Năm: 1997
5. Trần Văn Con (2006). Phục hồi các hệ sinh thái rừng thoái hóa. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi các hệ sinh thái rừng thoái hóa
Tác giả: Trần Văn Con
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2006
6. Lục Văn Cường (2009). Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc và phân cấp sinh trưởng rừng Tếch trồng từ 16 đến 18 tuổi ở La Ngà, tỉnh Đồng Nai. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc và phân cấp sinh trưởng rừng Tếch trồng từ 16 đến 18 tuổi ở La Ngà, tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Lục Văn Cường
Nhà XB: Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2009
7. Bùi Thị Diệp (2012). Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của quần xã thực vật rừng tại Khu bảo tồn Thiên nhiên-Văn hóa Đồng Nai. Luận văn Thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp, Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của quần xã thực vật rừng tại Khu bảo tồn Thiên nhiên-Văn hóa Đồng Nai
Tác giả: Bùi Thị Diệp
Nhà XB: Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2012
8. Trần Quốc Dũng (1995). Đánh giá tăng trưởng các loài cây họ Dầu miền Đông Nam Bộ. Chương trình qui hoạch bảo vệ và phát triển rừng cây họ Dầu miền Đông Nam Bộ. Viện Điều tra-Qui hoạch rừng. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tăng trưởng các loài cây họ Dầu miền Đông Nam Bộ
Tác giả: Trần Quốc Dũng
Nhà XB: Viện Điều tra-Qui hoạch rừng
Năm: 1995
9. Vũ Xuân Đề (1987). Kết quả nghiên cứu trồng rừng cây bản địa miền Đông Nam Bộ giai đoạn 1981-1985. Phân viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ. Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu trồng rừng cây bản địa miền Đông Nam Bộ giai đoạn 1981-1985
Tác giả: Vũ Xuân Đề
Năm: 1987
10. Phạm Xuân Hoàn, Triệu Văn Hùng, Phạm Văn Điển, Nguyễn Trung Thành, Võ Đại Hải (2004). Một số vấn đề trong Lâm học nhiệt đới. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề trong Lâm học nhiệt đới
Tác giả: Phạm Xuân Hoàn, Triệu Văn Hùng, Phạm Văn Điển, Nguyễn Trung Thành, Võ Đại Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2004
11. Phạm Xuân Hoàn, Nguyễn Văn Quí, Tô Bá Thanh (2012). Phục hồi rừng cây họ Dầu tại Khu bảo tồn thiên nhiên-Văn hóa Đồng Nai. Thông tin KHLN, trường Đại học Lâm nghiệp, số 3/2012. ISSN 1859-3828. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi rừng cây họ Dầu tại Khu bảo tồn thiên nhiên-Văn hóa Đồng Nai
Tác giả: Phạm Xuân Hoàn, Nguyễn Văn Quí, Tô Bá Thanh
Nhà XB: Thông tin KHLN, trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2012
12. Phạm Xuân Hoàn (2013). Kỹ thuật lâm sinh. Giáo trình Đại học Lâm nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật lâm sinh
Tác giả: Phạm Xuân Hoàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2013
13. Trần Quốc Hoàn, Phùng Văn Khoa, Vương Văn Quỳnh (2013). Lập bản đồ phân vùng điều kiện lập địa thích hợp của cây Dầu rái tại tỉnh Bình Phước. Tạp chí KHLN, trường Đạị học Lâm nghiệp, số 1/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập bản đồ phân vùng điều kiện lập địa thích hợp của cây Dầu rái tại tỉnh Bình Phước
Tác giả: Trần Quốc Hoàn, Phùng Văn Khoa, Vương Văn Quỳnh
Nhà XB: Tạp chí KHLN
Năm: 2013
14. Trần Quốc Hoàn (2014). Nghiên cứu phân vùng lập địa phục vụ cho sản xuất Lâm nghiệp tại tỉnh Bình Phước. Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp. Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phân vùng lập địa phục vụ cho sản xuất Lâm nghiệp tại tỉnh Bình Phước
Tác giả: Trần Quốc Hoàn
Nhà XB: Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2014
15. Bùi Việt Hải (2009). Tài liệu hướng dẫn thực hành thống kê trên máy tính với các phần mềm Excel, Statgraphics và SPSS. Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn thực hành thống kê trên máy tính với các phần mềm Excel, Statgraphics và SPSS
Tác giả: Bùi Việt Hải
Nhà XB: Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
16. Bùi Việt Hải (2010). Phương pháp tiếp cận nghiên cứu khoa học. Bài giảng Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tiếp cận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Bùi Việt Hải
Nhà XB: Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
17. Nguyễn Thị Hải Hồng (2013). Nghiên cứu chọn, nhân giống và kỹ thuật trồng Dầu rái (Dipterpcarpus alatus Roxb) và Sao đen (Hopea odorata Roxb). Báo cáo TK đè tài NCKH cấp Bộ. Viện KHLN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn, nhân giống và kỹ thuật trồng Dầu rái (Dipterpcarpus alatus Roxb) và Sao đen (Hopea odorata Roxb)
Tác giả: Nguyễn Thị Hải Hồng
Nhà XB: Báo cáo TK đè tài NCKH cấp Bộ
Năm: 2013
18. Vũ Tiến Hinh (2003). Sản lượng rừng. Giáo trình Đại học Lâm nghiệp. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản lượng rừng
Tác giả: Vũ Tiến Hinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2003
19. Nguyễn Xuân Hùng (2009). Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng một số loài cây ở Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Luận văn Thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp. Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng trồng một số loài cây ở Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Nguyễn Xuân Hùng
Năm: 2009
20. Phạm Văn Hường (2010). Nghiên cứu đặc tính sinh thái của một số loài cây thuộc họ Sao Dầu trong kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới ở Đồng Nai. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc tính sinh thái của một số loài cây thuộc họ Sao Dầu trong kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá ẩm nhiệt đới ở Đồng Nai
Tác giả: Phạm Văn Hường
Nhà XB: Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Bản đồ hành chính Khu BTTN-VH Đồng Nai [51] - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Hình 2.1. Bản đồ hành chính Khu BTTN-VH Đồng Nai [51] (Trang 39)
Hình 2.2. Bản đồ hiện trạng rừng Khu BTTN-VH Đồng Nai [51] - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Hình 2.2. Bản đồ hiện trạng rừng Khu BTTN-VH Đồng Nai [51] (Trang 47)
Bảng 4.6. Tỷ lệ sống và mật độ Sao đen, Dầu rai ở các mô hình trồng với NLG - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Bảng 4.6. Tỷ lệ sống và mật độ Sao đen, Dầu rai ở các mô hình trồng với NLG (Trang 73)
Hình 4.7. Biến động mật độ của Sao đen và Dầu rái ở hai loại hình rừng trồng - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Hình 4.7. Biến động mật độ của Sao đen và Dầu rái ở hai loại hình rừng trồng (Trang 76)
Hình 4.6. Biến động mật độ của Sao đen và Dầu rái ở hai loại hình rừng trồng - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Hình 4.6. Biến động mật độ của Sao đen và Dầu rái ở hai loại hình rừng trồng (Trang 76)
Bảng 4.9. Biến động phẩm chất cây trồng trên các phương thức trồng - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Bảng 4.9. Biến động phẩm chất cây trồng trên các phương thức trồng (Trang 79)
Bảng 4.10. Biến động phẩm chất cây trồng theo các quy cách trồng - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Bảng 4.10. Biến động phẩm chất cây trồng theo các quy cách trồng (Trang 80)
Bảng 4.14b: Kết quả so sánh sinh trưởng D 0.0 , H vn  giữa hai loại đất ở NNd - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Bảng 4.14b Kết quả so sánh sinh trưởng D 0.0 , H vn giữa hai loại đất ở NNd (Trang 95)
Hình 4.18a. Sinh trưởng D 00  và H vn  của Sao đen ở các quy cách trồng - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Hình 4.18a. Sinh trưởng D 00 và H vn của Sao đen ở các quy cách trồng (Trang 101)
Bảng 4.17b: Kết quả so sánh sinh trưởng D 00 , H vn  giữa hai loại cây hỗ trợ - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Bảng 4.17b Kết quả so sánh sinh trưởng D 00 , H vn giữa hai loại cây hỗ trợ (Trang 103)
Hình 4.19a. Sinh trưởng D 00  và H vn  của Sao đen với hai loài cây hỗ trợ - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Hình 4.19a. Sinh trưởng D 00 và H vn của Sao đen với hai loài cây hỗ trợ (Trang 104)
Bảng 4.19: Các hàm sinh trưởng D, H Sao, Dầu ở hai phương thức trồng - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Bảng 4.19 Các hàm sinh trưởng D, H Sao, Dầu ở hai phương thức trồng (Trang 108)
Hình 4.23. Sinh trưởng D 1,3 và H vn  của Sao đen và Dầu rái ở rừng trồng NNd - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Hình 4.23. Sinh trưởng D 1,3 và H vn của Sao đen và Dầu rái ở rừng trồng NNd (Trang 114)
Hình 4.30. Tương quan giữa tổng sinh khối tươi và khô theo đường kính - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Hình 4.30. Tương quan giữa tổng sinh khối tươi và khô theo đường kính (Trang 126)
Hình 4.31. Sinh khối và tăng trưởng bình quân sinh khối ở các cấp tuổi - Đánh giá hiệu quả rừng trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phục hồi các loài cây họ dầu (dipterocarpaceae) tại khu bảo tồn thiên nhiên   văn hoá đồng nai
Hình 4.31. Sinh khối và tăng trưởng bình quân sinh khối ở các cấp tuổi (Trang 128)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w