1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử văn hóa làng tràng sơn (xã sơn thành, huyện yên thành, tỉnh nghệ an) từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX

139 635 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 19,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tràng Sơn là nơi sinh thành các bậc danh nhân, anh hùng có nhiều đóng góp cho quê hương đất nước; trong đó có ba cha con cháu đều đỗ đạt cao, đó là Lê Kính, Lê Hiệu - hai cha con cùng đậ

Trang 1

TRẦN QUANG HIỂN

LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG TRÀNG SƠN

(XÃ SƠN THÀNH, HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN)

TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THẾ KỶ XX

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Trang 2

NGHỆ AN – 2015

Trang 3

TRẦN QUANG HIỂN

LỊCH SỬ - VĂN HÓA LÀNG TRÀNG SƠN

(XÃ SƠN THÀNH, HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN)

Trang 4

NGHỆ AN – 2015

Trang 5

Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được được sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, tập thể, cá nhân và các cấp ngành.

Trước hết, tôi xin được cảm ơn quý thầy cô trong khoa Đào tạo Sau đại học, khoa Lịch sử trường Đại học Vinh đã tận tình dạy dỗ và truyền thụ kiến thức cho tôi trong quá trình học tập tại trường Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc

đến TS Trần Vũ Tài, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên

cứu và hoàn thành luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã Sơn Thành, các dòng họ và nhân dân làng Tràng Sơn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát thực địa

Đồng thời, qua đây tôi cũng muốn bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới các cán bộ Trung tâm thư viện Nguyễn Thúc Hào – Trường Đại học Vinh, Thư viện tỉnh Nghệ An, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình khảo cứu các tài liệu liên quan đến đề tài Xin được cảm ơn gia đình cùng bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Mặc dù đã nỗ lực song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn đọc

Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 8 năm 2015

Tác giả

Trần Quang Hiển

Trang 6

Chương 1 Lịch sử hình thành và phát triển của làng Tràng Sơn 7

Chương 2 Diện mạo văn hóa vật chất của làng Tràng Sơn 41

Trang 7

2.1.2 Đền thờ Cao Sơn 42

Trang 8

Chương 3 Đời sống văn hóa tinh thần của làng Tràng Sơn 70

Trang 9

3.5.1 Văn xuôi dân gian 90

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

1 Làng xã là đơn vị hành chính và cũng là đơn vị kinh tế, văn hóa; lịch sử của các làng xã phản ánh một phần lịch sử phát triển của quốc gia dân tộc Trong lịch sử trường tồn đầy hào tráng của dân tộc Việt Nam, làng xã giữ một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng tính từ buổi đầu dựng nước, từ cuộc đấu tranh chống “đồng hóa” của phong kiến phương Bắc suốt ngàn năm, cho đến những cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập cũng như chiến tranh giải phóng dân tộc sau này Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, làng xã là nơi cung cấp nguồn nhân lực và vật lực, là chỗ dựa tinh thần, là một nhân tố quan trọng làm nên chiến thắng Vì vậy, nghiên cứu lịch sử, văn hóa làng xã

là góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa của đất nước

Làng quê Việt luôn được xem như là hình ảnh của nước Việt Nam thu nhỏ Trong xu thế toàn cầu hóa, đất nước bước vào thời kỳ hội nhập sâu rộng, bên cạnh những thành tựu to lớn; thì nay, một số giá trị lịch sử - văn hóa trong đó có văn hóa làng xã đang dần bị lãng quên, mai một Mặt khác

sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước luôn luôn phải gắn liền với sự nghiệp xây dựng, củng cố và phát triển nền văn hóa dân tộc vừa có âm hưởng truyền thống vừa hiện đại Vì vậy, những giá trị văn hóa, bài học lịch

sử, những đóng góp của các thế hệ cha ông, những truyền thống quý báu của quê hương cần được mọi người tôn trọng, gìn giữ và phát huy Trong đó, việc gìn giữ và phát triển văn hóa làng xã đóng vai trò quan trọng, chính vì thế việc tìm hiểu và nghiên cứu những giá trị lịch sử, văn hoá, hiểu thêm về các làng xã Việt Nam là điều cần thiết

2 Làng Tràng Sơn, xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An là một làng cổ, có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa Ngoài những nét chung giống với bao làng Việt, làng Tràng Sơn còn mang những đặc trưng văn hóa

Trang 11

riêng của mình như là ngôn ngữ, phong tục tập quán Tràng Sơn là nơi sinh thành các bậc danh nhân, anh hùng có nhiều đóng góp cho quê hương đất nước; trong đó có ba cha con cháu đều đỗ đạt cao, đó là Lê Kính, Lê Hiệu - hai cha con cùng đậu Tiến sĩ và làm Thượng thư dưới thời Lê Trung Hưng,

Lê Mai (con của Lê Hiệu) đậu Giải nguyên, hậu duệ của các ông là Phó bảng

Lê Doãn Nhã - nhà yêu nước nổi tiếng trong phong trào Cần vương cuối thế

kỷ XIX; và còn nữa, làng Tràng Sơn là nơi sinh thành, nuôi dưỡng nên người con ưu tú Trần Can - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, một trong số

ba anh hùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ của tỉnh Nghệ An Tràng Sơn là nơi lưu giữ nhiều công trình văn hóa, lịch sử được xây dựng từ trước đến nay; với hơn 10 di tích lịch sử, văn hóa; hiện đã có 01 di tích được xếp hạng

di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia Nơi đây cũng còn lưu giữ nhiều giá trị

văn hóa phi vật thể với nhiều truyền thống nổi bật như: truyền thống hiếu học, truyền thống yêu nước và cách mạng, truyền thống nhân văn tương thân, tương ái Không những thế, Tràng Sơn còn là một làng quê có nguồn văn hóa dân gian phong phú Nghiên cứu về lịch sử - văn hóa làng Tràng Sơn góp phần vào việc giáo dục truyền thống, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng trong đời sống hôm nay là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc

3 Nghiên cứu một cách có hệ thống về lịch sử phát triển của lịch sử, văn hóa làng Tràng Sơn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX, góp phần làm rõ lịch

sử hình thành và phát triển của làng, một trong những làng quê điển hình ở huyện lúa Yên Thành Từ đó làm rõ những đóng góp của làng Tràng Sơn,

xã Sơn Thành huyện Yên Thành đối với nền văn hóa xứ Nghệ và dân tộc qua từng thời kì lịch sử Việc khảo cứu, nghiên cứu một cách có tâm huyết của nhiều người cùng với những đóng góp của đề tài sẽ góp phần bổ sung nguồn tài liệu hữu ích trong lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa

Trang 12

phương ở Nghệ An, góp phần giáo dục truyền thống lịch sử và văn hóa cho thế hệ trẻ.

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Lịch sử - văn hóa làng

Tràng Sơn (xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An) từ thế kỷ

XV đến thế kỷ XX” làm luận văn tốt nghiệp Cao học thạc sỹ, chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Ở Nghệ An trước năm 1945 đã xuất hiện một số tác phẩm như

“Quỳnh Lưu phong thổ ký”, “Diễn Châu phong thổ ký”, “Nho Lâm phong thổ ký” “Quỳnh Đôi phong thổ ký”, “Diễn Châu - Đông Thành huyện thông chí” nội dung các tác phẩm này ít nhiều đề cập đến lịch sử văn hóa một số làng xã ở địa phương Từ sau năm 1945, việc nghiên cứu văn hóa dân gian

ở Nghệ - Tĩnh đã nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền và các nhà nghiên cứu, nhiều công trình xuất hiện như: “Hát ví Nghệ Tĩnh” của Nguyễn Chung Anh, “Hát Dặm Nghệ Tĩnh”, “Ca dao Nghệ Tĩnh” của Nguyễn Đổng Chi và Ninh Viết Giao, “Hát phường vải”, “Vè Nghệ Tĩnh”,

“Thơ văn Xô Viết Nghệ Tĩnh”, “Chuyện kể dân gian xứ Nghệ”, “Truyện trạng xứ Nghệ”, “Kho tàng ca dao xứ Nghệ”, “Trò chơi dân gian xứ Nghệ”,

“Tục thờ thần và thần tích Nghệ An”, “Văn hóa ẩm thực xứ Nghệ”, “Về văn

hóa xứ Nghệ” của Ninh Viết Giao, ngoài ra còn có khá nhiều các công trình của các nhà nghiên cứu trong và ngoài tỉnh Các công trình này đã tập trung nghiên cứu về văn hóa dân gian, văn hóa làng xã, về nếp sống, phong tục, tôn giáo, tín ngưỡng của một số làng xã cụ thể cũng như những đặc trưng của văn hóa làng xã xứ Nghệ nói chung

Tìm hiểu về làng Tràng Sơn xã Sơn Thành, huyện Yên Thành từ

trước tới nay đã có một số công trình như: “Lịch sử xã Sơn Thành” (NXB Văn hóa thông tin, Hà nội 2012), “Tràng Sơn một làng văn hóa dân gian

Trang 13

phong phú” (Phan Bá Hàm và Nguyễn Tâm Cẩn, NXB Văn hóa thông tin,

Hà Nội, 2014) bước đầu đã cung cấp một số thông tin tư liệu quan trọng, khá phong phú về lịch sử - văn hóa làng Tràng Sơn Ngoài ra còn có một số tác phẩm, bài báo viết về các nhân vật lịch sử là con dân làng Tràng Sơn như Lê Kính, Lê Hiệu, Lê Doãn Nhã, Trần Can Tuy nhiên, chưa có công trình nào khảo cứu một cách đầy đủ và hệ thống về lịch sử - văn hóa làng Tràng Sơn

Nghiên cứu đề tài “Lịch sử - Văn hóa làng Tràng Sơn (xã Sơn

Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An) từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX”,

chúng tôi muốn có cái nhìn tổng quan đầy đủ và khoa học hơn về lịch sử, văn hóa làng Tràng Sơn trong tiến trình phát triển của lịch sử, văn hóa dân tộc từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.

3.1 Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lịch sử và văn hóa làng Tràng Sơn,

xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài xác định giải quyết các vấn đề khoa học

sau:

- Lịch sử hình thành và phát triển của làng Tràng Sơn

- Diện mạo văn hóa vật chất của làng Tràng Sơn

- Đời sống văn hóa tinh thần của làng Tràng Sơn

- Làm rõ các giá trị lịch sử và văn hóa làng Tràng Sơn, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp để bảo lưu và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa làng

3.3 Phạm vi nghiên cứu.

Trang 14

- Về không gian: Đề tài nghiên cứu tại làng Tràng Sơn xưa, nay thuộc xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Ngoài ra tác giả còn điền

dã khảo cứu thực tế thêm một số làng ở Yên Thành có liên quan đến đề tài để đối chiếu so sánh

- Về thời gian: Nghiên cứu lịch sử, văn hoá làng Tràng Sơn trong khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XV đến thế kỷ XX (1975)

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.

4.1 Nguồn tài liệu.

- Nguồn tài liệu gốc: Các tư liệu gốc là gia phả, sắc phong, câu đối, khoa

lục một số dòng họ, sổ sách ghi chép, thống kê về làng Tràng Sơn của các dòng họ, các cụ cao niên, các chuyên gia còn lưu giữ được Chúng tôi cũng cố gắng khảo cứu các tư liệu viết trên các văn bia, hoành phi tại nhà thờ của các dòng họ lớn ở làng Tràng Sơn

- Nguồn tài liệu tham khảo: Bao gồm các công trình lịch sử, địa lý, văn

hóa đã công bố phản ánh về văn hóa làng Tràng Sơn nói riêng, làng xã

xứ Nghệ và cả nước nói chung lưu ở các thư viện: Thư viện tỉnh Nghệ

An, Thư viện trường Đại học Vinh, Thư viện Quốc gia và Thư viện huyện Yên Thành

- Tư liệu điền dã: Tư liệu có được thông qua việc điền dã, khảo sát của

tác giả ở làng Tràng Sơn, xã Sơn Thành và một số làng khác ở huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An

4.2 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp luận khi thực hiện đề tài là dựa trên lý luận của chủ nghĩa

Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lịch sử và văn hóa

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Chúng tôi sử dụng hai phương pháp

chuyên ngành cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic

Trang 15

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp liên ngành như điều tra xã hội học, điền dã dân tộc học, phỏng vấn báo chí…nhằm đảm bảo tính khoa học của quá trình phân tích, lí giải các vấn đề lịch sử văn hóa

ở làng Tràng Sơn

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn hoàn thành có thể có những đóng góp sau đây:

- Là đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ về lịch sử và văn hóa của làng Tràng Sơn

- Làm sáng rõ những giá trị lịch sử và văn hóa của làng Tràng Sơn và đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa của làng

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phương, phục vụ công tác giáo dục truyền thống, giảng dạy lịch sử địa phương ở các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Nghệ An, huyện Yên Thành

- Luận văn cũng góp phần khảo cứu, đánh giá các giá trị văn hóa vật chất

và tinh thần của làng, qua đó giáo dục cho thế hệ trẻ hiểu thêm về lịch

sử của làng nói riêng, của dân tộc nói chung, từ đó biết nâng niu, trân trọng gìn giữ và có ý thức phát huy truyền thống tốt đẹp của làng

7 Bố cục luận văn.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Lịch sử hình thành và phát triển của làng Tràng Sơn.

Chương 2 Diện mạo văn hóa vật chất của làng Tràng Sơn

Chương 3 Đời sống văn hóa tinh thần của làng Tràng Sơn

Trang 16

“đặt là Trấn Vọng Giang” [51, tr 9]; Tĩnh quốc Vương Trần Quốc Khang và sau đó là Chiêu minh Vương Trần Quang Khải cũng chọn Kẻ Dền – Công Trung Thượng làm lỵ sở của Nghệ An Cho đến thời Trần Yên Thành đã là một trong những vùng đất phát triển nhất của Nghệ An cả về nhân lực và vật lực; dân cư đông đúc đã quy tụ thành hệ thống làng xã trải dài khắp huyện từ Bắc đến Nam, từ Đông sang Tây, kinh tế nông nghiệp phát triển với nghề nông trồng lúa nước.

Làng Tràng Sơn, xã Sơn Thành nằm ở cực phía Nam của huyện Yên

Thành, trên tọa độ khoảng 18 0 55 ’ Vĩ Bắc và 105 0 26 ’ Kinh Đông, nằm sát

chân núi phía Bắc của dãy Đại Vạc, ở rìa phía Nam vùng đồng bằng rộng lớn Diễn - Yên - Quỳnh; cách thành phố Vinh khoảng hơn 40 km về phía Bắc,

Trang 17

cách trung tâm huyện Yên Thành khoảng 13 km về phía Nam, cách Thị trấn Diễn Châu khoảng 15 km về phía Tây

Phía Đông làng Tràng Sơn là Rú Bạc và Động Thờ (Cao Sơn), bên kia núi là xã Diễn Lợi, huyện Diễn Châu; phía Tây giáp với những dãy đồi thấp của xã Bảo Thành (tiếp giáp với động Tù Và thuộc xã Công Thành); phía Bắc là làng Yên Duệ; phía Tây - Bắc tiếp giáp làng Lương Hội, xã Sơn Thành; phía Nam là động Tranh, động Rãy thuộc dãy Đại Vạc, phía bên kia núi là Đồng Quỹ thuộc xã Nghi Văn, huyện Nghi Lộc; phía Tây – Nam có một phần nhỏ tiếp giáp với xã Đại Sơn, huyện Đô Lương (Dãy Đại Vạc thuộc hệ thống chân dãy Trường Sơn, từ Anh Sơn, xuống Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, Nghi Lộc đến tận Biển Đông; dãy Đại Vạc có nhiều nhánh nhỏ, nhiều chỗ đứt khúc thành nhiều ngọn núi khác nhau; trong đó có Động Tù Và là một phần ranh giới tự nhiên giữa Đô Lương với Yên Thành, Động Rãy là ranh giới giữa xã Sơn Thành, huyện Yên Thành với xã Nghi Văn, huyện Nghi Lộc; núi Cao Sơn là ranh giới giữa xã Sơn Thành với các

xã Diễn Thắng, Diễn Lợi của huyện Diễn Châu )

Làng nằm cạnh con đường là mạch máu giao thông trong cuộc sống của cư dân Yên Thành – Nghi Lộc và cũng là con đường chiến lược quan trọng trong những cuộc hành quân vào Nam ra Bắc của các triều đại phong kiến ngày xưa cũng như của quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ sau này, ngày nay là đường 534 Chạy sát làng còn có kênh đào N2 thuộc hệ thống công trình thủy nông Bắc Nghệ An dẫn nước Sông Lam

từ Bara Đô Lương về cung cấp cho đồng ruộng các xã vùng Nam Yên Thành

và một số xã thuộc khu vực Tây Nam của huyện Diễn Châu Phía Đông Bắc làng còn có Khe Cát (tiếng địa phương gọi là Khe Gát); Khe Cát hình thành

từ khá nhiều nhánh khe nhỏ xuất phát từ các dãy núi phía Đông và Đông Bắc của làng như Khe Mây, Khe Đông, Khe Pheo, Khe Nốc, Khe Móm, Khe Lấp ; Khe Cát là một trong những nguồn cung cấp chính về cát sạch trong

Trang 18

xây dựng và nước sạch phục vụ đời sống sinh hoạt cũng như chăn nuôi, trồng trọt cho cư dân làng Tràng Sơn Cách làng khoảng 3 km về phía Bắc là Chợ Bộng, một chợ lớn lâu đời ở vùng Nam Yên Thành; là nơi trao đổi, mua bán các sản phẩm và vật dụng cần thiết của cư dân Tràng Sơn và các làng trong vùng (Chợ Bộng xưa thuộc làng Viên Sơn, xã Viên Thành) Địa thế của làng nằm chủ yếu nằm về phía Đông đường tỉnh lộ 534, ngày xưa vùng đất canh tác, khai phá của làng có chiều dài từ Nam ra Bắc khoảng 3km và chiều rộng Đông sang Tây khoảng hơn 4km (tính theo đường chim bay).

Nhìn xa về phía Tây - Bắc làng Tràng Sơn, thấp thoáng là dãy núi Xanh Gám (còn có hai tên gọi khác là Nhôn Sơn, Rú Gám, thuộc xã Xuân Thành, Yên Thành,); phía Tây có động Tù Và (còn gọi là núi Bồ Lĩnh); phía Đông là động Thờ (hay núi Cao Sơn)

Theo quan niệm lâu đời của cư dân Yên Thành nói chung và làng Tràng Sơn nói riêng thì Xanh Gám, động Tù Và và động Thờ là ba ngọn núi thiêng của Yên Thành Rú Gám là danh sơn của vùng đất Yên Thành, mang hình dáng của loài chim Phượng Hoàng cao quý, trên núi có đền Bạch Thạch linh thiêng; Rú Gám cùng với Sông Dinh từ xa xưa đã trở thành biểu trưng của quê lúa Yên Thành, hiện tại nơi đây đang tiến hành xây dựng Thiền viện Trúc lâm Yên Thành Động Thờ thuộc địa phận làng Tràng Sơn [23, tr 491], trên đỉnh núi có đền thờ thần Cao Sơn Động Tù Và thuộc địa phận xã Công Thành, huyện Yên Thành Trong dân gian có câu ca:

Cao nhất là Động Tù Và Thứ nhì Xanh Gám, thứ ba động Thờ.

Theo số liệu trong bản đồ của Bộ tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam in năm 1967 thì Rú Gám cao 260m, động Tù Và cao 249m và động Thờ cao 210,5m Điều này chứng tỏ rằng câu ca trên là của cư dân các làng trong khu vực Nam Yên Thành, trong đó có làng Tràng Sơn Do không

có phương tiện đo đạc chính xác, chỉ ước lượng bằng mắt thường và cảm

Trang 19

nhận qua những bước chân trần trong những lần lên núi lễ cúng, do vị trí quan sát của người dân ở vùng Nam Yên Thành gần với động Tù Và nên kết luận như vậy

Làng Tràng Sơn hiện nay quy tụ xung quanh Rú Vắp (thường gọi là Động Đền vì trên đỉnh có đền Nhà Quan), gồm 3 xóm: xóm 10, xóm 11 và xóm 12 thuộc xã Sơn Thành

Cư dân làng quy tụ tại Rú Vắp và khai phá, canh tác trên các cánh đồng xung quanh làng như đồng Tráu, đồng Chùa, Biên Bạn, Cửa Trang, Bàu Vải, đồng Đuôi Leo, Đồng Quan, Đồng Yên, Khe Môn, Cửa Lở, Cửa Làng, Đồng Lầy, Đồng Cống, Rú Đình, Thần Nông, Chùa Trướng… Ven các chân núi thường

có các trại của một số gia đình đông con, khỏe mạnh và can đảm sinh sống Khu vực Tràng Sơn xưa bây giờ thuộc các xóm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11,

12, 13 của xã Sơn Thành; tổng diện tích khoảng 1 200 ha (350 ha đất canh tác, 130 ha đất thổ cư, còn lại là đất rừng núi); trong đó chỉ có một số ít ruộng đất được coi là màu mỡ ở đồng Chùa Trướng, Bàu Vải, Đuôi Leo, Cửa Làng;

đó là những cánh đồng thấp, ít khi khô hạn, ít nhiều được phù sa bồi đắp, sau này dùng được nước nông giang nhưng diện tích không nhiều Phần lớn diện tích đất đai Tràng Sơn xưa là những cánh rừng rậm rạp, những bãi cỏ rộng ven chân núi và ruộng, vườn bạc màu đặc trưng của vùng bán sơn địa có độ dốc cao nên bị nước mưa xói mòn nhiều qua các mùa mưa lũ Chính điều kiện đất đai bạc màu, canh tác gặp nhiều khó khăn đã có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế của cư dân Tràng Sơn xưa cũng như nay

Trang 20

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, trong phong trào xây dựng hợp tác

xã nông nghiệp, và còn một phần nữa là trong thời kỳ chiến tranh phá hoại, cầu Tràng Sơn trên đường 534 bên cạnh làng bị không quân Mỹ đánh phá ác liệt; chính quyền xã vận động bà con làng Tràng Sơn (cũng như nhân dân Lương Hội và Yên Duệ - hai làng khác của xã Sơn Thành) di dân vào sinh sống tại các vùng đồi núi lập nên các xóm mới ở Rú Me, Rú Nhót, Cửa Truông, Rú Bùi, Khe Môn, Rú Bạc (bây giờ là các xóm 1,2 ,3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

và xóm 13 xã Sơn Thành) Từ đó, địa phận làng Tràng Sơn chỉ còn lại các xóm 10, 11, 12, ruộng đồng của làng cũng thu hẹp lại rất nhiều so với trước khi thành lập các hợp tác xã nông nghiệp Năm 2014, cả ba xóm có tổng diện tích là 59,4 ha; trong đó đất canh tác là 32,5 ha và 26,9 ha đất thổ cư Riêng từng xóm thì: xóm 10 có 22,9 ha đất trong đó có 11,4 ha đất canh tác, 11,5 ha đất thổ cư, trong đó 2,7 ha đất ở và 8,8 ha đất vườn Xóm 11 có 21,7 ha đất trong đó 15,6 ha đất canh tác và 6,1 ha đất thổ cư, đất ở là 1,7 ha và 4,4 ha đất vườn Còn xóm 12 có 24, 8 ha đất, đất canh tác là 5,5 ha cùng với 9,3 ha đất thổ cư gồm 2,2 ha đất ở và 7,1 ha đất vườn

1.2 Lịch sử hình thành của làng.

1.2.1 Quá trình lập làng.

Cho đến thời điểm hiện nay; mặc dù đã có khá nhiều tài liệu viết về các nhân vật lịch sử là cư dân làng Tràng Sơn như Lê Kính, Lê Hiệu, Lê Doãn Nhã, Trần Can, trong đó có nhắc đến tên Tràng Sơn Trại, làng Tràng Sơn nhưng chưa có tài liệu nào đề cập đến thời gian thành lập làng Tràng Sơn; và

gần đây nhất, hai tài liệu “Lịch sử xã Sơn Thành” và “Tràng Sơn, một làng văn hóa dân gian phong phú” đã được xuất bản nhưng chưa thống nhất về thời gian lập làng “Lịch sử xã Sơn Thành” cho rằng “Tràng Sơn là làng cổ

nhất của xã Sơn Thành” [40, tr 12] và “làng Tràng Sơn được hình thành trong thời kỳ các Vua Hùng dựng nước” [40, tr 13] Hương ước xóm 10 và xóm 12 thì cho rằng làng Tràng Sơn hình thành đầu thế kỷ XV [34] Còn các tác giả

Trang 21

của cuốn “Tràng Sơn, một làng văn hóa dân gian phong phú” lại cho rằng

“Những năm đầu thế kỷ 14, một vị tướng người họ Hồ ở Quỳnh Lưu mà dân Tràng Sơn gọi là Quan Mạnh tướng đã tiến hành quy tụ các gia đình sống rải rác ở vùng Đồng Yên (gần Khe Cát), Cồn Trại (Đan Trại)… tập trung lại trên một vùng đồi thấp gọi là Rú Vắp tức là đất xóm 10, 11, 12 hiện nay lập

ấp hình thành nên Đan Trung trại (trại nhỏ hơn làng) Sau đó là một thời gian dài, làng mang tên Tràng Sơn Đan Trung” [31, tr 25]

Vậy làng Tràng Sơn hình thành vào thời gian nào; tên gọi Tràng Sơn bắt nguồn từ đâu, nghĩa là gì, sao có lúc lại gọi là Trường Sơn; là những câu hỏi cần được giải đáp một cách khoa học trên những cơ sở chính xác về mặt lịch sử

Thứ nhất, để xác định rõ có phải Tràng Sơn là làng cổ nhất trong số ba

làng của xã Sơn Thành hay không, chúng tôi đã tìm về hai làng khác trong cùng xã là Lương Hội (có chỗ chép là Xa Hội) và Yên Duệ (có chỗ chép là

An Duệ) để tìm hiểu Làng Yên Duệ do ông tổ của họ Trần Bá là Trần Bá Thành chiêu dân, khai khẩn đất đai thành lập làng, từ hàng trăm năm trước, cụ Trần Bá Thành đã được làng Yên Duệ tôn thờ là Thành Hoàng làng, họ Trần

Bá đang giữ được sắc phong của nhà vua cho cụ tổ của họ Tại nhà thờ họ Trần Bá cũng đang giữ đạo sắc của vua Duy Tân năm 1909 sắc cho làng Yên Duệ thờ phụng “Trần Triều Trạng Nguyên Bạch Tướng Công Chi Thần” Tại sao vua Duy Tân lại sắc cho làng Yên Duệ thờ phụng Trạng nguyên Bạch Liêu, Bạch Liêu có quan hệ như thế nào với làng Yên Duệ? Trong “Đại Việt

sử ký tiền biên” chép rằng “Bính Dần, Thiệu Long năm thứ chín (1266) Tháng ba, mở khoa thi chọn học trò, cho Trần Cố đỗ kinh Trạng nguyên, Bạch Liêu đỗ trại Trạng nguyên, Khi đó Thượng tướng Quang Khải quản châu Nghệ An, Liêu chỉ làm khách, không ra làm quan” [11, tr 418, 419] Bạch Liêu vốn quê làng Trúc Hạ, xã Thanh Đà, nay thuộc xã Mã Thành, huyện Yên Thành, là vị tổ khai khoa của Yên Thành và cũng là của cả Xứ

Trang 22

Nghệ “Khi đi thi, ông dời cư đến thôn Quảng Động, xã Nguyên Xá (lúc bấy giờ xã Nguyên Xá bao gồm các làng Viên Minh, Hậu Luật, Vân Nam, Bảo

Cứ, An Duệ, Xa Hội, Trầm Nội, Bảo Nham, Tiên Hồ)” [41, tr 17], huyện Đông Thành; đến “thời Nguyễn, ở xã Nguyên Xá có nạn hổ rừng về quấy rối dân họ Bạch liền di cư vào đất Hoàng Hà (Can Lộc) dời luôn cả lăng mộ Bạch Liêu vào táng ở đất Can Lộc, phía trước chùa Hương Tích của núi Hồng Lĩnh” [12, tr 39] Sau khi họ Bạch dời đi, nhân dân Nguyên Xá dựng một ngôi miếu thờ Bạch Liêu trên đỉnh Động Sơn, cách chợ Bộng khoảng hơn 1 km về phía Đông – Nam; miếu thờ nay đã đổ nát, chỉ còn lại dấu vết nền tường đá và Ban thờ xây bằng gạch trát vôi vữa, người dân trong vùng gọi đây là “đền thờ quan trạng Bạch” và thường thắp hương lễ cúng ngày rằm và mùng một hàng tháng Theo ông Nguyễn Hữu Bá, năm nay 90 tuổi, trú tại xóm 10, xã Viên Thành thì thôn Quảng Động xưa ở phía Đông Nam của Động Sơn, nay là xóm

10 và xóm 11, xã Viên Thành, huyện Yên Thành Từ đây cho thấy trước năm

1266, khu vực Nam Yên Thành dân cư đã phát triển đông đúc Khi Thượng tướng Trần Quang Khải đem quân đóng giữ Nghệ An; vốn mến tài của Bạch Liêu, Trần Quang Khải đã mời Bạch Liêu làm môn khách, xem như là quân

sư, đàm đạo, tham khảo ý kiến của Bạch Liêu trong công việc Theo PGS TS Trần Bá Chí “Trần Quang Khải gặp và dùng Bạch Liêu là một sự hội ngộ tương đắc như Huyền Đức gặp Gia Cát Khổng Minh” [12 , tr 32] Bạch Liêu vốn hiểu rõ địa thế và tầm quan trọng chiến lược của Yên Thành cũng như Nghệ An đối với công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên của dân tộc; vùng đất Nam Yên Thành là một trong những yết hầu án ngữ con đường quan trọng từ Nam Đàn, Nghi Lộc ra Yên Thành (thời trước ở Nghệ An có ba ngả đường chiến lược quan trọng là con đường thiên lý Bắc – Nam chạy gần biển,

bị cản trở bởi nhiều sông ngòi; thứ hai là con đường đi qua Nghi Lộc – Yên Thành (qua Tràng Sơn, Sơn Thành); thứ 3 là ngả qua Đô Lương, Tân Kỳ; còn con đường thượng đạo mà nghĩa quân Lam Sơn đã tiến vào Nghệ An thì lại

Trang 23

quá hiểm trở nên rất ít khi sử dụng) Trần Quang Khải đã thực hiện theo kế

sách “Biến pháp tam chương” của Bạch Liêu Việc Trần Bá Thành chọn

vùng đất Yên Duệ để lập làng là theo chủ ý của Bạch Liêu (làm chỗ dựa cho đồn binh Kẻ Sỏi) nên sau này (khi thôn Quảng Động li tán hết), vua Duy Tân

đã sắc cho làng Yên Duệ thờ phụng Bạch Liêu Cũng trong thời gian này một

bộ tướng của Trần Quang Khải là Chu Văn Luyện được lệnh đóng quân ở Kẻ Sỏi, sau chiến tranh, con cháu ông và một số binh lính định cư lại đất Kẻ Sỏi

và dần hình thành làng Xa Hội – Lương Hội Chu Văn Luyện được dân làng Lương Hội thờ là Thành hoàng làng; theo Gia phả họ Nguyễn ở Lương Hội thì đến đời thứ 4 họ Chu đổi thành họ Nguyễn, tướng quân Chu Văn Luyện quê ở Đông Sơn, Thanh Hóa Theo ông Nguyễn Văn Tuyến, thành viên Hội đồng gia tộc họ Nguyễn Văn, khi đối chiếu với Gia phả họ Chu ở phường Đông Sơn thì trùng khớp nhau [45]

Thứ hai, về tên gọi Tràng Sơn; theo nhà giáo Nguyễn Duy Đối (79 tuổi,

là người đã viết lại tập “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh bằng thư pháp trên giấy khổ lớn), xét chữ Tràng Sơn trong Gia phả họ Lê Văn do cụ Tú tài

Lê Văn Đăng biên soạn năm 1871 và trong Sắc phong của vua Khải Định cho ông Nguyễn Duy Bôi ở nhà thờ họ Nguyễn Hữu và một số văn tự khác thì chữ Sơn nghĩa là Núi, chữ Tràng (còn đọc là Trường) nghĩa là Dài Vậy có thể hiểu tên gọi Tràng Sơn và Trường Sơn chỉ là một Do khu vực định cư, canh tác của cư dân nằm ven những dãy núi kéo dài nên đặt tên làng là Tràng Sơn

Qua thần tích và sắc phong cổ cho thấy ở làng Tràng Sơn có thần tích đền Nhà Quan là nơi thờ “Bản cơ Mạnh tướng quân truy tôn chư mỹ tự, gia tăng Dực bảo trung hưng Trung đẳng thần” [23, tr 491]; còn thần tích khác là

“Đền Xã thờ Hoàng Giáp Lê tướng công húy Trung Mẫn” [23, tr 492]; sắc phong ở nhà thờ họ Nguyễn Hữu do vua Khải Định phong cho ông Nguyễn Duy Bôi là “thần Dực bảo Trung hưng” [45] Đó là ba nhân vật có nhiều công lao được dân làng tôn thờ Trong số ba nhân vật thì “Hoàng Giáp Lê Tướng

Trang 24

công” là Lê Hiệu (1617 – 1680), ông Nguyễn Duy Bôi sống trong thế kỷ XVIII, còn Quan Hồ Mạnh tướng là người xuất hiện sớm nhất; theo truyền tụng của các thế hệ dân làng, khi Quan Hồ Mạnh tướng đến Tràng Sơn thì đã dân cư đã sinh sống rải rác trong khu vực này, được ông quy tụ lại ở hai khu vực Tràng Sơn và Đan Trung Theo tập tục của người Việt thì người đầu tiên khai đất lập làng được thờ làm Thành hoàng làng, nhưng ba nhân vật trên không phải là những người đầu tiên khai khẩn đất đai, lập nên làng Tràng Sơn Vậy ai là người đầu tiên đến đất Tràng Sơn, đến vào thời gian nào? Đến

đây có hai giả thuyết được đặt ra: Thứ nhất, những cư dân từ làng Lương Hội

và Yên Duệ trong cuộc sống tự nhiên đã khai khẩn đất đai lập nên những sơn trại đầu tiên ở Tràng Sơn, đây chỉ là trại còn nhà cửa của họ vẫn ở làng quê cũ cách đó chỉ khoảng trên dưới 1 km, sau đó cư dân các nơi khác mới đến Tràng Sơn; sau nhiều năm bị nạn hổ rừng quấy phá, những cư dân đầu tiên

này bỏ trại quay về định cư ở làng cũ Thứ hai, đã từng có một số cư dân,

dòng họ từ nơi khác đến đây sinh sống nhưng họ đã dời đi trước khi hình thành làng Tràng Sơn Dù theo giả thuyết nào thì cũng có điểm chung là những cư dân đầu tiên đến Tràng Sơn chỉ trong thời gian ngắn rồi lại dời cư đi nơi khác, họ không để lại dấu ấn công lao đóng góp nhiều nên không được dân làng sau này tôn thờ

Tìm hiểu về lịch sử làng Tràng Sơn, tham khảo nhiều nguồn tư liệu khác nhau chúng tôi không thấy có tài liệu nào ghi chép cụ thể thời gian lập làng Chỉ có tư liệu cổ nhất là cuốn Gia phả họ Lê Văn (do cụ Tú tài Lê Văn Đăng soạn năm 1871), đoạn chép về ông tổ đời thứ 6 là Lê Kính “Đời Lê Kính Tông, niên hiệu Hoằng Định năm thứ 13, khoa thi Nhâm Tý (1612), ông

24 tuổi, đỗ Hương Cống (mẹ ông 45 tuổi)” [14, tr 9] Vậy tính đến năm đó thì

họ Lê Văn có mặt ở đất Tràng Sơn khoảng gần 150 năm (hơn 6 đời), khoảng giữa thế kỷ XV Cho đến nay, họ Lê Văn có 20 đời, còn họ Lê Trọng và

Nguyễn Trí đều có 22 đời; đây là ba dòng họ lâu đời nhất ở Tràng Sơn

Trang 25

Theo gia phả họ Lê Văn khi chép về giai đoạn cuối thời Lê – đầu thời Tây Sơn có nói rằng “ấp ta từ lâu có giáp Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, Đan Trung Đông, Đan Trung Tây” [14, tr 1, 2], cuối thời Lê, do nạn dịch bệnh và nạn hổ rừng nên “bốn giáp phiêu tán (chỉ còn số ít dân bám trụ tại làng) Đến đời nhà Nguyễn mở nước, nối trị dân nước, vào khoảng thời vua Gia Long, làng xóm, họ hàng trở về quê an nghiệp” [14, tr 1, 2] Căn cứ gia phả các dòng họ cho thấy họ Nguyễn Trí và Lê Trọng có thể đến Tràng Sơn trước họ Lê Văn hai thế hệ.

Dân làng Tràng Sơn qua nhiều thế hệ truyền lại tích Quan Mạnh tướng

đã tập hợp dân làng quy tụ lại xung quanh Rú Vắp, hình thành nên làng sau này; thời điểm đó chỉ có thể là trong nửa đầu thế kỷ XV Từ những cơ sở trên

có thể khẳng định làng Tràng Sơn được hình thành khoảng đầu thế kỷ XV

Dân làng tôn thờ Quan Mạnh Tướng làm Thành hoàng làng; dựng đền thờ ông ngay trên đỉnh Rú Vắp quanh năm hương khói, tế lễ, tỏ lòng tri ân

Từ những căn cứ trên chúng ta có thể khẳng định thời gian thành lập làng Yên Duệ và Lương Hội là trong khoảng nửa sau thế kỷ XIII Tràng Sơn

lúc đó đang là một vùng rừng núi rậm rạp, khoảng đầu thế kỷ XV thì dân cư mới bắt đầu khai phá đất đai Tràng Sơn, lập nên những sơn trại đầu tiên ở đó

Từ thế kỷ XIX đến trước cải cách ruộng đất, làng Tràng Sơn có 7 xóm:

- Xóm Giếng ở phía Tây (là xóm lớn nhất)

- Xóm Trường ở phía nam

- Xóm Vắp ở phía Tây - Bắc

- Xóm Đông ở phía đông

- Xóm Giữa ở giữa làng (giáp xóm Vắp và xóm Giếng)

- Xóm Phát ở phía Đông - Bắc

- Xóm Dầu ở phía Tây Nam

1.2.2 Sự quần cư và mở rộng địa bàn cư trú ở làng.

Trang 26

Vùng đất Tràng Sơn nằm trong khu vực Nam Yên Thành là một vùng đất lâu đời, người Việt cổ đã từng sinh sống trên vùng đất này Thời cổ đại, khi vùng đồng bằng Yên Thành ngày nay đang là những vùng đầm phá ngập nước; người Việt cổ đã có mặt trên những vùng đất ven núi cao

Ở lèn đá Vĩnh Tuy, xã Vĩnh Thành (cách Tràng Sơn khoảng 5 km) từ năm “1961 đến 1965, Sở Văn hóa Nghệ An đã tiến hành khai quật một số hang động, tìm thấy nhiều công cụ đá nằm sâu dưới tầng đất 1m Ở đây còn thu thập được vỏ trấu cạnh bếp tro than” [51, tr 18, 19]

Ở đồi Cồn Mướng, xã Bảo Thành (cách Tràng Sơn khoảng 2 km), là một địa danh có tên trên bản đồ khảo cổ học Việt Nam, nơi đây vào năm

1982, khi trường Phổ thông trung học Vừa học vừa làm Yên Thành còn đóng trên đồi này, thầy giáo Phan Đức Tuyên (giáo viên Sinh học) trong một lần chỉ đạo học sinh lao động đào đất đã thu được một số hiện vật là dụng cụ lao động của người tiền sử Nhà trường đã báo cáo lên ty Văn hoá sau đó Viện Khảo cổ đã cử về hai chuyên gia Với lực lượng học sinh, họ đã tiến hành khai quật một số nơi và đã thu được nhiều hiện vật có giá trị gồm: Công cụ bằng đá với hàng trăm chiếc gồm có rìu đá, chày nghiền hạt, bàn mài… Công

cụ bằng đồng có 4 rìu bằng đồng đã bị rỉ nhưng còn nguyên dạng, to bằng rìu sắt hiện nay Đồ gốm có vò đựng nước, nồi đất, nhiều mảnh còn có hoa văn đẹp… Đặc biệt có một bếp cổ có những hòn đá kê bị đốt sém còn có dấu tích than tro Viện khảo cổ học Hà Nội đã xác định được “niên đại di chỉ này cùng thời với di chỉ Quỳnh Văn có niên đại C14 là 2700 + 75 năm trước Công nguyên” [51, tr 18] Về mặt lịch sử thì đây là thời đại đồ đá cũ bắt đầu chuyển sang thời đại đồ đồng

Trên các cánh đồng thuộc địa phận làng Tràng Sơn như Đồng Yên, Đồng Tráu, Đồng Vườn, Cửa Truông có rất nhiều đá “cứt sắt” tập trung thành những cồn cao Đó chính là nơi người xưa luyện sắt, với kỹ thuật luyện sắt sơ

khai “hoàn nguyên trực tiếp”, sau khi lấy được số ít sắt, phần vứt bỏ là đá

Trang 27

“cứt sắt” đang chứa nhiều sắt trong đó Tính trên địa phận Tràng Sơn có khoảng 5 cồn “cứt sắt” nằm rải rác, cồn này cách cồn khác khoảng gần 1km (những năm đầu thế kỷ XXI, nhu cầu quặng sắt lên cao, có nhiều người từ miền Bắc vào thu mua đá “cứt sắt” nên hiện nay còn lại rất ít).

Trên các sườn núi thấp, chân núi ở thượng nguồn Khe Cát còn có khá nhiều vùng đất bằng phẳng là dấu vết nhà ở của người dân tộc thiểu số, trong vùng còn có khá nhiều nấm đất được quây đắp bằng đá; theo các thế hệ người xưa truyền lại thì đó là “nhà Mường” và “mả Mường”; dưới chân Động Hố có một địa danh là Chợ Bưởi, các thế hệ ông bà ngày trước truyền lại là chợ của người Mường, là nơi trao đổi sản vật, hàng hóa của người Mường với nhau và với người Kinh Trong thung lũng Khe Nốc hiện nay vẫn còn dấu vết một số ruộng nước bậc thang, là ruộng đất từng canh tác của người Mường

Thực tế trên cho thấy vùng đất Tràng Sơn từng được người Việt cổ khai phá từ trước Công nguyên Đáng tiếc, sau khi để lại những di sản khảo cổ trên vùng đất phía Nam huyện Yên Thành, các nhóm người Việt cổ dời cư đi đâu, vào thời gian nào, vì lí do gì không ai rõ Các làng xã lâu đời trong vùng như

Kẻ Lấu, Kẻ Vĩnh (Vĩnh Thành), Yên Xá, Viên Sơn (Viên Thành), Bảo Nham (Bảo Thành), Kẻ Dòi, Kẻ Sỏi (Sơn Thành) đều được hình thành từ thời Lý – Trần; gia phả các dòng họ lớn trong vùng đều chép tổ tiên họ từ nhiều vùng khác nhau di cư đến khai phá đất đai lập nên làng, đến nay khoảng 25 đến 30 đời

Ở Tràng Sơn có gần 20 dòng họ (kể từ năm đời trở lên) sinh sống từ xưa đến nay Ở đây chỉ nêu một số dòng họ lớn:

Họ Lê Trọng, nguồn gốc từ huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá vào đây

đã 22 đời, là một trong 3 dòng họ lâu đời nhất ở Tràng Sơn, nhà thờ Đại tôn hiện ở xóm 11, họ có đến gần 300 hộ sống rải rác ở các xóm thuộc xã Sơn Thành Tộc trưởng hiện nay là ông Lê Bình, hiện là Đại tá công tác ở Bộ

Quốc Phòng Dòng họ có truyền thống học tập khoa cử Trước đây trong họ

Trang 28

có 3 cụ đỗ Tú tài trong đó có ông Tú ba hay Tú mền (người đỗ ba khoa tú tài)

Về sau con cháu cũng có nhiều người học hành giỏi, thành đạt trên nhiều lĩnh vực (hiện có 3 người là Đại tá quân đội), khá nhiều người làm nghề dạy học, nổi tiếng dạy giỏi trong vùng; như thầy Lê Võ, Lê Đào, Lê Anh Tương, Lê Hồng Xứng, thầy Lê Văn Phan nguyên là Hiệu trưởng trường THCS Sơn Thành – Lê Doãn Nhã gần 20 năm; cô Lê Thị Thủy là Hiệu trưởng trường Tiểu học Sơn Thành 9 năm; Tiến sĩ Lê Thanh Bình là giảng viên trường Đại học Vinh

Họ Lê Văn, theo gia phả ghi lại, thì ông tổ của dòng họ từ giáp (giáp

nhỏ hơn làng) Ngọc Long Hạ, tức là làng Ngọc Hạ xã Công Thành ngày nay chuyển xuống, tính đến nay đã 20 đời Nhà thờ tại xóm 12, đã được xếp hạng

Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia Tộc trưởng là ông Lê Văn Phúc thường gọi là ông Đức Họ Lê Văn là dòng họ có nhiều vị khoa bảng và quan chức cấp cao thời phong kiến nổi tiếng không chỉ trong làng, trong huyện Tiêu biểu có tiến sĩ Lê Kính (1587 – 1659), làm quan đến Binh bộ Thượng thư thuộc đời thứ sáu; Hoàng giáp Lê Hiệu (1617 – 1680), làm quan đến Thượng thư bộ Lễ , từng là chánh sứ dẫn đầu sứ bộ đi sứ sang nhà Thanh là đời thứ bảy; Lê Mai đỗ Giải nguyên làm Tổng binh sứ thuộc đời thứ tám; Phó bảng Lê Doãn Nhã (1837 – 1888) làm Chánh sơn phòng sứ Nghệ An, tham gia khởi nghĩa chống Pháp thời kỳ Cần vương, thuộc đời thứ 15 Sau khi phong trào Cần vương bị đàn áp, thực dân Pháp đã tiến hành bắt bớ, khủng

bố, con cháu họ Lê Văn phải chuyển đi lánh nạn và sinh sống ở nhiều nơi Nhiều nhánh họ đã chuyển từ Tràng Sơn đi các nơi như ở huyện Thanh Chương hiện có hai nhánh ở các xã Thanh Hưng, Hạnh Lâm Ở huyện Đô Lương có hai nhánh một ở xã Tràng Sơn khoảng 40 hộ, một nhánh ở xã Quang Sơn cũng hơn 40 hộ Ở xã Diễn Phú, huyện Diễn Châu cũng có một nhánh họ Lê Văn từ Tràng Sơn chuyển xuống Hiện tại con cháu họ này sinh sống trên đất Tràng Sơn không nhiều chưa đâỳ 40 hộ Con cháu họ Lê Văn

Trang 29

sau này có nhiều người học hành, làm ăn giỏi, tương đối thành đạt trong cuộc sống.

Họ Nguyễn Trí, đây là một dòng họ lớn tính đến nay đã đến 22 đời, nhà

thờ ở xóm 10 Vì bị mất gia phả nên các cụ chỉ biết là ông tổ đã đến đây từ xa xưa, còn nguồn gốc từ đâu thì không rõ Về sau một vài nhánh của họ từ Tràng Sơn chuyển đi một số nơi như một nhánh lên xã Bảo Thành, một nhánh chuyển ra xã Văn Thành và cũng có một nhánh chuyển xuống ở xã Diễn

Ngọc, huyện Diễn Châu Hiện nay còn lại ở xã Sơn Thành khoảng 170 hộ, tộc

trưởng là ông Nguyễn Trí Tráng Theo truyền lại khoảng thế kỷ 18, trong họ

có ông Nguyễn Pháp Tích (còn có tên là Pháp Tri) là một quan võ phụ trách một đồn binh đóng ở một cửa biển thuộc huyện Nghi Lộc Ông đã có công đánh giặc, bảo vệ và giúp dân yên ổn làm ăn nên đến khi mất, được nhân dân địa phương lập đền thờ ở xã Nghi Thiết huyện Nghi Lộc Trước năm 1945, trong họ cũng có một số vị tham gia chính quyền như ông Nguyễn Trí Tam nhiều năm làm chánh tổng của tổng Quan Trung, ông Nguyễn Trí Hoằng làm

lý trưởng làng Tràng Sơn Hiện nay cả Bí thư và Chủ tịch UBND xã Sơn Thành đều là người họ Nguyễn Trí

Họ Nguyễn Hữu, tộc trưởng hiện tại là ông Nguyễn Hữu Tiến sinh năm

1956, nhà thờ đại tôn ở xóm 12 Theo ông Tiến thì ông tổ của dòng họ từ họ Nguyễn Xuân ở xã Nghi Công, huyện Nghi Lộc chuyển ra và là một trong những họ đến sớm ở vùng này (12 đời) Hiện nay nhiều nhánh của họ đã

chuyển đi một số nơi nên số hộ sống ở xã Sơn Thành chưa đầy 100 Ở nhà thờ

họ hiện còn giữ được một sắc phong của vua Khải Định năm 1917 ghi nhận việc một trong những ông tổ của họ là Nguyễn Duy Bôi thường gọi là Cố Thần (đời thứ 6) đã có công chiêu tập dân phiêu tán trở về, ổn định chỗ ở, bảo

vệ dân, xây dựng làng Tràng Sơn (vào đầu thế kỷ XIX) Còn bản kia là sắc của vua Minh Mệnh ban cho ông Nguyễn Xuân Áng thường gọi là Ông Hiếu bốn chữ “Hiếu hạnh khả phong” nghĩa là: người có lòng kính yêu đối với cha

Trang 30

mẹ đáng khen Bốn chữ này thời đó được họ tiến hành khắc lên ván gỗ tốt và gần đây lại thuê thợ khắc lại to hơn và sơn son thiếp vàng Hiện cả hai bản còn treo ở gian giữa nhà thờ Ông Hiếu khi còn là thanh niên đã dũng cảm đánh chết hổ dữ để cứu mẹ, mẹ ông bị thương nặng nằm liệt giường suốt 3 năm được ông hết lòng chăm sóc phụng dưỡng Trong họ cũng có ông Nguyễn Xuân Dục là em ruột Ông Hiếu thuộc đời thứ 7, đỗ Cử nhân và có thời gian làm Bang biện phủ vụ Châu Diễn Trước cách mạng tháng Tám, họ cũng có ông Nguyễn Hữu Trình có nhiều năm làm lý trưởng làng

Họ Cao Viết, họ Cao ở Tràng Sơn có nguồn gốc từ họ Cao ở Nho Lâm

nay thuộc xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu Một nhánh họ Cao từ đó di cư vào sinh sống ở xã Nghi Kim, huyện Nghi Lộc Đến năm 1725, một số gia đình chuyển ra ở Tràng Sơn lập ra dòng họ này Như vậy cho đến nay mới có 13 đời với 42 hộ Hiện tại tộc trưởng là ông Cao Văn Toan 73 tuổi và kế trưởng

là anh Cao Văn Tuấn Người họ Cao ở đây trước cách mạng tháng Tám cũng

có một vài ông tham gia chính quyền làng xã như làm Bang tá, hoặc lý trưởng…

Họ Nguyễn Đàm, ông tổ của họ trước là họ Đàm Từ một hoàn cảnh éo

le, được một người họ Nguyễn đưa về nuôi nên con cháu về sau lấy họ là Nguyễn Đàm Nguồn gốc họ từ xã Diễn Hạnh chuyển vào xã Diễn Trung, huyện Diễn Châu rồi mới lên ở vùng Đồng Quỹ thuộc xã Nghi Văn, sau mới

ra ở Tràng Sơn Tính đến nay mới chỉ có 9 đời với 42 hộ Tộc trưởng là ông Nguyễn Đàm Tao, 75 tuổi Ngày trước trong họ cũng có mấy người theo học chữ Hán nhưng đi thi cũng chỉ đến tam trường, nhị trường rồi làm nghề dạy học

Họ Hoàng Trọng, ông tổ dòng họ gốc từ xã Bảo Thành chuyển qua,

đến nay đã được 9 đời Hiện tại tộc trưởng là ông Hoàng Trọng Huấn 62 tuổi

ở xóm 10

Trang 31

Họ Đặng Trọng, nguồn gốc dòng họ từ xã Nam Lạc, huyện Nam Đàn

chuyển ra Tính đến nay mới chỉ đến 8 đời Tộc trưởng hiện tại là ông Đặng Anh Toan sinh năm 1936, giáo viên môn Hoá THPT nghỉ hưu Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong họ cũng có một số người đi học chữ Hán

Có ông Đặng Trọng Thi làm hương bộ làng hai khoá Hiện tại có anh Đặng Trọng Trình là tiến sĩ trẻ, ngành Toán công tác tại trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Họ Trần Duy, theo gia phả thì ông tổ của họ từ Thăng Long chuyển vào

đến nay được 9 đời Đây là dòng họ của Anh hùng Trần Can, tộc trưởng là ông Trần Duy Lĩnh sinh năm 1960 Hiện tại số hộ sống tại xã Sơn Thành chỉ

có 28 với 77 đinh Trước cách mạng 8 - 1945 có ông Trần Duy Thuận làm lý trưởng Hiện nay có ông Trần Duy Huyên, tiến sĩ Toán học là cán bộ giảng dạy khoa Toán trường đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Ngoài ra còn còn có các họ khác như: Nguyễn Văn, Nguyễn Khắc, Trần Quốc, Trần Văn, Phan Văn, Hồ Xuân, Đào Văn, Ngô Văn,… là những dòng họ mới đến còn ít đời, ít người

1.3 Đóng góp của cư dân Tràng Sơn qua các thời kì lịch sử.

1.3.1 Tràng Sơn trước năm 1945.

Từ xưa Tràng Sơn là vùng đất giàu truyền thống yêu nước Cùng với những thăng trầm của lịch sử đất nước; người dân nơi đây đã không ngừng vươn lên trong cuộc sống lao động sản xuất, cần cù, chịu thương chịu khó khai khẩn đất đai, phát triển kinh tế, can đảm trong đấu tranh chinh phục tự nhiên; anh hùng trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm góp phần bảo vệ xóm làng, quê hương, đất nước Tràng Sơn còn là vùng quê nghèo sớm hình thành truyền thống hiếu học Trên vùng đất cát pha bạc màu “bán sơn địa”, thường được gọi là nơi “chó ăn đá, gà ăn sỏi” này, trong cuộc sống lam lũ lăn lộn với tự nhiên đầy khó khăn để sinh tồn; cư dân Tràng Sơn đã khai phá ra một

Trang 32

vùng đất tương đối rộng lớn ở phía nam huyện Yên Thành, góp phần cung cấp sức người sức của cho đất nước qua các triều đại phong kiến.

Với khát vọng vươn lên mạnh mẽ của cư dân một làng quê nghèo, những tấm gương hiếu học, vượt khó đã xuất hiện, vươn tầm khỏi lũy tre làng, chung sức đóng góp cho triều đình, quê hương, đất nước Các tài liệu chính sử và gia phả của dòng họ chép rõ về thân thế, công danh của các nhân vật lịch sử và thông qua đó ghi nhận đóng góp của họ cho quê hương đất nước qua các triều đại phong kiến Trong đó tiêu biểu nhất là các nhân vật lịch sử của họ Lê Văn

Lê Kính (1587 – 1659) thuộc đời thứ 6 của họ Lê Văn, sinh ra và lớn

lên trong một gia cảnh hết sức khó khăn “cha mất sớm, nhà nghèo, mẹ ở hóa nuôi con nên phải gửi thân ở nhờ nhà ông Nguyễn công trong ấp” [14, tr 9] Ông chủ có nuôi thầy dạy học trong nhà, những lúc nhàn rỗi ông Kính thường lắng nghe thầy giảng bài; thầy giáo biết vậy, thương và mến ông nên

đề nghị ông chủ cho theo học Ông Kính chăm học, học giỏi, được ông chủ

họ Nguyễn gả con gái cho Năm 24 tuổi ông thi đỗ Hương cống, năm “42 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ, khoa Mậu Thìn - Vĩnh Tộ 10 (1628), đời Lê Thần Tông” [53, tr 201] Trong bối cảnh đất nước rối ren, không “xuất thế” trốn tránh thời cuộc như một số nhà nho khác, Lê Kính (cũng như các con cháu của ông) đã hăng hái “nhập thế” ra làm quan với mong ước được đem tài sức đóng góp cho triều đình, quê hương, đất nước Với tài năng và đức độ của mình, ông được thăng đến chức Thượng thư Bộ Công, “tước Thạc Trung hầu Khi mất được tặng tước Thái bảo Thạc Quận công” [53, tr 201] Lê Kính được coi là ông tổ khai khoa của xã Quan Trung

Lê Hiệu (1617 – 1680), con của Lê Kính, là người thông minh, học

giỏi “Năm 27 tuổi, khoa Quý Vị, niên hiệu Phúc Thái năm thứ nhất (1643) đời Thần tôn Hoàng đế, ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ (Hoàng Giáp)” [14, tr

Trang 33

13] Làm quan Hàn lâm viện hiệu lý, sau thăng Lễ khoa Hữu thị lang Năm

1663 ông được vua Lê Huyền Tông giao làm Chánh sứ dẫn đầu phái bộ đi sứ sang nhà Thanh [49, tr 296] Năm 1669 nhà vua phong “Lê Hiệu làm Thượng thư bộ Hình được gia phong chức Tham tụng” [49, tr 322] Trong con đường hoạn lộ ông đã có thời gian làm Thượng thư bộ Lễ, tước Hầu (Phương quế Hầu), đã trải nhiều chức vụ khác nhau, từng bị bãi chức rồi lại được phục chức Ông mất khi đương làm quan Con trai của ông là Lê Mai theo nghiệp võ, đỗ Giải nguyên, làm Tổng binh sứ, tước Hầu

Cuối thế kỷ XVIII, 29 vạn quân Thanh tràn vào dày xéo đất nước ta; trên đường hành quân ra Bắc, vua Quang Trung – Nguyễn Huệ đã dừng chân tại Nghệ An để tuyển thêm quân (cứ 3 suất đinh lấy 1 suất lính); từ Nam Đàn, Hưng Nguyên, đại quân Quang Trung tràn qua Nghi Lộc ra Yên Thành (tất yếu đi qua con đường thượng cạnh làng Tràng Sơn), những tráng đinh Tràng Sơn cũng như các làng khác trong vùng đã sung vào đoàn quân Tây Sơn đi đánh giặc lập công, đáng tiếc trong gia phả của các dòng họ không chép về điều này (Gia phả họ Trần Quốc ở làng Yên Duệ đã chép về một người con của họ là Trần Hữu Hác đi lính thời Quang Trung được thăng chức Tiền ưu binh Phấn lực tướng quân); nhân dân các làng cũng đem lương thực, thóc gạo ủng hộ quân đội

Năm 1885, sau thất bại của cuộc phản công ở kinh thành Huế, Tôn Thất Thuyết thay mặt vua Hàm Nghi thảo Chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân, sĩ phu và nhân dân cả nước nổi dậy khởi nghĩa chống Pháp Hưởng ứng Chiếu Cần Vương, một người con ưu tú của Tràng Sơn lúc bấy giờ là

Lê Doãn Nhã đã dấy binh khởi nghĩa

Lê Doãn Nhã (1837 – 1888), là hậu duệ của họ Lê Văn, sinh ra và lớn

lên tại làng Tràng Sơn, trong một gia đình có truyền thống hiếu học, là con của cụ Tú tài Lê Văn Đăng, thuở nhỏ Lê Doãn Nhã nổi tiếng học giỏi Năm

“31 tuổi đậu Cử nhân (1867), 37 tuổi đậu Phó bảng khoa Tân Mùi – Tự Đức

Trang 34

24 (1871)” [53, tr 200] Sau khi đậu Phó bảng, Lê Doãn Nhã được triều đình nhà Nguyễn bổ dụng chức Tri phủ Hải Dương Trong thời gian làm Tri phủ, ngoài sự liêm khiết tận tụy với công việc, Lê Doãn Nhã còn nổi tiếng là người biết thương dân Ngoài giờ làm việc ở huyện đường, ông đã nhiều lần

đi xuống các làng xã để tìm hiểu tình hình, thăm hỏi, bỏ tiền cứu giúp những gia đình có người già cả và gặp nhiều khó khăn Những năm mất mùa đói kém, ông cho quân lính bớt gạo giúp dân cứu đói, thảo tấu về triều đình giảm bớt sưu thuế cho dân Những việc làm của vị quan phụ mẫu xứ Nghệ đã được nhân dân Hải Dương hết lòng kính trọng và ca ngợi Đặc biệt, ông căm ghét bọn hào lý, quan lại trong làng xã hay ức hiếp, bóc lột nhân dân, nên đã nhiều lần ông dâng sớ về triều đình xin trị tội bọn tham nhũng Ông được nhân dân địa phương vô cùng kính trọng và coi như người thân trong gia đình Khi triều đình chuyển ông vào Huế, nhân dân khắp vùng Hải Dương luyến tiếc và muốn lưu giữ ông lại nhưng không được chấp nhận

Trở về kinh đô làm việc, Lê Doãn Nhã tưởng sẽ đem được tài hoa của mình phụng sự nhà vua và nhân dân nhưng ông đã vô cùng thất vọng vì sự rối ren của triều Nguyễn Nhân dân đói khổ vì sưu cao, thuế nặng, phu đài, tạp dịch liên miên, vì thế mà dân tình oán hận triều đình Xuất phát từ tình thương đối với người dân lao động, nghèo khổ, Lê Doãn Nhã lại dâng sớ tố cáo bọn tham quan với nhà vua Vốn là một vị quan có tài, liêm khiết, nên ông được triều đình nể trọng, nhân dân quý mến

Lúc bấy giờ ở Nghệ An, do mất mùa sưu cao, thuế nặng nên đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, khắp nơi trộm cướp nổi lên hoành hành, nhân dân phản kháng ở nhiều nơi nên triều đình đã cử Lê Doãn Nhã về Nghệ An làm phó tướng, giúp Chánh sơn phòng sứ là Nguyễn Tài Tuyến ổn định vùng biên cương miền Tây xứ Nghệ Sau một thời gian ông được phong chức Chánh sứ sơn phòng Nghệ An

Trang 35

Tháng 7 – 1885, khi Chiếu Cần Vương ban ra, Lê Doãn Nhã đã “xây dựng Đồn Vàng (Anh Sơn) thành căn cứ khởi nghĩa chống Pháp” [52, tr 294], tích trữ lương thực, đào hào đắp luỹ, mua sắm vũ khí, tập hợp quân lính, ngày đêm tập võ nghệ, chờ ngày khởi nghĩa Nhiều bà con vùng dân tộc như Lang Văn Út, Lang Văn Thổ, các thanh niên như Lang Văn Xa, Lang Văn Thông

đã tự nguyện gia nhập nghĩa quân; họ còn mang đến những con mác, con dao, những thanh sắt để làm vũ khí, có những gia đình còn mang đến cả bộ chiêng đồng, thứ nhạc cụ quý giá nhất của gia đình để nghĩa quân làm hiệu lệnh Mặc dầu đời sống của họ còn khó khăn thiếu thốn nhưng nhiều gia đình đã đem thóc, gạo, sắn, ngô, voi, ngựa và cả người quản voi của mình dành cho nghĩa quân để làm phương tiện đánh giặc Trong thành phần nghĩa quân còn có đông đảo người dân từ các dòng họ ở làng Tràng Sơn, trong đó đông nhất là người họ Lê Văn

Sau một thời gian tích cực chuẩn bị, Lê Doãn Nhã quyết định tấn công tiêu diệt đồn Dừa Chiến thắng vang dội ở đồn Dừa đã làm nức lòng quân và dân ta Sau chiến thắng này, Lê Doãn Nhã quyết định đưa quân về hợp lực với Nguyễn Xuân Ôn ở vùng đồng bằng để tăng thêm sức mạnh đánh Pháp

Lê Doãn Nhã là Phó tướng, được giao đảm nhận trọng trách tuyến đường số 7 từ Diễn Châu - Yên Thành - Đô Lương - Anh Sơn - Con Cuông - sang nước Lào Lê Doãn Nhã đã chỉ huy nghĩa quân tổ chức nhiều trận đánh mưu trí, dũng cảm; tiêu biểu như trận “phục kích đường 7 nhằm tấn công quân của Pờlanhôm” [42, tr 634, 635] tiêu diệt nhiều sinh lực địch; nhiều lần vây hãm, uy hiếp phủ thành Diễn Châu; đánh quân địch tại khu vực nhà thờ Bảo Nham; trận đánh Tràng Thành làm cho quân địch khiếp sợ Khi chủ tướng Nguyễn Xuân Ôn bị thương, Lê Doãn Nhã vẫn tiếp tục chỉ huy nghĩa quân chiến đấu Vì tương quan lực lượng chênh lệch, Lê Doãn Nhã đưa một

bộ phận nghĩa quân rút lên vùng Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương dựa vào rừng núi tiếp tục chiến đấu và hi sinh trong rừng sâu, không rõ năm mất

Trang 36

và nơi mất, theo P GS Ninh Viết Giao thì “ông bị tử thương trong rừng sâu vào đầu năm 1888” [27, tr 270] Cuộc khởi nghĩa Cần Vương do Nguyễn Xuân Ôn và Lê Doãn Nhã lãnh đạo tuy thất bại nhưng để lại ý nghĩa lịch sử sâu sắc; là khúc tráng ca bi hùng tiếp nối truyền thống yêu nước của dân tộc

và cũng là tiền đề cho các phong trào yêu nước tiếp nối sau này

Sau thất bại của nghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn – Lê Doãn Nhã; quân Pháp đã kéo về trả thù, đốt phá tan hoang làng Tràng Sơn, tất cả các nhà thờ

họ trong làng, đình làng và nhiều nhà dân bị đốt cháy, dòng họ Lê Văn ly tán nhiều nơi để trốn tránh

Để ghi nhớ công lao của Lê Doãn Nhã, sau khi ông mất, nhân dân địa phương đã dựng nhà thờ trên nền nhà cũ để thờ ông (thường gọi là nhà thờ Quan Sơn) Nơi đây đã từng tiếp đón cụ Nguyễn Sinh Sắc và con trai là Nguyễn Sinh Khiêm đến “thăm con cháu Lê Doãn Nhã, một lãnh tụ chống Pháp” [50, tr 24] Ở huyện Yên Thành, ngôi trường Trung học cơ sở xã Sơn Thành quê ông và một ngôi trường Trung học phổ thông ở khối 1, thị trấn Yên Thành được vinh dự mang tên nhà yêu nước Lê Doãn Nhã; tên ông còn được dùng để đặt tên cho một con đường ở phường Trung Đô, thành phố Vinh, Nghệ An

Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã nhanh chóng lãnh đạo phong trào đấu tranh 1930 – 1931 của nhân dân ta, đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh; mặc dù phong trào đấu tranh ở Yên Thành tương đối mạnh mẽ nhưng làng Tràng Sơn (cũng như các làng khác trong vùng) bị kìm kẹp bởi đồn binh Thịnh Đức của Pháp đóng gần làng nên không có hoạt động gì đáng kể Tháng 5 – 1932 có một sự kiện nổi bật đáng chú ý là việc “ông Nguyễn Hữu Trâm và ông Trần Như treo cờ đỏ búa liềm lên cây gạo trước cửa đình làng” [40, tr 46]; sau sự kiện này bọn Pháp điều một tiểu đội lính khố xanh về đóng ngay tại điếm canh xóm Giếng của làng, kiểm tra chặt chẽ

Trang 37

mọi hoạt động của dân làng Phong trào cách mạng của làng vừa bắt đầu hình thành lại lắng xuống.

1.3.2 Tràng Sơn từ 1945 đến 1954.

Khi phong trào Việt Minh đã phát triển mạnh ở nhiều địa phương thì phải đến đầu năm 1945 mới “hình thành nhóm Việt Minh ở Yên Thành” [41,

tr 75] Trong sự chuyển biến nhanh chóng của tình thế cách mạng, hệ thống

tổ chức của Việt Minh đã phát triển hết sức nhanh chóng ở huyện Yên Thành, có tác động mạnh mẽ đến số thanh niên tiến bộ ở làng Tràng Sơn như ông Lê Hồng Châu (năm nay 91 tuổi, đang khỏe mạnh và minh mẫn), Nguyễn Mạnh Tùng, Nguyễn Xuân Hòe, Lê Bổng, Trần Minh Giảng đầu tháng 5 – 1945, các ông này đã thành lập nhóm Thanh niên tiên tiến của làng tại nhà thờ họ Nguyễn Hữu (xóm Giếng) nhằm chống lại sự lôi kéo của các

tổ chức thanh niên thân Nhật, tuyên truyền chống bắt phu, bắt lính, chống nạp lúa cho Nhật Đầu tháng 8 – 1945 tổ chức Việt Minh được thành lập ở làng Tràng Sơn; “ông Nguyễn Mạnh Tùng làm chủ nhiệm, ông Nguyễn Xuân Hòe làm phó chủ nhiệm” [40, tr 65] Đêm 18 – 8 – 1945, một cuộc họp được tổ chức ở đê Cồn Duôn phía tây làng gồm 9 người : Nguyễn Mạnh Tùng, Nguyễn Hữu Hòe, Lê Hồng Châu, Trần Minh Giảng, Trần Thiêm, Lê Trọng Do, Lê Bổng, Lê Đào, Nguyễn Khắc Yên “Cuộc họp đã thống nhất các nội dung sau:

- Thành lập Ủy ban khởi nghĩa Chọn ngày khởi nghĩa cướp chính quyền ở làng Tràng Sơn là 20 - 8 - 1945

- Cử ông Lê Hồng Châu và Trần Thiêm lên gặp lãnh đạo Việt Minh huyện báo cáo tình hình và xin ý kiến chỉ đạo

- Cử ông Nguyễn Xuân Hòe và Nguyễn Mạnh Tùng huy động lực lượng khởi nghĩa

Trang 38

- Cử ông Lê Trọng Do đàm phán với lý trưởng, ngũ hương phải tuân theo chủ trương của Việt Minh, tránh xung đột đổ máu.

- Dự kiến nhân sự Ủy ban Cách mạng lâm thời của làng.” [40, tr 67]Công tác chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền được khẩn trương chuẩn bị trong suốt ngày và đêm 19 - 8 - 1945 Trong ngày này Việt Minh huyện đã cử các ông Ngô Đức Hùng, Thái Văn Kha và Bùi Văn Trưng

về trực tiếp chỉ đạo tổ chức khởi nghĩa giành chính quyền ở Tràng Sơn

Sáng 20 - 8 - 1945, Ủy ban khởi nghĩa tổ chức mít tinh ở đình làng với

sự tham gia của gần như 100% dân làng Lý trưởng Nguyễn Trình và hương

bộ Nguyễn Khương buộc phải nạp triện, sổ sách cho Việt Minh Ủy ban cách mạng lâm thời làng được thành lập gồm:

- Ông Lê Trọng Do - Chủ tịch

- Ông Nguyễn Hữu Hòe - Phó Chủ tịch

- Ông Nguyễn Mạnh Tùng - Ủy viên giáo dục

- Ông Trần Thiêm - Ủy viên thư ký kinh tế

- Ông Lê Hồng Châu - Ủy viên quân sự

- Ông Trần Minh Giảng - Ủy viên giao thông

- Ông Lê Bổng - Ủy viên tuyên truyền

Các tổ chức đoàn thể, tự vệ các xóm cũng nhanh chóng được thành lập (cả làng có 2 trung đội tự vệ) Cách mạng tháng Tám đã nhanh chóng thành công trên phạm vi cả nước, dân làng Tràng Sơn hân hoan hòa mình trong không khí náo nức của người dân cả nước “rũ bùn đứng dậy” thoát khỏi kiếp

nô lệ, trở thành người tự do bước vào chặng đường mới của đất nước, tiếp tục đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Trang 39

Ngày 06 - 01 - 1946 nhân dân Tràng Sơn lần đầu tiên cùng nhân dân

cả nước thực hiện quyền làm chủ của công dân đi bỏ phiếu bầu Quốc hội Sau ngày bầu cử Quốc hội, huyện Yên Thành tổ chức lại các đơn vị hành chính, bãi bỏ các tổng, cả huyện thành lập 24 xã, làng Tràng Sơn thuộc xã Hợp Minh Trong bộ máy hành chính xã Hợp Minh gồm 8 người thì làng Tràng Sơn đóng góp đến 6 người “Ông Lê Do (Tràng Sơn) – Chủ tịch Việt Minh Ông Lê Hồng Châu (Tràng Sơn) – Ủy viên phòng thủ Ông Nguyễn Mạnh Tùng (Tràng Sơn) – Ủy viên giáo dục Ông Trần Thiêm (Tràng Sơn) – Chủ tịch kháng chiến Ông Nguyễn Khắc Yên (Tràng Sơn) – Bí thư Đoàn Thanh niên Bà Nguyễn Thị Minh (Tràng Sơn) – Bí thư phụ nữ” [40, tr 76]

Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân, cũng như nhiều địa phương trong cả nước, nhân dân làng Tràng Sơn đứng trước những khó khăn chồng chất về nạn đói, nạn dốt Trong khó khăn, nhân dân Tràng Sơn đã gắng sức cùng với nhân dân toàn huyện từng bước vượt qua mọi khó khăn thử thách

Hưởng ứng lời kêu gọi diệt “giặc đói” của Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhân dân Tràng Sơn hăng hái khai hoang, phục hóa đẩy mạnh tăng gia sản xuất; với truyền thống đoàn kết tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách, dân làng cùng nhau chia sẻ từng hạt gạo, củ khoai, con dam, con cá Thực hiện lời kêu gọi của Bác Hồ nhà nhà lập “hũ gạo tiết kiệm” mỗi gia đình trước khi nấu ăn, bớt lại một nắm gạo bỏ vào hũ gạo tiết kiệm, cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, dùng gạo tiết kiệm để cứu đói Hội phụ nữ cứu quốc làng được thành lập, tổ chức thu gom gạo tiết kiệm được đem phát cho những gia đình thiếu ăn Các đoàn thể tiến hành cuộc vận động địa chủ giảm tô 25% cho nông dân và ủng hộ gạo cứu đói Kết quả, đến vụ chiêm năm 1946, nạn đói cơ bản được đẩy lùi

Trước cách mạng tháng Tám, khoảng trên dưới 90 % dân số Tràng Sơn mù chữ Sau khi giành chính quyền, phong trào thi đua diệt “giặc dốt”

Trang 40

được đẩy mạnh, năm 1946 làng Tràng Sơn có ba lớp Bình dân học vụ, thầy Trần Minh Giảng dạy lớp xóm Giếng, xóm Ngoài, xóm Vắp; thầy Nguyễn Khắc Yên dạy lớp xóm Trường, xóm Giữa; thầy Nguyễn Nhân dạy lớp xóm Đông, xóm Phát Bằng sự nỗ lực và quyết tâm cao của dân làng, chỉ trong một thời gian ngắn nạn mù chữ dần được đẩy lùi Các hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa mới, bài trừ hủ tục, dị đoan được đẩy mạnh trong dân làng.

Một khó khăn lớn của nước ta sau cách mạng tháng Tám là tình trạng trống rỗng của ngân sách quốc gia Từ ngày 17 - 09 đến 24 - 09, Trung ương Đảng và Chính phủ chủ trương phát động phong trào “Tuần lễ vàng” Hưởng ứng phong trào “Tuần lễ vàng” và xây dựng “Quỹ độc lập”, nhân dân Tràng Sơn đã tự nguyện đem vàng bạc, tư trang, của gia đình ủng hộ cách mạng,

“cùng với nhân dân huyện Yên Thành quyên góp được 26 lạng vàng, quy ra gạo là hơn 21 tấn Trong đó tiêu biểu là gia đình ông Cao Đán ở Tràng Sơn – Sơn Thành đã ủng hộ 15 chỉ vàng và 300 đồng bạc trắng” [40, tr 82]

Những kết quả đạt được của nhân dân làng Tràng Sơn trong thời gian hơn một năm sau Cách mạng tháng Tám đã góp phần cùng nhân dân các làng xã trong cả nước vào việc củng cố chính quyền, xây dựng chế độ mới của nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà

Quyết thực hiện dã tâm xâm lược nước ta lần thứ hai; thực dân Pháp tìm mọi cách để phá vỡ Hiệp định sơ bộ (6 - 3) và Tạm ước (14 - 9) Khả năng hoà hoãn không còn nữa, đêm 19 – 12 – 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Người, nhân dân cả nước đã đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Quán triệt sự lãnh đạo của Đảng, dân làng Tràng Sơn tham gia thực hiện chủ trương “Tiêu thổ kháng chiến”, tích cực tham gia phá đường số 7, đường 34, phá dỡ các đền, chùa, các cây cầu

Ngày đăng: 22/01/2016, 14:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH 1. NHÀ THỜ LÊ DOÃN NHÃ - Lịch sử   văn hóa làng tràng sơn (xã sơn thành, huyện yên thành, tỉnh nghệ an) từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX
HÌNH 1. NHÀ THỜ LÊ DOÃN NHÃ (Trang 115)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w