BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ---BÙI PHAN QUỲNH “ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN NPK ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC TẠI VÙNG ĐẤT CÁT VEN BIỂN SA
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-BÙI PHAN QUỲNH
“ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN NPK ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC TẠI VÙNG ĐẤT CÁT VEN BIỂN SAU KHI KHAI THÁC QUẶNG TITAN
Ở XÃ THẠCH VĂN – THẠCH HÀ – HÀ TĨNH
TRONG VỤ XUÂN 2015 ”
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN, 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-BÙI PHAN QUỲNH
“ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN NPK ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC TẠI VÙNG ĐẤT CÁT VEN BIỂN SAU KHI KHAI THÁC QUẶNG TITAN Ở XÃ THẠCH VĂN – THẠCH HÀ – HÀ
TĨNH TRONG VỤ XUÂN 2015 ”
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Người hướng dẫn khoa học: TS Trương Xuân Sinh
NGHỆ AN, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi trựctiếp thực hiện trong vụ xuân năm 2015, dưới sự hướng dẫn của TS Trương XuânSinh Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực chưa từngđược sử dụng trong một luận văn nào ở trong và ngoài nước
Các kết quả nghiên cứu được tham khảo trong luận văn chúng tôi đều tríchdẫn nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Bùi Phan Quỳnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trương Xuân Sinh,người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốtthời gian thực hiện đề tài cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa sau Đại học, đặc biệt làcác thầy cô trong Khoa Nông Lâm Ngư trường Đại Học Vinh
Tôi xin chân thành cảm ơn Tổng Công ty Khoáng sản và Thương mại HàTĩnh; các bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viêntôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Một lần nữa cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả các thànhviên với sự giúp đỡ quý báu này
Tác giả luận văn
Bùi Phan Quỳnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vii
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
1.1.1 Vai trò của cây lạc 5
1.1.1.1 Đối với đời sống con người 5
1.1.1.2 Đối với nền kinh tế quốc dân 6
1.1.1.3 Đối với cải tạo đất và luân canh, xen canh cây trồng 7
1.1.2 Nhu cầu dinh dưỡng NPK của cây lạc 8
1.1.2.1 Vai trò sinh lý của ni tơ (N) và nhu cầu dinh dưỡng khoáng N ở cây lạc 8
1.1.2.2 Vai trò sinh lý của lân (P) và nhu cầu sinh lý của lân ở cây lạc 9
1.1.2.3 Vai trò sinh lý của kali (K) và nhu cầu dinh dưỡng kali ở cây lạc 9
1.1.3 Mối quan hệ giữa đất – cây trồng – phân bón 10
1.1.4 Bón phân cân đối hợp lý 11
1.1.4.1 Khái niệm bón phân cân đối, hợp lý 11
1.1.4.2 Tác dụng của bón phân cân đối hợp lý 12
1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam 12
1.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới 12
1.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam 16
1.2.3 Tình hình sản xuất lạc tại Hà Tĩnh và huyện Thạch Hà 20
1.2.3.1 Tình hình sản xuất lạc tại Hà Tĩnh 20
1.2.3.2 Tình hình sản xuất lạc tại huyện Thạch Hà 22
1.3 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và Việt Nam 23
1.3.1 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới 23
1.3.1.1 Tình hình nghiên cứu về giống lạc trên thế giới 23
1.3.1.2 Kết quả nghiên cứu phân bón cho cây lạc trên thế giới 25
1.3.2 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc ở Việt Nam 28
1.3.2.1 Tình hình nghiên cứu về giống lạc ở Việt Nam 28
1.3.2.2.Tình hình nghiên cứu về phân bón cho cây lạc ở Việt Nam 31
1.4 Diễn biến thời tiết khí hậu vùng nghiên cứu 33
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Nội dung nghiên cứu 34
2.2 Vật liệu nghiên cứu 34
2.3 Bố trí thí nghiệm 34
2.3.1 Công thức thí nghiệm 34
2.3.2 Sơ đồ thí nghiệm 35
2.3.3 Quy trình kĩ thuật 36
2.3.3.1 Làm đất, lên luống, gieo hạt 36
Trang 62.3.3.2 Bón phân 36
2.3.3.3 Trồng dặm, làm cỏ và vun xới 36
2.3.3.4 Tưới và tiêu nước 36
2.3.3.5 Phòng trừ sâu bệnh 36
2.3.3.6 Thu hoạch và bảo quản giống 37
2.4 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 37
2.4.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển của cây 37
2.4.2 Chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng 38
2.4.3 Chỉ tiêu về chống chịu sâu bệnh 38
2.4.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 38
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 38
2.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 39
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1 Ảnh hưởng của phân bón đến thời gian sinh trưởng của các giống lạc tham gia thí nghiệm 40
3.2 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống lạc 43
3.3 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái ra lá của các giống lạc 47
3.4 Ảnh hưởng của phân bón đến đặc tính ra hoa của các giống lạc 51
3.5 Ảnh hưởng của phân bón đến số cành trên cây của các giống lạc 53
3.6 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng hình thành nốt sần của các giống lạc 56
3.7 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng tích lũy chất khô của các giống lạc 60
3.8 Ảnh hưởng của phân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống lạc 64
3.8.1 Ảnh hưởng của phân bón đến mức độ nhiễm sâu hại của các giống lạc 64
3.8.2 Ảnh hưởng của phân bón đến mức độ nhiễm bệnh hại của các giống lạc 67
3.9 Ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc 69
3.10 Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống lạc 74
3.11 Hiệu quả kinh tế của các mức phân bón đối với các giống lạc 78
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 80
Kết luận 80
Đề nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7(Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới trong những năm gần đây 13
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở một số nước trên thế giới 14
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam trong những năm gần đây 17
Bảng 1.4 Diện tích của các vùng trồng lạc ở Việt Nam (1000 ha) 19
Bảng 1.5 Sản lượng của các vùng trồng lạc ở Việt Nam (1000 tấn) 20
Bảng 1.6 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của Hà Tĩnh 21
Bảng 1.7 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của huyện Thạch Hà 23
Bảng 2.1 Diễn biến thời tiết khí hậu trong thời gian tiến hành thí nghiệm 33
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của phân bón đến thời gian sinh trưởng của một số giống lạc tham gia thí nghiệm 41
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống lạc tham gia thí nghiệm (cm) 46
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái ra lá của các giống lạc tham gia thí nghiệm 50
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của phân bón đến đặc tính ra hoa của các giống lạc tham gia thí nghiệm 53
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của phân bón đến tổng số cành trên cây của các giống lạc tham gia thí nghiệm (cành/cây) 56
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của phân bón đến số lượng và khối lượng nốt sần của các giống lạc tham gia thí nghiệm 59
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng tích lũy chất khô của các giống lạc tham gia thí nghiệm (gram/cây) 62
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của phân bón đến tình hình phát triển của sâu hại trên các giống lạc (%) 66
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của phân bón đến tình hình phát triển của bệnh hại trên các giống lạc (%) 68
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của phân bón đến yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc .71
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống lạc 76
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của phân bón đến hiệu quả kinh tế của các giống lạc 79
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Ảnh hưởng của phân bón đến tốc độ ra lá của các giống lạc 49 Hình 3.2 Ảnh hưởng của phân bón đến tổng số cành trên cây của các giống lạc tham
gia thí nghiệm 55
Hình 3.3 Ảnh hưởng của phân bón đến số lượng và khối lượng nốt sần của các giống
lạc tham gia thí nghiệm 60
Hình 3.4 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng tích lũy chất khô của các giống lạc
tham gia thí nghiệm 63
Hình 3.5 Ảnh hưởng của phân bón đến số quả của các giống lạc tham gia thí nghiệm 72 Hình 3.6 Ảnh hưởng của phân bón đến P 100 quả, 100 hạt của các giống lạc tham gia
thí nghiệm 72
Hình 3.7 Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của
các giống lạc 77
Trang 111 Lý do chọn đề tài
Việt Nam xuất phát từ một nền nông nghiệp với 80% dân số sống bằngnghề nông, diện tích đất canh tác nhỏ, lẻ với 3/4 là đồi núi đã đặt ra cho nềnnông nghiệp nước ta nhiều cơ hội và thách thức lớn Nên sử dụng cây gì con gì
để có giá trị hàng hóa cao nhất, xu thế hiện nay của người nông dân là chọnnhững loại cây có tính chiến lược, hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với điều kiệncủa từng địa phương
Lạc là cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn ngày có tính chiến lược và
có giá trị sử dụng lớn Từ lâu lạc là mặt hàng xuất khẩu được thị trường thế giới
ưa chuộng, trồng lạc có tác dụng cải tạo đất, bồi dưỡng độ phì nhiêu cho đất Do
đó vừa phải mở rộng diện tích nhưng vừa phải tập trung đầu tư thâm canh làbiện pháp lâu dài của nền nông nghiệp nước ta Từ năm 2003 nhằm tăng nhanhsản lượng lạc, một số các giống lạc có tiềm năng năng suất cao như L14, L23,L20… được đưa vào cơ cấu giống lạc của nhiều vùng sản xuất lạc trên địa bàntỉnh Hà Tĩnh Các giống lạc mới đưa vào sản xuất được gieo trồng trên các loạiđất trồng lạc chính của tỉnh như đất phù sa được bồi, phù sa không được bồi, đấtcát nội đồng, cát ven biển, đất đỏ vàng Nhờ có các giống lạc mới nên năng suấtlạc trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh tăng lên rõ rệt từ 19,8 tạ/ha năm 2006 lên 22,3tạ/ha năm 2009
Mặc dù có xu hướng tăng về năng suất nhưng cho đến nay, bình quânnăng suất của các giống lạc của Hà Tĩnh vẫn ở mức thấp so với tiềm năng củagiống, chỉ đạt 20,3 tạ/ha, so với tiềm năng năng suất của giống L14 thâm canh là
50 - 60 tạ/ha Trong rất nhiều các yếu tố hạn chế năng suất lạc trên địa bàn tỉnhnhư chất lượng giống, quản lý nước tưới, phòng trừ sâu bệnh hại thì sử dụngphân bón được xem là yếu tố có vai trò rất quyết định
Bón phân cân đối cho lạc cũng như cho các loại cây trồng nông nghiệp nóichung là biện pháp mang lại hiệu quả cả về khía cạnh kinh tế và môi trường.Thông qua việc sử dụng phân bón một cách cân đối, hiệu quả riêng lẻ của các
Trang 12nguyên tố dinh dưỡng cũng như hiệu quả tương tác giữa chúng được tăng cườngmột cách đáng kể.
Việc sử dụng phân bón cân đối, hợp lý, đã góp phần to lớn vào việc tăng sốlượng, chất lượng nông sản phẩm, một tác dụng phụ có lợi nữa đó là độ phì nhiêucủa đất được cải thiện, làm mức thu hoạch được cải thiện hơn, cây trồng có mứcchịu đựng một số bệnh và thời tiết, khí hậu hơn nũa người dân đã thu được lợinhuận cao hơn
Được biết, các nghiên cứu trước đây về phân bón cho lạc trên địa bàn tỉnhmới chủ yếu được thực hiện đối với các giống lạc địa phương Các nghiên cứu vềphân bón cho các giống lạc lai trên các loại đất trồng lạc chính của tỉnh còn rấthạn chế Quy trình phân bón hiện đang được áp dụng chủ yếu được xây dựng dựavào kinh nghiệm sản xuất chứ chưa thực sự dựa trên các kết quả nghiên cứu mangtính hệ thống
Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh có trên 600 ha đất hoang mạc, chủ yếu là nhữngbãi cát trắng, ít có khả năng sinh lợi Gió và cát di động mạnh hình thành nênnhững cồn cát với chiều cao có khi lên hàng chục mét và có xu hướng lấn dầnvào diện tích đất canh tác nông nghiệp phía nội đồng, làm tăng nhanh diện tíchhoang mạc hoá Chính việc khai thác quặng titan, Zicon và nuôi trồng thuỷ sảntrên đất cát trước đây do không chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường nên đãlàm cho vùng đất này vốn đã bạc màu lại càng thêm xơ cứng
Với sự tiên phong, đi đầu tiếp cận ứng dụng công nghệ sinh học trong sảnxuất nông nghiệp trên vùng đất cát, hoang hóa, Dự án trồng rau sạch được TổngCông ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh triển khai vào tháng 9/2013 vớitổng diện tích ban đầu là 12 ha tại xã Thạch Văn, huyện Thạch Hà Dự án có sựphối hợp của Tổng Công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh (Mitraco HàTĩnh), Sở NN&PTNT Hà Tĩnh cùng với đối tác là Công ty TNHH Finepon(Hongkong) tiến hành trồng thử nghiệm mô hình rau, củ quả trên vùng đấthoang hóa ven biển Bên cạnh phát triển các loại rau màu, người dân cũng đãtiến hành trồng lạc, tuy nhiên do giống lạc cũ, thoái hóa, bón phân chưa cân đối,hợp lý nên năng suất cũng như hiệu quả kinh tế chưa cao Như vậy, để có thể
Trang 13góp phần tăng năng suất lạc trên địa bàn tỉnh, cùng với việc thử nghiệm cácgiống lạc có tiềm năng năng suất và khả năng thích nghi cao với điều kiện cụ thểcủa địa phương để đưa vào sản xuất, sử dụng phân bón cân đối và hợp lý cho lạcđược xem là một giải pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc một cách nhanhchóng và hữu hiệu.
Từ những căn cứ trên chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của
phân bón NPK đến sinh trưởng phát triển, năng suất của một số giống lạc tại vùng đất cát ven biển sau khi khai thác quặng titan ở xã Thạch Văn – Thạch
Hà – Hà Tĩnh trong vụ Xuân năm 2015” nhằm góp phần làm cơ sở cho việc
xây dựng một chế độ bón phân cân đối và hợp lý cho lạc trên đất cát ven biển,bạc màu nghèo dinh dưỡng của tỉnh để từng bước nâng cao năng suất lạc và tăngthu nhập cho các hộ nông dân, góp phần duy trì và cải thiện
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng thể
Xác định được lượng phân bón NPK phù hợp bón cho lạc trên vùng đấtcát ven biển sau khi khai thác quặng titan, làm cơ sở cho việc xây dựng quy trìnhphân bón cho các giống lạc L14, L20, L26 trong điều kiện cụ thể về đất đai vàtrình độ sản xuất của người dân xã Thạch Văn – Thạch Hà – Hà Tĩnh
Mục tiêu cụ thể
- Xác định được ảnh hưởng của liều lượng phân NPK đến một số chỉ tiêusinh trưởng, phát triển và năng suất của các giống lạc L14, L20, L26 tại vùng đấtcát ven biển sau khi khai thác quặng titan trong vụ Xuân năm 2015 ở xã ThạchVăn – Thạch Hà – Hà Tĩnh
- Xác định được công thức bón phù hợp nhất cho từng giống trên địa bànnghiên cứu
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế của các công thức phân bón được ápdụng
- Xác định được giống lạc phù hợp trồng trên vùng đất nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Trang 14- Góp phần làm rõ ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến sinh trưởng,phát triển, khả năng cho năng suất và chất lượng của một số giống lạc trên đấtcát ven biển.
- Khẳng định tác dụng của phân bón NPK hợp lý trong việc nâng caonăng suất và phẩm chất nông sản
Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần hoàn thiện chế độ bón phân hợp lý cho lạc trên đất cát venbiển, sau khi khai thác quặng titan, vụ Xuân năm 2015 tại xã Thạch Văn –Thạch Hà – Hà Tĩnh
- Làm cơ sở để xây dựng một chế độ bón phân hợp lý cho cây lạc ở cácđịa phương có điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tương đồng trong các nămtiếp theo
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Vai trò của cây lạc
1.1.1.1 Đối với đời sống con người
Cây lạc (còn gọi là cây đậu phộng) có nguồn gốc xuất xứ từ Nam Mỹ Làcây trồng cổ truyền, được trồng ở hơn 100 nước trên thế giới, với diện tíchkhoảng 23 triệu ha, vùng phân bố từ 56 vĩ độ Bắc đến 56 vĩ độ Nam Lạc là câycông nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm chủ yếu của nhiều nước Hiếm tìm ra câytrồng nào có tác dụng nhiều mặt như cây đậu tương và cây lạc
Toàn bộ cây lạc có giá trị sử dụng Lạc trước hết được dùng làm thựcphẩm cho con người Sản phẩm chính là hạt lạc, nó chứa nhiều dinh dưỡng Khiphân tích hạt lạc cho thấy, hầu như có đầy đủ các chất đại diện cho tất cả cácnhóm chất hóa học hữu cơ và rất nhiều chất vô cơ Các chất này có thể chia thànhcác nhóm sau: lipit, protein, gluxit, photphatit, các glucozit, hydrocacbua, cácaxitamin, các andehyt, xeton, chất sáp, các chất vô cơ, chất có màu [9]
Trong đó hàm lượng lipit chiếm tỷ lệ lớn nhất, trung bình từ 45 - 51%[22] Dầu lạc là một loại lipit dễ tiêu, bao gồm 80% axit béo không no và 20%axit béo no làm dầu ăn rất tốt nếu được lọc cẩn thận [11] Hàm lượng proteintrong hạt lạc khá cao, thường đạt từ 20 - 37,5% [22] Trong protein lạc có chứatới 13 loại axit amin quan trọng, cần thiết cho hoạt động sống của con người vàđộng vật Trong đó có đủ 8 axit amin không thay thế [14] Ngoài ra, lạc là loạithức ăn giàu vitamin nhóm B (trừ B12), A, E và K Với hàm lượng lipit, protein,vitamin trong hạt lạc khá cao, hạt lạc là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, lànguồn bổ sung quan trọng chất đạm, chất béo, vitamin cho con người Các nhàdinh dưỡng cho rằng, lạc là một trong những thức ăn lý tưởng vì nó có tác dụng bồi
bổ sức khỏe, có ích cho tuổi thọ và phòng chống lão hóa
Trang 16Các phụ phẩm từ lạc là nguồn nguyên liệu để chế biến thức ăn chăn nuôinhư khô dầu, thân lá, vỏ lụa được dùng làm thức ăn cho gia súc và gia cầm.Trong khô dầu lạc chứa 50,8% protein, 7,0% lipit, 24,3% gluxit, 4,4% xenlulo.Thân lá lạc chứa 11,75% protein, 1,84% lipit, 46,95% gluxit [3] Do đó, khô dầu,thân lá lạc dùng làm thức ăn tốt cho gia súc Cám vỏ lạc chứa 4,2% protein tổngsố; 2,9% protein dễ tiêu; 2,6% lipit tổng số; 1,8% lipit dễ tiêu; 18,5% gluxit tổng
số và 7,2% gluxit dễ tiêu, dùng làm chất đốt, ván ép và thức ăn rất tốt [12]
Trên thế giới, lạc được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, trong đólàm dầu ăn chiếm 80%; chế biến thành các sản phẩm như bánh, mứt, kẹo, bơ…chiếm 12%; dùng trong chăn nuôi chiếm 6% và 1% xuất khẩu
1.1.1.2 Đối với nền kinh tế quốc dân
Yêu cầu nhập khẩu về lạc và các sản phẩm từ lạc chủ yếu ở các nướcChâu Âu, người ta thích dùng dầu lạc và dầu thực vật nói chung để thay cho mỡđộng vật Dầu lạc cũng là sản phẩm chính trong hơn 600 sản phẩm được chế biến
từ lạc và cây lạc [11] Trên thị trường thương mại thế giới, lạc là mặt hàng nôngsản xuất khẩu đem lại kim ngạch cao của nhiều nước Theo số liệu của FAO,hiện nay trên thế giới có 100 nước trồng lạc Ở Xenegan, giá trị từ lạc chiếm 1/2thu nhập, chiếm 80% giá trị xuất khẩu [22] Ở Nigieria, lạc và các sản phẩm chếbiến từ lạc thường chiếm trên 60% giá trị xuất khẩu, tuy nước này mới chỉ đembán 15% sản lượng hàng năm [11]
Ở Việt Nam, những năm trước đây, khối lượng lạc xuất khẩu chỉ đứng saulúa gạo, cà phê và cao su Vào những năm gần đây, khối lượng lạc xuất khẩuđứng sau cả tiêu, điều và chè Những năm cuối thế kỷ XX, lạc là một trong sốcác mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của nước ta, với khối lượng xuất khẩulớn và có giá trị cao, đạt kim ngạch xuất khẩu hàng năm là 100 triệu USD Phầnlớn lạc sản xuất hàng năm ở nước ta được dành cho xuất khẩu, có năm đã xuấtkhẩu đến 70% sản lượng Bình quân hàng năm nước ta xuất khẩu khoảng 70 - 80nghìn tấn lạc nhân qua các nước như Pháp, Italia, Đức … đã đem lại nguồn thu
Trang 17ngoại tệ rất lớn Việt Nam đứng vào hàng thứ 5 trong 10 nước xuất khẩu lạc lớnnhất thế giới
Giá bán lạc nhân hàng năm không ổn định, tùy thuộc vào khả năng xuất khẩucủa các nước chính như Xenegan, Nigieria và phụ thuộc vào khả năng được mùacủa các nước này Ngoài ra, giá lạc không những phụ thuộc vào mức tiêu thụ của thịtrường mà còn phụ thuộc vào chất lượng, màu sắc và kích thước của hạt lạc Giá lạccủa Việt Nam bằng 85% giá lạc Trung Quốc và bằng 80% giá lạc của Ấn Độ [22]
Xuất khẩu lạc đóng góp khoảng 15% trong nguồn hàng nông sản xuất khẩucủa nước ta Tuy nhiên, chất lượng xuất khẩu lạc của Việt Nam vẫn chưa thật sự đápứng thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu của một số nước Vì vậy, đến năm 1999, một sốnước nhập khẩu lạc nước ta đã chuyển sang mua lạc của Trung Quốc Tình hìnhxuất khẩu lạc của nước ta trong những năm gần đây giảm Năm 2002, nước đã xuấtkhẩu được trên 100.000 tấn Nhưng đến năm 2006, lượng lạc nhân xuất khẩu đã
giảm tới 7 lần so với lượng lạc nhân xuất khẩu của năm 2002
1.1.1.3 Đối với cải tạo đất và luân canh, xen canh cây trồng
Lạc là một trong các cây bộ đậu có khả năng cố định nitơ sinh học, mộtquá trình chuyển hóa nitơ phân tử trong không khí thành đạm cung cấp cho cây
và đất trồng thông qua hoạt động sống của các vi sinh vật Vì vậy, lạc là câytrồng có tác dụng cải tạo, bồi dưỡng đất, có vị trí quan trọng trong chế độ luâncanh với nhiều loại cây trồng khác, cũng như việc chống xói mòn, phủ xanh đấttrống, đồi núi trọc
Trong các hệ thống cố định nitơ sinh học, cố định nitơ cộng sinh giữa vi
khuẩn nốt sần (Rhizobium) và cây bộ đậu là quan trọng nhất, ước tính đạt trên 80
triệu tấn mỗi năm, tương đương với lượng phân đạm vô cơ được sản xuất trêntoàn thế giới năm 1990 Trong hệ thống cố định đạm sinh học này, mỗi nốt sần làmột nhà máy phân đạm mini, trong đó cây chủ vừa là chỗ trú ngụ đồng thời lànguồn cung cấp năng lượng cho quá trình cố định đạm của vi khuẩn và nhận lạilượng đạm từ quá trình cố định nitơ để cung cấp cho các quá trình tổng hợp đạmtrong thân, lá, hoa quả
Trang 18Cây lạc có khả năng cố định được 72 - 124 kg N/ha/năm Một số nghiên cứucho thấy, lượng đạm cố định của cây lạc có thể đạt từ 70 - 110 kg N/ha/vụ [10] Nếulượng đạm cần thiết cho việc canh tác 1 ha lúa khoảng 180 - 240 kg N/năm thì hệthống cố định nitơ cộng sinh ở một số cây bộ đậu hoàn toàn có thể đáp ứng đủ [11].Đất sau khi trồng lạc, lượng đạm và hệ vi sinh vật háo khí trong đất tăng lên, có lợicho cây trồng sau trong hệ thống luân canh, xen canh và cải tạo đất.
Với những ưu điểm trong cải tạo đất, cây lạc được bố trí trong nhiều hệthống luân canh, nhất là luân canh với cây hòa thảo, đặc biệt với lúa nước Kếtquả nghiên cứu cho thấy, sau một năm luân canh lạc - lúa đã cải thiện rõ rệt chế
độ dinh dưỡng đất, tăng pH đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất, đạm tổng
số và tăng hàm lượng lân dễ tiêu trong đất, nếu luân canh triệt để còn làm giảm
cỏ dại và tăng năng suất cây trồng vụ sau [11]
Ngoài ra, lạc có thể trồng xen canh với nhiều cây trồng khác để tăng thêmkhối lượng nông sản trên một đơn vị diện tích, đồng thời che phủ, bồi dưỡng vàcải tạo môi trường đất Lạc có thể xen canh với ngô, đậu đỗ, mía, dâu tằm, sắn,lúa cạn, cây ăn quả (cam, quýt), dừa, cao su, cà phê, chè, điều…[22] Trongnghiên cứu và thực tế sản xuất, việc trồng xen lạc đã cải thiện rất rõ về độ ẩm đất.Trên đất đồi trồng chè thời kỳ kiến thiết cơ bản có xen lạc (Phú Hộ) làm tăng ẩm
độ đất 2%, năng suất lạc đạt 500 - 600 kg/ha (Nguyễn Thị Dần, 1991) [22] Năm
2010, Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã công nhận
“Quy trình canh tác sắn bền vững cho các tỉnh phía Bắc” là tiến bộ kỹ thuật.Trong đó, trồng xen lạc (các cây họ đậu nói chung) với sắn là một biện pháp kỹthuật canh tác sắn bền vững Biện pháp này làm tăng hiệu quả kinh tế, chống xóimòn, duy trì và cải thiện độ phì của đất
1.1.2 Nhu cầu dinh dưỡng NPK của cây lạc
1.1.2.1 Vai trò sinh lý của ni tơ (N) và nhu cầu dinh dưỡng khoáng N ở cây lạc
Mỗi nguyên tố có vai trò quan trọng đối với hoạt động sinh lý của cây lạc:
N cấu thành protein và các hợp chất có N khác trong các bộ phận non của cây, N
Trang 19có mặt trong các enzim quan trọng trong các hoạt động sống của cây [1] Đạm làthành phần không thể thiếu được ở protein dự trử trong hạt Ở thời kỳ sinh trưởngdinh dưỡng, N tập trung ở các bộ phận non của cây, các mô phân sinh đang hoạtđộng, ở các bộ phận sống của tế bào Khi hạt chín N trong cây tập trung ở hạt.
Vì vậy, thiếu đạm cây sinh trưởng kém, còi cọc, lá vàng, tích lũy chất khôgiảm, nhất là thời kỳ thiếu N ở thời kỳ sinh trưởng cuối Lượng N lạc hấp thu rấtlớn, để đạt được 1 tấn lạc khô quả cần sử dụng 50 – 75 kg đạm Thời kỳ lạc hấpthu nhiều đạm nhất là thời kỳ ra hoa – làm quả và hạt Thời kỳ này chiếm 25%thời gian sinh trưởng của lạc, nhưng hấp thu tới 40 – 45% nhu cầu đạm của cảchu kỳ sinh trưởng
Có hai nguồn cung cấp đạm cho cây lạc là do bộ rễ hấp thu từ đất và đạm
cố định ở nốt sần do hoạt động của vi khuẩn cộng sinh cố định đạm
Nguồn đạm cố định cố định có thể đáp ứng được 50 – 70% nhu cầu đạmcủa cây Ngoài ra lá cũng có khả năng hấp thu được N
1.1.2.2 Vai trò sinh lý của lân (P) và nhu cầu sinh lý của lân ở cây lạc
Lân đóng vai trò quan trọng đối với sự cố định N và sự tổng hợp lipittrong thời kỳ chín Ngoài ra bón lân còn kéo dài thời kỳ ra hoa, tăng tỷ lệ haohữu hiệu Đối với quá trình cố định đạm, lân trong thành phần của mối liên kếtcao năng ATP, chuyển năng lượng cho hoạt động cố định ở hạt khi chín, lân nằmtrong các enzim xúc tiến tổng hợp lipit Người ta thấy rằng trong thời kỳ này,50% lượng lân của cây tập trung ở hạt Bón đủ lân hàm lượng dầu trong cây tănglên đáng kể
1.1.2.3 Vai trò sinh lý của kali (K) và nhu cầu dinh dưỡng kali ở cây lạc
Kali trong cây dưới dạng muối vô cơ hòa tan và muối của axit hữu cơtrong tế bào Kali không trực tiếp đóng vai trò là thành phần cấu tạo của cây,nhưng tham gia vào hoạt động của các enzim, nó đóng vai trò chất điều chỉnhxúc tác Chính vì vậy kali tham gia chủ yếu vào các hoạt động chuyển hóa ở cây.Vai trò quan trọng nhất của kali là xúc tiến quang hợp và sự phát triển của quả,ngoài ra kali còn tăng cường mô cơ giới, tăng tính chống đổ của cây
Trang 20Trong cây kali tập trung chủ yếu ở bộ phận non, lá non và lá đang hoạtđộng quang hợp mạnh Cây hấp thụ kali tương đối sớm tới 60% nhu cầu kali củacây được hấp thụ trong thời kỳ ra hoa – làm quả Thời kỳ chín nhu cầu của kalihầu như không đáng kể (5 – 7% nhu cầu kali)
Thiếu kali, thân cây chuyển thành màu đỏ sẩm và lá chuyển thành màuxanh nhạt Tác hại lớn nhất của thiếu kali là cây bị lùn, khả năng quang hợp vàhấp thu N giảm, tỷ lệ quả 1 hạt tăng, khối lượng hạt lạc giảm và năng suất lạcgiảm đi rõ rệt Lạc có thể hút kali rất lớn, trong môi trường giàu kali, nó có khảnăng hấp thu kali quá mức cần thiết
1.1.3 Mối quan hệ giữa đất – cây trồng – phân bón
Đất là môi trường sống của cây (chứa nhiều vi sinh vật lớn nhỏ khác nhau)luôn luôn biến động, thay đổi Đất được hình thành với vai trò chủ yếu thuộc vềthế giới sinh vật mà trước tiên là thực vật cây xanh và thế giới vi sinh vật Sựsống của bề mặt lục địa ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất lớp đất mặt Lớp đấtmặt này là nguồn cung cấp thức ăn cho thực vật và qua thực vật cho động vật vàcon người [5]
Phân bón: Là nguồn cung cấp thức ăn chất khoáng thiết yếu cho cây trồng,thiếu chất khoáng cây không thể sinh trưởng và cho năng suất, phẩm chất cao.Phân bón có vai trò quan trọng trong việc thâm canh tăng năng suất, bảo vệ câytrồng và tăng năng suất, bảo vệ cây trồng và nâng cao độ phì nhiêu cho đất [3]
Phân bón cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, có tác dụng cải tạo đất,trong thành phần có chứa một hoặc nhiều yếu tố dinh dưỡng vô cơ, đa lượng,trung lượng, vi lượng, đất hiếm, axit amin, vitamin, axit humic, vi sinh vật có ích,
có một hoặc nhiều chất giữ ẩm, chất hỗ trợ tăng hiệu suất sử dụng phân bón, chấtđiều hòa sinh trưởng thực vật, chất phụ gia
Cây trồng: Hút thức ăn qua các con đường nhờ bộ rễ và bộ lá của cây.Không phải hoàn toàn các bộ phận rễ của cây đều hút dinh dưỡng mà là nhờmiền lông hút rất nhỏ trên rectơ Từ một rễ cái, bộ rễ được phân nhánh rất nhiềucấp nhờ vậy tổng cộng diện tích hút dinh dưỡng từ đất của cây rất lớn Rễ hútnước trong đất và một số nguyên tố hòa tan trong dung dịch đất như: đạm, lân,
Trang 21kali, magê, can xi và các nguyên tố vi lượng khác, bộ rễ là cơ quan chính lấythức ăn cho cây.
Bộ lá và các bộ phận khác trên mặt đất kể cả vỏ cây cũng có khả năng hấpthu trực tiếp các chất dinh dưỡng [5] Ở lá có rất nhiều lỗ nhỏ khí khổng Khíkhổng là nơi hấp thu các chất dinh dưỡng phun qua lá Trên cây một lá mầm khíkhổng thường phân bố cả 2 mặt, thậm chí mặt trên lá nhiều hơn mặt dưới lá ví dụnhư: lúa, lúa mì , trên cây ăn trái khí khổng thường tập trung nhiều ở mặt dưới lá
1.1.4 Bón phân cân đối hợp lý
1.1.4.1 Khái niệm bón phân cân đối, hợp lý
* Bón phân cân đối: Là việc cung cấp đầy đủ các nguyên tố với số lượng
và tỷ lệ thích hợp giữa các loại phân bón cho từng giống cây trồng, từng vùngsinh thái nhất định để có năng suất cao nhất [5]
Bón phân cân đối đảm bảo các yếu tố dinh dưỡng cân đối: Cân đối giữacác nguyên tố đa lượng, vi lượng, trung lượng, cân đối giữa hàm lượng vô cơ,hữu cơ, cân đối cho từng loại cây trồng
Cây trồng có yêu cầu đối với các chất dinh dưỡng ở những lượng nhấtđịnh với những tỷ lệ nhất định giữa các chất Thiếu một chất dinh dưỡng nào đó,cây sinh trưởng, phát triển kém, ngay cả những khi có các chất dinh dưỡng khác
Trang 22* Bón phân hợp lý: Là sử dụng lượng phân bón thích hợp cho cây trồngđảm bảo tăng năng suất cây trồng với hiệu quả kinh tế cao nhất, không để lại hiệuquả tiêu cực lên nông sản và môi trường sinh thái.
Bón phân hợp lý là thực hiện bón phân cân đối và đảm bảo bốn đúng:đúng liều lượng, đúng loại phân, đúng tỷ lệ, đúng thời kỳ [5]
1.1.4.2 Tác dụng của bón phân cân đối hợp lý
Có nhiều quan điểm khác nhau về phân bón và cách bón phân cho câytrồng Bên cạnh những quan niệm cho rằng phân bón có ảnh hưởng tích cực đếncây trồng, thì cũng không ít ý kiến cho rằng phân bón là hóa chất ảnh hưởng xấuđến cây trồng và môi trường sinh thái [3]
Tuy nhiên, ý kiến này chỉ đúng khi sử dụng loại phân (khoáng chất ngoàinhu cầu của cây) hoặc liều lượng quá cao làm chất đất “mặn” hoặc thiếu cân đốigiữa các loại phân được sử dụng Nếu chúng ta biết sử dụng phân bón một cáchcân đối và hợp lý thì không những không hủy hoại môi trường mà còn tăng năngsuất và chất lượng nông sản phẩm
Thực tế cho thấy bón phân cân đối và hợp lý đều có tác dụng:
- Ổn định độ phì nhiêu của đất do không làm cây trồng khai thác triệt đểcác chất dinh dưỡng trong đất mà con người không cung cấp đủ cho nó
- Tăng năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả sản xuất: Khi bón phân cânđối và hợp lý cây trồng có thể phát huy hết tiềm năng năng suất sẵn có
- Tăng chất lượng nông sản phẩm: Tăng hàm lượng protein trong hạt ngũcốc, vitamin trong rau quả, đường trong mía, giảm tích lũy nitrat trong rau, làmhình dáng nông sản phẩm hấp dẫn hơn
- Bảo vệ nguồn nước, đất, hạn chế khí thải, chất thải độc hại làm ảnhhưởng đến môi trường
1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Cây lạc có nguồn gốc Nam Mỹ nhưng hiện nay được phân bố rộng từ 400
vĩ độ Bắc đến 400 vĩ độ Nam Ngày nay, lạc được trồng ở hơn 100 nước trên thế
Trang 23giới Lạc đứng hàng thứ 2 trong số các cây lấy dầu thực vật (về diện tích và sảnlượng) sau đậu tương
Khoảng 90% diện tích trồng lạc tập trung ở lục địa Á Phi, ở Châu Á(60%) và Châu Phi (30%) Châu Á bao giờ cũng đứng đầu thế giới về sản lượnglạc (chiếm trên 70% sản lượng lạc của thế giới trong thời gian trước đại chiến thếgiới thứ hai)
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới trong những năm gần đây
Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)
Nguồn: FAOSTAT, tháng 5 năm 2014
Theo thống kê của FAO, từ năm 2000 đến nay diện tích, năng suất và sảnlượng của thế giới có sự biến động Diện tích lạc có xu hướng giảm nhẹ, năm
2000 diện tích trồng lạc là 23,26 triệu ha, sau đó tăng lên và đạt cao nhất vào năm
2005 (23,96 triệu ha), nhưng đến năm 2010 diện tích trồng lạc giảm xuống còn21,44 triệu ha Ngược lại với diện tích năng suất lạc ngày càng tăng nhờ áp dụngnhững tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Năm 2000 năng suất lạc đạt 14,16 tạ/ha,tăng so với năng suất năm 1980 (11 tạ/ha) là 30,9 % năm 1990 (11,5 tạ/ha) là25,5% Đến năm 2013 năng suất lạc thế giới đạt 17,78 tạ/ha cao nhất trong vòng
14 năm qua Cùng với sự tăng năng suất, sản lượng lạc cũng không ngừng tănglên đạt cao nhất là 45,23 triệu tấn (2013) Sự phân bố diện tích sản xuất lạc ở các
Trang 24khu vực trên thế giới không đều tập trung ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Trongkhoảng 400 Bắc đến 400 Nam (Vũ Công Hậu và cộng sự, 1995) [1].
Về phân bố, có thể chia ra làm 5 vùng sản xuất lạc lớn trên thế giới làChâu Á, Châu Phi, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Đại Dương Châu Á sản suất đến3/4 sản lượng lạc toàn thế giới, trong đó Trung Quốc sản xuất hơn một nửa [2]
Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở một số nước trên thế giới
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích(triệu ha)
Năng suất(tạ/ha)
Sản lượng(triệu tấn)
Thế giới 22,23 23,39 24,59 15,50 14,90 22,25 34,47 34,86 38,20Trung Quốc 4,72 4,40 4,53 33,60 33,57 34,60 14,34 14,76 15,64
Nguồn: FAOSTAT tháng 5 năm 2012
Hiện nay sản lượng lạc hàng năm chủ yếu tập trung ở một số nước như:Trung Quốc, Ấn Độ, Nigeria…Trong số này Ấn Độ là nước có diện tích trồng lạclớn nhất thế giới, nhưng do lạc được trồng chủ yếu ở những vùng khô hạn và bánkhô hạn nên năng suất lạc rất thấp và thấp hơn năng suất trung bình của thế giới.Năm 1995 năng suất diện tích trồng lạc của Ấn Độ là 7,8 triệu ha chiếm 37%diện tích trồng lạc trên thế giới và sản lượng là 7,3 triệu tấn [9] Đến năm 2010
Ấn Độ đứng thứ 2 trên thế giới về sản lượng lạc, chiếm 16,84% tổng sản lượngtrên toàn thế giới
Trung Quốc là nước đứng thứ 2 về diện tích trồng lạc, song là nước dẫn đầu
về diện tích trồng lạc của thế giới, theo thống kê của FAO, năm 2010 diện tích trồnglạc của nước này là 4,53 triệu ha, hiếm 21,44% tổng diện tích trồng lạc trên toàn thếgiới, năng suất đạt 34,6 triệu tấn bằng 2,07 lần năng suất lạc bình quân trên thế giới
và sản lượng đạt 15,64 triệu tấn chiếm 43,58% sản lượng lạc trên toàn thế giới Có
Trang 25những thành tựu này là do Trung Quốc đã đặc biệt quan tâm đến công tác nghiêncứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật trong nhiều năm qua [9].
Khu vực Đông Nam Á, diện tích trồng lạc không nhiều, sản lượng chỉchiếm 12,95% sản lượng lạc của Châu Á
Năng suất lạc của Đông Nam Á nhìn chung chưa cao, năng suất bình quânđạt 11,7 tạ/ha Malaysia là nước có diện tích trồng lạc không nhiều nhưng lại lànước có năng suất lạc cao nhất trong khu vực, trung bình đạt 23,3 tạ/ha Về xuấtkhẩu chỉ có 3 nước Thái Lan, Việt Nam và Indonesia, trong đó Việt Nam là nước
có khối lượng xuất khẩu lạc lớn nhất với 33,8 ngàn tấn (chiếm 45,13% khốilượng lạc xuất khẩu trong khu vực)
Nhu cầu về lạc và các sản phẩm về lạc trên thế giới liên tục tăng mạnh,trong khi đó lượng lạc trao đổi thương mại chưa đáp ứng với nhu cầu tăng cao;lượng lạc xuất khẩu năm 2003 – 2004 chỉ đạt 5,4% tổng sản lượng
Trung Quốc, Mỹ, Achentina, Ấn Độ, Việt Nam là những nước xuất khẩulạc nhiều trên thế giới Ngược lại, Hà Lan, Canada, Đức, Nhật… là những nướcnhập khẩu lạc nhiều trên thế giới
Từ năm 1991-2000, Trung Quốc là nước xuất khẩu lạc nhiều nhất, hàngnăm trung bình xuất khẩu gần 78 nghìn tấn, chiếm trên 26,5% tổng sản lượng lạcxuất khẩu của thế giới Đứng thứ 2 là Mỹ, trung bình hàng năm xuất khẩu 67,3nghìn tấn, chiếm 22,9% tổng lượng xuất khẩu lạc thế giới Achentina là nước đứngthứ 3 về xuất khẩu lạc, trung bình hàng năm xuất khẩu 36,2 nghìn tấn, chiếm12,3% lượng lạc xuất khẩu thế giới (USDA – Agricultural statics, 2000 – 2006)
Hà Lan là nước nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới từ năm 1991 – 2000, trungbình hàng năm nhập khẩu 39,8 nghìn tấn, chiếm 13,9% tổng sản lượng lạc nhậpkhẩu của thế giới Đứng thứ 2 là Indonesia, bình quân hàng năm nhập khẩu 34,3nghìn tấn Từ năm 2001-2005, châu Âu là thị trường nhập khẩu lạc lớn nhất thếgiới, chiếm 60% tổng lượng nhập khẩu lạc của thế giới với khoảng 460 nghìn tấnmỗi năm, tiếp theo là thị trường Nhật Bản, nhập khẩu 130 nghìn tấn lạc mỗi năm(USDA-Agricultural statics, 2000-2006)
Trang 26Tổng xuất khẩu lạc trên thế giới năm 2010 – 2011 đạt 2,35 triệu tấn tăngnhẹ so với 2009 – 2010 (2,20 triệu tấn) Tổng sản lượng lạc trên thế giới đem épdầu đạt 15,54 triệu tấn trong năm 2010 – 2011 cao hơn 14,36 triệu tấn so với năm
2009 – 2010 Tổng dự trử lạc cuối niên vụ 2010 – 2011 là 1,19 triệu tấn, giảmnhẹ so với 1,24 triệu tấn cuối niên vụ 2009 – 2010
Xét về mặt kinh tế lạc đã góp phần không nhỏ vào việc cải thiện và nângcao chất lượng cuộc sống của người nông dân Chính vì vậy việc nghiên cứu vàphát triển cây lạc trong hệ thống luân canh cây trồng là rất cần thiết, nhằm từngbước đa dạng hóa sản phẩm, sử dụng hợp lý hơn những điều kiện, tự nhiên, kinh
tế - xã hội, góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững
1.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cây lạc được trồng rất lâu đời, là cây trồng đem lại hiệu quảkinh tế có giá trị đa dạng và phong phú, vì vậy cây lạc đang được trồng trên tất cảcác vùng sinh thái của nước ta Cây lạc chiếm khoảng 40% diện tích cây côngnghiệp ngắn ngày [3] Những năm trước đây Việt Nam còn thiếu về lương thực
vì thế cây lạc chưa được quan tâm chú trọng đúng, năng suất, sản lượng lạc thấp.Những năm gần đây do có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng và sản xuất hàng hóa
đã góp phần thúc đẩy tăng về diện tích, năng suất và sản lượng lạc Lạc là câythực phẩm ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cao được dùng làm thực phẩm chocon người, là thức ăn chăn nuôi, đồng thời là cây cải tạo đất, là mặt hàng nôngsản xuất khẩu đem lại lợi nhuận cao Vì vậy, cây lạc là một trong 10 chương trình
ưu tiên phát triển của nước ta
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,trong 10 năm trở lại đây (2000 – 2012), sản xuất lạc của nước ta có nhiều biếnđộng Từ năm 2000 – 2005 có sự biến động lớn nhất về cả diện tích, năng suất vàsản lượng Năm 2005 diện tích lạc đạt 269,9 nghìn ha, năng suất đạt 18,1 tạ/ha vàsản lượng 489,3 nghìn tấn Cùng vào thời điểm này, Việt Nam đứng thứ 12 thếgiới về diện tích và đứng thứ 9 về sản lượng Những năm sau đó diện tích lạc có
xu hướng giảm dần, nhưng năng suất và sản lượng lạc có những chuyển biến tíchcực Có được điều này là do việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu chọn tạo giống
Trang 27cũng như áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Năm 2012,năng suất trung bình của cả nước đạt 21,3 tạ/ha, sản lượng đạt 470,6 nghìn tấnvới diện tích trồng là 220,5 nghìn ha.
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam trong những năm gần đây
(1000 ha)
Năng suất(tạ/ha)
Sản lượng(1000 tấn)
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam 2013)
Trong giai đoạn từ 2003 – 2008, sản xuất lạc ở Việt Nam có nhữngchuyển biến tích cực về năng suất và sản lượng Tuy diện tích có những năm cóchiều hướng giảm nhưng năng suất và sản lượng có chiều hướng tăng lên rõ rệt.Năm 2008, diện tích trồng lạc (256 nghìn ha) có giảm nhưng năng suất (20,9tạ/ha) và sản lượng (533,8 nghìn tấn) không ngừng được tăng lên Mặc dù năngsuất và sản lượng của nước ta có tăng nhưng so với các nước đứng đầu vẫn cònthấp
Về phân bố ở nước ta, cây lạc được trồng từ Bắc tới Nam, từ đồng bằngTrung Du Bắc Bộ, Trung Bộ cho đến miền Đông Nam Bộ Tuy nhiên diện tích,
Trang 28năng suất và sản lượng lạc của các vùng sinh thái vẫn có sự chênh lệch nhauđáng kể Sản xuất lạc ở Việt Nam chia thành 6 vùng chính gồm [5]
- Vùng đồng bằng sông Hồng: Lạc được trồng tập trung ở các tỉnh nhưNam Định, Ninh Bình, Hà Nội với tổng diện tích 20,2 nghìn ha chiếm 2,56 %,sản lượng 72,8 nghìn tấn chiếm 13,86 % sản lượng lạc cả nước Vài năm trở lạiđây diện tích trồng lạc của vùng có xu hướng giảm nhẹ Năm 2007 diện tích đạt34,7 nghìn ha, đến năm 2010 diện tích lạc giảm xuống còn 20,2 nghìn ha Ngượclại với diện tích thì năng suất lạc năm sau lại cao hơn năm trước Năm 2010 năngsuất đạt 24,1 tạ/ha Tuy nhiên do diện tích giảm nên sản lượng của vùng giảmxuống còn 72,8 nghìn tấn, giảm 5,2 nghìn tấn so với năm 2007 và 9,6 nghìn tấn
so với năm 2008
- Vùng trung du và miền núi phía Bắc: Lạc được trồng chủ yếu ở BắcGiang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Hòa Bình, Tuyên Quang…Với diện tích 50,2nghìn ha, chiếm 20,22 % và sản lượng 90,5 nghìn tấn chiếm 16,43 % sản lượnglạc cả nước Đây là vùng có diện tích cũng như sản lượng đứng thứ 2 cả nước
- Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung: Là vùng trồng lạc trọngđiểm của cả nước, bởi vùng này có diện tích cũng như sản lượng lạc lớn nhất cảnước, lạc được trồng chủ yếu ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam,Bình Định với tổng diện tích 102,3 nghìn ha, chiếm 43,42 % và sản lượng đạt202,0 nghìn tấn, chiếm 40,07 % sản lượng lạc cả nước, trong đó Nghệ An có diệntích cao nhất (23,8 nghìn ha)
Bảng 1.4 Diện tích của các vùng trồng lạc ở Việt Nam (1000 ha)
Trang 29ĐB sông Cửu Long 12,9 13,9 12,0 13,6 13,9 12,5 11,3
Nguồn: Bộ NN và PTNT, 2015
- Vùng Tây Nguyên: trồng lạc chủ yếu ở Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông vớitổng diện tích toàn vùng là 16,7 nghìn tấn chiếm 7,1%, là vùng có sản lượng lạcthấp nhất cả nước (29,3 nghìn tấn) chiếm 5,79%
- Vùng Đông Nam Bộ: lạc được trồng chủ yếu ở các tỉnh Bình Dương,Bình Thuận và Tây Ninh với tổng diện tích đạt 20,5 nghìn ha, chiếm 11,68%.Đây là vùng có diện tích đứng thứ 4 về diện tích và đứng thứ 3 về sản lượng lạccủa cả nước
- Vùng Đồng Bằng sông Cửu Long: lạc được trồng chủ yếu ở Long An,Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh với tổng diện tích 11,3 nghìn ha chiếm 5,02%,sản lượng đạt 39,5 nghìn tấn chiếm 7,88% sản lượng lạc cả nước Đây là vùng códiện tích trồng lạc thấp nhất cả nước nhưng lại có năng suất cao nhất cả nước(35,6 tạ/ha) năm 2010
Hiện nay, lạc được trồng hầu hết ở các vùng sinh thái nông nghiệp, diệntích lạc chiếm 28% diện tích cây công nghiệp hàng năm Phương hướng pháttriển cây lạc của Việt Nam trong những năm tới cần tăng diện tích trồng lạc hơnnữa, bố trí chủ yếu ở các vùng Duyên hải Trung Bộ và Đông Nam Bộ vì đây làcây lấy dầu chủ lực chỉ sau đậu tương có giá trị xuất khẩu cao Trong các câytrồng hàng năm, xuất khẩu lạc đứng thứ 2 sau cây lúa và xuất khẩu lạc đứng thứnăm trong 25 nước trồng lạc châu Á
Bảng 1.5 Sản lượng của các vùng trồng lạc ở Việt Nam (1000 tấn)
Trang 301.2.3 Tình hình sản xuất lạc tại Hà Tĩnh và huyện Thạch Hà
1.2.3.1 Tình hình sản xuất lạc tại Hà Tĩnh
Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ có điều kiện khí hậu đặcbiệt mang tính chuyển tiếp giữa Miền Bắc và Miền Nam, với đặc trưng khí hậunhiệt đới điển hình và có mùa đông lạnh giá của Miền Bắc, Hà Tĩnh có hai mùa
rõ rệt, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 mùa này nóng khô hạn kéo dài kèm theonhiều đợt gió tây nam khô nóng, nhiệt độ có thể lên tới 400c, khoảng cuối tháng 7đến tháng 10 thường có nhiều cơn bão xuất hiện kèm theo mưa lớn kéo dài gâyngập úng, lũ lụt Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau mùa này chủ yếu giómùa đông bắc kèm theo khí lạnh và mưa phùn, nhiệt độ có thể xuống tới 70c.Cùng với sự phát triển sản xuất lạc của Việt Nam, sản xuất lạc ở Hà Tĩnh cũng cónhững chuyển biến tích cực
Bảng 1.6 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của Hà Tĩnh
(ha)
Năng suất(tạ/ha)
Sản lượng(tấn)
Trang 31Về diện tích trồng lạc, Hà Tĩnh là một trong những tỉnh trọng điểm củanước ta, diện tích gieo trồng lạc đứng hai của Miền Bắc và thứ 2 cả nước sauNghệ An (số liệu năm 2013) Diện tích lạc đang có xu hướng giảm dần qua từngnăm: Năm 2007 diện tích lạc của Hà Tĩnh đạt 20,5 ha, nhưng năm 2012 giảmxuống chỉ còn 17,1 ha giảm 3,4 ha Diện tích trồng lạc bị giảm là do người dân
đã đưa cây trồng mới vào sản xuất trong điều kiện vụ Xuân như: dưa hấu, bíxanh, dưa chuột…Mặc dầu chi phí ban đầu cao hơn trồng lạc nhưng trồng nhữngloại cây này có thị trường tiêu thụ lớn, vào mùa thu hoạch có thương lái đến tậnruộng thu mua, giá bán cao, thu nhập cao hơn nhiều so với trồng lạc
Về năng suất lạc: Theo thống kê của Bộ nông nghiệp và PTNT, trong mộtthời gian dài từ năm 1980 đến năm 1997 năng suất lạc của Hà Tĩnh chỉ giao độngtrên 10 tạ/ha, chưa vượt qua ngưỡng 11 tạ/ha, thấp hơn nhiều so với năng suấttoàn quốc Nhưng năm 2007 trở lại đây năng suất lạc của Hà Tĩnh tăng lên đáng
kể, cao nhất là năm 2013 năng suất lạc đạt 23,56 tạ/ha, thấp nhất là 18,00 tạ/havào năm 2007 Năng suất lạc của Hà Tĩnh tương đương với năng suất cả nướcqua từng năm
Về sản lượng: Cùng với sự gia tăng về diện tích, năng suất thì sản lượnglạc của Hà Tĩnh không ngừng được cải thiện Hiện nay, Hà Tĩnh là một trong 2tỉnh có sản lượng lớn nhất nước, năm 2013 sản lượng lạc của tỉnh đạt 40,76 tấn
Cây lạc ở Hà Tĩnh được trồng ở cả 3 vụ trong năm, trong đó vụ xuân là vụlạc chính, thời vụ gieo từ 10/1 đến 20/2, thu hoạch vào cuối tháng 5 đầu tháng 6
Là vụ có điều kiện thời tiết thuận lợi để cây lạc sinh trưởng, phát triển tốt chonăng suất cao nhất Hạn chế lớn nhất của vụ Đông Xuân là thời vụ gieo trồngtrùng vào giai đoạn nhiệt độ cũng như ẩm độ không khí thấp nên hạn chế khảnăng nảy mầm của hạt lạc Thời kỳ chín trùng với những ngày nắng nóng, nhiệt
độ cao, có thể có gió tây nam khô nóng, xen kẽ với những đợt mưa (lũ tiểu mạn)
dễ làm cho cây lạc bị khô, chín ép, cũng có thể bị mọc mầm trên đồng ruộng làmgiảm năng suất cũng như phẩm chất lạc Vụ Hè Thu thời vụ gieo từ 20/6 đến25/7, vụ Thu Đông thời vụ gieo từ 15/8 đến 20/9 thu hoạch vào tháng 2 Khókhăn lớn nhất của vụ lạc Thu Đông là thời vụ gieo trồng trùng với thời kỳ mưa
Trang 32bão, các đợt ra hoa có thể trùng vào xuất hiện các cơn gió mùa Đông Bắc sớmdẫn đến khả năng thụ phấn kém.
Giống lạc được trồng ở Hà Tĩnh là các giống như V79, L14, sen lai,TB25… đây là các giống tốt có tiềm năng năng suất cao Song do công tác bảoquản giống không tốt nên chất lượng giống không đảm bảo, cách thức chọn và đểgiống chủ yếu là tại nông hộ, do chính người dân tiến hành, do đó năng suất lạccòn hạn chế
1.2.3.2 Tình hình sản xuất lạc tại huyện Thạch Hà
Theo Cục thống kê Hà Tĩnh, diện tích trồng lạc của huyện Thạch Hà từnăm 2007 – 2013 có xu hướng giảm dần, năm 2011 diện tích lạc của huyện đạt
645 ha, giảm 48 ha so với năm 2007 là năm có diện tích cao nhất
Về năng suất có sự chuyển biến tích cực, năm 2007 năng suất chỉ đạt21,63 tạ/ha, sau đó tăng lên đáng kể và đạt cao nhất 25,15 tạ/ha vào năm 2010,năm 2011 năng suất có xu hướng giảm nhẹ, do gặp thời tiết bất lợi như rét ở đầu
vụ và nắng nóng ở cuối vụ, năm 2013 năng suất lạc lại tăng lên 23,29 tạ/ha
Bảng 1.7 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc của huyện Thạch Hà
(ha)
Năng suất(tạ/ha)
Sản lượng(tấn)
(Nguồn: Cục thống kê Hà Tĩnh năm 2014)
Cũng như năng suất và diện tích thì sản lượng lạc cũng giảm dần Năm
2008 sản lượng đạt cao nhất 1.502 tấn/ha đến năm 2012 sản lượng lạc chỉ còn
814 tấn/ha, năm 2013 sản lượng lạc tăng nhẹ đạt 927 tấn/ha Ở huyện Thạch Hàlạc được sản xuất cả ba vụ trong năm (Vụ Xuân, Hè Thu, Thu đông) các gioong
Trang 33lạc chủ yếu được trồng là L14, V79, TB25….Hiện nay người dân đã đưa một sốgiống lạc mới vào sản xuất như L20, L23, L26… nhưng diện tích còn nhỏ.
Nhìn chung sản xuất lạc ở huyện Thạch Hà còn nhiều hạn chế, năng suấtchưa cao Tuy nhiên nếu được áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật như mật
độ trồng, phân bón hợp lý, giống mới năng suất cao thì tình hình sản xuất lạc củađịa phương sẽ được cải thiện
1.3 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới
1.3.1.1 Tình hình nghiên cứu về giống lạc trên thế giới
Giống là một trong những yếu tố giữ vai trò quan trọng góp phần nâng caonăng suất, chất lượng và sản lượng lạc Chính vì vậy mà từ nhiều năm qua, chínhphủ các nước, các nhà khoa học trên thế giới đã đặc biệt quan tâm đến lĩnh vựcchọn tạo giống lạc phục vụ sản xuất
ICRISAT (Viện nghiên cứu cây trồng nhiệt đới bán khô hạn) là cơ sởnghiên cứu lớn nhất về cây lạc Tính đến năm 1993, viện đã thu thập được13.915 lượt mẫu giống lạc từ 89 Quốc gia trên thế giới Trong đó, từ châu Phi là4.078 mẫu, châu Á 4.609, châu Âu 53, châu Mỹ là 3.905, châu Úc và châu ĐạiDương 59, còn 1.245 mẫu giống chưa rõ nguồn gốc Đặc biệt, ICRISAT đã thuthập được 301 lượt mẫu giống thuộc 35 loài dại của chi Arachis, đây là nguồngen có giá trị cao trong công tác cải tiến giống theo hướng chống chịu bệnh vàchống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận [15]
ICRSAT đã chọn được nhiều giống lạc mới có năng suất cao như: ICGV –SM83005, ICGV88438, ICGV91098 và các giống lạc chín sớm ICGV 91114 với
ưu điểm cho năng suất cao đang được phát triển rộng rãi ở các BangAndraPradesh và Chhattisgarh của Ấn Độ
Ấn Độ cũng là nước đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác chọngiống Trong chương trình hợp tác nghiên cứu với ICRSAT, Ấn Độ đã phân lập
và phát triển được 2 giống lạc chín sớm đó là: ICGV 86014 và ICGV 86143
Ấn Độ đã lai tạo và chọn được các giống lạc thương mại mang tính đặctrưng cho từng vùng Mỗi bang của Ấn Độ trồng các giống khác nhau Tại Bang
Trang 34Andhra Pradessh, trồng giống Karidi-2, cao 23-28cm, thời gian sinh trưởng
115-120 ngày, hạt chứa 43,7% dầu, tỉ lệ nhân là 76% Bang Gujarat trồng giốngGAUG-1, dạng thân đứng, thời gian sinh trưởng 95-100 ngày, thích ứng trongđiều kiện canh tác nước trời Bang Haryana trồng giống MH, dạng thân đứng, lámàu xanh tốt, thời gian sinh trưởng 105-110 ngày Bang Uttar Pradessd trồnggiống T-28, dạng thân bò, lá xanh đen, hạt chứa 48% dầu, năng suất cao GiốngKaushal, dạng thân đứng, lá màu xanh tối, thời gian sinh trưởng 108 – 112 ngày,năng suất cao, tỷ lệ nhân 72%
Các nhà khoa học Mỹ đã không ngừng cải tiến kĩ thuật, cơ cấu giống lạc
và đã tạo được nhiều giống mới cho năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năngkháng sâu bệnh như: giống lai F2VA93B chín sớm, hạt to, năng suất cao, giốngVGP9 là giống có khả năng kháng bệnh thối thân trắng, bệnh thối quả GiốngNC12C là giống hạt to, có khả năng kháng bệnh đốm lá, gỉ sắt và héo xanh vikhuẩn, năng suất cao 30-50 tạ/ha Mỹ đã đưa vào sản xuất 16 giống lạc mới (9giống thuộc loại hình Runer, 5 giống thuộc loại hình Virgina, 2 giống thuộc loạihình Spanish) Cùng đó có 3 chương trình nghiên cứu sử dụng lạc dại lai với lạctrồng để tạo ra giống chống chịu sâu bệnh ở Carolina Oklahoma và Texas
Thái Lan đã chọn và đưa vào sản xuất những giống lạc với những đặc tínhchín sớm, chịu hạn, kháng bệnh gỉ sắt, đốm lá, kích thước hạt lớn, năng suất caonhư: Khon Kean 60 – 3, Khon Kean 60 – 2, Khon Kean 60 – 1 và Tainan 9 [32]
Ở Indonesia, công tác chọn tạo giống cũng được tập trung vào các mụctiêu như: năng suất cao, chín sớm, kháng bệnh héo xanh vi khuẩn, bệnh đốm lá,
gỉ sắt, phẩm chất tốt Các giống có triển vọng và khuyến cáo đưa vào sản xuấtnhư Mahesa, Badak, BiaWar và Koinodo [10]
Philipin đã đưa vào sản xuất nhiều giống như UPLP n6, UPLP n8 và BPIPn8 có kích thước hạt lớn, kháng bệnh gỉ sắt, bệnh đốm lá
Ở Srilanka thông qua con đường nhập nội các giống lạc từ ICRISAT, đãchọn được giống ICGV87134 có số quả/cây và khối lượng 100 quả cao nhất, giốngICV 87126 cho năng suất rất cao (1,4 – 2,8 tấn/ha) và khối lượng 100 hạt đạt 56g
1.3.1.2 Kết quả nghiên cứu phân bón cho cây lạc trên thế giới
Trang 35Các nghiên cứu về phân bón cho cây lạc bao gồm cả liều lượng, kỹ thuậtbón phân ở các điều kiện đất đai khác nhau cũng đã được tiến hành Điều nàygóp phần đáng kể trong việc nâng cao năng suất, sản lượng lạc của các nước trênthế giới.
- Những nghiên cứu về liều lượng đạm bón:
Các nhà khoa học đều khẳng định, cây lạc cần một lượng đạm lớn để sinhtrưởng, phát triển, và tạo năng suất, lượng N này chủ yếu được lấy từ quá trình cốđịnh N sinh học ở nốt sần Theo William (1979) [22], trong điều kiện tối ưu câylạc có thể cố định được 200 – 260 kg N/ha, do vậy có thể bón rất ít N cho lạc
Theo nghiên cứu Reddy và cộng sự (1988) [20], lượng phân bón là 20 kg Ntrên đất limon cát có thể đạt năng suất 3,3 tấn quả/ha Trong điều kiện các yếu tốkhác tối ưu và chỉ khi nào muốn đạt được năng suất cao hơn mới cần bón thêm N
Kết quả của hơn 200 cuộc thử nghiệm trên các loại đất khác nhau ở Ấn Độ
đã chỉ ra rằng, khi sử dụng 20 kg N/ha lạc không làm tăng năng suất quả(MannH.S 1965) [17] (Tripathi H.P and Moolani M.K, 1971) [21] Tuy nhiên,khi tăng hàm lượng đạm lên 40 kg N/ha trong điều kiện ẩm độ đất tối ưu thì đemlại kết quả (Choudary W.S.K 1997) [13], (Jayyadvan R and Sreendharan C) [14]
- Những nghiên cứu bón lân cho lạc:
Lân là yếu tố dinh dưỡng thiết yếu đem lại năng suất cao và chất lượngtốt Theo Elfar end Ramadan [13] cũng cho biết, khi tăng lượng lân bón sẽ làmtăng khối lượng thân cây, tăng số lượng và khối lượng quả và hạt trên cây, khốilượng 100 hạt và tỷ lệ dầu cũng tăng Khi tăng lượng phân lân 30 – 60 P205 kg/halàm tăng đáng kể khối lượng khô của toàn cây Điều này được giải thích do hàmlượng lân giúp cho rễ lạc phát triển mạnh hơn, tăng khả năng hút nước và chấtdinh dưỡng Từ đó, giúp đồng hóa tốt hơn, thể hiện ở sự tăng sinh khối Về năngsuất và các yếu tố cấu thành năng suất lạc thì khi tăng lượng lân 30 – 60 P2O5 kg/
ha làm tăng số quả và số hạt trên cây, tăng khối lượng quả và hạt trên cây, khốilượng 100g quả cũng như tỷ lệ dầu trong hạt tăng cao Điều này được giải thích
là do hiệu quả của lân liên quan đến việc tăng số lượng và kích thước nốt sần từ
đó giúp cho quá trình đồng hóa N tốt hơn Hơn nữa lân là thành phần quan trọng
Trang 36trong cấu trúc của axit nucleic, giúp hoạt hóa các quá trình trao đổi chất Sử dụng46,6 kg P2O5/ha và 36 kg P2O5/ha cho hiệu suất cao nhất về năng suất và tất cảcác thuộc tính của nó [14].
Vai trò của lân đến năng suất và chất lượng lạc được ghi nhận ở nhiềuquốc gia Ở Ấn Độ tổng hợp từ 200 thí nghiệm trên nhiều loại đất khác nhau đãkết luận rằng: bón 14,5 kg P2O5/ha cho lạc nhờ nước trời làm tăng năng suất 201kg/ha Trên đất limon đỏ nghèo N, P bón 15 kg P2O5/ha làm tăng năng suất14,7% Đối với đất Feralit màu nâu ở Madagasca, lân là yếu tố cần thiết hàngđầu Nhờ việc bón lân ở liều lượng 75 kg P2O5/ha năng suất lạc có thể tăng100% Theo IG.Degens, 1987 cho rằng chỉ cần bón 400 – 500 mg P/ha đã kíchthích được sự hoạt động của vi khuẩn Rhizobium Vigna sống cộng sinh làm tăngkhối lượng nốt sần hữu hiệu ở cây lạc
Tại tất cả các vùng của Ấn Độ khi bón kết hợp 30 kg N và 20 kg P làmtăng năng suất lạc lên gấp 2 lần so với bón riêng 30 kg N (Kanwar JS,1987) [16]
Tại Senegan phân lân bón cho lạc có hiệu lực trên nhiều loại đất khácnhau bón với lượng 12 -14 kg P2O5/ha làm tăng năng suất quả lên 10 -15% so vớikhông bón Phân lân không có hiệu quả chỉ khi hàm lượng lân dễ tiêu trong đấtđạt > 155 ppm
Ở Trung Quốc thường bón supe phốt phát và canxi phốt phát Phân lânsuper phốt phát có hàm lượng nguyên chất là 18%, phân giải nhanh Loại phânnày bón trên đất trồng lạc có độ phì nhiêu trung bình, mang tính kiềm thì sẽ đạtnăng suất cao Phân canxi phốt phát phân giải chậm phù hợp với đất trồng lạc có
độ phì nhiêu trung bình, đất chua ( Ngô Thế Dân và cộng sự, 2000) [7]
- Nghiên cứu về bón phân cho kali
Bón Kali cho đất có độ phì từ trung bình đến giàu đã làm tăng khả nănghấp thụ N và P của cây lạc Theo Ngô Thế Dân và cộng sự, 2000 [6] bón 25 kg K/ha cho lạc đã làm tăng năng suất lên 12,7% so với không bón
Suba Rao (1980) cho biết ở đất cát của Ấn Độ với tỷ lệ K:Ca:Mg là 4:2:0
là tốt nhất Theo Reddy (1988) [37] trên đất limon cát vùng Tyrupaty trồng lạctrong điều kiện phụ thuộc vào nước trời, năng suất tăng khi bón với liều lượng 66
Trang 37kg K2O/ha Mức bón để có năng suất tối đa là 85 kg K2O/ha và mức bón có hiệuquả nhất là 59,9 kg K2O/ha.
- Bón phân cân đối NPK
Có thể thấy rất nhiều nghiên cứu về việc sử dụng riêng rẽ trong từng yếu
tố phân bón cho cây lạc Tuy nhiên nhiều nghiên cứu mới đây cho thấy bón phâncân đối mang lại hiệu quả kinh tế cao ở nhiều nước cho nhiều loại cây trồng nóichung và cây lạc nói riêng Theo kỷ thuật này, việc bón N-P-K kết hợp làm tănghấp thụ đạm của cây lên 77,33% lân 3,57%, so với việc bón riêng rẽ, tỷ lệ bónthích hợp nhất là 1:1,5:2 để thu được 100 kg quả lạc cần 5 kg N; 2 kg P2O5; 2,5
kg K2O cho một ha (Duan shufen 1998) [13]
Nghiên cứu của Nramesh Babu, S Rami Reddy, GHS Reddi và DS Reddy[18] trên đất sét pha cát của vùng Tirupati Campus cho thấy, số quả chắc trên câyđạt cao nhất khi sử dụng 60 kg N, 40 kg P2O5 và 100 kg K2O/ha
Ngoài ra với các loại đất có độ phì trung bình và cao, mức đạm cần bónphải giảm đi 50% và tăng lượng lân bón tăng lên 2 lần Bón phối hợp 10 – 40 kgN: 30 – 40 kg P2O5 : 20 – 40 kg K2O cho 1 ha là mức bón tối ưu cho lạc ở Ấn Độ(Reddy, 1998) [19]
Theo tài liệu nghiên cứu cây lạc ở Trung Quốc “Những bí quyết thànhcông” TS Duan Shnfen- biên dịch GS Ngô Thế Dân, 1999 về bón phân cân đốicho cây lạc được du nhập từ Trung Quốc và Ấn Độ trong những năm 1980, đãmang lại hiệu quả cho nhiều loại cây trồng trong đó có cây lạc Theo kỹ thuật nàyviệc bón NPK là sự bón kết hợp cân đối giữa liều lượng vô cơ và hữu cơ dựa vàoyêu cầu của cây trồng, khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của đất và hiệu ứngđối với phân bón [8]
Thí nghiệm phân bón Punjap cho thấy tổng lượng dinh dưỡng để đạt đượcnăng suất 2,12 tấn quả cần phải có 167 kg K2O, 97 kg P2O5 và 87 kg N
1.3.2 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc ở Việt Nam
1.3.2.1 Tình hình nghiên cứu về giống lạc ở Việt Nam
Lạc là cây công nghiệp cổ truyền, có giá trị kinh tế cao, chiếm một vị tríquan trọng trong nền kinh tế nước ta Do vậy trong những năm gần đây các nhà
Trang 38khoa học đã quan tâm tới việc nghiên cứu chọn tạo các giống lạc mới có năngsuất và phẩm chất tốt Nhờ ứng dụng các phương pháp chọn tạo giống khác nhaunhư: lai hữu tính, phân lập chọn lọc, gây đột biến các nhà khoa học nước ta đãthu được nhiều thành công lớn Nhiều giống mới được tạo ra và đưa vào sản xuấtgóp phần làm tăng năng suất và sản lượng lạc trong cả nước.
Theo Ngô Thế Dân thì ở Việt Nam công tác thu thập và bảo quản sử dụngtập đoàn lạc đã được tiến hành từ rất lâu ở các trường Đại học Nông nghiệp, cáctrung tâm và các viện nghiên cứu, nhưng không mang tính hệ thống
Ứng dụng phương pháp lai hữu tính, năm 1974 Bộ môn Cây công nghiệp– Trường Đại học nông nghiệp I đã tạo ra 24 tổ hợp Qua chọn lọc, đánh giá đãcho ra dòng 75/23 có nhiều ưu thế, 75/23 là con lai giữa Trạm Xuyên và MộcChâu Trắng Đây là giống đã kết hợp được nhiều đặc tính tốt của bố mẹ, tính nảymầm cao, sinh trưởng khỏe, năng suất và chất lượng tốt phù hợp cho từng vùngthâm canh Giống 75/23 đã được công nhận là giống quốc gia năm 1991 [2]
Từ những năm 1980, trung tâm giống cây trồng Việt Xô – Viện khoa học
kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành thu thập có hệ thống và nhập nộinguồn vật liệu từ nước ngoài Số lượng mẫu giống lạc thu thập và nhập nội đã lêntới 1.271 mẫu, trong đó gồm 100 giống địa phương và 1.171 giống nhập nội từ
40 nước trên thế giới
Từ năm 1986 – 1990, Viện Khoa học nông nghiệp miền Nam đã xử lý độtbiến 3 giống: Lỳ, Bạch Sa 77, Trạm Xuyên đã chọn được các dòng triển vọng là:L15-2-1, L25-4-1, TX10-7-2, BS1-1-1 Giống 4329 được chọn tạo từ xử lý độtbiến giống Hoa 17, giống có nguồn gốc Trung Quốc, có thời gian sinh trưởng
130 – 140 ngày, năng suất đạt trên 20 tạ/ha, tỷ lệ hạt cao
Công tác chọn giống kháng bệnh bằng con đường lai hữu tính đã được bắtđầu từ năm 1992 tại trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm Đậu đỗ Hàng loạt các
tổ hợp lai đã được tiến hành, các dòng triển vọng và các quần thể phân ly đangđược đánh giá Những nghiên cứu bước đầu là di truyền kháng bệnh đã đượcNguyễn Văn Thắng nêu ra, theo tác giả thì tính kháng bệnh đốm đen được quyết
Trang 39định bởi 2 gen trở lên khi nghiên cứu trên các giống bố mẹ bị nhiễm như TrạmXuyên, Sen Nghệ An và các giống kháng ICGV 87314, ICGV 87302 [3].
Năm 1994, Bùi Xuân Sửu khảo sát tập đoàn 50 giống lạc trong vụ xuân
1992 – 1993 tại Gia Lâm – Hà Nội Kết quả khảo nghiệm được những giống lạc
có năng suất cao: V79, Bạch Sa, B5000, CxH17, năng suất đạt 21 – 24 tạ/ha.Những giống có khối lượng quả lớn: BS157, Tainan đạt 1,3g/quả Về hình tháiquả có giống Senegal có 3 – 4 hạt/quả
Từ 1991 – 1995, bằng phương pháp chọn lọc giống thuần, Viện Cây códầu đã chọn tạo từ quần thể giống lạc địa phương lẫn tạp được 3 dòng Lỳ 1, Lỳ 2,
Lỳ 8 Trong đó Lỳ 1 được phép khu vực hóa Đông Nam Bộ với tên gọi VD-1
Hoàng Tuyết Minh và cộng tác viên (1995) đã tiến hành gây đột biếngiống lạc Sen lai năm 1989 và chọn được 2 dòng D329 và D332 có tiềm năng,năng suất cao (23 – 24 tạ/ha), ổn định, khả năng sinh trưởng và khả năng chốngchịu tốt Dòng D332 đã được Bộ Nông Nghiệp và PTNT cho phép khu vực hóanăm 1995
Theo Nguyễn Văn Liễu và cộng tác viên (1995), bằng phương pháp gâyđột biến trên giống Hoa 17 của Trung Quốc đã chọn được giống 4329 là giống códạng hình thực vật Spanish sinh trưởng khỏe, năng suất cao, khối lượng hạt cao,
là giống phù hợp cho nhu cầu xuất khẩu lạc nhân Giống 4329 được công nhận làgiống Quốc gia năm 1994
Tác giả Nguyễn Văn Thắng (1995) cho biết: qua đánh giá 447 mẫu giốnglạc nhập nội từ ICRSAT, có 12 mẫu kháng cao, 30 mẫu kháng trung bình vớibệnh Bệnh héo xanh vi khuẩn là đối tượng nguy hiểm, đặc biệt ở vùng trồng lạctrong điều kiện không có luân canh Làm thiệt hại nặng về năng suất từ 5 – 80%
Nguyễn Thị Chinh (1996) cho rằng: Chọn lọc 79 nguồn gen ngắn ngàynhập nội từ ICRISAT chỉ có 9 giống mẫu có thời gian sinh trưởng từ 105 – 110ngày trong điều kiện miền Bắc Việt Nam đó là các giống: ICGV86055,ICGV87883, số còn lại có thời gian sinh trưởng khoảng 120 ngày Cũng quađánh giá tác giả cũng chọn ra 2 giống lạc JL24, L05 (ICGV86143) vừa có thời
Trang 40gian sinh trưởng ngắn, vừa có năng suất cao Cả 2 giống trên đã được Bộ NôngNghiệp và PTNT cho phép khu vực hóa trên diện tích rộng.
Qua đánh giá 684 mẫu giống lạc nhập nội từ ICRISAT và Trung Quốctheo hướng kháng bệnh héo xanh vi khuẩn từ năm 1991 – 1999, Nguyễn XuânHồng, Nguyễn Văn Liễu, Nguyễn Thị Yến cho biết có 5 mẫu giống có phản ứngđối kháng với bệnh là Taishansanlirow, MD7, ICG1703, ICG7896 và ICG1704
Tại viện cây có dầu Miền Nam, Ngô Thị Lam Giang và cộng tác viên đãđánh giá trên 400 mẫu giống nhập nội, lai tạo và chọn lọc ra một số giống cótriển vọng, có thời gian sinh trưởng trung bình là VD2, VD3, VD4, VD5 các giống
có năng suất cao hơn đối chứng Lỳ một cách có ý nghĩa, ngoài ra VD3, VD5 cóhàm lượng dầu cao, VD2, VD4 có khối lượng 100 hạt cao [1]
Từ năm 1996 một tập đoàn nhập nội từ Trung Quốc gồm 9 giống đã đượcđánh giá: 6 giống vừa cho năng suất cao vừa kháng bệnh là QĐ4, QĐ5, QĐ6,QĐ7, QĐ9
Trong hai năm 1998 – 1999, Nguyễn Xuân Hồng và cộng sự đã đánh giá
112 mẫu giống thu thập trên nền nhân tạo thấy rằng chỉ có 5 mẫu không bị nhiễmbệnh là VAG 54-1, VAG 54-3, VAG 29, VAG 34, VAG 47, trong các giốngkhuyến cáo trồng trong sản xuất thì BG51, V79, BG78 tỏ ra kháng nấm Cácgiống L02, L05, MD7 kháng ở mức trung bình, LVT và 4329 bị nhiễm nặng
Năm 2002, tại Duyên Hải Miền Trung đã đưa khảo nghiệm các giống lạcSD1, MD9, L12, L14 được 2 vụ Trong đó 2 giống SD1 và L14 được đánh giábước đầu có triển vọng năng suất cao: L14 đạt trung bình 25,3 tạ/ha, SD1 trungbình đạt 26,2 tạ/ha Cả 2 giống đều tương đối ít sâu bệnh
1.3.2.2.Tình hình nghiên cứu về phân bón cho cây lạc ở Việt Nam
Lạc là cây có khả năng cố định đạm nhưng giai đoạn đầu cây rất cần đạm
do lượng dự trử trong hạt không đáp ứng được nhu cầu phát triển bình thườngcủa cây Tuy nhiên việc bón đạm phải có chuẩn mực, vì bón đạm quá ngưỡnglàm thân lá phát triển mạnh làm ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành quả vàhạt dẫn đến năng suất thấp Kết quả nghiên cứu của viện nông hóa thổ nhưỡng