1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chợ làng xã ở mê linh (hà nội) từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX

157 890 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 23,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu về vùng đất Mê Linh nói chung sự ra đời và phát triển của huyện Mê Linh Hà Nội nói riêng có nhiều góc độ tiếp cận, trong đó cách tiếp cận truyền thống như: Nghiên cứu quá trình

Trang 2

NGHỆ AN - 2015

Trang 4

NGHỆ AN - 2015

Trang 5

xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Quang Hồng – người thầy

đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi từ khi nhận đề tài cho đến khi Luận văn hoàn thành

Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy (Cô) giáo Khoa Lịch sử, các Thầy (Cô) giáo Khoa Sau Đại học Trường Đại học Vinh đã tận tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường

Tôi xin cảm ơn các Cán bộ ở Thư Viện quốc gia Việt Nam, Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc, Thư viện tỉnh Nghệ An, Văn phòng Đảng ủy huyện Mê Linh, Văn phòng Đảng ủy các xã trên địa bàn huyện Mê Linh, các Bác, các Cô, các Chú, bán hàng ở các chợ làng xã trên địa bàn Mê Linh, đã cung cấp, chỉ bảo, giới thiệu các nguồn tài liệu để tôi hoàn thành Luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, tâm huyết với đề tài, song do thời gian, do năng lực bản thân có hạn, chắc chắn Luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót

cả về nội dung và cách thể hiện Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp

ý kiến quý báu của Thầy (Cô) giáo và bạn đọc

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, người thân, anh chị và bạn bè đã luôn ủng hộ giúp đỡ tôi về mặt vật chất và tinh thần trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn! Nghệ An, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Trần Xuân Hùng

Trang 7

9

MỞ ĐẦU 10

1 Lí do chọn đề tài 10

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 13

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 17

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 18

5 Đóng góp của đề tài 20

6 Bố cục của luận văn 20

NỘI DUNG 21

CHƯƠNG 1 21

DIỆN MẠO CHỢ LÀNG XÃ Ở MÊ LINH TỪ NĂM 1802 21

ĐẾN NĂM 1954 21

1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội 21

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 21

1.1.2 Điều kiện xã hội 24

1.2 Chợ làng xã ở Mê Linh dưới thời nhà Nguyễn (1802 - 1884) 30

1.2.1 Bối cảnh lịch sử tác động đến chợ làng xã 30

1.2.2 Diện mạo của chợ làng xã 37

1.3 Chợ làng xã ở Mê Linh dưới thời thuộc Pháp (1885 - 1945) 54

1.3.1 Bối cảnh lịch sử 54

1.3.2 Diện mạo của chợ làng xã thời thuộc Pháp 58

1.4 Chợ làng xã ở Mê Linh trong thời địch tạm chiếm (1946 - 1954) 62

1.4.1 Bối cảnh lịch sử 62

1.4.2 Diện mạo của chợ làng xã ở Mê Linh trong tình thế bị Pháp chiếm đóng .64

Trang 8

1.5 Một vài nhận xét 66

* Tiểu kết chương 1 68

CHƯƠNG 2 70

BỨC TRANH CHỢ LÀNG XÃ Ở MÊ LINH TỪ NĂM 1954 70

ĐẾN NĂM 2000 70

2.1 Chợ làng xã ở Mê Linh từ năm 1954 đến năm 1975 70

2.1.1 Bối cảnh lịch sử 70

2.1.2 Bức tranh chợ làng xã ở Mê Linh trong kháng chiến chống Mỹ 72

2.2 Chợ làng xã ở Mê Linh từ sau năm 1975 đến năm 2000 75

2.2.1 Bối cảnh lịch sử tác động đến chợ làng xã 75

2.2.2 Bức tranh chợ làng xã 78

2.3 Một số nhận xét 93

* Tiểu kết chương 2 98

CHƯƠNG 3 99

VAI TRÒ CỦA CHỢ LÀNG XÃ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN NHÂN DÂN MÊ LINH 99

3.1 Một số nét riêng và chung của chợ làng xã ở Mê Linh từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX 99

3.2 Vai trò của chợ đối với đời sống văn hóa vật chất nhân dân Mê Linh 105

3.3 Vai trò của chợ đối với đời sống văn hóa tinh thần nhân dân Mê Linh .116 3.4 Một số kiến nghị và đề xuất 124

* Tiểu kết chương 3 126

KẾT LUẬN 128

TÀI LIỆU THAM KHẢO 131

PHỤ LỤC 139

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Danh xưng Mê Linh xuất hiện từ thời Bắc thuộc (179 TCN – 905),

dùng để chỉ một vùng đất đai rộng lớn từ chân núi Ba Vì đến chân núi Tam Đảo ngày nay, tuy nhiên huyện Mê Linh chính thức thành lập ngày 5/7/1977, trên cơ sở hợp nhất hai huyện Bình Xuyên và Yên Lãng, cộng thêm 4 xã của huyện Yên Lạc và 2 xã của huyện Kim Anh Tìm hiểu về vùng đất Mê Linh nói chung sự ra đời và phát triển của huyện Mê Linh (Hà Nội) nói riêng có nhiều góc độ tiếp cận, trong đó cách tiếp cận truyền thống như: Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện; tìm hiểu lịch sử hình thành, phát triển của huyện; tìm hiểu thành tựu kinh tế; hệ thống các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện, dưới dạng công trình Lịch sử Đảng bộ huyện, xã, Địa chí - văn hóa, Tạp chí văn hóa, các bài báo, xuất hiện phổ biến từ trước đến nay

Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ học, kinh tế học, ở Thăng Long từ thời Lý, Trần (thế kỉ XI - XIII) đã hình thành 36 phố phường buôn bán với đầy đủ các mặt hàng thiết yếu cho quan lại triều đình trong kinh thành Thăng Long và nhu cầu của nhân dân quanh ngoài thành Vùng đất ngoại thành Hà Nội, trong đó bao gồm cả vùng đất Mê Linh ngày nay, giao thông đường thủy, đường bộ thuận tiện, địa thế bằng phẳng, khí hậu ôn hòa, sớm diễn ra các hoạt động buôn bán, trao đổi, giao thương tấp nập trên bến dưới thuyền Dọc theo bờ sông Hồng, sông Cà Lồ các bến chợ, các chợ làng xã diễn ra náo nhiệt trong ngày, tạo thành hệ thống các chợ vệ tinh, phục vụ nhu cầu mua bán, trao đổi ở các làng xã cũng như nguồn hàng phục vụ cho các chợ huyện, chợ trấn trong vùng và quan trọng hơn là kinh thành Thăng Long

Tuy nhiên trong một thời gian dài, từ thời phong kiến đến hiện đại, việc nghiên cứu sự phát triển của kinh tế và chuyển biến trong đời sống xã hội của nhân dân Mê Linh từ góc độ hoạt động buôn bán, trao đổi giao thương ở các

Trang 11

chợ làng xã vì nhiều nguyên nhân chưa được quan tâm đúng mức Có thể khẳng định rằng: Chưa có một công trình nghiên cứu nào trình bày một cách

có hệ thống về chợ làng xã cũng như vai trò của chợ làng xã đối với đời sống nhân dân Mê Linh trong suốt chiều dài lịch sử, đây là một khoảng trống của lịch sử địa phương cần được tìm hiểu để khỏa lấp Nghiên cứu diện mạo của

Chợ làng xã ở Mê Linh (Hà Nội) từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX có ý nghĩa khoa

học trong nghiên cứu tìm hiểu lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử địa phương nói riêng, không chỉ dừng lại ở phương diện kinh tế, qua tìm hiểu chợ làng xã, còn giúp người nghiên cứu hiểu sâu sắc lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội, của địa phương đề tài thực hiện ở một góc độ mới mẻ và khoa học

Nghiên cứu diện mạo của hệ thống chợ làng xã ở Mê Linh góp phần đánh giá và có cái nhìn khách quan về nền kinh tế dân tộc, sự thay đổi của hình thái kinh tế, chính trị, xã hội qua từng thời kỳ và được thể hiện khá rõ nét

ở hoạt động buôn bán, trao đổi ở các chợ làng xã trong suốt quá trình lịch sử

đề tài nghiên cứu Thấy được sự phát triển của kinh tế làng xã nền tảng cơ sở của xã hội Việt Nam từ thời phong kiến dưới thời nhà Nguyễn (1802), sau đó Pháp thuộc, thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tiếp theo là những năm đầu cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội và giai đoạn thực hiện đổi mới cho đến hết thế kỷ XX

Nằm ở vị trí trung tâm của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội, giáp các nhà máy, khu công nghiệp trọng điểm phía Bắc (Công ty Honda, Toyota, Sam Sung, Khu công nghiệp Quang Minh (thuộc Mê Linh), Bắc Thăng Long, Nam Thăng Long, ), nghiên cứu hệ

thống Chợ làng xã ở Mê Linh (Hà Nội) từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, giúp

chúng tôi có cái nhìn hệ thống và toàn diện về hoạt động trao đổi buôn bán, đời sống kinh tế của nhân dân trong huyện và các huyện, thị lận cận ở vùng đồng bằng sông Hồng như huyện Đan Phượng (Hà Nội), Yên Lạc (Vĩnh Phúc), Đông Anh (Hà Nội), vốn có quan hệ mật thiết về kinh tế, xã hội và văn hóa trong suốt chiều dài lịch sử bên dòng Hồng hà

Trang 12

1.2 Từ đầu thế kỷ XIX đến hết thế kỷ XX, trên vùng đất Mê Linh ngày

nay đã trải qua những biến động lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, những biến động lịch sử đó đã được phản ánh trong một số công trình nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu văn hóa, điển hình là các công trình: Lịch sử Đảng bộ huyện Mê Linh, Lịch sử Đảng bộ các xã trên địa bàn Mê Linh, tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu về những tác động của các biến động chính trị - xã hội đối với chợ làng xã

Nghiên cứu về chợ làng xã Mê Linh giai đoạn này giúp chúng tôi vừa hiểu rõ đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các làng xã, biểu hiện qua hoạt động buôn bán, các sản vật đặc trưng đem trao đổi ở các chợ làng xã và chợ huyện trong suốt một thời gian dài Và cũng thấy được những tác động to lớn của những thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội đối với diện mạo cũng như hoạt động của các chợ làng xã

1.3 Quy mô, kiến trúc, vị thế, hàng hóa trao đổi buôn bán, thời gian họp

chợ, ở các chợ làng xã Mê Linh qua từng thời kỳ lịch sử lại có nhiều thay đổi, nhiều chợ làng xã được mở rộng đầu tư và phát triển, nhưng cũng có nhiều chợ làng xã vì các nguyên nhân khác nhau không còn nữa, một số chợ làng xã mới được lập để đáp ứng nhu cầu trao đổi, buôn bán của nhân dân

trong vùng Chính vì vậy thực hiện công trình: Chợ làng xã ở Mê Linh (Hà

Nội) từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, chúng tôi hi vọng bước đầu sẽ phản ánh

được những thay đổi về những phương diện của chợ làng xã trong khoảng thời gian công trình nghiên cứu

1.4 Tự hào là một người con được sinh trưởng trên mảnh đất giàu

truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng Mê Linh, được tham gia hoạt động buôn bán trao đổi ở chợ quê từ những năm tháng tuổi thơ, chọn đề tài nghiên cứu về hệ thống chợ làng xã ở huyện Mê Linh như một sự tri ân sâu sắc của tác giả đối với quê hương

Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong nghiên cứu lịch sử từ góc độ tìm hiểu hệ thống chợ làng xã đối với sự phát triển của kinh tế, xã hội

Trang 13

địa phương và đất nước, cùng với lòng đam mê nghiên cứu lịch sử, cống hiến

sức trẻ cho quê hương, chúng tôi quyết định chọn đề tài: Chợ làng xã ở Mê

Linh (Hà Nội) từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX làm đề tài Luận văn tốt nghiệp cao

học Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về sự hình thành, phát triển và hoạt động của hệ thống chợ

ở một địa phương, vùng miền và trên cả nước ở góc độ nghiên cứu lịch sử trong thời gian qua chưa nhiều, tuy nhiên đây là hướng đề tài hấp dẫn đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau như: Kinh tế học, Dân tộc học, Ngôn ngữ học, Xã hội học, Văn học, Sử học, Qua tìm hiểu và tiếp xúc các nguồn tư liệu, chúng tôi nhận thấy có một số công trình Luận án, Luận văn, các sách chuyên khảo, bài viết, tạp chí, tìm hiểu về hệ thống chợ trên khắp vùng miền cả nước ở những mức độ khác nhau, trong đó đáng chú ý có:

Dưới thời nhà Nguyễn (1802 – 1945), Quốc sử quán triều Nguyễn tổ

chức biên soạn bộ “Đại Nam nhất thống chí” [61], trong công trình sử học

công phu này tổng hợp ghi chép tường tận về các mặt cương vực, lãnh thổ, hình thế, ruộng đất, hộ khẩu, ở các địa phương, trong đó có đề cập cả đến các chợ trên khắp các tỉnh thành trong cả nước Tuy nhiên, các chợ dưới thời nhà Nguyễn mới được ghi chép sơ lược, tập trung vào các chợ lớn của các huyện, các trấn, chợ làng xã chưa được quan tâm Liên quan đến chợ ở khu

vực phía Bắc có "Bắc thành dư địa chí lục" ghi chép về thành Thăng Long

với 36 phố phường buôn bán, và 11 Trấn thuộc Bắc Thành thời vua Gia Long

do tác giả Lê Chất biên soạn Công trình sử học này mới ghi chép sơ lược, tên gọi của các chợ chứ chưa đi vào tìm hiểu lịch sử và hoạt động của hệ thống chợ Đây là những nét phác thảo quý về hệ thống chợ thời phong kiến, để chúng tôi tiếp tục có cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu hệ thống chợ trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc

Trang 14

Tìm hiểu về chợ làng ở đồng bằng Bắc Bộ, nhà sử học Nguyễn Đức

Nghinh có một loạt bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử: “Chợ làng ở

đồng bằng Bắc Bộ”, “Mấy nét phác thảo về chợ làng”[51], “Chợ làng – một nhân tố củng cố mối liên hệ dân tộc”[52], các bài viết tập trung trình bày khái

quát về chợ làng, những đặc điểm chính, vai trò, vị trí của chợ làng trong đời sống cộng đồng ở làng xã, tác giả không đi vào tìm hiểu cụ thể hoạt động buôn bán của từng chợ mà chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu hệ thống và khái quát Tuy nhiên đây là một nguồn tài liệu hữu ích cho chúng tôi tham khảo, từ

đó có cái nhìn toàn diện về chợ làng ở Bắc Bộ khi thực hiện đề tài Luận văn

Nghiên cứu về chợ ở Nghệ An đáng chú ý có Luận văn Thạc sĩ “Chợ ở

Nghệ An từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1945” [36] của tác giả Trần Thị Thanh

Hà, Luận văn trình bày một cách có hệ thống về hệ thống chợ, cũng như hoạt động buôn bán trao đổi của chợ ở vùng đồng bằng ven biển, trung du và miền núi dưới thời Nguyễn (1802 – 1884) và thời thuộc Pháp (1884 – 1945) Từ đó nêu lên một số đặc điểm nổi bật của chợ ở Nghệ An trong giai đoạn đề tài thực hiện, tác động to lớn của chợ đối với đời sống kinh tế, chính trị văn hóa

xã hội của cư dân Nghệ An Công trình nghiên cứu này là một tài liệu phương pháp luận và thực tiễn giúp chúng tôi đối chiếu, so sánh với hệ thống chợ ở Nghệ An tiêu biểu cho khu vực Bắc miền Trung và đặc điểm chợ làng xã ở

Mê Linh Hà Nội đại diện cho vùng đồng bằng sông Hồng trong quá trình thực hiện đề tài

Tiêu biểu cho nghiên cứu chợ ở khu vực miền Đông Nam Bộ, có Luận

văn “Chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai từ năm 1698 đến năm 1945” [23] của Học

viên Lê Quang Cần Đây là một luận văn xuất sắc tìm hiểu một cách khoa học, kỹ lưỡng và có hệ thống về hệ thống và hoạt động của chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai trong khoảng thời gian gần 300 năm Công trình là tài liệu hữu ích trong việc tìm hiểu và nghiên cứu về hoạt động của hệ thống chợ ở các địa phương khác trên địa hạt kinh tế

Trang 15

Ngoài ra còn một số công trình, sách tìm hiểu về hệ thống chợ trên

khắp các vùng cả nước như: Luận văn “Hệ thống chợ ở Thanh Hóa từ đầu

thế kỷ XIX đến năm 1945” [38] của tác giả Trần Thị Thu Hiền, hay Luận văn

“Chợ ở Tiền Giang từ năm 1975 đến năm 2010” [58] của Huỳnh Minh

Phương Trần Đình Ba với cuốn “Chợ Việt độc đáo ba miền” [6]; Huỳnh Thị

Dung với cuốn sách “Chợ Việt” [27]; nghiên cứu về chợ ở Quảng Bình có công trình “Chợ Quê Quảng Bình” [47] của nhà nghiên cứu Đặng Thị Kim

Liên, Số lượng công trình nghiên cứu về chợ ngày càng tăng lên về số lượng và chất lượng, phổ biến trên cả ba miền đất nước, cho thấy đây là một hướng đề tài đang được quan tâm tìm hiểu

Trong một số chương trình truyền hình hiện nay của Đài truyền hình

Việt Nam như: Chương trình làng Việt, Văn hóa Việt, Nét Việt, có trình bày

địa giới hành chính, tên gọi, những nét văn hóa tiêu biểu của làng Việt cổ truyền như cổng làng, đình làng, chùa, của những ngôi làng tiêu biểu cho làng xã Việt Nam, tuy nhiên do nhiều lý do, chợ làng xã một vấn đề quan trọng vẫn chưa được đề cập đến trong nội dung các chương trình Qua các chương trình truyền hình tìm hiểu về làng xã và văn hóa làng xã phần nào giúp chúng tôi tái hiện bức tranh chợ quê trên nền của những nét văn hóa vật chất và tinh thần vốn có trong lịch sử các làng xã

Tuy chưa có một công trình chuyên khảo tìm hiểu về chợ làng xã ở Mê

Linh (Hà Nội) từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, song trong quá trình tìm hiều và

sưu tập tài liệu, chúng tôi phát hiện một số ít các công trình có ghi chép, hoặc

đề cập sơ lược về chợ ở Mê Linh trong khoảng thời gian đề tài thực hiện, đây

là nguồn tài liệu quý báu giúp chúng tôi nghiên cứu, phục dựng lại hệ thống chợ trong vòng hai thế đã kỷ qua

Trong công trình Nghiên cứu “Văn hiến làng xã vùng đất tổ Hùng

Vương” của Vũ Kim Biên [21], bên cạnh nội dung chính của công trình về

đời sống vật chất, tinh thần, truyền thống yêu nước và cách mạng của cư dân vùng đất tổ Phú Thọ, tác giả cũng dành một chương tìm hiểu về hoạt động

Trang 16

trao đổi phân phối, lưu thông và thương mại của Phú Thọ với các vùng lân cận Trong đó, chợ ở huyện Mê Linh có được đề cập đến trong bối cảnh chung của chợ trong tỉnh Tuy nhiên tác giả không đi sâu tìm hiểu hoạt động buôn bán cụ thể từng chợ mà chỉ dừng lại ở mức độ sơ lược về chợ huyện, chưa nói đến chợ làng xã ở huyện Mê Linh trong khoảng thời gian đề tài thực hiện và cả trước đó.

Cuốn sách “Địa chí văn hóa Vĩnh Phúc (sơ thảo)”[45] của tác giả

Nguyễn Xuân Lân trình bày một cách chi tiết về vùng đất và con người Vĩnh Phúc Trong đó, huyện Mê Linh và một số chợ tiêu biểu, sản vật chính của huyện có được tác giả đề cập Tuy nhiên đây là một công trình địa chí văn hóa, nên dung lượng dành cho các hoạt động tìm hiệu về chợ và hoạt động buôn bán ở một huyện chỉ là những nét chấm phá, chưa đầy đủ và có hệ thống

Trong công trình “Lịch sử Đảng bộ huyện Mê Linh (1930 – 2010) [7]

bên cạnh việc trình bày quá trình ra đời và lãnh đạo của Đảng bộ trên vùng đất Mê Linh trong suốt chiều dài từ năm 1930 đến năm 2010, công trình có nhắc đến một số chợ của huyện thời kỳ xây dựng Hợp tác xã, trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế Tuy nhiên đây là một công trình lịch sử Đảng

bộ, việc nghiên cứu về chợ không được quan tâm

Khóa luận tốt nghiệp Đại học của chính tác giả tìm hiểu về “Lịch sử -

văn hóa làng Thọ Lão, xã Tiến Thịnh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội từ

thế kỷ XIII đến năm 2012” [39] trong phần tìm hiểu về đời sống vật chất của

cư dân làng Thọ Lão có đề cập đến hoạt động của chợ ở xã Tiến Thịnh, liệt kê một số chợ của huyện Mê Linh trong tương quan buôn bán trao đổi hàng hóa của vùng Tuy nhiên khóa luận mới dừng lại ở mức tìm hiểu chợ ở xã Tiến Thịnh một cách khái quát, chưa đi sâu tìm hiểu hoạt động trao đổi buôn bán của hệ thống chợ trên địa bàn toàn huyện

Ngoài ra, trong các báo cáo kinh tế hàng năm của các xã và huyện Mê Linh, Lịch sử Đảng bộ các xã: Tiến Thịnh, Thạch Đà, Thị trấn Quang Minh,

Trang 17

Tự Lập, Mê Linh, Đại Thịnh, Văn Khê, Tiền Phong, Thị xã Phúc Yên, Thị Trấn Xuân Hòa, có ít nhiều đề cập đến tên, và một vài hoạt động của chợ ở mức độ khái quát nhất mà chưa đi vào phân tích, tìm hiểu [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15], [29], [30], [31], [32], [34].

Có thể thấy, trong thời gian qua, chưa có một công trình nghiên cứu nào về chợ làng xã ở Mê Linh từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX một cách có hệ thống và theo đúng nghĩa là một công trình nghiên cứu ở góc độ Sử học Kế thừa những kết quả và ghi chép trong các công trình nghiên cứu của các tác

giả đi trước, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: Chợ làng xã ở Mê Linh (Hà

Nội) từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX làm đề tài Luận văn tốt nghiệp cao học Thạc

sĩ, với tham vọng khỏa lấp phần nào khoảng trống lịch sử về chợ trên địa bàn

Mê Linh chưa được quan tâm nghiên cứu thời gian qua

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài Luận văn tập trung nghiên cứu về Chợ làng xã ở Mê Linh (Hà

Nội) từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện đề tài: “Chợ làng xã ở Mê Linh (Hà Nội) từ thế kỷ XIX đến

thế kỷ XX” nhằm những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, Luận văn trình bày khái quát những nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội tác động trực tiếp đến hệ thống chợ làng xã ở Mê Linh trong khoảng thời gian đề tài xác định

Thứ hai, Luận văn tập trung phân tích, trình bày một cách có hệ thống

và khoa học về diện mạo chợ làng xã ở Mê Linh từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX

Thứ ba, thấy được ảnh hưởng và tác động của hệ thống chợ làng xã đối với đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của cư dân Mê Linh và vùng phụ cận Từ

đó rút ra một số nhận xét chung về hệ thống chợ làng xã cũng như một số bất cập của hệ thống chợ làng xã ở Mê Linh trong thời gian đề tài xác định đối

Trang 18

với hoạt động sản xuất, trao đổi và buôn bán của nhân dân, đưa ra một số kiến nghị và giải pháp khắc phục.

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian, Luận văn nghiên cứu “Chợ làng xã ở Mê Linh (Hà Nội) từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX” qua hai giai đoạn từ thế kỷ XIX đến năm

1954 và từ năm 1954 đến năm 2000

Phạm vi không gian, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu chợ làng xã

trong phạm vi địa giới hành chính của huyện Mê Linh (Hà Nội) hiện nay, bao gồm 16 xã và 02 Thị trấn

Phạm vi nội dung, để kết cấu của đề tài được logic, luận văn có trình

bày đôi nét về điều kiện tự nhiên xã hội vùng đất Mê Linh giai đoạn trước khi

đề tài tìm hiểu Ngoài phần khái bối cảnh lịch sử tác động đến chợ làng xã ở

Mê Linh, luận văn tập trung vào nghiên cứu diện mạo của một số chợ làng xã điển hình ở Mê Linh qua các giai đoạn: Chợ làng xã dưới thời Nguyễn, chợ làng xã thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chợ làng xã từ khi miền Nam hoàn toàn giải phóng đến hết thế kỷ XX Rút ra một số nhận xét chung và riêng về đặc điểm chợ làng xã từ đó đánh giá ảnh hưởng của chợ đối với đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của dân cư ở Mê Linh trong khoảng thời gian đề tài thực hiện

Những vấn đề khác không nằm trong nội dung nghiên cứu của đề tài

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Để hoàn thành Luận văn, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu thành văn và các ghi chép, phỏng vấn điền dã lịch sử trong quá trình khảo sát thực

tế các chợ trên địa bàn huyện Mê Linh, cụ thể:

*Nguồn tài liệu thành văn bao gồm

- Các sách chuyên khảo, tham khảo viết về đề tài chợ, văn hóa làng xã,

nông thôn Việt Nam, được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia, Thư viện tỉnh

Trang 19

Vĩnh Phúc, Thư viện tỉnh Nghệ An, Thư viện trường Đại học Vinh, liên quan đến đề tài Luận văn.

- Tài liệu lịch sử địa phương liên quan đến chợ làng xã ở Mê Linh: Lịch

sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, Lịch sử Đảng bộ các xã trên địa bàn huyện, Địa chí tỉnh Vĩnh Phúc, địa chí huyện Mê Linh, Các báo cáo thường niên của các phòng ban huyện Mê Linh, các xã, thị trên địa bàn Mê Linh,

- Tài liệu là các Luận án, Luận văn tìm hiểu về chợ được lưu tại Thư viện Đại học Vinh

Đây là nguồn tài liệu quan trọng, có ý nghĩa khoa học và độ tin cậy cao, giúp chúng tôi bước đầu có cách nhìn khách quan, hệ thống về quá trình hình thành, phát triển của hệ thống chợ làng xã trên địa bàn Mê Linh

*Nguồn tài liệu phỏng vấn điền dã lịch sử

Trong quá trình thực hiện đề tài, do nguồn tư liệu thành văn nghiên cứu

về chợ làng xã ở Mê Linh còn hạn chế, chúng tôi trực tiếp đi khảo sát các chợ làng xã trên địa bàn Mê Linh, gặp gỡ, hỏi chuyện các tiểu thương buôn bán, các cụ cao niên xung quanh chợ, ghi chép hoạt động trao đổi, buôn bán của hệ thống chợ, bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu đề tài thêm cụ thể, sinh động

và thuyết phục Đây là nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng tôi phục dựng lại một phần hoạt động buôn bán, trao đổi sầm uất trong suốt hai thế kỷ của hệ

thống Chợ làng xã ở Mê Linh (Hà Nội) từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX.

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng hai phương pháp lịch sử và logic đề làm sáng tỏ vấn đề cần tìm hiểu Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp nghiên cứu liên ngành, điền dã hiện trường lịch sử để tiếp cận và phân tích vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau, nhằm giải quyết yêu cầu và nhiệm vụ đề tài đặt ra

Trang 20

và Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Giáo dục truyền thống yêu quê hương, yêu đất nước cho thế hệ trẻ trên quê hương cách mạng Mê Linh.

Thứ hai, Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về hệ thống chợ làng xã trên địa bàn Mê Linh trong thời gian hai thế kỷ XIX - XX Làm rõ hoạt động buôn bán trao đổi của hệ thống chợ làng xã, cũng như vai trò và vị trí của chợ làng xã đối với đời sống kinh tế và văn hóa xã hội của cư dân Mê Linh và vùng phụ cận

Thứ ba, Luận văn còn là kết quả nghiên cứu về kinh tế huyện Mê Linh

từ góc độ hệ thống chợ, đây là một hướng tiếp cận mới cho việc quy hoạch, phát triển mạng lưới chợ ở huyện Mê Linh, phần nào giúp các nhà quản lý hoạch định chiến lược của huyện thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển, đầu tư đúng mức cho hệ thống chợ trên địa bàn nhằm phát huy được hết vai trò và vị trí tiềm năng của hệ thống chợ làng xã đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội đất nước nói chung và Mê Linh nói riêng

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của Luận văn được chúng tôi trình bình trong 3 chương:

Chương 1: Diện mạo chợ làng xã ở Mê Linh từ năm 1802 đến năm 1954 Chương 2: Bức tranh chợ làng xã ở Mê Linh từ năm 1954 đến năm 2000 Chương 3: Vai trò của chợ làng xã đối với đời sống văn hóa vật chất

và tinh thần nhân dân Mê Linh

Trang 21

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 DIỆN MẠO CHỢ LÀNG XÃ Ở MÊ LINH TỪ NĂM 1802

ĐẾN NĂM 1954 1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Mê Linh là vùng đất cổ nằm ở phía Bắc sông Hồng và phía Tây Bắc thủ

đô Hà Nội Qua nhiều giai đoạn lịch sử, vùng đất nơi đây có nhiều thay đổi của một đơn vị hành chính cấp huyện Huyện Mê Linh được hình thành từ sự hợp nhất các huyện Yên Lãng, Bình Xuyên, thị xã Phúc Yên của tỉnh Phúc Yên và 7 xã của huyện Kim Anh, huyện Mê Linh lần lượt là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Vĩnh Phú, Hà Nội, Vĩnh Phúc, sau nhiều thay đổi địa giới hành chính cấp tỉnh, từ năm 2008, Mê Linh được sáp nhập vào đơn vị hành chính của thủ đô Hà Nội

Huyện Mê Linh ngày nay được vinh dự mang một tên ra đời từ thời sơ

sử Từ năm 111 TCN đến năm 234 SCN, nhà Hán đô hộ nước ta, chia nước ta thành ba quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam Theo cách phân vùng địa lý của nhà Hán, dưới quận là huyện, phạm vi huyện tương đương phạm vi bộ của ta thời các vua Hùng dựng nước.

Huyện Mê Linh thời thuộc Hán là bộ Văn Lang cũ (có bị thu hẹp một phần trong thời Thục An Dương Vương), là địa bàn cư trú của các Lạc tướng, Lạc dân dòng dõi vua Hùng Phạm vi huyện này gồm một vùng đất rộng trải dài hai bên sông Hồng từ núi Ba Vì đến dãy Tam Đảo tương đương với tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ và miền Sơn Tây ngày nay.

Mê Linh là một tên riêng mà lạc dân dùng để gọi xứ sở của mình, là một thổ âm – có thể là tên thường gọi của bộ Văn Lang lúc bấy giờ - đại để là

âm kép M’linh mà người Hán đã phiên âm bằng chữ của họ, về sau đọc theo

âm Hán – Việt thành ra Mê Linh Địa danh Mê Linh tồn tại trong vòng 600

Trang 22

năm đến thời nhà Tùy (thế kỷ VI) thì không còn nữa Huyện Mê Linh bị chia thành hai huyện Gia Ninh và Tân Xương.

Huyện Yên Lãng đời nhà Hán là đất huyện Mê Linh, quận Giao Chỉ Đời nhà Tùy tách ra làm huyện Bình Đạo Đời nhà Đường (thế kỷ VII) đổi làm châu Nam Đạo, sau lại đổi làm Tiên Châu Đến thời đại phong kiến tự chủ nước ta, từ nhà Đinh, nhà Tiền Lê trở đi đặt tên là Yên Lãng Đời nhà Trần, huyện Yên Lãng thuộc châu Tam Đới, lộ Đông Đô Đời nhà Hậu Lê, nhà Nguyễn huyện Yên Lãng thuộc phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây [76; Tr 16].

Trong sách Lịch sử Đảng bộ huyện Mê Linh (1930 – 2010) viết về lược

sử vùng đất Mê Linh như sau: Huyện Mê Linh có diện tích tự nhiên là

141,64km 2 Trên bản đồ địa lý Việt Nam, Mê Linh nằm ở tọa độ 21 độ, 10 phút độ Bắc và 106 độ 5 phút kinh độ Đông Phía Tây Mê Linh giáp với huyện Yên Lạc (tỉnh Vĩnh Phúc); phía Đông giáp với huyện Đông Anh và huyện Sóc Sơn (Hà Nội); phía Bắc giáp với thị xã Phúc Yên (tỉnh Vĩnh Phúc)

và phía Nam giáp với ranh giới tự nhiên là sông Hồng, bên kia sông thuộc huyện Đan Phượng (Hà Nội) [7;Tr 11- 13].

Mê Linh là một huyện có vị trí địa lý thuận lợi, một hệ thống giao thông thủy bộ đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương phát triển kinh tế xã hội suốt chiều dài lịch sử Mê Linh nằm trên địa phận những tuyến đường huyết mạch không chỉ của Hà Nội mà cả đất nước: Quốc lộ số 2, quốc lộ số 23B đi Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái; đường sắt Hà Nội – Lào Cai Từ trung tâm của huyện đi cao tốc Bắc Thăng Long lên sân bay Nội Bài, xuôi về trung tâm Thủ đô và nối liền vùng tam giác kinh tế Bắc Bộ: Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh

Hệ thống đường giao thông thủy chủ yếu có hệ thống sông Hồng và sông Cà Lồ cùng các chi lưu, phụ lưu, ao, hồ đáp ứng nhu cầu đi lại bằng tàu thuyền suốt nhiều thế kỷ trong thời phong kiến cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước sau này Bên cạnh đó, phù sa sông Hồng và sông Cà Lồ cũng kiến tạo nên vùng đất trồng lúa trù phú cả trong và ngoài đê quai vạc các xã:

Trang 23

Tiến Thắng, Liên Mạc, Vạn Yên, Chu Phan, Thạch Đà, Hoàng Kim, Văn Khê, Tráng Việt, Tam Đồng, Tiến Thịnh và Tự Lập Vùng đất trồng màu (các loại cây su hào, bắp cải, các loại bầu bí, rau thơm , các loại hoa cúc, hoa hồng, hoa huệ, hoa lan, ) có nguồn gốc là đất bạc màu trên nền phù sa cổ gồm các xã: Tiền Phong, Mê Linh, Đại Thịnh, Thanh Lâm, Quang Minh, Kim Hoa Đặc trưng tài nguyên đất đưa lại sự khác biệt trong cơ cấu nông nghiệp giữa các xã trong huyện Mê Linh, từ đó tạo ra những sản phẩm nông nghiệp chủ lực của từng vùng, đồng thời quy định tính chất nông nghiệp, phi nông nghiệp của cư dân Mê Linh.

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên khí hậu ở Mê Linh cũng

có những đặc điểm chung như nhiều huyện, thị thuộc khu vực đồng bằng Bắc

Bộ Một năm có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, trong đó có hai mùa rõ rệt là mùa nóng (mùa Hạ) và mùa lạnh (mùa Đông) Mùa Đông thường bắt đầu từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ có lúc thấp nhất xuống dưới 100C, gió mùa Đông Bắc thổi mang theo không khí lạnh và khô ở nửa đầu mùa đông, nửa sau mùa Đông có mưa phùn thời tiết lạnh ẩm Mùa Hạ kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm, nhiệt độ trung bình trên 250C, nắng nóng nhất tập trung vào tháng 7 và tháng 8, có năm nhiệt độ đo được lên đến

39 – 400C, mùa Hạ có gió mùa Tây Nam và Đông Nam thay nhau thổi, đây cũng là mùa của mưa, bão trong năm Biên độ giao động nhiệt hàng năm của

Mê Linh lớn Lượng mưa bình quân trong năm là 1.450mm, tập trung vào

tháng 6 và tháng 7, những tháng còn lại lượng mưa không đáng kể Độ ẩm trung bình là 85% [7;Tr 14].

Thời tiết một năm có 4 mùa là một thuận lợi lớn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của nhân dân trên vùng đất Mê Linh, giúp đa dạng hóa các cây trồng, hoa màu, vật nuôi đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và cung ứng cho các vùng xung quanh, đây cũng là một nguyên nhân quan trọng đưa Mê Linh trở thành quê hương của các loại rau, củ, quả và các loài hoa cung ứng cho chợ đầu mối

Trang 24

trong vùng và cả khu vực miền Bắc, tạo cơ hội ổn định sản xuất, nâng cao đời sống cho đại bộ phận dân cư nông nghiệp nơi đây.

1.1.2 Điều kiện xã hội

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ học đã chứng minh vùng đất Mê Linh mà trung tâm là làng Hạ Lôi (thuộc xã Mê Linh) không chỉ là một vùng đất cổ mà còn là một trong những địa bàn cư trú và sinh sống của người Việt cổ ở khu vực Đồng Bằng sông Hồng – cái nôi của nền văn minh lúa nước ở miền Bắc Việt Nam Tại Mê Linh các nhà khảo cổ học tìm thấy nhiều dấu vết vật chất chứng minh sự tồn tại của cư dân ở đây với niên đại lên đến gần 3000 năm, gắn liền với thời đại các vua Hùng dựng nước và nhà nước Văn Lang trong lịch sử Việt Nam

Cũng giống như những cư dân Việt cổ khác trong quốc gia Văn Lang,

Âu Lạc buổi bình minh của lịch sử dân tộc, người Việt cổ ở Mê Linh là những

cư dân nông nghiệp gắn bó cuộc sống ven các dòng sông, ao hồ, cạnh nguồn nước và giao thông thuận lợi Chính họ là chủ nhân chinh phục những đầm lầy, lập trang, đoàn kết cùng nhau lập ra những xóm làng đầu tiên trên vùng đất mới và đoàn kết để cùng trị thủy và chống giặc ngoại xâm

Ngoài những dấu vết khảo cổ học và những di vật lịch sử có liên quan đến dấu vết của người Việt cổ trên vùng đất Mê Linh, hàng loạt làng xã của

Mê Linh có tên Nôm là Kẻ, ví như: Kẻ Lai, Kẻ Lôi (xã Tam Đồng); Kẻ Sặt (thôn Phú Mỹ xã Tự Lập); Kẻ Đợ (xã Thạch Đà); Kẻ Hạ (thôn Hạ Lôi, xã

Mê Linh); Kẻ Ta (thôn Bồng Mạc, xã Liên Mạc), Kẻ Lan (thôn Bồng Mạc,

xã Liên Mạc), Kẻ Già (thôn Yên Thị, xã Tiến Thịnh); Kẻ Mét (thôn Thọ Lão, xã Tiến Thịnh), Kẻ Dẫy, Kẻ Cùa, Theo các nhà nghiên cứu, từ ‘‘Kẻ’’ đứng trước một tên Nôm để chỉ một địa điểm cư trú tương đương với làng xóm hiện nay, là những tên làng cổ, gắn bó với địa bàn sinh tụ của người

Việt cổ cho đến trước thời Lê [7;Tr 16].

Bên cạnh các cộng đồng cư dân cổ gắn với tên Kẻ, tên làng chắc hẳn khi nền kinh tế dần no đủ, thủ công nghiệp phát triển, nhu cầu trao đổi mua

Trang 25

bán hàng hóa xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu của các thế hệ cư dân làng xã nơi đây, các hệ thống chợ làng xã được hình thành từ sớm Thêm vào đó, những tên làng, tên xã gắn với từ Kẻ thường chỉ vị trí cạnh một chợ, một khu vực buôn bán Tiếc rằng ghi chép của sử sách về hoạt động buôn bán trao đổi

ở các chợ làng xã còn quá ít ỏi và dường như không có Ngày nay trên địa bàn

Mê Linh, các tên làng cổ, gắn với một chợ làng xã trong vùng vẫn còn, ví như: Kẻ Sặt (chợ Sặt), Kẻ Đợ (chợ Đợ), Kẻ Hạ (chợ Hạ) , đây cũng là một căn cứ để chúng tôi dựa vào đó tìm hiểu hoạt động, cũng như sự ra đời từ rất sớm của hệ thống chợ làng xã trên địa bàn Mê Linh trong lịch sử

Mê Linh là vùng đất cổ với hệ thống di tích lịch sử văn hóa dày đặc, các di tích lịch sử không chỉ có giá trị về mặt tư tưởng, tâm linh mà còn mang giá trị về kiến trúc nghệ thuật và lịch sử, đậm đà bản sắc dân tộc

Trước hết, đó là các di tích thời Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa năm

40 trên vùng đất Mê Linh Thành cổ Mê Linh ngày nay thuộc địa phận thôn

Hạ Lôi xã Mê Linh, đây chính là nơi đóng đô của Hai Bà sau khi đánh tan quân xâm lược nhà Hán Thành Dền (thuộc địa phận thôn Phú Mỹ, xã Tự Lập), theo truyền thuyết còn tương truyền trong dân gian, thành được bà Trưng Nhị xây dựng chỉ trong vòng một đêm để chống lại quân xâm lược nhà Hán do Mã Viện chỉ huy Ngoài ra còn có Thành Vượn (tên thành được đọc chệch ra từ chữ Viện) thuộc địa phận thôn Cư An xã Tam Đồng, do quân Mã Viện đắp để chống lại cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng Những thành này ngày nay chỉ còn dấu tích là những chân thành nhô lên cao tạo thành những

gò đất,

Đáng chú ý nhất có đền thờ Hai Bà Trưng – hai vị nữ anh hùng đầu tiên của dân tộc ta, thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân xâm lược Đông Hán vào năm 40 đầu công nguyên Đền thờ Hai Bà Trưng ở thôn Hạ Lôi, xã

Mê Linh được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1980

Hầu như làng xã nào trên địa bản Mê Linh cũng có đình, có đền, có chùa thờ Phật, đáp ứng nhu cầu tâm linh, và tín ngưỡng của cư dân nơi đây

Trang 26

theo suốt chiều dài lịch sử dân tộc: Đình Hạ Lôi, Đền thờ Thánh Cốt Tung (từ thời các Vua Hùng), Đền thờ Cao Sơn, Đình Phú Mỹ, Đình Bạch Trữ, Đình Văn Lôi, Đình Cư An, Đình Liễu Trì, Đình Thọ Lão, Đình Chu Trần, Chùa Đông (Tùng Lâm Tự), chùa Đoài (Đại Bi Tự, thờ Phật và Thiền sư Từ Đạo Hạnh), chùa Hằng An (Hằng An Tự), Chùa Mạnh Trữ (Hương Lân Tự), Chùa Thọ Lão (Bảo Lâm Tự), Chùa Yên Thị, Đền Thạch Đà, Đền Thiên Cổ, là những công trình kiến trúc mang đậm phong cách kiến trúc dân gian thế kỷ XVII – XVIII.

Hệ thống di tích đình, đền chùa dày đặc trên khắp địa bàn Mê Linh cho thấy nơi đây là một vùng đất từ sớm đã có con người đến khai hoang, lập làng, kinh tế làng xã đã phát triển mở rộng, nơi đây cũng là trung tâm đầu não của đất nước thời kỳ sơ sử, căn cứ của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống lại chính quyền đô hộ phong kiến phương Bắc Đời sống tinh thần phát triển cao và phong phú biểu hiện qua số lượng, các dạng kiến trúc tôn giáo cho thấy một đời sống vật chất no đủ, ấm êm của cư dân nơi đây, điều đó là hoàn toàn có thể Đi liền với các kiến trúc văn hóa nghệ thuật là những lễ hội được

tổ chức vào mùa xuân hàng năm để tưởng nhớ, giáo dục tinh thần yêu nước, nhớ về cội nguồn của thế hệ trẻ ngày nay Chợ làng xã một lần nữa lại tiếp tục phát huy vai trò to lớn và bền vững của mình trong suốt tiến trình lịch sử, chợ trong bối cảnh này đóng vai trò cung ứng những vật phẩm, những đồ tế lễ, hương hoa, trà, rượu phục vụ các hoạt động tín ngưỡng trên khắp địa bàn Mê Linh

Ra đời và phát triển trên một nền tảng văn hóa, lịch sử lâu đời, mảnh đất Mê Linh nuôi dưỡng không ít những tấm gương hiếu học, nổi tiếng làm rạng danh đất nước, làm sáng đẹp thêm mảnh đất giàu truyền thống này Tiêu biểu cho những tấm gương học hành đỗ đạt, cao đem tài năng trí tuệ ra giúp nước thời phong kiến có:

Ngô Miễn sinh năm 1371, đời vua Trần Nhân Tông, ông đỗ Tiến sĩ năm 22 tuổi

Trang 27

Đỗ Nhuận người làng Kim Hoa, xã Kim Hoa, ông sinh năm 1446, ông

đỗ Tiến sĩ năm 21 tuổi và làm quan dưới triều vua Lê Thánh Tông, ông giữ đến chức Thị độc viện Hàn lâm kiêm Đại học sĩ Đông các

Nguyễn Đình Mỹ người làng Chi Đông, sinh năm 1460, mất năm 1497,

tự là Triều Phủ, ông giữ đến chức Thượng thư bộ binh thời vua Lê Thánh Tông

Trần Công Tước sinh năm 1650, tên chữ là Thận Đoan, thụy hiệu Minh Khánh, tước Quận công Ông là người đức độ và có công với làng xóm và các vùng xung quanh

Đỗ Nhân Tăng sinh năm 1664, mất năm 1729 Ông là bậc văn võ toàn tài, được nhà vua quý mến tin dùng, làm quan hai triều vua Hy Tôn hoàng đế

và Dụ Tôn hoàng đế Kế tục sự nghiệp của Ngô Miễn, Trần Quận Công, đã xuất tiền của giúp nhân dân đào ao vượt thổ, khai mương xẻ ngòi, khai phá hết ruộng đất còn hoang dã Do có nhiều công lao với quê hương, ông được dân làng đề nghị dựng sinh từ thờ sống từ năm 1715

Ngô Kính Thần đỗ Hoàng Giáp khoa Quý Sửu triều vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức (1493), ông từng giữ chức Phó đô Ngự sử, đi sứ

sang Trung Quốc [7;Tr 20 – 21] Ngoài ra, trên mảnh đất Mê Linh còn có

nhiều người con ưu tú đỗ đạt Cử nhân, Tú tài, các danh nhân thời phong kiến, các Thạc sĩ, Tiến sĩ thời hiện đại đều đóng góp tâm sức cho sự hưng thịnh của quốc gia dân tộc

Có thể nhận thấy từ rất sớm, việc học hành thi cử được cư dân nông nghiệp trên vùng đất Mê Linh hết sức quan tâm và coi trọng, cũng như nhiều vùng đất học khác, con người Mê Linh xem học hành khoa cử như một con đường tiến thân thay đổi thân phận gia đình, dòng họ, làm dạng danh cho quê hương và dựng xây đất nước Không khó để bắt gặp hình ảnh những sĩ tử gặp nhau trao đổi việc học hành thi cử trong những phiên chợ làng xã náo nhiệt, hoặc cùng nhau lên chợ huyện, chợ trấn để tìm mua những vật dụng cần thiết

Trang 28

cho việc học hành thi cử khi hệ thống chợ làng xã chưa đáp ứng được nhu cầu

Từ buổi đầu của công nguyên dựng nước và giữ nước, dưới ách đô hộ

hà khắc của nhà Đông Hán, chính sách thuế khóa nặng nề, âm mưu đồng hóa thâm độc càng làm cho mâu thuẫn giữa đại bộ phận nhân dân Mê Linh nói riêng và toàn thể quốc gia Âu Lạc nói chung, hàng loạt phong trào đấu tranh chống lại nhà Đông Hán nổ ra, tiêu biểu nhất có cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng nổ ra trên địa bàn Mê Linh và các thành trì lân cận cuộc khởi nghĩa nhanh chóng giành thắng lợi năm vào năm 40, sau đó một nhà nước do Hai

Bà làm chủ đến năm 43

Kế tục tinh thần chống giặc ngoại xâm của hai liệt nữ anh hùng, thế kỷ

VI, Lý Bí từ trại Diến Táo (Tiến Thắng), tổ chức xây dựng căn cứ, phát triển lực lượng nghĩa quân, đem quân tập kích quân đội nhà Lương, chiếm giữ thành Long Biên giành thắng lợi, lập ra nhà nước độc lập, sử cũ gọi là Vạn Xuân

Trong những cuộc khởi nghĩa chống lại ách thống trị của phong kiến phương Bắc, trực tiếp là nhà Tùy và Đường đều có sự tham gia hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân trên vùng đất Mê Linh, tiếc rằng sử sách cũ ghi chép

về giai đoạn này trên vùng đất Mê Linh quá ít không thể phục dựng lại những đóng góp cũng như sự phát triển của Mê Linh, đây cũng là tình trạng chung đối với việc nghiên cứu giai đoạn lịch sử này ở các vùng khác

Từ khi cha con Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo giành lại chủ quyền cho dân tộc (905) sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, đến thế đầu thế kỷ XVI – giai đoạn phát triển cực thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam, quốc gia hưng vong, nhiều phen đổi chủ, các thế hệ cư dân sống trên vùng đất Mê Linh ngày nay

Trang 29

cùng cả dân tộc giữ vững nền độc lập, tiếp tục phát triển kinh tế, tự cường dân tộc, mở rộng các làng xã, hoạt động buôn bán, trao đổi thịnh vượng.

Thế kỷ XVI – XVIII được coi là những giai đoạn của khủng hoảng, đấu tranh chính trị giữa các vương triều và khởi nghĩa nông dân rộng khắp trên phạm vi cả nước Triều đình phong kiến bước vào con đường suy vong, nhiều quan lại chỉ lo ăn chơi, vơ vét của dân, không quan tâm phát triển kinh tế, chăm lo thủy lợi càng làm cho kinh tế tiêu điều, sản xuất nông nghiệp đình trệ, đời sống nhân dân ngày càng khổ cực, trong hoàn cảnh đó, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ chống lại triều đình phong kiến, chống lại quan lại địa phương ức hiếp bóc lột nông dân quá mức Tiêu biểu nhất thời kỳ này

có cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương còn gọi là Quận Hẻo lãnh đạo

kéo dài hơn 10 năm (1740 – 1751) Vùng Thanh Tước (Mê Linh) và Hương

Canh (Bình Xuyên) thuộc căn cứ quân sự hiểm yếu và quan trọng của nghĩa quân Nguyễn Danh Phương Tại đây ông xây dựng thành căn cứ địa kháng chiến lâu dài Từ căn cứ này, nghĩa quân tỏa ra hoạt động khắp xung quanh, kiểm soát các huyện Yên Lãng, Yên Lạc, Bạch Hạc, Lập Thạch, Bình Xuyên,

Hạ Hòa, Tam Nông, làm cho triều đình vua Lê chúa Trịnh nhiều phen khốn đốn, phải mất 10 năm mới dẹp nổi phong trào [7;Tr 25].

Cuối thế kỷ XVIII, cả Đàng trong lẫn Đàng ngoài, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào thời kỳ suy vong, khủng hoảng nghiêm trọng Phong trào nông dân khởi nghĩa bùng nổ khắp nơi, điển hình có phong trào nông dân Tây Sơn (1771 -1786), do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ tổ chức, lãnh đạo Từ một cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ ở ấp Tây Sơn, Bình Định, có nội dung, tính chất, đặc điểm giống như bao cuộc khởi nghĩa nông dân khác trong thời kỳ trung đại, cuộc khởi nghĩa này đã chuyển thành một cuộc chiến tranh nông dân rộng khắp thu hút hàng chục vạn nông dân làng xã trong phạm vi cả nước tham gia, lật đổ cơ đồ chúa Nguyễn tạo dựng mấy trăm năm, chôn vùi 5 vạn quân Xiêm tại Rạch Gầm - Xoài mút trong trận thủy chiến lịch sử ngày 18 /01/ 1785 và 29 vạn quân thanh mùa Xuân năm Kỷ

Trang 30

Dậu 1789, xác lập địa vị của vương triều Tây Sơn Tuy nhiên, chính mâu thuẫn nội bộ giữa ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã tạo

cơ hội cho Nguyễn Ánh khôi phục cơ nghiệp của các chúa Nguyễn

1.2 Chợ làng xã ở Mê Linh dưới thời nhà Nguyễn (1802 - 1884)

1.2.1 Bối cảnh lịch sử tác động đến chợ làng xã

Về chính trị: Sau khi lật đổ vương triều Tây Sơn, năm 1802 Nguyễn Ánh (1802 -1819) lên ngôi vua, lập ra vương triều Nguyễn, lấy hiệu là Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân (Huế), giữ nguyên các đơn vị hành chính cũ của hai miền, đặt quan chức trấn giữ Năm 1804, được sự đồng ý của nhà Thanh, Gia Long đổi tên nước là Việt Nam Năm 1838, Minh Mạng đổi lại quốc hiệu

là Đại Nam

Chính quyền trung ương được tổ chức như các triều đại trước Đứng đầu là vua, nắm mọi quyền hành Để tập trung hơn nữa mọi quyền lực vào tay mình, các vua Nguyễn đặt lệ tứ bất (không phong Hoàng hậu, không phong

Tể tướng, không lấy Trạng nguyên và không phong tước Vương cho người ngoài họ) Dưới vua là 6 bộ và 5 phủ Đô đốc, ngoài ra có Đô sát viện (Ngự sử đài cũ), Hàn lâm viện, Tôn nhân phủ, Quốc Tử Giám, Nội vụ phủ,v.v… Giúp vua có Văn thư phòng, sang thời Minh Mạng đổi thành Nội các, chuyên lo việc công văn giấy tờ và đi theo vua Minh Mạng cũng đặt thêm Viện cơ mật gồm 4 viên đại thần chuyên bàn với vua các việc quân quốc trọng sự

Gia Long giữ nguyên 11 trấn Bắc Hà cũ, cho hợp thành một tổng trấn, gọi là Bắc thành; 5 trấn cực Nam cũ hợp thành tổng trấn Gia Định thành Đứng đầu đều có chức Tổng trấn có quyền giải quyết mọi việc, sau đó tâu lên vua Giúp việc Tổng trấn có 3 tào: Hộ tào, Bỉnh tào và Hình tào

Sau gần 30 năm tồn tại, tình hình có nhiều biến chuyển Minh Mạng (1820 -1840) quyết định tiến hành một cuộc cải cách hành chính vào các năm

1831 – 1832 Hai Tổng trấn bị xóa bỏ, tất cả các trấn đều gọi là tỉnh; cả nước

có 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên Tổng đốc đứng đầu một vùng hành chính bao gồm nhiều tỉnh và kiêm nhiệm một tỉnh, tỉnh còn lại do Tuần phủ đứng

Trang 31

đầu Dưới Tổng đốc và Tuần phủ có hai ti: Bố chính sứ ti phụ trách các vấn

đề thuế khóa, ruộng đất, hộ khẩu, Án sát sứ ti phụ trách an ninh, tư pháp,v.v…

Tiếp theo hoàng đế Minh Mạng là Thiệu Trị Hoàng đế (1841 – 1847)

kế ngôi, niên hiệu Thiệu Trị Vị vua cuối cùng của thời kỳ phong kiến độc lập xây dựng quốc gia là Tự Đức Hoàng đế (1848 – 1883), niên hiệu Tự Đức, chính quyền phong kiến từ trung ương tới địa phương từng bước được thiết lập ngày càng hoàn thiện nhằm củng cố vai trò, vị thế của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền sau một thời gian dài xây dựng và củng cố vương quyền

Sau một quá trình thăm dò và chuẩn bị mọi điều kiện về kinh tế, quân

sự, 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược Việt Nam, lịch sử Việt Nam bước vào một giai đoạn mới - xây dựng phát triển kinh tế và đấu tranh chống lại quá trình xâm lược của thực dân Pháp Trước họa ngoại xâm, cả dân tộc nói chung, nhân dân trên vùng đất Mê Linh nói riêng đều hết thảy đứng lên cùng với triều Nguyễn tiến hành các biện Pháp chống ngoại xâm, đỉnh cao là tổ chức các phong trào đánh Pháp Tuy nhiên,

do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, phong trào chống Pháp do triều đình lãnh đạo dần đi xuống thoái trào, triều đình phong kiến từng bước nhân nhượng, thỏa hiệp đi đến cắt đất cầu hòa cho thực dân Pháp Nhân dân

cả nước vẫn một lòng đứng dậy chống Pháp, lúc này chống Pháp cũng đồng nghĩa với chống lại triều đình phong kiến

Ngày 19/7/1883, vua Tự Đức băng hà, triều đình Huế ngay lập tức rơi vào tình trạng chia rẽ, lục đục trong vấn đề thừa kế Chớp thời cơ thuận lợi

đó, thực dân Pháp quyết định đưa quân đội đánh thẳng vào Huế buộc triều đình đầu hàng Cao ủy của Pháp lúc này là Hácmăng đã soạn thảo sẵn một bản hiệp ước buộc triều đình Huế ký vào ngày 25/8/1883, sử gọi là điều ước Hácmăng chính thức đánh dấu sự đầu hàng Pháp của triều đình Huế, đi ngược lại với quyền lợi của đại bộ phận các tầng lớp trong xã hội Năm

Trang 32

1884, chính phủ Pháp của Patenôtre đến Huế, xoa dịu, mua chuộc triều đình bằng điều ước Patenôtre (6/6/1884), đánh dấu thắng lợi của Pháp ở Việt Nam, quá trình xâm lược và bình định Việt Nam bước đầu hoàn thành sau một thời gian gần ba thập kỉ chiến tranh.

Thế kỷ XIX, địa giới hành chính của vùng đất Mê Linh ngày nay, nằm trong địa giới hành chính huyện Yên Lãng (9 tổng 62 xã thôn), một phần huyện Yên Lạc (15 tổng, 108 xã, thôn, châu) của phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây

và tổng Kim Hoa, tổng Da Thượng huyện Kim Hoa, phủ Bắc Hà, xứ Kinh Bắc, cụ thể như sau:

Huyện Yên Lãng: 9 tổng, 62 xã thôn

1 Tổng Yên Lãng có 9 xã: Yên Lãng, Xuân Lãng, Tuyền Mỹ, Lý Nhân,

Mộ Đạo, Can Bi, Hợp Lễ, Lý Hải, Thái Lai.

2 Tổng Kim Đà có 5 xã: Kim Đà, Hoàng Xá, Văn Quán, Khê Ngoại, Đông Cao.

3 Tổng Hạ Lôi có 8 xã: Hạ Lôi, Lục Trì, Đại Bối, Đường Lệ, Văn Lôi,

Cư triền, Nam Cường, Nội Động.

4 Tổng Hương canh có 8 xã: Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Hàng, Quất Lựu, Vị Nội, Vị Trù, Nội Phật, Ngoại trạch

5 Tổng Bạch Trữ có 08 xã: Bạch Trữ, Đạm Nội, Nhuế Khúc, Đạm Xuyên, Tháo Miếu, Thịnh Kỷ, Đông Lỗ, Kim Tuyến.

6 Tổng Thiên Lộc có 7 xã: Thiên Lộc, Thiên Dưỡng, Trung Hậu, Yên Nhân, Do Nhân, Thông Việt thuộc xã Trang Việt, Thôn Điệp thuộc xã Trang Việt.

7 Tổng Quải Mai có 5 xã: Quải Mai, Mai Châu, Đại Độ, Đại Đồng, Mạch Lũng.

8 Tổng Hải Bối có 8 xã, sở: Hải Bối, Cổ Điển, Uy Nỗ Hạ, Đồng Nhân, Tâm Xá, Yên Hà, Thọ Đồi, Xuân Canh.

9 Tổng Võng La có 4 xã: Võng La, Canh Tác, Canh Vân, Công Ngư

Trang 33

Huyện Yên Lạc: 15 tổng, 108 xã, thôn, châu

1 Tổng Lương Điền có 10 xã: Lương Điền, Địa Tang, Sơn Tang, Lương Trù, Phong Đăng, Hoa Viên, Đông Viên, Lạc Trung, Xuân Húc, Vân Ổ.

2 Tổng Đông Lỗ có 8 xã: Đông Lỗ, Vĩnh Mỗ, Tề Mỗ, Tiên Lỗ, Lạc Trung, Đan Nguyên, Lỗ Quýnh, Phượng Trì

3 Tổng Đường Xá có 10 xã: Đường Xá, Thôn Hạ thuộc xã Lũng Xuyên, Yên Tâm, Đông Hồng, Lâm Xuyên, Đồng Tâm, Địa Lâm, thôn Thượng thuộc xã Lũng Xuyên, Nho Lâm, Yên Nghiệp.

4 Tổng Hương Nha có 9 xã, thôn: Hương Nha, Trung Nha, Hạ Xá, Dân Trù, Ích Minh, Yên Thư, thôn Phú Xuân, Thụ Ích, Hương Trù.

5 Tổng Thọ Lão có 9 xã thôn: Thọ Lão, An Lão Giáp, An Lão Thị, Mạnh Lân, thôn Châu Trần, thôn An Nội, Nội Hộ, Thanh Khô, Kỳ Đồng.

11 Tổng Hội Hạ có 8 xã: Hội Hạ, Hồ Khâu, An Lạc, Đồng Lạc, Hùng

An, Vân Hội, Lão Sơn, Ốc Trù

12 Tổng Đồng Hồn có 7 xã, thôn: Đồng Hồn, Đồng Cương, Lạc Ý, Địch Đồng, thôn Cốc Lâm thuộc xã Thụy Cốc, thôn Thụy Trung thuộc xã Thụy Cốc, Yên Quán.

13 Tổng Nguyễn Xá có 6 xã: Nguyễn Xá, Nại Tử, Phương Quan, Châu Phan, Sa Phúc, Nại Tử Châu.

Trang 34

14 Tổng Bính Quán có 7 thôn, châu: Châu Bính Quán, châu An Các Nội, châu Sa Khoái, châu An Các Ngoại, châu Các Sa, thôn Mai Khê, châu Trung Hà.

15 Tổng Hương Lục có 7 xã, thôn: Hưng Lục, Hưng Lai, thôn Yên Nội thuộc xã Hưng Lại, Bình Lồ, Sơn Kiều, Yên Trù, Nghĩa Lập [86;Tr 39-40].

Về kinh tế: Nền kinh tế Việt Nam dưới triều Nguyễn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tuy nhiên bên cạnh đó thủ công nghiệp (gồm thủ công nghiệp nhà nước và thủ công nghiệp ở các làng xã) có bước phát triển so với gian đoạn trước

Với chủ trương “dĩ nông vi bản” (lấy nghề nông làm gốc), nhà Nguyễn

hết sức coi trọng vấn đề ruộng đất và sản xuất nông nghiệp Cùng với việc đo đạc ruộng đất, năm 1804 Gia Long cho ban hành chính sách Quân điền Trong số các biện pháp trọng nông, có hiệu quả nhất là chính sách doanh điền Ngay từ khi mới thiết lập được chính quyền, nhà Nguyễn đã phải đối phó với tình trạng dân bỏ đi lưu tán, nhất là ở miền Bắc Năm 1806, số làng bị phiêu tán ở Bắc Hà lên tới con số 370 Gia Long đã ban hành chính sách khuyến khích nông dân trở về làng cũ làm ăn, nhưng tình trạng dân bỏ làng vẫn không được giải quyết

Đối với sản xuất thủ công nghiệp, cùng với sự phát triển của các nghề thủ công truyền thống trong dân gian, nhà Nguyễn có khuynh hướng tăng cường xây dựng các quan xưởng Năm 1803, Gia Long cho lập xưởng đúc tiền ở Bắc Thành rồi sau đó các quan xưởng chế tạo các vật dụng khác lần lượt được thành lập ở Huế

Trong chính quyền hình thành những cơ quan chức năng chuyên trách

về từng lĩnh vực Quản lý chung các ngành nghề thủ công nhà nước là ty Vũ khố chế tạo, gồm có 57 cục trông coi từng ngành cụ thể như đúc súng, làm đồ trang sức, làm gạch ngói, khắc in Làm việc trong những quan xưởng đều là những thợ giỏi được trưng tập từ các địa phương, nên sản phẩm làm ra đều có chất lượng kỹ thuật cao

Trang 35

Trong khoảng thời gian 1837 – 1838, quan xưởng dưới triều Minh Mạng đã theo mẫu của châu Âu chế tạo được máy cưa, xẻ gỗ chạy bằng sức nước và làm được máy bơm nước Đặc biệt năm 1839, dưới quyền của Đốc công Hoàng Văn Lịch và Vũ Huy Trinh, chiếc tàu chạy máy hơi nước đầu tiên đã được đóng thành công ở Việt Nam Một trong những hoạt động kinh

tế có ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ này là khai khoáng

Đầu thế kỷ XIX, đất nước thống nhất đã tạo tiền đề vô cùng thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế hàng hóa Nhưng trên thực tế, thương nghiệp lại

có triều hướng suy thoái Nhà Nguyễn thi hành chính sách thuế khóa phức tạp

và chế độ kiểm soát ngặt nghèo đối với hoạt động buôn bán Thuyền chở gạo

từ Nam Định đến Nghệ An phải nộp thuế 9 lần Thậm chí năm 1834, do sợ bạo loạn, Minh Mạng còn ra lệnh cấm họp chợ Đối với ngoại thương nhà Nguyễn thi hành chính sách độc quyền Triều đình thường bố trí cho các phái

bộ đi công cán kết hợp với mua bán hàng hóa ở nước ngoài Hàng đem bán thường là gạo, đường, lâm thổ sản Hàng mua về là len, dạ, vũ khí, đạn dược

Nhà Nguyễn hết sức dè dặt với tàu buôn phương Tây Thương nhân ngoại quốc chủ yếu là người Hoa, Xiêm, Mã Lai Cùng với sự suy thoái của kinh tế thương nghiệp, các đô thị ngày càng kém phồn thịnh Từ năm 1802, Thăng Long mất vị trí thủ đô, trở thành thủ phủ của Bắc Thành và đến năm

1831 bị đổi thành tỉnh Hà Nội Các đô thị khác như Phố Hiến, Thanh Hà, Hội

An sa sút không phục hồi lại được Cho đến giữa thế kỷ XIX, kinh tế nước ta trở nên hết sức trì trệ [56;Tr 192 -195]

Nằm trong bối cảnh chung của kinh tế Việt Nam thời nhà Nguyễn, các thế hệ cư dân trên vùng đất Mê Linh ngày nay vẫn cần cù phát triển nền kinh

tế nông nghiệp trên một nền tảng điều kiện tự nhiên và xã hội thuận lợi từ trong lịch sử Hoạt động trao đổi mua bán diễn ra đều đặn ở các chợ làng xã ven sông Hồng, các chợ ở kinh thành Thăng Long với 36 phố phường nhộn nhịp Do nguồn tư liệu viết về giai đoạn này trên địa bàn vùng đất Mê Linh ngày nay còn quá ít ỏi, nhưng có lẽ nền nông nghiệp nơi đây phát triển, với

Trang 36

diện tích rộng, đất đai màu mỡ của vùng đồng bằng, đời sống nhân dân ổn định.

Về văn hóa xã hội: Đời sống nhân dân bị áp bức, bóc lột nặng nề bởi các loại tô thuế hàng năm, mâu thuẫn giai cấp trong xã hội ngày càng gay gắt đến chỗ không thể giải quyết được Phong trào nông dân nổi lên gần như suốt đời Gia Long (1802 – 1819) Trong vòng 17 năm, theo các tài liệu của triều Nguyễn, có đến trên 50 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ Chỉ riêng năm 1808, triều đình đã phải tổ chức trên 30 cuộc hành quân đàn áp

Trước cuộc sống cơ cực, nông dân và các tầng lớp bị áp bức khác, không còn lối thoát nào khác ngoài con đường khởi nghĩa lật đổ chế độ nhà Nguyễn, thay đổi trật tự xã hội Cuộc chiến tranh nông dân đầu tiên đã mở màn từ đời Gia Long, càng ngày càng phát triển với quy mô rộng lớn và mức

độ quyết liệt Hai mươi năm trị vì của Minh Mệnh (1820 – 1840) là giai đoạn được coi như “cường thịnh” nhất của triều Nguyễn, có đến 200 cuộc khởi nghĩa Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam, với một quãng thời gian ngắn như vậy mà có nhiều cuộc khởi nghĩa đến thế Sang đời Thiệu Trị (1841 – 1847), chỉ trong vòng bảy năm cũng có gần 50 cuộc khởi nghĩa Tự Đức (1847 – 1883) nổi tiếng giỏi văn chương nhưng cũng khét tiếng về sự sa hoa

và tàn bạo Chỉ tính riêng mười năm đầu Tự Đức đã có đến hàng chục cuộc khởi nghĩa [80;Tr 375 -382]

Phong trào đấu tranh của nhân dân đang làm sụp đổ từng bước chế độ nhà Nguyễn Bằng những chính sách phản động và những cuộc đàn áp đẫm máu nhà Nguyễn đã tự mình phá hủy hai chỗ dựa vững chắc đã từng tạo nên sức mạnh cho các vương triều trước đây là nhân dân và dân tộc Triều Nguyễn vì thế ngày càng bị cô lập nghiêm trọng về mọi mặt và cuối cùng thất bại trước họa xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây

Qua tìm hiểu một số nguồn tài liệu lịch sử về vùng đất Mê Linh, dưới thời nhà Nguyễn, hầu như nơi đây không có cuộc khởi nghĩa nông dân nào nổ

ra chống lại triều đình, các làng xã phát triển ổn định, điều đó một phần lý

Trang 37

giải mâu thuẫn giữa nhân dân với địa chủ phong kiến ở đây chưa gay gắt, hoặc thể đã được dung hòa trong điều kiện chịu đựng được nên chưa xảy ra khởi nghĩa, hay do đời sống kinh tế, xã hội ổn định, chưa đẩy đại bộ phận người nông dân đến chỗ mất hết ruộng đất và bị bần cùng hóa Cũng có thể do địa thế chính trị gần với thành Thăng Long vấn đề an ninh, vấn đề quân đội của nhà Nguyễn rất nghiêm ngặt nên khó có thể nổ ra khởi nghĩa nông dân Đây cũng là một khoảng trống của lịch sử trong thời gian qua chưa được quan tâm lấp đầy.

1.2.2 Diện mạo của chợ làng xã

Theo định nghĩa của sách "Từ điển Tiếng Việt" chợ là một danh từ chỉ

một nơi công cộng để đông người đến mua bán vào những ngày, buổi nhất định: Chợ chiều, chợ đêm [42;Tr 192]

Chợ ở làng xã, hiểu một cách đơn giản là nơi tụ họp, trao đổi hàng hóa,

đó là những ngôi chợ nhỏ, chủ yếu là những lều, quán, gian hàng tạm bợ ở những làng quê, đóng vai trò như một đơn vị kinh tế quan trọng của Việt Nam Mỗi gia đình người Việt truyền thống là một đơn vị sản xuất hàng hóa

tự túc, họ rất ít có trao đổi với bên ngoài, trừ những mặt hàng, những đồ trong gia đình không thể tự sản xuất được mới phải đi mua hoặc trao đổi để có, hoặc thử khi nền kinh tế nông nghiệp phát triển, lương thực, một số đồ thủ công làm ra đáp ứng đủ nhu cầu trong gia đình, có sự dư thừa, người nông dân đã mang những hàng hóa đó ra trao đổi lấy những vật dụng cần thiết trong gia đình còn thiếu, nơi họ đến trao đổi thường là trung tâm của một làng, xã, hay một vùng, lâu dần trở nên đông đúc và có trật tự, được sự quản

lý của nhà nước Chợ được hình thành từ đó Ban đầu khi tiền tệ chưa ra đời, hoạt động ở các chợ làng xã chủ yếu là trao đổi vật đổi vật giữa các cư dân trong làng với nhau, hoặc một vài làng xung quanh

Về thời gian xuất hiện của chợ làng xã có nhiều ý kiến, song từ thực tế phát triển của lịch sử và quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp của cộng đồng cư dân Việt có thể thấy rằng chợ làng xã có từ thời kỳ Hùng Vương

Trang 38

dựng nước ở dạng còn rất sơ khai Chợ làng xã ra đời cùng với quá trình thành lập và phát triển của các làng xã, theo Giáo sư Nguyễn Quang Ngọc

trong công trình "Một số vấn đề làng xã Việt Nam" thì: Từ thời kỳ văn hóa

Phùng Nguyên, cách ngày nay khoảng 4000 năm, trên đất nước ta đã diễn ra quá trình tan rã của công xã thị tộc và thay vào đó là quá trình hình thành công xã nông thôn – hay nói một cách khác đất là quá trình hình thành làng Việt [55;Tr 45]

Cùng với quá trình phát triển kinh tế của đất nước, hệ thống chợ làng

xã qua các triều đại phong kiến ngày càng dày đặc, hoạt động thường xuyên

và bài bản, dần phá vỡ cơ cấu kinh tế nông nghiệp khép kín và thủ công nghiệp chưa tách khỏi nông nghiệp trong các làng xã, đưa nền kinh tế dân tộc dần phát triển theo hướng kinh tế hàng hóa mặc dù còn nhiều hạn chế Trong

"An Nam tức sự" của sứ giả nhà Nguyên là Trần Phu viết vào năm 1293 có

đoạn: "Trong các xóm làng thường có chợ, cứ hai ngày họp một phiên, hàng

trăm thứ hàng la liệt Hễ cách 5 dặm dựng một ngôi nhà ba gian, bốn phía đặt chõng để họp chợ, " bên cạnh đó, lệ họp chợ thời Hồng Đức (1470

-1497) cũng cho biết thêm: "Nơi nào muốn mở chợ để tiện mua bán thì quan

phủ, huyện, châu khám xét thực tiện lợi cho dân thì tâu lên Trong dân gian, nếu có dân là có chợ Một xã đã lập chợ thì không được cản trở sự thành lập các chợ mới khác Miễn là các phiên họp của các chợ mới không được họp chung với chợ đã có trước, hoặc lại họp trước ngày phiên chợ của chợ đó để

tranh khách, " [47;Tr 52 -53] Những ghi chép ở trên phần nào cho chúng ta

hình dung được sự phát triển của chợ trong lịch sử và vai trò quản lý của nhà nước ngay cả với chợ làng xã

Chợ làng xã có nhiều loại hình khác nhau, trong đó đáng chú ý có: Chợ mai, hoạt động vào sáng sớm cho đến khi sáng hẳn thì tan; chợ sáng họp từ sáng đến trưa; chợ chiều, họp từ xế chiều cho đến chập tối; chợ hôm họp từ chập tối cho đến nửa đêm mới tan Ngoài ra, chợ Phiên là chợ của vài ba làng,

xã hay tổng trong một vùng, họp vào các ngày cố định trong một tháng tính

Trang 39

theo âm lịch, một tháng thường họp 04 phiên, 06 phiên hoặc 08 phiên, các chợ phiên trong làng, trong tổng bố trí họp lệch nhau Các chợ hôm, sáng, chiều, chợ đêm hầu như hoạt động thường xuyên, ngày nào cũng họp, thời gian họp chợ có sự khác nhau và kéo dài vào nhiều thời điểm trong ngày tùy thuộc vào hoạt động kinh tế của dân cư ở các làng xã, sao cho phù hợp, tranh thủ được thời gian rảnh đi chợ, có thể là sáng sớm trước khi đi làm hoặc chiều tối khi đi làm về,

Những làng xã trên vùng đất Mê Linh ngày nay như đã khái quát ở phần điều kiện tự nhiên và xã hội, nơi đây có đủ điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp ổn định từ rất sớm, hệ thống giao thông thuận lợi, gần với trung tâm của cả nước – Kinh thành Thăng Long, chính vì vậy, chợ làng xã đã hình thành từ rất sớm và phát triển mạnh dưới các triều đại phong kiến như Lý, Trần, Lê Sơ, Bước vào thời kỳ độc lập tự chủ dưới thời nhà Nguyễn (1802 - 1884), diện mạo chợ làng xã phát triển và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những chính sách, những luật lệ chung của nền kinh tế dân tộc Đây là giai đoạn giao lưu văn hóa phương Tây bắt đầu phát triển mạnh, song với tư tưởng của một vương triều phong kiến, nhà Nguyễn cũng giống như một số triều đại phong kiến trước chưa coi trọng kinh tế ngoại thương, thậm chí còn tìm cách hạn chế

sự phát triển của ngoại thương, chủ trương "dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt"

coi trọng kinh tế nông nghiệp, lấy kinh tế nông nghiệp làm gốc rễ, không đặt kinh tế thương nghiệp đúng với vai trò và vị trí vốn có của nó trong nền kinh

tế Tuy nhiên hoạt động nội thương, trao đổi hàng hóa trong nước và ở các chợ làng vẫn có sự phát triển và hồi sinh sau một thời kỳ dài chiến tranh loạn lạc, nhà nước cũng thống nhất thị trường, thống nhất đơn vị đo lường, cho đúc tiền lưu hành trong cả nước góp phần đưa nội thương nói chung và hoạt động mua bán ở các chợ làng xã trong đó có cả chợ làng xã trên vùng đất Mê Linh nói riêng ngày nay phát triển, hoạt động ngoại thương với nước ngoài mới thực sự khó khăn và được triều đình quản lý chặt chẽ Vào đầu thời Nguyễn thuế hàng hóa còn tương đối thấp, tạo điều kiện cho sản xuất và lưu thông

Trang 40

hàng hóa trong nước phát triển, nhà nước quy định: Phàm các nơi chợ búa

quan ải, người buôn hàng qua lại, thời sở tuần ti cứ 40 phần thu thuế một phần, trong đó có lệ đánh người luôn qua bến đò, tuần, thị trường nào, hoặc chiếu số gánh hoặc chiếu nhân suất, hoặc tính ra đầu thuyền, hoặc tính cân lạng không ở lệ, cứ 40 phần thu thuế một phần" [19;Tr 52].

Theo ghi chép của Quốc sử quán triều Nguyễn trong "Đại Nam nhất

thông chí" quyển 21 phần tỉnh Sơn Tây, mục chợ, cùng với các chợ làng xã

nổi tiếng trong tỉnh, trên vùng đất Mê Linh chợ làng xã cũng được nhắc đến một cách ngắn gọn và sơ lược, cụ thể là:

Chợ Phú Nhi, chợ Hoành Tảo, chợ Hát Môn, chợ Đông Sàng, chợ Tảo Thượng đều ở huyện Phúc Thọ.

Chợ Thuần Nghệ, chợ Vật Lại: Đều ở huyện Tùng Thiện.

Chợ Vĩnh Thệ: Ở gần phủ lỵ Quảng Oai.

Chợ Thanh Chi: Cũng là một chợ lớn ở huyện Tiên Phong.

Chợ Quang Bị, chợ Tiên Lâm đều ở huyện Bất Bạt.

Chợ Hiệp Thượng: Ở huyện Yên Sơn.

Chợ Cát ở huyện Tam Dương.

Chợ Sơn Đông: Có tên nữa là chợ Huyện, chợ Sơn Cầu: Đều ở huyện Thạch Thất.

Chợ Trung Hậu: Có tên nữa là chợ Yên, gần huyện lỵ, chợ Hải Bối, chợ Đạm Xuyên, chợ Hương Loại: Đều ở huyện Yên Lãng.

Ngày đăng: 22/01/2016, 14:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Quang Ân (2003), Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới hành chính 1945 -2002, Nxb Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới hành chính 1945 -2002
Tác giả: Nguyễn Quang Ân
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2003
[2] Nguyễn Quang Ân (2010), Tỉnh Vĩnh Phúc xưa và nay, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Số 02 năm 2010; Tr 61 -67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Số 02 năm 2010
Tác giả: Nguyễn Quang Ân
Năm: 2010
[3] Nguyễn Quang Ân (2010), Tỉnh Vĩnh Phúc xưa và nay, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Số 05 năm 2010;Tr 55 -64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Số 05 năm 2010
Tác giả: Nguyễn Quang Ân
Năm: 2010
[4] Nguyễn Quang Ân (2010), Tỉnh Vĩnh Phúc xưa và nay, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Số 06 năm 2010; Tr 61 -64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Số 06 năm 2010
Tác giả: Nguyễn Quang Ân
Năm: 2010
[5] Nguyễn Quang Ân (2010), Tỉnh Vĩnh Phúc xưa và nay, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Số 08 năm 2010; Tr 63 -67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Số 08 năm 2010
Tác giả: Nguyễn Quang Ân
Năm: 2010
[6] Trần Đình Ba, (2011), Chợ Việt độc đáo ba miền, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ Việt độc đáo ba miền
Tác giả: Trần Đình Ba
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2011
[7] Ban chấp hành Đảng bộ huyện Mê Linh, (2013), Lịch sử Đảng bộ huyện Mê Linh (1930 – 2010), Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Mê Linh (1930 – 2010)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Mê Linh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
[14] Ban chấp hành Đảng bộ phường Xuân Hòa, (2013), Lịch sử Đảng bộ phường Xuân Hòa (1976 – 2011), Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ phường Xuân Hòa (1976 – 2011)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ phường Xuân Hòa
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2013
[17] Ban chấp hành Đảng bộ Thị xã Phúc Yên, (2013), Lịch sử Đảng bộ thị xã Phúc Yên (1930 – 2012), Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ thị xã Phúc Yên (1930 – 2012)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ Thị xã Phúc Yên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
[19] Đỗ Bang (1997), Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1997
[20] Huỳnh Công Bá (2013), Lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hóa Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2013
[21] Vũ Kim Biên, (1999), Văn hiến làng xã vùng đất tổ Hùng Vương, Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam và Sở văn hóa thông tin thể thao Phú Thọ xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hiến làng xã vùng đất tổ Hùng Vương
Tác giả: Vũ Kim Biên
Năm: 1999
[22] Bộ khoa học Công nghệ và Môi trường (1998), Tư liệu vùng đồng bằng sông Hồng 1997 -1998, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu vùng đồng bằng sông Hồng 1997 -1998
Tác giả: Bộ khoa học Công nghệ và Môi trường
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1998
[23] Nguyễn Quang Cần, (2012), Chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai từ năm 1698 đến năm 1945, Luận văn Thạc sĩ lịch sử, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ ở Biên Hòa – Đồng Nai từ năm 1698 đến năm 1945
Tác giả: Nguyễn Quang Cần
Năm: 2012
[24] Công ty văn hóa Trí tuệ Việt, Mê Linh trên con đường lớn (Me Linh on the great road), Nxb Văn hóa thông tin – Công ty văn hóa trí tuệ Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mê Linh trên con đường lớn (Me Linh on the great road)
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin – Công ty văn hóa trí tuệ Việt
[25] Lê Khắc Cung, (2010), Hà Nội văn hóa và phong tục, Nxb Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội văn hóa và phong tục
Tác giả: Lê Khắc Cung
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2010
[26] Hoàng Văn Cường (2006), Định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng ngoại thành Hà Nội đến năm 2020, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng ngoại thành Hà Nội đến năm 2020
Tác giả: Hoàng Văn Cường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
[27] Huỳnh Thị Dung, (2011), Chợ Việt, Nxb Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ Việt
Tác giả: Huỳnh Thị Dung
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2011
[28] Đảng bộ huyện Mê Linh – Thành phố Hà Nội, BCH Đảng bộ Thị trấn Chi Đông (2013), Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân thị trấn Chi Đông (1930 -2012), Nxb Chính trị - Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân thị trấn Chi Đông (1930 -2012)
Tác giả: Đảng bộ huyện Mê Linh – Thành phố Hà Nội, BCH Đảng bộ Thị trấn Chi Đông
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2013
[29] Đảng bộ huyện Mê Linh – Thành phố Hà Nội, BCH Đảng bộ xã Mê Linh (2013), Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Mê Linh (1930 -2011), Nxb Chính trị - Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cách mạng của Đảng bộ và nhân dân xã Mê Linh (1930 -2011)
Tác giả: Đảng bộ huyện Mê Linh – Thành phố Hà Nội, BCH Đảng bộ xã Mê Linh
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w