Đặcbiệt, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Ủy ban nhân dântỉnh Hà Tĩnh đã xây dựng Chương trình hành
Trang 1LÊ THỊ HOÀI
KINH TẾ VEN BIỂN HÀ TĨNH
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI TỪ NĂM 1986
ĐẾN NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGHỆ AN - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 3thực hiện đề tài và hoàn thiện khóa luận này.
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với gia đình, bạn bè đã tạo điềukiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi về vật chất cũng như tinh thần để tôi cóđiều kiện học tập, nghiên cứu tốt
Do nguồn tài liệu, thời gian hạn chế và bản thân mới bước đầu nghiêncứu một đề tài khoa học mới, chắc chắn khóa luận này khó tránh khỏi nhữngthiếu sót Rất mong được sự chỉ bảo của hội đồng khoa học và các bạn!
Vinh, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Lê Thị Hoài
MỤC LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KINH TẾ VEN BIỂN HÀ TĨNH TRƯỚC THỜI KÌ ĐỔI MỚI .7
1.1 Tiềm năng phát triển kinh tế ven biển ở Hà Tĩnh 8
1.1.1 Vị trí địa chính trị - kinh tế tỉnh Hà Tĩnh 8
1.1.2 Đặc điểm địa hình và đất đai 10
1.1.3 Khí hậu 11
1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên ven biển và biển Hà Tĩnh 13
1.1.5 Tài nguyên khoáng sản 16
1.1.6 Tài nguyên du lịch 17
1.1.7 Cơ sở hạ tầng 19
1.2 Đặc điểm dân cư vùng ven biển 20
1.3 Tình hình kinh tế ven biển Hà Tĩnh trước thời kỳ đổi mới 21
Tiểu kết chương 1 25
CHƯƠNG 2 KINH TẾ VEN BIỂN HÀ TĨNH TRONG THỜI KỲ 1986 - 2014 27
2.1 Sự cần thiết phát triển kinh tế biển và ven biển trong hội nhập kinh tế quốc tế của Hà Tĩnh 27
2.1.1 Những tác động khách quan 27
2.1.2 Những tất yếu bên trong 30
2.2 Các ngành kinh tế ven biển Hà Tĩnh trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến năm 2014 32
2.2.1 Kinh tế thủy sản 32
2.2.2 Khai thác và chế biến khoáng sản 51
2.2.3 Kinh tế cảng biển và khu kinh tế biển 55
2.2.4 Du lịch và dịch vụ ven biển 63
2.2.5 Diêm nghiệp 66
Trang 52.2.6 Nông nghiệp ven biển 70
2.3 Đánh giá khái quát tình hình phát triển kinh tế ven biển Hà Tĩnh 75
2.3.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 76
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 80
Tiểu kết chương 2 84
CHƯƠNG 3 VAI TRÒ CỦA KINH TẾ VEN BIỂN ĐỐI VỚI KINH TẾ - XÃ HỘI HÀ TĨNH 86
3.1 Vai trò của kinh tế ven biển đối với kinh tế Hà Tĩnh 86
3.2 Đời sống cư dân ven biển trong thời kỳ đổi mới 92
3.3 Những vấn đề đặt ra trong việc phát triển kinh tế ven biển ở Hà Tĩnh hiện nay 93
3.3.1 Thiên tai và sự cố môi trường biển, biến đổi khí hậu và nước biển dâng 93
3.3.2 Suy giảm chất lượng môi trường 95
3.3.3 Suy giảm tài nguyên sinh học 96
3.3.4 Xung đột giữa các ngành, lĩnh vực 98
3.3.5 An ninh vùng ven biển 100
3.3.6 Vấn đề vốn đầu tư phát triển kinh tế ven biển 102
3.3.7 Nguồn nhân lực trong các ngành kinh tế ven biển 103
3.3.8 Phát triển ứng dụng khoa hoc công nghệ phục vụ kinh tế ven biển 103
Tiểu kết chương 3 104
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 116
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 2.1 Sản lượng khai thác một số loại thủy sản chủ yếu 33
Bảng 2.2 Sản lượng khai thác một số loại thủy sản chủ yếu (Tấn) 34
Bảng 2.3 Sản lượng khai thác thủy sản hàng năm (tấn) 35
Bảng 2.4 Cơ cấu sản lượng khai thác theo các vùng biển 35
Bảng 2.5 Sản lượng khai thác một số loại thủy sản chủ yếu (Tấn) 36
Bảng 2.6 Tổng giá trị sản phẩm sau khai thác (triệu đồng) 36
Bảng 2.7 Đội tàu khai thác thủy sản giai đoan 2006 - 2010 37
Bảng 2.8 Cơ cấu đội tàu và sản lượng khai thác biển Hà Tĩnh năm 2014 38
Bảng 2.9 Sản lượng nuôi trồng một số loại thủy sản chủ yếu (tấn) 40
Bảng 2.10 Sản lượng nuôi trồng một số loại thủy sản chủ yếu (tấn) 40
Bảng 2.11 Một số chỉ tiêu về nuôi trồng thủy hải sản 42
Bảng 2.12 Các trại sản xuất tôm giống giai đoạn 2006 - 2010 42
Bảng 2.13 Kết quả sản xuất giống thủy sản giai đoạn 2006 - 2010 43
Bảng 2.14 Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2011 - 2015 44
Bảng 2.15 Sản lượng nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2011 - 2015 45
Bảng 2.16: Diện tích đất sản xuất muối trên toàn tỉnh Hà Tĩnh 67
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu GDP trên địa bàn tỉnh Hà Tỉnh phân theo khu vực kinh tế 87 Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông - lâm - thủy sản giai đoạn 2008 - 2014 theo giá cố định 2010 88
Bảng 3.2 Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất các ngành nông - lâm - thủy sản giai đoạn 2008 - 2014 theo giá thực tế 89
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm, biển đã có vai trò quantrọng đối với sự tồn tại và phát triển của dân tộc ta, đối với công cuộc dựngnước và giữ nước của nhân dân ta Do đó, khi đất nước hoàn toàn được giảiphóng, biển và tài nguyên biển luôn là mối quan tâm của Đảng và Nhànước ta
Ngày nay, mở cửa nền kinh tế, hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế
giới là sự đổi mới mang tính bước ngoặt trong tư duy kinh tế của Đảng Cộngsản và Nhà nước Việt Nam kể từ Đại hội VI trên cơ sở đường lối đổi mới nóichung Trong sự hội nhập đó, kinh tế biển được xác định là một lĩnh vực đóngvai trò là “động lực thời đại” và trở thành chiến lược phát triển kinh tế củanước ta
Thế kỉ XXI là thế kỉ của biển và đại dương, nên khai thác lợi thế biểntrở thành vấn đề quan trọng mang tính chiến lược của hầu hết các quốc giabiển Việt Nam là một quốc gia có biển với rất nhiều tiềm năng, với xu hướnglấy kinh tế biển và vùng ven biển làm nền tảng và động lực thúc đẩy côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Do đó, với “Chiến lược biển Việt Nam đếnnăm 2020”, Việt Nam mong muốn các tỉnh ven biển trở thành “khu vực” pháttriển tiên phong và vượt trội hơn hẳn so với sự phát triển của cả nước
Hà Tĩnh là tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ cũng trong xu thếchung của cả nước Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hà Tĩnh đã tác động đếntất cả các địa bàn trong tỉnh, từ miền núi, trung du, đồng bằng đến ven biển,trong đó diễn ra tập trung và trọng điểm là vùng ven biển Vùng ven biển của
Hà Tĩnh được xem là vùng có tiềm năng lợi thế, đồng thời cũng là vùng nằmtrong chiến lược kinh tế mang tính thời đại của đất nước
Trang 8Hà Tĩnh có đường bờ biển dài hơn 137 km thuộc địa bàn 5 huyện làNghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh với diện tích thềm lụcđịa khoảng 18.400 km2 Hà Tĩnh có mỏ sắt Thạch Khê với trữ lượng lớn nhất
cả nước, có Khu kinh tế Vũng Áng là khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, đa lĩnhvực cùng với các khu kinh tế khác của khu vực miền Trung, tạo thành chuỗicác khu kinh tế có mối liên kết chặt chẽ với nhau và từng bước trở thànhnhững hạt nhân tăng trưởng, trung tâm công nghiệp luyện kim - dịch vụ cảngbiển - du lịch của khu vực Bắc Trung Bộ; Là đầu mối giao lưu quốc tế quantrọng, góp phần mở rộng thị trường khu vực Bắc Trung Bộ và trở thành cầunối với thị trường Lào và Đông Bắc Thái Lan
Với những tiềm năng, lợi thế như vậy, Hà Tĩnh có điều kiện thuận lợi
để phát triển kinh tế ven biển, nhất là trong bối cảnh nước ta đang ngày cànghội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
Trước thời kỳ đổi mới, kinh tế ven biển Hà Tĩnh chưa được quan tâmđúng mức nên không phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có Kéo theo đóđời sống vật chất và tinh thần của cư dân ven biển Hà Tĩnh cũng gặp nhiềukhó khăn và không bắt kịp với xu hướng mới của đất nước
Từ khi đổi mới đến nay, kinh tế ven biển Hà Tĩnh đã có những khởisắc, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh nhà Đặcbiệt, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Ủy ban nhân dântỉnh Hà Tĩnh đã xây dựng Chương trình hành động thực hiện Chiến lược biểnđến năm 2020, với mục tiêu "phấn đấu đưa Hà Tĩnh trở thành một tỉnh mạnh
về biển, trở thành một trong những trung tâm kinh tế khu vực Bắc Trung Bộ;kinh tế biển trở thành động lực thúc đẩy phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh
tế - xã hội, khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng, anh ninh; gắn với bảo
Trang 9vệ và phát triển môi trường biển, kinh tế biển sẽ đóng góp trên 55% GDPcủa tỉnh".
Ngày 27 tháng 11 năm 2012 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyhoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020, tầmnhìn đến năm 2050 Trong đó có quan điểm phát triển: "Tập trung nguồn lực
để phát triển các ngành kinh tế trọng điểm, vùng kinh tế động lực, phát triểnmạnh kinh tế biển và ven biển, tạo chuyển biến căn bản, đột phá về chấtlượng tăng trưởng gắn với thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng và chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp; từngbước xây dựng Hà Tĩnh trở thành một trong những trung tâm công nghiệp lớncủa đất nước"
Do đó, trong những năm qua, hoạt động kinh tế - xã hội vùng ven biển
Hà Tĩnh diễn ra khá sôi động, đạt được nhiều kết quả quan trọng trong nhiềulĩnh vực, đặc biệt là khai thác và chế biến tài nguyên khoáng sản; kinh tế hànghải và giao thông biển; du lịch; khai thác và nuôi trồng thủy sản Trong đóKhu kinh tế Vũng Áng đã được Thủ tướng Chính phủ lựa chọn là 1 trong 5Khu kinh tế ven biển của cả nước để tập trung đầu tư phát triển từ nguồn vốnngân sách Nhà nước giai đoạn 2013 - 2015
Có thể nói, quá trình đổi mới đã tác động trực tiếp lên khu vực ven biển
Hà Tĩnh và làm biến đổi cục diện khu vực này so với truyền thống trên nhiềuphương diện: kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần, an ninh quốc phòng
Tuy nhiên, dù được đánh giá là tỉnh có tiềm năng, lợi thế lớn về pháttriển kinh tế biển, nhưng Hà Tĩnh chưa phát triển tương xứng với tiềm năng,ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung Nhữngbiến đổi tiêu cực của đời sống dân cư do mặt trái của lối sống công nghiệp đôthị, của nền kinh tế thị trường mang lại cũng như vấn đề an ninh trên biển đòihỏi sự quan tâm của các cơ quan chức năng
Trang 10Mong muốn làm rõ sự phát triển các ngành kinh tế ven biển Hà Tĩnhcũng như tác động của nó đối với kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của HàTĩnh, đánh giá đúng thực trạng về sự phát triển kinh tế ven biển trong thời kỳ
đổi mới, chúng tôi chọn đề tài: “Kinh tế ven biển Hà Tĩnh trong thời kỳ đổi
mới từ năm 1986 đến năm 2014”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
“Kinh tế ven biển Hà Tĩnh trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đếnnăm 2014” là đề tài hoàn toàn mới mẻ Do đó, cho đến thời điểm này vẫnchưa có những công trình nghiên cứu cụ thể về vấn đề này Vấn đề này mớichỉ được điểm qua ở những bản tham luận, những báo cáo của Tỉnh ủy HàTĩnh bàn về kinh tế Hà Tĩnh nói chung như: Tham luận của Sở Tài nguyên
và Môi trường Hà Tĩnh tại Hội thảo khoa học “Khai thác tiềm năng biển,đảo vì sự phát triển bền vững của Quảng Ngãi và miền Trung” với tên gọi:
“Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý, khai thác hiệu quảtiềm năng, lợi thế về biển Hà Tĩnh vì mục tiêu phát triển bền vững”; Báocáo của Tỉnh ủy Hà Tĩnh về: “Sơ kết năm năm thực hiện Nghị quyết Trungương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”; Dự thảo củaUBND tỉnh Hà Tỉnh về: “Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ tỉnh Hà Tĩnhđến năm 2020, định hướng đến 2030”…
Đồng thời, một số khía cạnh khác của vấn đề cũng được đề cập đếntrong các ấn phẩm như: “Hà Tĩnh trên đường phát triển” của Chu Viết Luận;
“Tình hình kinh tế - xã hội Hà Tĩnh sau 20 năm tái lập tỉnh (1991 - 2011) củaCục thống kê tỉnh Hà Tĩnh; “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh tập III (1975 -2010) của Ban chấp hành Đảng bộ Hà Tĩnh…
Nhìn chung với những tư liệu đã tiếp cận được, trên cơ sở hệ thống cáckết quả nghiên cứu về kinh tế Hà Tĩnh trong thời kỳ đổi mới, chúng tôi nhậnthấy các công trình còn chung chung, chưa thực sự đi sâu vào vấn đề mà đề
Trang 11tài đề cập đến Do đó, trên cơ sở kế thừa những kết quả của những người đitrước, chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống, kháchquan về “kinh tế ven biển Hà Tĩnh trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đếnnăm 2014”.
3 Đối tượng nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dưới góc độ lịch sử kinh tế, làm rõ tiềm năng, sự pháttriển các ngành kinh tế ven biển Hà Tĩnh
3.2 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có nhiệm vụ làm rõ:
- Tình hình kinh tế ven biển Hà Tĩnh trước thời kỳ đổi mới
- Tình hình kinh tế ven biển Hà Tĩnh trong thời kỳ đổi mới từ năm
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu Đây là đề tài lịch sửkinh tế nên nội dung được thể hiện theo trình tự thời gian và không gian cụthể, sử dụng phương pháp loogic và lịch sử cũng như các phương pháp khácnhư: phân tích, tổng hợp, so sánh…
Trang 125 Đóng góp của đề tài
Đề tài hệ thống hóa sự phát triển kinh tế ven biển Hà Tĩnh từ khi đổimới đến năm 2014 trong xu thế hội nhập quốc tế của đất nước
Từ việc phân tích những tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế ven biển,
đề tài làm rõ những sự chuyển biến của kinh tế Hà Tĩnh qua các thời kỳ trước
và trong đổi mới
Đề tài cũng phân tích, đánh giá một cách khách quan những tác độngcủa kinh tế ven biển Hà Tĩnh đối với kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng HàTĩnh Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra những thực trạng và một số giải pháp về sựphát triển kinh tế ven biển Hà Tĩnh ngày nay
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lụ,phần nội dung của đề tài gồm có ba chương:
- Chương 1: Kinh tế ven biển Hà Tĩnh trước thời kỳ đổi mới
- Chương 2: Kinh tế ven biển Hà Tĩnh trong thời kỳ 1986 - 2014
- Chương 3: Vai trò của kinh tế ven biển đối với kinh tế - xã hội HàTĩnh
Trang 13CHƯƠNG 1 KINH TẾ VEN BIỂN HÀ TĨNH TRƯỚC THỜI KÌ ĐỔI MỚI
Lịch sử nhân loại đã cho thấy nhiều nước phát triển trên thế giới đều lànhững quốc gia có biển Biển là một nguồn lực hết sức quan trọng cho sự pháttriển kinh tế của một quốc gia Điều này càng trở nên quan trọng hơn khi nềnkinh tế của mỗi nước chịu tác động mạnh mẽ bởi quá trình toàn cầu hóa vàhội nhập kinh tế quốc tế Kinh tế biển nói chung và kinh tế ven biển nói riêng
là một ngành được xác định là vai trò “động lực thời đại” trong bối cảnh loàingười đang tiến ra biển và đại dương Phát triển kinh tế biển đã và đang đượccoi là chiến lược của nhiều quốc gia có biển
Hiện nay, trên thế giới, các nước chưa có sự thống nhất về khái niệmkinh tế biển, bởi mỗi quốc gia biển có cách nhìn riêng phụ thuộc vào giá trịđóng góp của nó đối với nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, chúng ta có thểthấy rằng, khi nói tới kinh tế biển, tức là ta nói đến một khu vực hay một vùngkinh tế dùng để phân biệt với vùng kinh tế đất liền
Về mặt khái quát có thể hiểu kinh tế biển là tổng thể các hoạt động kinh
tế diễn ra trên biển, ven biển và hải đảo Các hoạt động kinh tế diễn ra trênbiển bao gồm: Đánh bắt hải sản, khai thác dầu khí ngoài khơi, vận tải biển vàdịch vụ cảng biển (gọi là kinh tế hàng hải), dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứunạn, du lịch biển
Khác với kinh tế biển, kinh tế ven biển lại bao gồm toàn bộ các hoạtđộng kinh tế ở dải ven biển (có thể tính theo địa bàn các xã ven biển, cáchuyện ven biển hoặc cũng có thể là các tỉnh tiếp giáp biển - có địa giới tiếpgiáp biển), bao gồm cả các lĩnh vực: nông, lâm, ngư nghiệp; diêm nghiệp,công nghiệp chế biến thủy, hải sản, công nghiệp khai thác chế biến dầu khí;
Trang 14đóng tàu và sửa chữa tàu biển; cung cấp dịch vụ biển; thông tin liên lạc biển;nghiên cứu khoa học và công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triểnkinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển [20, tr.24].
Như vậy, kinh tế ven biển là một bộ phận của kinh tế biển Muốnphát triển kinh tế biển, mở mang các ngành nghề trên biển, trước hết phảicoi trọng việc xây dựng và phát triển vùng ven biển Đây là bàn đạp, là căn
cứ rất quan trọng để chúng ta tiến ra biển, làm chủ biển, khai thác và sửdụng tài nguyên biển
Việt Nam là một quốc gia có biển, dù tài nguyên thiên nhiên biển cóthể to lớn hay hạn chế thì đó cũng là sự ưu đãi đặc biệt của thiên nhiên đối vớinước ta Là một bộ phận cấu thành nên lãnh thổ Việt Nam, tỉnh Hà Tĩnh cónhững tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế ven biển
1.1 Tiềm năng phát triển kinh tế ven biển ở Hà Tĩnh
1.1.1 Vị trí địa chính trị - kinh tế tỉnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc miền Trung (khu IV cũ), được thành lập năm
1831, hợp nhất với Nghệ An thành tỉnh Nghệ Tĩnh năm 1976 và chính thứcđược tái lập vào ngày 1/9/1991
Hà Tĩnh nằm ở tọa độ 1754’ - 1850’ và 105 - 108 độ kinh độ đông,thuộc miền nhiệt đới của Bắc bán cầu, tựa lưng vào dãy Trường Sơn vàngoảnh mặt nhìn ra biển Đông Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáptỉnh Quảng Bình, phía Tây giáp Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, phía Đônggiáp biển Đông
Hà Tĩnh có hai thị xã là Hà Tĩnh và Hồng Lĩnh và 8 thị trấn của 8huyện: Đức Thọ, Can Lộc, Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh,Hương Sơn, Vinh khoảng 50km
Trang 15Vùng ven biển tỉnh Hà Tĩnh nằm trong phạm vi từ 1753’50’’ ÷1845’40’’độ vĩ Bắc và 10540’24’’ ÷ 10630’20’’ độ kinh Đông bao gồmthành phố Hà Tĩnh và 5 huyện: Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm X uyên,
Kỳ Anh với chiều dài 137km
Vùng ven biển tỉnh Hà Tĩnh có vị trí đặc biệt quan trọng không chỉ với
cả tỉnh, mà còn với cả nước và các nước trong khu vực thông qua các giaothông huyết mạch như Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam, đường Hồ Chí Minh,đường biển; Quốc lộ 8 đi cửa khẩu Quốc tế Cấu Treo và Quốc lộ 12 nối cửakhẩu Cha Lo Quảng Bình với cảng biển nước sâu Vũng Áng
Với vị trí đó cho phép Hà Tĩnh phát triển mạnh các ngành kinh tế venbiển, thu hút lao động và nâng cao mức sống dân cư
Tuy nhiên, đứng trước những lợi ích to lớn của vùng biển Đông, một sốquốc gia nằm trong vùng biển này đã tự đưa ra tuyên bố về chủ quyền lãnhhải, kiểm soát về hoạt động khai thác tài nguyên hải sản, dầu khí, vận tải biển
mà không được sự công nhận của luật pháp quốc tế và sự đồng thuận của cácquốc gia có quyền và lợi ích liên quan Điều này khiến cho khu vực biểnĐông tiềm ẩn nhiều bất ổn, tranh chấp có khả năng dẫn đến xung đột Gầnđây nhất là động thái của Trung Quốc khi ngang nhiên hạ đặt giàn khoan tráiphép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lụcđịa của nước ta, gây ra những căng thẳng chưa từng có trong quan hệ giữa hainước Việt - Trung kể từ khi bình thường hóa quan hệ với nhau từ năm 1991
Ngoài ra, các vấn đề an ninh phi truyền thống như cướp biển, ô nhiễmmôi trường, các hiện tượng cực đoan từ biến đổi khí hậu cũng đang trở nênnghiêm trọng hơn Những diễn biến này đã và đanh ảnh hưởng đến an ninhquốc phòng và tính bền vững trong hoạt động phát triển kinh tế biển nước tanói chung và kinh tế ven biển Hà Tĩnh nói riêng
Trang 161.1.2 Đặc điểm địa hình và đất đai
- Núi thấp uốn nếp nâng lên yếu: Kiểu địa hình này chiếm phần lớndiện tích của tỉnh có độ cao dưới 1000 m, cấu trúc địa chất tương đốiphức tạp
- Thung lũng kiến tạo - xâm thực: Kiểu địa hình này chiếm một phầndiện tích nhỏ nhưng có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Độ cao chủyếu dưới 300 m, bao gồm các thung lũng sông Ngàn Sâu, nằm theo hướngsong song với các dãy núi, cấu tạo chủ yếu bởi các trầm tích vụn bở, dễ bịxâm thực
- Vùng đồng bằng Hà Tĩnh nằm dọc theo ven biển có địa hình trungbình trên dưới 3m, nị uốn lượn theo mức độ thấp ra cửa biển từ vùng đồi núiphía Tây càng về phía Nam càng hẹp Nhìn chung, địa hình tương đối bằngphẳng nhất là vùng hình thành bởi phù sa các sông suối lớn trong tỉnh, đất cóthành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nhẹ Khu vực sát biển có độ cao tựnhiên từ +1,00 trở xuống, phần lớn đất đai chua và bị nhiễm mặn
Các loại địa hình này đã tạo cho Hà Tĩnh nhiều cảnh quan du lịch cógiá trị
1.1.2.2 Đất đai
Tổng diện tích đất 5 huyện ven biển tỉnh Hà Tĩnh là 237.140 ha, trong
đó diện tích đất nông nghiệp là 63.536 ha, diện tích đất lâm nghiệp là 108.367
Trang 17ha, diện tích đất chuyên dùng là 23.048 ha và diện tích đất ở là 4.649 ha Cácnhóm đất vùng ven biển Hà Tĩnh bao gồm nhóm đất cát (38.204 ha, chiếm6,3% diện tích tự nhiên); nhóm đất mặn (4.432 ha, chiếm 0,73% diện tích tựnhiên); nhóm đất phèn mặn (17.919,3 ha, chiếm 2,95% diện tích tự nhiên);nhóm đất phù sa (100.277,3 ha, chiếm 17,73% diện tích tự nhiên).
1.1.3 Khí hậu
Tỉnh Hà Tĩnh nói chung và vùng ven biển nói riêng nằm trong khu vựckhí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh và mùa hè nóng với đặc trưng làthời tiết khắc nghiệt và cực đoan trong suốt cả năm Những hiện tượng thờitiết bất lợi bao gồm mưa kéo dài, bão, lũ lụt, những đợt lạnh và gió Lào khônóng thổi từ phía Tây Nam Hà Tĩnh dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai tái diễn vàmối đe dọa lâu dài của biến đổi khí hậu
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm 23270C Trong năm, khí hậuđược chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, khíhậu nóng nhất là từ tháng 5 đến tháng 8, nhiệt độ cao nhất lên tới 38,5
400C Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bìnhtháng từ 170C đến 220C với nhiều ngày ở một số khu vực có nhiệt độ dưới 70C(tháng 11, tháng 12) Số giờ nắng: 1.400 1.600 giờ/năm
Chế độ mưa: Hà Tĩnh có lượng mưa khá lớn, trung bình trên 2.000mm/
năm, cá biệt năm 2010 lên đến 3.622,1mm/năm Lượng mưa phân bố khôngđồng đều trong năm: mùa Đông - Xuân chiếm 25% lượng mưa năm, chủ yếu
là mưa phùn kết hợp với gió mùa Đông Bắc; mưa lớn tập trung vào mùa Hạ
và Thu, chiếm 85% lượng mưa năm, đặc biệt cuối thu mưa rất to Mưa lớnthường gây ngập lụt, sạt lở đất, lũ quét Lũ thường bắt đầu vào tháng Támnhưng xảy ra nhiều nhất từ tháng Chín đến tháng Mười Một
Trang 18Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối cao (trung bình khoảng từ 84
87%), độ ẩm trung bình cao nhất khoảng 92 96%, vào các tháng 1, 2, 3, độ
ẩm trung bình thấp nhất khoảng 55 70% vào các tháng 6, 7, 8
Bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình năm đạt 800 mm Lượng bốc hơi
lớn thường xảy ra vào tháng 7 với mức trung bình tháng đạt 180 200 mm.Tháng 2 có lượng bốc hơi nhỏ nhất: 27 34 mm
Chế độ gió: Hà Tĩnh nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ gió
mùa và gió Lào nhưng hướng gió mang tính chất phân mùa không rõ rệt nhưmột số địa phương khác thuộc khu vực Bắc Trung Bộ hoặc Bắc Bộ Tốc độgió trung bình đạt từ 1,7 2,4m/s Mùa Đông hướng gió chủ đạo là gió TâyBắc rồi đến gió Bắc và Đông Bắc, tần suất tổng cộng tới 50 60% Mùa hèhướng gió chủ đạo là gió Nam, tần suất 40 50%
Bão: Hà Tĩnh thường chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão nhiệt đới và áp
thấp nhiệt đới, từ Tây Bắc Thái Bình Dương và biển Đông Tính trung bình,
cứ 10 năm Hà Tĩnh lại chịu ảnh hưởng của 9 cơn bão như vậy, kèm theo mưalớn và gió mạnh Bão thường xảy vào tháng Tám, tháng Chín (54%), thángBảy và tháng Mười (30%) Trong 5 thập kỷ qua, 47 cơn bão đã trực tiếp hoặcgián tiếp tấn công Nghệ An, Quảng Bình và Hà Tĩnh; trong số này có 18 cơnbão trực tiếp đổ bộ vào Hà Tĩnh
Thủy triều: Vùng biển Hà Tĩnh đặc trưng bởi chế độ nhật triều không
đều Hàng năm có gần nửa số ngày có 2 lần nước lớn, 2 lần nước ròng trongngày Ở các vùng cửa sông thời gian triều cường thường chỉ 10 giờ nhưngthời gian triều rút thường kéo dài khoảng 15÷16 giờ Biên độ triều theo sốliệu trung bình ở trạm Thạch Đồng khoảng 19,86 cm (tháng 1) đến 30,93 cm(tháng 7, tháng 8) Chiều cao sóng biển từ 0,25m đến 0,75m, chiếm 33,52%,chiều cao sóng từ 0,75m đến 1,25m chiếm 12,78%, còn lại là sóng lặng
Trang 19Đặc điểm khí hậu nói trên một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho Hà Tĩnhphát triển các ngành kinh tế ven biển, mở rộng liên kết và giao lưu kinh tế vớingoài tỉnh, sớm hội nhập vào xu thế chung của cả nước Mặt khác, nó cũngđặt ra không ít thách thức đối với nhân dân Hà Tĩnh trong quá trình phát triểncác ngành kinh tế ven biển, đặc biệt là trước những biến đổi của khí hậu.
1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên ven biển và biển Hà Tĩnh
1.1.4.1 Tài nguyên nước
Hà Tĩnh là tỉnh có nguồn nước mặt lớn Lượng mưa hàng năm khá cao,cùng với nguồn nước từ trên 30 con sông lớn, nhỏ trong tỉnh (tổng chiều dàitrên 400 km, quanh năm có nước) đã tạo cho Hà Tĩnh nguồn tài nguyên nướckhoảng 11 - 13 tỷ m3/năm Trung bình cứ một ha đất tự nhiên có 13.840 m3
nước Tuy nhiên trữ lượng lớn nhưng không phân bố đều giữa các tháng trongnăm, mùa mưa thì thừa nước, mùa khô thì thiếu nước
Các con sông của tỉnh đều xuất phát từ Đông Trường Sơn chảy ra biển.Tổng lưu vực của một số sông lớn vào khoảng 5.436 km2 Trong đó, sông La
là do hai con sông Ngàn Sâu và sông Ngàn Phố hợp thành với lưu vực rộng3.221 km2 Sông Cửa Sót là hợp lưu của hai con sông chính sông Nghèn vàsông Rào Cái có lưu vực rộng 1.349 km2 Sông Cửa Nhượng có lưu vực rộng
356 km2, gồm hai nhánh: sông Gia Hội và sông Rác Sông Cửa Khẩu là hợplưu của sông Kênh, sông Trí, sông Quyền với lưu vực rộng 510 km2 Trênthượng nguồn sông Trí có thể xây dựng các công trình thủy lợi Sông NgànTrươi có lưu vực lớn, là nguồn sinh thủy tốt để xây dựng hồ chứa nước và nhàmáy thủy điện
Nước dưới đất ở đồng bằng Hà Tĩnh gồm các huyện Can Lộc, Thạch
Hà, Cẩm Xuyên, thành phố Hà Tĩnh và Kỳ Anh, diện tích khoảng 1.500 km2.Trong vùng có các tầng chứa nước lỗ hổng và nước khe nứt Nước lỗ hổngnằm trong trầm tích Đệ tứ Holocen và Pleistocen Đây là nguồn cung cấp
Trang 20nước quan trọng Các tầng chứa nước bao gồm Tầng chứa nước Holocen,phân bố rộng rãi, kéo dài ven biển các huyện Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên,
Kỳ Anh với chiều rộng từ 1- 2km đến 5 - 6km Thành phần thạch học củatầng chứa gồm chủ yếu là cát hạt nhỏ đến hạt thô; chiều dày từ 5m đến 25m,trung bình 13m Tầng chứa nước Pleistocen phân bố trong phạm vi các huyệnCan Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, song bị phủ hoàn toàn Nước khe nứt trongphạm vi các huyện ven biển, nước khe nứt nằm trong các thành tạo xâm nhậprất nghèo nước, trữ lượng không đáng kể
Vùng biển Hà Tĩnh đặc trưng bởi chế độ nhật triều không đều Hàngnăm có gần nửa số ngày có 2 lần nước lớn, 2 lần nước ròng trong ngày Ởcác vùng cửa sông thời gian triều cường thường chỉ 10 giờ nhưng thời gianchiều lại thường kéo dài khoảng 15 ÷ 16 giờ Biên độ triều theo số liệutrung bình 10 năm (1994 ÷ 2004) ở trạm Thạch Đồng khoảng 19,86 cm(tháng 1) đến 30,93 cm (tháng 7, tháng 8) Chiều cao sóng biển từ 0,25mđến 0,75m, chiếm 33,52% chiều cao sóng từ 0,75m đến 1,25m chiếm12,78% còn lại là sóng lặng
1.1.4.2 Tài nguyên thực vật
1.1.4.2.1.Tài nguyên rừng ngập mặn
Hà Tĩnh có địa hình dốc, sông ngắn tạo nên khả năng bồi lắng kém,sông ít uốn khúc do đó không tạo được các đầm phá, hồ móng ngựa để pháttriển rừng ngập mặn Diện tích rừng ven biển năm 2010 khoảng 47.749 hađến năm 2012 khoảng 42.445 ha, chủ yếu là rừng phòng hộ phân bố dọc theocác xã ven biển Rừng ngập mặn (RNM) gồm rừng tự nhiên ngập mặn vàrừng trồng cây ngập mặn, phèn tập trung tại các vùng như Cửa Hội (NghiXuân), đê tả ngạn sông Nghèn (Can Lộc), Lộc Hà, Thạch Hà, các tuyến đêhuyện Kỳ Anh tạo nên các hệ sinh thái cửa sông với hệ thực vật đặc trưngnhư các loài Mắm, Sú, Đước, Vẹt, Bần chua, Ô rô gai và nguồn lợi động vật
Trang 21như loài Giáp xác (tôm, cua…), Thân mềm như: Trai ốc, Sò, Ngao, Vẹm…,nhiều loài cá đặc trưng cho vùng Bắc Trung bộ như họ cá Liệt(Leiognathidae), họ cá Móm (Gerridae), họ cá Hồng (Lutjanidae), họ cá Răngcưa (Terraponidae), họ cá Đối (Mugilidae),… Phần lớn các khu RNM ở HàTĩnh nằm trong khu vực có khí hậu khắc nghiệt nên phát triển tương đốichậm, tuy nhiên chức năng phòng hộ vẫn phát huy một cách hiệu quả.
1.1.4.2.2 Rạn san hô và thảm cỏ biển
Với hàm lượng muối dinh dưỡng Phốt phát từ 5 - 12 mg/m3 và Silic từ
90 mg/m3, nhiệt độ quanh năm cao và lượng ô-xy hoà tan phong phú nên chutrình chuyển hoá của muối dinh dưỡng hữu cơ sang vô cơ xảy ra trong thờigian ngắn hơn là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các rạn san hô vàthảm cỏ biển Tổng diện tích rạn san hô của tỉnh khoảng 15 ha Hiện nay, cácrạn san hô này đang bị khai thác không đúng mục đích chủ yếu dùng để nungvôi, đồ trang trí với các biện pháp khai thác có tính chất hủy diệt như bằngmìn gây ảnh hưởng đến nhiều loài sinh vật khác, đồng thời phá hủy và làmmất nơi cư trú của nhiều loài sinh vật có ích sống trong rạn san hô
Biển Hà Tĩnh xuất hiện các thảm cỏ biển có vai trò làm thức ăn chonhiều loài động vật không xương sống, cá biển và là nơi sinh sống, đẻ trứng,trú ẩn của nhiều loài sinh vật biển khác nhau như động vật đáy Ngoài ra,thảm cỏ biển cũng có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại của các loài cá sốngtrong các rạn san hô Vì vậy, giữa các hệ sinh thái san hô và hệ sinh thái cỏbiển ở vùng biển nhiệt đới có mối liên quan rất chặt chẽ Diện tích thảm cỏbiển trong hệ sinh thái biển Hà Tĩnh hiện chưa có số liệu thống kê cụ thể Sựxuất hiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng, hiện tượng xói lở, xâm thực bờbiển, đất đai bị nhiễm mặn, hoang mạc hóa, ô nhiễm nguồn nước đang ảnhhưởng ngày càng sâu rộng đến đời sống, sự phát triển kinh tế của cộng đồng
Trang 22dân cư, đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển sinh vật biển nói chung và củacác rạn san hô và thảm cỏ biển nói riêng.
1.1.4.3 Tài nguyên hải sản
Hà Tĩnh có bờ biển dài 137km với 4 cửa sông và nhiều bãi triều Cácvùng đất ngập nước, các bãi triều, các dải cát ven biển có thể phát triển nuôitrồng thủy sản mặn, lợ với tổng diện tích khoảng 8.000 ha Biển Hà Tĩnh có
267 loài cá thuộc 90 họ trong đó 60 loài có giá trị kinh tế cao, 20 loài tôm vàđầy đủ thực vật phù du của Vịnh Bắc Bộ (193 loài tảo)
Tiềm năng hải sản rất lớn, trữ lượng cá ước tính 86.000 tấn, trữ lượng
cá đáy 45.000 tấn, cá nổi 41.000 tấn Trong đó cho phép đánh bắt 54.000 tấn/năm Trữ lượng tôm vùng lộng khoảng 500 - 600 tấn, trữ lượng mực vùnglộng 3.000 - 3.500 tấn Phương tiện khai thác hải sản chủ yếu, toàn tỉnh có2.270 tàu thuyền các loại với 43.265 CV
1.1.5 Tài nguyên khoáng sản
Vùng ven biển tỉnh Hà Tĩnh có nhiều loại khoáng sản khác nhau Mỏsắt Thạch Khê là mỏ sắt lớn nhất Việt Nam, phân bố trên địa phận 3 xãThạch Khê, Thạch Hải và Thạch Đỉnh thuộc huyện Thạch Hà Trữ lượngloại quặng tự nhiên 544 triệu tấn, trong đó khả năng khai thác 369,9 triệutấn Hàm lượng kẽm trong quặng sắt ở Hà Tĩnh là 0.07% Ngoài ra, tỉnh còn
có một số quặng sắt nhỏ hơn như các điểm khoáng sản sắt - mangan PhúLộc, Thượng Lộc (huyện Can Lộc), Núi Bạc xã Đức Lập (huyện Đức Thọ)
và các biểu hiện khoáng sản sắt - mangan Đồng Kèn (xã Thịnh Lộc, huyệnLộc Hà), Vũng Chùa (xã Cương Gián, huyện Nghi Xuân), Hàm Sơn (xã TânLộc, huyện Lộc Hà)
Tài nguyên khác trong tỉnh, trong đó có quặng khoáng sản như titan.Tại các huyện Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh đã ghinhận 10 diện tích sa khoáng titan (Ilmenit-zircon) gồm: Thạch Trị, Thạch Hội
Trang 23(huyện Thạch Hà), Cẩm Hoà, Cẩm Dương, Cẩm Long, Cẩm Nhượng, CẩmSơn (huyện Cẩm Xuyên) Kỳ Khang, Kỳ Ninh, Kỳ Xuân, Kỳ Lợi, Kỳ Phương(huyện Kỳ Anh), Xuân Sơn, Văn Sơn (huyện Nghi Xuân) Ngoài ra có một sốdiện tích Cẩm Thăng (Cẩm Xuyên); Phổ Thịnh, Song Nam, Cương Gián(Nghi Xuân) đã được địa phương thăm dò Diện phân bố titan (Ilmenit-zircon) kéo dài dọc ven biển từ Nghi Xuân đến Đèo Ngang Cát thuỷ tinhphân bố tại các xã Thạch Minh và Thạch Vĩnh, huyện Thạch Hà Thạch anh
và thạch anh tinh thể phân bố khá nhiều nơi trên diện tích huyện Kỳ Anh: YênHưng (xã Kỳ Trinh), Xóm Quán, Ba Hưng, Vàng Tim (xã Kỳ Lạc) Các mỏcát xây dựng Lạc Sơn xã Kỳ Lạc và Cây Xanh xã Kỳ Lâm thuộc huyện KỳAnh đã được tìm thấy
Hà Tĩnh đã và đang khai thác một phần nguồn tài nguyên khoáng sảnquan trọng của mình ở dạng nguyên liệu thô, nhưng chưa có các ngành côngnghiệp chế biến để nâng cao giá trị nguồn tài nguyên này Trong tương lai, HàTĩnh có tiềm năng lớn trong việc tiếp tục khai thác các nguồn khoáng sản vàthiết lập các ngành công nghiệp liên quan đến kim loại
1.1.6 Tài nguyên du lịch
Bờ biển Hà Tĩnh còn có nhiều bãi biển đẹp có khả năng phát triển dulịch, nghỉ dưỡng như: Chân Tiên, Thạch Hải, Thạch Bằng, Thiên Cầm, XuânThành, Đèo Con Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km, lãnh hải hàng chục ngàn
km2, với 4 cửa sông lớn (Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu) Cách
bờ biển Nghi Xuân 4 km có hòn Nồm, hòn Lạp; ngoài khơi Cửa Nhượng cóhòn Én (cách bờ 5km), hòn Bơớc (cách bờ 2 km); ở nam Kỳ Anh cách bờbiển 4 km có hòn Sơn Dương độ cao 123 m, xa hơn phía Đông có hòn Chim.Các vùng cửa sông ven biển chủ yếu là sinh vật nước mặn, lợ và rất thích hợpvới nuôi trồng thủy sản và phát triển du lịch
Trang 24Hà Tĩnh có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa và cách mạng Đây làquê hương của nhiều danh nhân gắn với di tích văn - hoá lịch sử như khu ditích Đại thi hào Nguyễn Du, khu lưu niệm Tổng bí thư Hà Huy Tập, khu ditích Ngã Ba Đồng Lộc.v.v… Vì vậy, từ bao đời nay Hà Tĩnh luôn nổi tiếng làvùng “địa linh nhân kiệt”.
Vùng ven biển tỉnh Hà Tĩnh có rất nhiều di tích lịch sử văn hóa và danhthắng đã được xếp hạng cấp quốc gia tiêu biểu như đền Chiêu Trưng (LộcHà), đền Bà Bích Châu (Kỳ Anh),… chiếm khoảng 30% tổng số di tích toàntỉnh với đầy đủ các loại hình như đình, chùa, đền thờ, nhà thờ, am miếu,….Cùng với đó có nhiều lễ hội dân gian, truyền thống, Các lễ hội còn lưu giữđược những nét văn hóa riêng từng vùng miền, tái hiện lại những phong tụctập quán và cuộc sống của nhân dân vùng biển, có sức hấp dẫn du khách
Hà Tĩnh nằm ở trung tâm khu vực Bắc Trung Bộ và cả nuớc, trên
“Tuyến du lịch xuyên Việt”, điểm đầu của tuyến du lịch “Con đường Di sảnMiền Trung”, một trong những cửa ngõ quan trọng của không gian du lịch
“Hành lang Đông - Tây”, với hệ thống giao thông đường bộ (QL 1A, QL 8,QL12, đường Hồ Chí Minh), đường sắt và đường thủy nối với các trung tâm
du lịch lớn và các tỉnh trong cả nước, với nước CHDCND Lào qua các cửakhẩu quốc tế Cầu Treo (Hà Tĩnh), Cha Lo (Quảng Bình).v.v Với vị trí đó,xét về mặt địa lý du lịch, Hà Tĩnh có vị trí thuận lợi trong mối liên kết vùng
để phát triển du lịch trong đó đặc biệt có mối liên kết Đông - Tây vớiCHDCND Lào, Thái Lan, Myanma và các nước khác trong khối ASEAN
Với 137 km bờ biển, Hà Tĩnh có những bãi tắm giá trị như XuânThành, Xuân Hải, Thạch Hải, Thiên Cầm, Kỳ Ninh, Đèo Con.v.v… Biển HàTĩnh là nơi cung cấp nhiều đặc sản như cá, tôm, cua, mực là thế mạnh đểphát triển du lịch biển, đảo
Trang 251.1.7 Cơ sở hạ tầng
1.1.7.1 Đường bộ
Tỉnh có đường quốc lộ 1A đi qua TP Hà Tĩnh và đường Hồ Chí Minhphía Tây của tỉnh Các phương tiện giao thông từ Thái Lan và Lào có thể rabiển qua cảng Vũng Áng của Hà Tĩnh bằng đường quốc lộ 8 và 12 và các hệthống mạng lưới tỉnh lộ, huyện, xã và liên xã Ngoài ra, hiện nay tỉnh đangđầu tư xây dựng tuyến đường ven biển Xuân Hội - Thạch Khê - Vũng Ángvới chiều dài khoảng 65 km được bắt đầu từ cầu Cửa Hội (thuộc địa phận xãXuân Hội, huyện Nghi Xuân) và kết thúc tại điểm nối vào đường vành đaithuộc Hộ Độ, huyện Lộc Hà Đây là con đường giao thông chiến lược của HàTĩnh, đáp ứng cùng một lúc ba nhiệm vụ: Mở hướng liên kết vùng trong pháttriển kinh tế, bảo đảm an ninh quốc phòng và bảo đảm giao thông thông suốttrong mùa mưa lũ
1.1.7.2 Đường sắt
Đường sắt Bắc - Nam đi qua phía Tây của tỉnh và không đi qua cáctrung tâm kinh tế trọng điểm Theo quy hoạch, sẽ tiến hành xây dựng 3 tuyếnđường sắt mới tạo thuận lợi cho việc di chuyển người và hàng hóa của tỉnh:
- Đường sắt từ Thạch Khê đi KKT Vũng Áng với mục đích chính làvận chuyển quặng sắt;
- Đường sắt quốc tế từ Lào nối với Vũng Áng;
- Đường sắt cao tốc Bắc - Nam
1.1.7.3.Cảng và giao thông thủy
Tỉnh có 3 cảng là Sơn Dương, Xuân Hải và Vũng Áng Cảng Sơn
Dương là một trong những cảng biển nước sâu lớn nhất ở Việt Nam cùng vớicảng Vũng Áng nằm trong KKT Vũng Áng có tổng công suất 1,5 triệutấn/năm và có khả năng tiếp nhận tàu đến 200.000 DWT Cảng Xuân Hải nằmtại xã Xuân Hải huyện Nghi Xuân với công suất 1,2 -1,5 ngàn tấn/năm Ngoài
Trang 26hệ thống cảng biển trên, tỉnh có hệ thống cảng cá đóng vai trò là trung tâmthủy sản và là nơi trú ẩn cho tàu thuyền là các cảng cá Xuân Hội, Xuân Phổ,Thạch Kim
Ngoài ra với chiều dài mặt biển, các cửa sông Cửa Hội, Cửa Sót, CửaNhượng và Cửa Khẩu cùng các sông là điều kiện để phát triển giao thôngthủy và hệ thống cảng liên thông sông biển quốc tế
1.1.7.4 Năng lượng
Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 với công suất 1200MW cơ bản đãhoàn thành, dự kiến tháng 1/2014 sẽ phát điện thương mại; Nhà máy Nhiệtđiện Vũng Áng 2 công suất 1.200MW đang chuẩn bị khởi công, cùng với nhàmáy Nhiệt điện của Tập đoàn Formosa với công suất 600MW sẽ góp phầnđảm bảo an ninh năng lượng cho tỉnh cũng như khu vực Bắc Trung Bộ Ngoài
ra dự án năng lượng gió vùng ven biển cũng đang được tỉnh xúc tiến khảo sátthăm dò
1.2 Đặc điểm dân cư vùng ven biển
Vùng ven biển tỉnh Hà Tĩnh có địa giới hành chính thuộc 5 huyện giápbiển là Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh với 123 xã vàthị trấn Diện tích toàn vùng khoảng 2.372km2, dân số là 626.070 người vớimật độ dân số trung bình khoảng 263,9 người/km2
Toàn tỉnh Hà Tĩnh có 4 thành phần dân tộc chính là Kinh, Chứt, Thái
và Mường, đông nhất là người Kinh sống chủ yếu ở vùng ven biển chiếmkhoảng 99%
Dân số ở Hà Tĩnh cũng như các địa phương ven biển thời gian gần đây
có xu hướng giảm Tình trạng này cũng bắt nguồn từ quá trình đô thị hóa, từthiên tai, biến đổi khí hậu ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống cư dân ven biển.Mặt khác, ở một số địa phương nhiều hộ dân cư di cư sang các địa phươngkhác hoặc ra nước ngoài làm ăn, điển hình như xã Cương Gián thuộc huyện
Trang 27Nghi Xuân Dân số ở các địa phương ven biển Hà Tĩnh giảm từ 714.860nghìn người năm 2007 xuống còn 626.070 nghìn người năm 2012.
Cũng như nhiều tỉnh thành ven biển khác, mật độ dân số của các huyệnven biển tỉnh Hà Tĩnh không đồng đều Dân số tập trung cao ở thành phố venbiển là những nơi có hoạt động kinh tế - xã hội phát triển và có cơ sở vật chất
hạ tầng tốt hơn ở các địa phương khác Tại thành phố Hà Tĩnh, mật độ dân số
là 1.650 nghìn người/km vuông, trong khi đó ở huyện Kỳ Anh là 168 nghìnngười/km vuông, huyện Cẩm Xuyên là 221 nghìn người/km vuông (2011) Bên cạnh đó, chất lượng nguồn lao động tại các huyện ven biển chưa cao ảnhhưởng ít nhiều đến tình hình phát triển các ngành kinh tế
1.3 Tình hình kinh tế ven biển Hà Tĩnh trước thời kỳ đổi mới
Trong suốt quá trình phát triển, Hà Tĩnh luôn là mảnh đất có vị trí chiếnlược quan trọng, là “phên dậu” của đất nước Năm 1831, tỉnh Hà Tĩnh đượcthành lập với hai phủ, sáu huyện: Hương Sơn, La Sơn, Thiên Lộc, Nghi Xuânthuộc phủ Đức Thọ, huyện Thạch Hà, Kỳ Hoa thuộc phủ Hà Hoa Sau đạithắng mùa xuân 1975, kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa V (ngày 27/12/1975) đãquyết định hợp nhất một số tỉnh nhỏ thành tỉnh lớn Trên tinh thần đó, từ năm
1976, Hà Tĩnh và Nghệ An hợp nhất thành tỉnh Nghệ Tĩnh
Việc thành lập tỉnh Nghệ Tĩnh đã gây xáo động chủ yếu đối với vùng
Hà Tĩnh Đầu tháng 1/1976, các cơ quan cấp tỉnh của Hà Tĩnh thôi hoạt độngtheo chức năng độc lập, chuyển sang hoạt động thuộc sự lãnh đạo, quản lýcủa Tỉnh ủy và chính quyền tỉnh Nghệ Tĩnh Trụ sở cơ quan Đảng, chínhquyền đoàn thể, mặt trận cấp tỉnh của Hà Tĩnh chuyển ra Vinh và sáp nhậpvới các cơ quan tương ứng của Nghệ An thành cơ quan Đảng, chính quyền,đoàn thể, Mặt trận tỉnh Nghệ Tĩnh Thành phố Vinh được khẩn trương xâydựng, trở thành trung tâm của tỉnh Nghệ Tĩnh và là trung tâm lớn của khu vựcmiền Trung Nhiều khu nhà cao tầng nhanh chóng mọc lên với sự giúp sức
Trang 28của các nước Cu Ba, Cộng hòa dân chủ Đức, Liên Xô Các tuyến đường bộ,đường sắt xuyên Việt qua Nghệ Tĩnh, cảng Cửa Lò, Cửa Hội được tập trungkhôi phục, xây dựng.
Tỉnh Nghệ Tĩnh lúc mới thành lập có 22.502 km vuông, dân số 2,7triệu người Vừa là một tỉnh đất rộng, người đông, vừa có mối quan hệ tươngđồng lâu đời về tự nhiên, văn hóa, lịch sử, nên Nghệ Tĩnh có những thuận lợimới sau hợp tỉnh Tuy nhiên, từ đây Nghệ Tĩnh cũng đứng trước những khókhăn như dân số, diện tích lớn nhưng khả năng lãnh đạo, quản lý thực tế củađội ngũ cán bộ có hạn, thiên tai khắc nghiệt, hậu quả chiến tranh còn nặng nề,diện chính sách nhiều, kinh tế chậm phát triển
Đối với vùng Hà Tĩnh vốn đã khó khăn, sau hợp nhất nhiều mặt càngkhó khăn hơn Đó là do tỉnh mới quá rộng nên sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cơquan cấp tỉnh đối với các huyện vùng Hà Tĩnh ít nhiều bị trở ngại, thiếu sâusát Trung tâm của tỉnh chuyển ra Vinh, làm mất lợi thế của vùng thị xã HàTĩnh Sự đầu tư bị phân tán, sản xuất gặp khó khăn
Hơn thế, thời kỳ này cùng với các tỉnh khác trong cả nước, nhân dânNghệ Tĩnh chú trọng đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, nhằm hoàn thành nghĩa
vụ giao nộp lương thực, thực phẩm cho Nhà nước
Những yếu tố trên cho thấy, trước thời kỳ đổi mới, kinh tế biển và venbiển ở Nghệ Tĩnh chưa thực sự được chú trọng đầu tư và phát triển Tầm quantrọng và tiềm năng của biển chưa được phân tích và đánh giá đầy đủ Sự đầu
tư, khai thác, sử dụng biển và tài nguyên của biển còn hạn chế và lạc hậu xa
so với sự hiểu biết khai thác và sử dụng đất liền và tài nguyên đất liền Đâycũng là tình trạng chung của cả nước Có thể nói, lúc bấy giới kinh tế biểnchưa có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân của nước ta Hay nóikhác đi, chúng ta vẫn còn quay lưng với biển
Trang 29Chính vì thế, kinh tế ven biển Hà Tĩnh trước thời kỳ đổi mới chưa dượcđánh giá, tổng kết bằng những ngành nghề cụ thể mà chỉ mang tính chungchung
Nghề cá - muối là một trong ba thế mạnh của Hà Tĩnh do 5/8 huyện có
bờ biển, có các cửa lạch lớn như Cửa Hội, Cửa Nhượng, Cửa Sót, Cửa Khẩu.Phát huy tiềm năng về kinh tế biển, thực hiện Quyết định số 13 - CP của Hộiđồng Chính phủ về một số chế độ chính sách đối với nghề cá biển, từ năm
1975, ngành thủy sản đã phân loại hợp tác xã nghề cá để phối hợp với ngànhngân hàng có biện pháp cho vay theo đúng mục đích, đối tượng
Tuy nhiên, nghề cá và nghề muối của tỉnh sản xuất còn bấp bênh, phụthuộc vào thiên nhiên Năm 1976, thời tiết có nhiều đột biến, hạn hán kéo dài,nhiều hải sản xuất hiện chậm và ít, một số loại như moi, cá con hấu như mấttrắng Các hợp tác xã làm nghề ven bờ như xăm, rùng thu nhập thấp Cáchuyện không đạt kế hoạch, làm nghĩa vụ kém Huyện Kỳ Anh năm 1976 chỉđạt 29% số nghĩa vụ được giao, so với 1975 chỉ bằng 47% Huyện CẩmXuyên so với kế hoạch chỉ đạt 65% so với 1975 chỉ bằng 80% Huyện CanLộc đạt 55% kế hoạch, bằng 49% năm 1975 Sản lượng muối năm 1976 vùng
Hà Tĩnh đạt 37.298 tấn (Thạch Hà 23.379 tấn, Kỳ Anh 8.407 tấn, Cẩm Xuyên3.490 tấn, Can Lộc 1.315 tấn, Nghi Xuân 707 tấn) Năng suất bình quân đạt7,9 tấn/1 lao động, 55,5 tấn/ha ruộng muối.[12,tr.305]
Do thời tiết diễn biến thất thường, công tác tổ chức lao động, quản lýsản xuất, kinh doanh hạn chế, nên năng suất và sản lượng đánh bắt cá và làmmuối bị suy giảm Năm 1976, chỉ có khoảng 40% hợp tác xã hoàn thành kếhoạch
Nhìn chung, kết thúc thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai(1976 - 1980), kinh tế Hà Tĩnh đã có nhiều mặt mất cân đối, sản xuất tăngchậm Đời sống khó khăn, xã hội có nhiều biểu hiện phức tạp Cũng như ở
Trang 30các nơi khác, ở Nghệ Tĩnh và cả nước, vùng Hà Tĩnh đã lâm vào tình trạngkhủng hoảng kinh tế - xã hội Các ngành kinh tế ven biển của vùng do đócũng kém phát triển.
Bước sang giai đoạn 1981 - 1985, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ 3,kinh tế Hà Tĩnh đã có những chuyển biến quan trọng Trong phát triển kinh tếvùng ven biển, Đảng bộ, chính quyền địa phương đứng trước những vấn đềlớn: Đây là vùng trọng yếu về quốc phòng - an ninh, thường xuyên phải hứngchịu thiên tai khắc nghiệt, cơ sở vật chất - kĩ thuật nghèo nàn, hậu quả chiếntranh nặng nề, dân số miền biển lại tăng quá nhanh, nhiều lao động chưa cóviệc làm, trình độ văn hóa thấp, một số nơi duy trì nhiều tập tục lạc hậu, mêtín dị đoan Các cấp ủy, chính quyền địa phương đã có sự chỉ đạo trong việckhắc phục khó khăn, tiếp tục khai thác lợi thế của một tỉnh có bờ biển dài,nhiều cửa song, cửa lạch, có các vùng bãi cọc, bãi ngang, có nhiều nông sảnphong phú, nhiều ngành nghề truyền thống
Đến giữa những năm 80 của thế kỉ XX, kinh tế vùng ven biển có nhữngchuyển biến tích cực Ngành thủy sản áp dụng tiến bộ kỹ thuật về đánh bắt,tạo mặt hang xuất khẩu như tôm và mực đông lạnh Năm 1984, đánh bắt được25.000 tấn cá, đạt 109% kế hoạch, tăng gần 20% so với năm 1983; xuất khẩuđược 90 tấn tôm đông lạnh, 18 tấn mực khô, đạt 775.000 USD Kim ngạchxuất khẩu năm 1984 gấp 4 lần so với năm 1980 [12, tr.336]
Nghề cá tuy sản lượng khai thác chưa đạt yêu cầu nhưng đã chặn được
đà đi xuống Thu mua, chế biến ngày càng tăng dần, mở ra khả năng mới chotỉnh Nghề muối do có chính sách mới mà phát triển cả về diện tích, năng suất
và sản lượng
Về nông nghiệp, đã bắt đầu chuyển hướng thâm canh theo cơ cấu câytrồng, mùa vụ thích hợp với đất cát ven biển, đẩy nhanh việc trồng câynguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu, có tác dụng thiết thực trong việc
Trang 31giải quyết vấn đề lương thực Có những hợp tác xã tuy đất cát không màu mỡ,thiếu nước song đã cải tiến cơ cấu cây trồng nên có sản phẩm xuất khẩu, làmrau năng suất cao, cải thiện đời sống, có đóng góp cho Nhà nước Nhân dân
đã có thêm thu nhập từ nghề phụ, như sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gốm, sứ,dệt, mỹ nghệ xuất khẩu Hoạt động kinh tế đã có sự kết hợp với nhiệm vụ bảo
vệ an ninh, củng cố quốc phòng, phòng thủ ven biển Văn hóa xã hội có tiến
bộ hơn
Tuy vậy, so với yêu cầu, vùng ven biển Hà Tĩnh vẫn còn nhiều yếukém Kinh tế miền biển chưa thoát khỏi tình trạng trì trệ; tiềm năng to lớn vềngư, nông, lâm nghiệp, lao động và ngành nghề chưa được tổ chức khai thác
có hiệu quả Lao động nhàn rỗi còn nhiều, chưa giải quyết hợp lý, sản lượngcác ngành nghề còn quá thấp, mức sống nhân dân chưa ổn định, khó khăn cảvật chất và tinh thần kéo dài Sự kết hợp chưa tốt giữa sản xuất với chế biến
va lưu thông phân phối, Nhà nước chỉ mới nắm được 1/3 sản lượng hải sản.Muối tồn kho quá lớn do ách tắc giao thông Người nhiều, đất ít nhưng chưatận dụng để trồng cây, chưa tạo vành đai khép kín bờ biển phục vụ cho kinh tế
và quốc phòng, tình trạng cát lấn ruộng ngày càng nhiều, ảnh hưởng lớn đếnsản xuất nông nghiệp Quản lý kinh tế, xã hội còn nhiều lỏng lẻo Thực hiệnkhoán sản phẩm, phân phối sản phẩm trong hợp tác xã miền biển chưa đượctổng kết, bổ sung kịp thời, chưa hài hóa ba lợi ích, thiên về lợi ích xã viên,nhiều hợp tác xã không có tích lũy
Tiểu kết chương 1
Với 137 km bờ biển, với vùng lãnh hải rộng khoảng 20 ngàn km2, với
vị trí địa lí là điểm giữa của cầu nối tuyến Bắc - Nam và cửa ngõ phía Đôngcủa trục Đông - Tây, Hà Tĩnh có vị trí địa lý khá thuận lợi cho việc phát triểnkinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh Hơn thế, với 29 xã ven biển
Trang 32và 31 xã vùng phụ cận ven biển thuộc 5 huyện: Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch
Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, có bờ biển dài, có các cửa biển và cảng biển nướcsâu, Hà Tĩnh có nhiều tiềm năng, lợi thế về tài nguyên biển Bên cạnh nhữngtiềm năng, lợi thế về biển, Hà Tĩnh cũng đang chịu nhiều khó khăn, tháchthức đó là: Điều kiện về khí hậu, thời tiết không thuận lợi, lại thường xuyênchịu ảnh hưởng của thiên tai; tài liệu điều tra cơ bản còn hạn chế; công tácquy hoạch và quản lý quy hoạch chưa được quan tâm đúng mức; sở sở hạ tầng
và đời sống nhân dân vùng ven biển còn hết sức khó khăn, tỷ lệ hộ đói nghèocòn cao, mặt bằng dân trí còn thấp; việc huy động các nguồn vốn đầu tư đểphát triển kinh tế biển còn khó khăn
Mặc dù được đánh giá là tỉnh có tiềm năng, lợi thế lớn về phát triểnkinh tế biển, nhưng trong thời kỳ trước đổi mới, kinh tế ven biển Hà Tĩnh vẫnchưa đạt kết quả tương xứng với tiềm năng: tốc độ phát triển kinh tế - xã hộicòn chậm; giá trị sản lượng công nghiệp - du lịch - dịch vụ còn chiếm tỷ trọngnhỏ trong GDP; khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản còn bấp bênh, chưatạo ra hàng hóa lớn cho xuất khẩu; ngư trường khai thác cạn kiệt
Việc phát triển kinh tế ven biển tương xứng với tiềm năng sẵn có trongthời kỳ mới có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế
- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của tỉnh Hà Tĩnh, nhất là đối với vùngbiển, đặc biệt khi Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 33CHƯƠNG 2 KINH TẾ VEN BIỂN HÀ TĨNH TRONG THỜI KỲ 1986 - 2014
2.1 Sự cần thiết phát triển kinh tế biển và ven biển trong hội nhập kinh tế quốc tế của Hà Tĩnh
2.1.1 Những tác động khách quan
Biển và đại dương được coi là nguồn của cải vô tận có thể thỏa mãn cácnhu cầu của con người trước nhịp độ tăng dân số ngày càng nhanh trên thếgiới Xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới hiện nay là ngày càngchú trọng đến biển hơn, coi trọng những tiềm năng của biển và đại dươngnhiều hơn
Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển khẳng định các tài nguyênđại dương nằm ngoài giới hạn 200 hải lý thuộc chủ quyền các quốc gia cóbiển là “tài sản chung của nhân loại” Mọi quốc gia trên thế giới, dù có biểnhay không có biển đều có quyền tham gia đầu tư thăm dò, khai thác và kinhdoanh theo các quy định của Công ước
Ngày nay, toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ dưới sự tác độngthúc đẩy của cách mạng khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức đã làm tăngsức ép cạnh tranh đối với các nền kinh tế, trong đó có kinh tế biển Nó đòi hỏicác nước trên thế giới phải phát huy tính năng động, sáng tạo, chuẩn bị về mọimặt cho quá trình hội nhập quốc tế Và việc đầu tư cho phát triển kinh tế biểnđược xem là một trong những mũi nhọn quan trọng trong thế kỉ XXI củanhững quốc gia có biển
Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số, nguồn tài nguyên thiênnhiên trên đất liền, nhất là những tài nguyên không còn khả năng tái tạo đượcngày càng cạn kiệt đã đem lại lợi thế vô cùng lớn cho các quốc gia có biển, từ
Trang 34đó nảy sinh nhiều mâu thuẫn về quyền lợi giữa các quốc gia có biển và nhữngnước không có biển gây nên những tranh chấp về quyền lợi, lợi thế trên biển.Bên cạnh đó là sức ép từ môi trường sống đang ngày bị ô nhiễm cũng như sựthiếu hụt các nguồn năng lượng đã thôi thúc các nước càng chú trọng vào đầu
tư khai thác kinh tế biển
Hơn thế, nhiều quốc gia có biển trên thế giới đều đã có những chiếnlược phát triển kinh tế biển nổi lên như Trung Quốc, Mỹ, Canada, Liên bangNga Các nước ở vùng Đông và Đông Nam Á cũng đang khởi động chươngtrình về biển xây dựng vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ thành một cực tăngtrưởng mới trong khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc.Trước xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển của đất nước thì nền kinh tế biểnđóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển
Việt Nam với diện tích đất liền không lớn, mật độ dân số cao, đặc biệt
ở vùng đồng bằng Sông Hồng và các đô thị; có khoảng 1/3 dân số sinh sống ởvùng ven biển và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ biển, nhưng chỉ gần 40% số nàysống nhờ hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp đến biển [2,tr.52]
Trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triểnkinh tế nhằm thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, khoa học trongkhi nguồn tài nguyên đất liền đang ngày một cạn kiệt và không có khả năngtái tạo Để đảm bảo khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững vớitốc độ 8% hàng năm trở lên thì các lĩnh vực kinh tế liên quan đến biển vàkinh tế ven biển phải được coi trọng và đóng vai trò chủ lực trong pháttriển kinh tế [3, tr.53]
Hướng phát triển ra biển càng cấn thiết hơn nữa khi nước ta mở cửa hộinhập trong điều kiện xuất phát điểm thấp Hơn thế, sự đầu tư và khai tháckinh tế biển nước ta chưa thực sự bắt kịp với xu thế chung của thế giới Làmột quốc gia có biển, một nhân tố được xem như là đắc địa, Việt Nam cần
Trang 35tăng cường hơn nữa những khả năng vươn ra biển và xác định đây là nhân tốthúc đẩy các vùng trong đất liền phát triển
Từ vị trí địa - kinh tế, địa - chính trị rất quan trọng của biển Việt Namnên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng ta xác định một nhiệm vụ,một phương hướng, một quyết tâm chiến lược: “Việt Nam phải trở thành mộtquốc gia mạnh về biển và giàu lên từ biển” [14, tr.121]
Quốc gia mạnh về biển là quốc gia xây dựng được tiềm lực mọi mặtkhai thác hiệu quả và bảo vệ vững chắc vùng biển của mình Tiềm lực ở đây
là tiềm lực chính trị, tinh thần, văn hóa, tiềm lực kinh tế - xã hội, tiềm lựckhoa học - công nghệ, tiềm lực quốc phòng - an ninh - đối ngoại
Về quốc phòn an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, với việcmột số quốc gia ven biển Đông chưa đạt được thỏa thuận về phân định vùngbiển, hải đảo đang tiềm ẩn những bất ổn, dễ dẫn đến xung đột, tác động khôngnhỏ đến ổn định khu vực
Thực tiễn phát triển của đất nước đòi hỏi phải xây dựng chiến lược pháttriển kinh tế biển một cách khoa học và hợp lý Cần phải có một chương trìnhhành động toàn diện về biển và vùng ven biển, nhanh chóng xây dựng ViệtNam thành một quốc gia giàu mạnh về biển, cải thiện đời sống cho địaphương vùng biển
Đại hội đại biển toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Namkhẳng định cần phải xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biểntoàn diện, trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh vềkinh tế biển trong khu vực, gắn với đảm bảo quốc phòng an ninh và hợp tácquốc tế; phát triển hệ thống cảng biển, vận tải biển, khai thác và chế biến dầukhí, hải sản, dịch vụ biển, đẩy nhanh công nghiệp đóng tàu biển và công
Trang 36nghiệp khác, chế biến hải sản; Phát triển mạnh, đi trước một bước một sốvùng kinh tế ven biển và hải đảo [13].
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, hòa bình, tự chủ, hợptác, phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, chủ động vàtích cực hội nhập kinh tế quốc tế và nhiều lĩnh vực khác thì một khuynhhướng cơ bản là phải phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia giàu về biển vàmạnh lên từ biển Điều đó đòi hỏi phải có chính sách tạo sức hấp dẫn thu hútmọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển trên tinh thần chủ động, tích cực hộinhập; phát huy triệt để các nguồn lực bên trong, tranh thủ sự hợp tác cácnguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độclập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của mỗi quốc gia
2.1.2 Những tất yếu bên trong
Trước thời kỳ đổi mới, trong bối cảnh chung của cả nước, nền kinh tế,
xã hội của Hà Tĩnh lâm vào tình trạng khủng hoảng Các ngành kinh tế nóichung và kinh tế ven biển nói riêng chậm phát triển Đời sống nhân dân gặpnhiều khó khăn Trình độ dân trí của người dân thấp, chất lượng nguồn nhânlực, nhất là nguồn lao động thuộc kinh tế ven biển còn thiếu và yếu Vấn đềcấp thiết đặt ra đối với Hà Tĩnh là cần phải đổi mới, nhất là chú trọng đến cácngành kinh tế biển Sự cấp thiết đó càng được đẩy mạnh hơn nữa khi đặt trong
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà cả nước đang chú trọng khơi dậynhững tiềm năng của biển
Hà Tĩnh là một trong 28 tỉnh, thành phố của cả nước có biển và cónhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế biển và ven biển Do đó, dể bắtkịp với xu thế chung của cả nước cũng như thế giới, tỉnh Hà Tĩnh đã vạch ranhững chiến lược nhằm phát triển kinh tế ven biển
Nhận thức tầm quan trọng của kinh tế biển, cấp ủy và chính quyền tỉnh
Hà Tĩnh đã có những chủ trương và quyết sách quan trọng hướng việc tập
Trang 37trung nguồn lực phát triển ngành nghề, nâng cao năng suất và hiệu quả cácngành kinh tế biển và ven biển Đó là:
1 Kết luận số 10/KL-TU ngày 17/9/2007 của Ban Thường vụ tỉnh ủy
về việc phát triển kinh tế biển tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020;
2.Quyết định số 2966/QĐ-UBND ngày 14/11/2007 của UBND tỉnh HàTĩnh về việc ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược biểntỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020; với mục tiêu "phấn đấu đưa Hà Tĩnh trở thànhmột tỉnh mạnh về biển, trở thành một trong những trung tâm kinh tế khu vựcBắc Trung bộ; kinh tế biển trở thành động lực thúc đẩy phát triển toàn diệncác lĩnh vực kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng, anhninh; gắn với bảo vệ và phát triển môi trường biển, kinh tế biển sẽ đóng góptrên 55% GDP của tỉnh"
3.Quyết định số 1786/QĐ-TTg ngày 27/11/2012 của Thủ tướng Chínhphủ Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh đếnnăm 2020, tầm nhìn đến năm 2050; Trong đó có quan điểm phát triển: "Tậptrung nguồn lực để phát triển các ngành kinh tế trọng điểm, vùng kinh tế độnglực, phát triển mạnh kinh tế biển và ven biển, tạo chuyển biến căn bản, độtphá về chất lượng tăng trưởng gắn với thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ và nôngnghiệp; từng bước xây dựng Hà Tĩnh trở thành một trong những trung tâmcông nghiệp lớn của đất nước"
4 Nghị quyết 66/NQ-CP ngày 30/5/2013 của Chính phủ về việc phêduyệt Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020 và Kế hoạch sửdụng đất 5 năm đầu kỳ (2011-2015);
5 Quyết định số 308/QĐ-TTg ngày 13/3/2007 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung xây dựng khu kinh tếVũng Áng
Trang 38Những văn kiện đều hướng đến các mục tiêu:
- Phấn đấu đưa Hà Tĩnh trở thành một tỉnh thế mạnh về biển, trở thànhmột trong những trung tâm kinh tế khu vực Bắc Trung Bộ; kinh tế biển trởthành động lực thúc đẩy phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế - xã hội,khoa học - công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; gắn bảo vệ và phát triểnmôi trường biển
- Khai thác lợi thế, tiềm năng về biển, đến năm 2020 các ngành kinh
tế biển và ven biển gồm: Khai thác và chế biến tài nguyên khoáng sản;Kinh tế hàng hải và giao thông biển; Du lịch, đô thị ven biển; Khai thác,nuôi trồng chế biến thủy sản Kinh tế biển sẽ đóng góp trên 55% GDP củatỉnh, thu nhập bình quân đầu người vùng ven biển cao gấp 2 lần mức bìnhquân chung của tỉnh
- Giải quyết tốt các vấn đề cơ sở hạ tầng, xã hội, xóa đói giảm nghèo,phòng, chống thiên tai cải thiện đời sống của nhân dân vùng ven biển
- Sử dụng hiệu quả các nguồn nhân lực, tận dụng tối đa lợi thế về biển
để khuyến khích, thu hút và kêu gọi các nguồn vốn đầu tư từ các thành phầnkinh tế trong và ngoài nước cho mục tiêu phát triển kinh tế biển nhanh và bềnvững [66]
Trên cơ sở những mục tiêu đó, UBND tỉnh Hà Tĩnh cũng đề ra cácnhiệm vụ giải pháp cụ thể cho các sở, ban ngành liên quan để thúc đẩy nhanhviệc phát triển các ngành kinh tế nói chung và kinh tế ven biển nói riêng
2.2 Các ngành kinh tế ven biển Hà Tĩnh trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến năm 2014
2.2.1 Kinh tế thủy sản
Hoạt động của ngành thủy sản luôn gắn liền với quá trình phát triển lâudài của văn hóa, lịch sử con người Việt Nam với những hoạt động trên bếndưới thuyền, quăng chài thả cá,…Hoạt động thủy sản ở Việt Nam ngày càng
Trang 39khẳng định vai trò quan trọng của mình không chỉ trong việc đáp ứng nhu cầulương thực thực phẩm cho con người mà còn đóng góp một phần quan trọngtrong sự phát triển của đất nước So với các tỉnh ven biển trong cả nước thìngành kinh tế thủy sản được xem là một thế mạnh của Hà Tĩnh Từ sau khiđổi mới, đặc biệt là từ năm 1991 đến năm 2014, ngành kinh tế thủy sản HàTĩnh có những chuyển biến mạnh mẽ.
Hà Tĩnh có sự tăng trưởng đáng kể Năm 1991, giá trị khai thác thủy sản là
83151 triệu đồng (chiếm 90,94% giá trị sản xuất thủy sản) đến năm 1995 là
145114 triệu đồng (chiếm 88,66%) và năm 2000 là 211007 triệu đồng(chiếm 81,41%).[8, tr.71] Như vậy, từ 1991 đến 2000, giá trị khai thác của
Hà Tĩnh đã tăng 127856 triệu đồng Đây là một thành tích đáng ghi nhậncủa Hà Tĩnh trong lĩnh vực khai thác thủy sản trong bối cảnh còn nhiều khókhăn sau khi tách tỉnh
Bảng 2.1 Sản lượng khai thác một số loại thủy sản chủ yếu
Trang 40Trong những năm 1991, 1995 và 2000, sản lượng hải sản Hà Tĩnh liêntục tăng, đặc biệt là cá Trong khi đó, do thời tiết không ổn định nên sảnlượng khai thác tôm có biến động qua các năm.
Từ năm 2000 trở đi, giá trị khai thác thủy sản Hà Tĩnh có những biếnđộng đáng kể nhưng nhìn chung là tăng dần qua các năm Theo thống kê, từnăm 2001 đến năm 2005, giá trị khai thác đạt từ 215908 triệu đồng (chiếm79,75%) đến 228359 triệu đồng (chiếm 48,54%), tăng 12451 triệu đồng.[8,tr.71] Sự thay đổi này đặt trong tương quan với giá trị nuôi trồng thủy sảnqua các năm
Bảng 2.2 Sản lượng khai thác một số loại thủy sản chủ yếu (Tấn)
Bảng 2.3 Sản lượng khai thác thủy sản hàng năm (tấn)