1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra thành phần loài thực vật họ cỏ roi ngựa (verbenaceae) tại hai xã quỳnh trang và quỳnh vinh, thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an

65 564 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 6,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm bổ sung phạm vi nghiên cứu, tăng cường dẫn liệu về thành phần loài và khu vực phân bố làm cơ sở để đánh giá và khai thác hợp lý, hiệu quả các loài thuộc họ Cỏ roi ngựa, tôi lựa chọn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-

ĐẬU MINH TẬP

§IÒU TRA THµNH PHÇN LoµI THùC VËT Hä Cá ROI

NGùA (VERBENACEAE) T¹I HAI X· QUúNH TRANG

Vµ QUúNH VINH, THÞ X· HoµNG MAI, tØnh nghÖ

an

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-

ĐẬU MINH TẬP

§IÒU TRA THµNH PHÇN LoµI THùC VËT Hä Cá ROI

NGùA (VERBENACEAE) T¹I HAI X· QUúNH TRANG

Vµ QUúNH VINH, THÞ X· HoµNG MAI, tØnh nghÖ

an

Chuyên ngành: Thực vật

Mã số: 60.42.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Hồng Ban

Nghệ An - 2015

Trang 3

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Nghệ An, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Đậu Minh Tập

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Nghiên cứu về thực vật 3

1.1.1 Trên thế giới 3

1.1.2 Ở Việt Nam 4

1.1.3 Ở Nghệ An 6

1.2 Nghiên cứu họ Cỏ roi ngựa 7

1.2.1 Trên thế giới 7

1.2.2 Ở Việt Nam 9

1.2.3 Ở Nghệ An 10

1.3 Điều kiện tự nhiên xã hội ở khu vực nghiên cứu 10

1.3.1 Điều kiện tự nhiện 10

1.3.1.1 Vị trí địa lý 10

1.3.1.2 Địa hình 11

1.3.1.3 Tài nguyên đất và tài nguyên rừng 12

1.3.1.4 Khí hậu, thủy văn 12

1.3.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 12

1.3.2.1 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 12

1.3.2.2 Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp 13

1.3.2.3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng 13

1.3.2.4 Cơ sở hạ tầng 13

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

2.2 Thời gian nghiên cứu 14

2.3 Dụng cụ và trang thiết bị phục vụ khảo sát thực địa 14

2.4 Nội dung nghiên cứu 14

2.5 Phương pháp nghiên cứu 15

2.5.1 Phương pháp nghiên cứu điều tra thực địa 15

2.5.1.1 Xác định điểm và tuyến thu mẫu 15

Trang 5

2.5.1.2 Phương pháp thu mẫu và xử lý sơ bộ ngoài thực địa 15

2.5.2 Phương pháp xử lý và trình bày mẫu 15

2.5.3 Phương pháp xác định tên khoa học của các loài 16

2.5.4 Lập danh lục thành phần loài 16

2.5.5 Phương pháp đánh giá đa dạng các phân họ, các chi và các loài 16

2.5.6 Phương pháp đánh giá đa dạng về dạng sống 16

2.5.7 Phương pháp đánh giá đa dạng về yếu tố địa lý thực vật 18

2.5.8 Phương pháp đánh giá về giá trị tài nguyên 19

2.5.9 Đa dạng về môi trường sống 19

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20

3.1 Thành phần loài thực vật họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) tại hai xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 20

3.2 Đa dạng thành phần loài họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) ở 2 xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 24

3.2.1 Đa dạng về chi và loài 24

3.2.2 Sự phân bố loài trong các chi 25

3.2.3 So sánh tỷ lệ về số chi và số loài so với cả nước 26

3.3 Đa dạng về yếu tố địa lý 27

3.4 Đa dạng về da ̣ng sống 29

3.5 Đa dạng giá tri ̣ sử du ̣ng của các loài trong họ Cỏ roi ngựa tại hai xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 33

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39

I Kết luận 39

II Kiến nghị 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Thang phân chia các dạng sống 17 Bảng 2.2 Các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật Việt Nam 18 Bảng 3.1 Danh lục các loài thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) tại hai xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 20 Bảng 3.2 Sự phân bố số lượng chi, loài trong các phân họ của họ Cỏ roi ngựa 24 Bảng 3.3 Phân bố số lượng loài trong các chi của họ Cỏ roi ngựa 26 Bảng 3.4 Tỷ lệ về diện tích, số chi, số loài so với cả nước 27 Bảng 3.5 Yếu tố địa lý của các loài trong họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) 27 Bảng 3.6 Tỷ lệ các da ̣ng sống của họ Cỏ roi ngựa ở hai xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 30 Bảng 3.7 Giá trị sử dụng của các loài thực vật họ Cỏ roi ngựa 33 tại hai xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An 33 Bảng 3.8 Số lượng và tỷ lệ loài theo giá trị sử dụng 37

Trang 8

Th: Cây chồi một năm

YTĐL: Yếu tố địa lý

1 Yếu tố Toàn thế giới

2 Yếu tố liên nhiệt đới

2.1 Yếu tố nhiệt đới Á - Mỹ

2.2 Yếu tố nhiệt đới Á - Phi - Mỹ

2.3 Yếu tố nhiệt đới châu Á, châu Úc, châu Mỹ và các đảo Thái Bình Dương

3 Yếu tố cổ nhiệt đới

3.1 Yếu tố nhiệt đới Á - Úc

3.2 Yếu tố nhiệt đới Á - Phi

4 Yếu tố châu Á nhiệt đới

4.1 Yếu tố lục địa Đông Nam Á - Malêsia

4.2 Lục địa Đông Nam Á

4.3 Yếu tố lục địa Đông Nam Á - Himalaya

4.4 Đông Dương - Nam Trung Quốc

4.5 Đặc hữu Đông Dương

5 Yếu tố ôn đới

5.1 Ôn đới châu Á - Bắc Mỹ

5.2 Ôn đới cổ thế giới

5.3 Ôn đới Địa Trung Hải

5.4 Đông Á

Trang 9

6 Đặc hữu Việt Nam

6.1 Cận đặc hữu Việt Nam 6.2 Đặc hữu Việt Nam

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong ngành thực vật hạt kín, họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) là họ lớn

có khoảng 100 chi và gần 2.600 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, cũng có một số ít ở vùng ôn đới [33]

Ở Việt Nam, họ Cỏ roi ngựa hiện biết 26 chi và khoảng 140 loài [29], trong đó có nhiều cây có giá trị như: Mò trắng hay gọi là Bạch đồng nữ

(Clerodendron fragrans Vent.) đây là cây thuốc quí trong y học và trong dân gian gặp phổ biến ở nhiều nơi trên miền Bắc; Cỏ roi ngựa (Verbena offcinalis L.) làm thuốc chữa mụt nhọt, ngứa, sưng tấy, chữa sốt rét; Tếch (Tectona

grandis L f.) là cây gỗ lớn và rất quý, được chú trọng bảo vệ

Nói chung họ Cỏ roi ngựa có số lượng loài lớn, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực: Y học, dược phẩm, công nghệ thực phẩm Do vậy, nghiên cứu họ Cỏ roi ngựa để có cơ sở khoa học nhằm khai thác, sử dụng và bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên thực vật đã và đang là mối quan tâm lớn của các nhà khoa học

Ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu họ Cỏ roi ngựa như: Vũ Xuân Phương (2007) đã công bố họ cỏ roi ngựa ở Việt Nam có 26 chi với 140 loài được xếp trong 6 phân họ, 13 tông [29] Phạm Hoàng Hộ (2000) công bố

ở Việt Nam có 123 loài của 26 chi [17], Lê Trần Chấn (1999) đã công bố hệ thực vật Việt Nam có 131 loài của 22 chi [6], Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) đã công bố ở vườn quốc gia Bạch Mã có 22 loài của 7 chi [33], Võ Văn Chi (2012) công bố 75 loài của 19 chi được sử dụng làm thuốc chữa bệnh [10], trong họ Cỏ roi ngựa chủ yếu là cây dùng làm thuốc và một số loài dùng để làm gỗ

Ở Nghệ An chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về họ có roi ngựa

mà chỉ có một số công trình nghiên cứu có đề cập đến họ Cỏ roi ngựa, ví dụ như: Nguyễn Thị Hạnh (1999) đã công bố có 24 loài thuộc họ cỏ roi ngựa được đồng bào Thái, tỉnh Nghệ An dùng để làm thuốc chữa bệnh [15];

Trang 11

Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn (2004) đã công bố 54 loài, của

12 chi thuộc họ Cỏ roi ngựa ở vườn Quốc gia Pù Mát [36]

Nhằm bổ sung phạm vi nghiên cứu, tăng cường dẫn liệu về thành phần loài và khu vực phân bố làm cơ sở để đánh giá và khai thác hợp lý, hiệu quả

các loài thuộc họ Cỏ roi ngựa, tôi lựa chọn đề tài: “Điều tra thành phần loài

thực vật họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) tại hai xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An”.

2 Mục tiêu của đề tài

Xác định thành phần loài, lập phổ dạng sống, đánh giá các yếu tố địa lí thực vật và công dụng của các loài thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenacceae) tại hai xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nghiên cứu về thực vật

1.1.1 Trên thế giới

Thực vật có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống của con người như cung cấp lương thực, thực phẩm đến các nguyên liệu, nhiên liệu dùng trong công nghiệp, các loài thuốc chữa bệnh và các vật liệu sử dụng hàng ngày Với mục đích cung cấp thêm các dẫn liệu cho việc nghiên cứu, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thực vật, trên thế giới đã có rất nhiều công trình khoa học liên quan, trong đó có lĩnh vực phân loại thực vật

Từ thế kỷ XV - XVI với sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật kéo theo sự phát triển của thực vật học Thời kỳ này xảy ra 3 sự kiện quan trọng đối với sự phát triển của thực vật học đó là: Sự phát sinh tập bách thảo (Herbier) thế kỷ XVI, thành lập vườn bách thảo (thế kỷ XV-XVI) và biên

soạn cuốn “Bách khoa toàn thư về thực vật” Từ đây xuất hiện các công trình

như: Andrea Caesalpino (1519 - 1603) ông đưa ra bảng phân loại đầu tiên và được đánh giá cao; John Ray (1628 - 1705) mô tả được gần 18.000 loài thực

vật trong cuốn “Lịch sử thực vật” Tiếp sau đó, Linnée (1707 - 1778) với bảng

phân loại được coi là đỉnh cao của hệ thống phân loại thực vật Ông đã đưa ra cách đặt tên bằng tiếng Latinh gồm 2 từ ghép lại mà ngày nay chúng ta còn sử dụng và ông đưa ra hệ thống phân loại gồm 7 đơn vị: Giới, ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài [theo [12]

Đối với các nước Âu Mỹ, việc nghiên cứu hệ thực vật trên toàn lãnh thổ

đã được hoàn thành từ lâu Hầu hết các vật mẫu đã được thu thập và lưu trữ tại các phòng mẫu khô (herbarium) nổi tiếng thế giới như Kew (Anh), Bảo tàng lịch

sử tự nhiên Paris (Pháp), New York (Hoa Kỳ), Xanh Pê-téc-bua (Nga) Vì vậy, khi xây dựng các khu BTTN và VQG hết sức thuận lợi, đơn giản đối với họ Đối với các nước khu vực Đông Nam Á, một số nước đã được nước ngoài tài trợ,

Trang 13

giúp đỡ cho nên tuy chưa hoàn thành nhưng cơ bản các nước đó đã có bộ Thực vật chí khá hoàn chỉnh như Trung Hoa, Thái Lan, Indonexia, Malaysia…

Đến nay, theo số liệu của Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới (2000) trên thế giới đã thống kê được 1.700.000 loài sinh vật, trong đó thực vật bậc cao có 250.000 loài (số loài ước tính khoảng 300.000 loài) [theo [14] Như vậy, số lượng loài chưa xác định được còn khá lớn Điều này đặt ra cho các nhà nghiên cứu thực vật nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu để xác định và đặt tên cho những loài chưa được xác định

1.1.2 Ở Việt Nam

Một số công trình mang tính chất cơ bản và cổ điển của các tác giả là người nước ngoài nhằm thống kê các loài thực vật ở Miền Nam Việt Nam: J Loureiro (1793) [44], J.B.L Pierre (1880) [45] và đến đầu thế kỷ XX có H Lecomte và cộng sự (1907 - 1952) [43] Đây là những công trình được đánh giá là nền tảng cơ sở cho các nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam sau này Để biên soạn bộ sách này, các tác giả đã thu mẫu, định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương lúc bấy giờ

Thập niên 90 của thế kỷ trước, các nhà thực vật Việt Nam và Liên bang Nga đã hợp tác nghiên cứu và hệ thống lại hệ thực vật Việt Nam Các công

trình khoa học này được đăng trong Kỷ yếu cây có mạch của thực vật Việt Nam

(Vascular Plants Synopsis of Vietnamese) Flora tập 1 - 2 (1996)

Trong số các tài liệu về thực vật học được xuất bản trong thời gian gần

đây, đáng chú ý nhất phải kể đến bộ bộ sách của Phạm Hoàng Hộ “Cây cỏ Việt

Nam” (1991 - 1993, 1999 - 2000) [16], [17] Đây là bộ sách được đánh giá là

tài liệu đầy đủ nhất, dễ sử dụng nhất và góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu thực vật ở Việt Nam Trong bộ sách này, tác giả đã thống kê, mô tả và kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài của hệ thực vật Việt Nam Gần đây, tập thể

các nhà thực vật Việt Nam đã cùng nhau biên soạn 3 tập “Danh lục các loài

thực vật Việt Nam” (2001, 2003, 2005) [4] Tuy không có phần mô tả chi tiết

Trang 14

và hình vẽ nhưng thực sự đây là một công trình có giá trị khoa học cao thể hiện tính đa dạng, phong phú của hệ thực vật Việt Nam

Ngoài ra, còn có những bộ sách của các tác giả như: “1900 loài cây có

ích ở Việt Nam” của Trần Đình Lý và cộng sự (1993) [28], “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi (1997, 2003, 2012) [8], [9], [10], Phân loại học thực vật của Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến (1978) [12], “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” của Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999, 2001) [11], “Tài nguyên cây gỗ Việt Nam” của Trần Hợp (2002) [19], “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của

Đỗ Tất Lợi (2003) [26], “Cẩm nang ngành Lâm nghiệp” do Bộ Nông nghiệp và

Phát triển nông thôn phát hành (2007) [5] Đây thực sự là những công trình nghiên cứu có ý nghĩa về hệ thực vật Việt Nam trong đó quan tâm đến giá trị kinh tế của chúng

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về hệ thực vật nói chung, còn có một số tài liệu về các họ riêng biệt đã được công bố như Orchidaceae Việt Nam (L Averyanov, 1994, 2003), Euphorbiaceae (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1999, 2006), Annonaceae (Nguyễn Tiến Bân, 2000), Lamiaceae (Vũ Xuân Phương, 2000), Myrsinaceae (Trần Thị Kim Liên, 2002), Cyperaceae (Nguyễn Khắc Khôi, 2002),… [theo 31] Tuy chỉ đề cập đến một họ nhất định nhưng đây là các công trình nghiên cứu chuyên sâu, trình bày đầy đủ các thông tin cần thiết về các loài trong họ Đó cũng là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về

đa dạng phân loại của các họ thực vật Việt Nam

Một số công trình nghiên cứu về đa dạng thành phần loài, như: T Pócs (1965) khi nghiên cứu về hệ thực vật ở miền Bắc Việt Nam đã thống kê được ở miền Bắc có 5.196 loài [31] Năm 1969, Phan Kế Lộc đã thống kê lại và có bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ xếp theo hệ thống của Engler [33]

Thái Văn Trừng (1978) nghiên cứu, phân tích và cho rằng hệ thực vật Việt Nam, gồm 7.004 loài, 1850 chi, 289 họ trong đó, ngành thực vật Hạt kín chiếm ưu thế với 6.366 loài, 1.727 chi và 239 họ [40] Nguyễn Nghĩa Thìn

Trang 15

(1997) đã thống kê và chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2.582 chi, 395 họ thực vật bậc cao [32] Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ, 733 loài cây trồng, như vậy tổng số lên tới 10.361 loài, 2.256 chi, 305 họ [25] Lê Trần Chấn và công sự (1999) khi nghiên cứu một số đặc điểm của khu hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 10.192 loài của 2.298 chi, 285 họ của 6 ngành thực vật [6]

Trong phạm vi cả nước, Nguyễn Tiến Bân (2005) đã thống kê và đi đến kết luận hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.603 loài, trong đó ngành Ngọc lan với 10.775 loài [3]

Trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu

về hệ thực vật bậc cao có mạch ở các vùng khác nhau của Việt Nam, như: Năm 1996, Phùng Ngọc Lan và cộng sự khi nghiên hệ thực vật ở Cúc Phương đã xác định được 1.817 loài của 838 chi, 188 họ [23]

Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2004), trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó và kết quả nghiên cứu đã lập danh lục khu hệ thực vật ở Pù Mát gồm 202 họ, 931 chi và 2.494 loài [36]

Trần Minh Hợi và cộng sự (2008) công bố tính đa dạng sinh học của VQG Xuân Sơn, Phú Thọ với 1.217 loài của 680 chi, 180 họ [18]

Hoàng Văn Sâm và cộng sự (2008) đã công bố khu hệ thực vật ở Bến

En với 1.389 loài của 65 chi, 173 họ [42]

Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2008) công bố đa dạng sinh học VQG Hoàng Liên với 2.432 loài của 898 chi, 209 họ [38]

1.1.3 Ở Nghệ An

Nghệ An nằm ở khu vực Trường Sơn Bắc, có hệ thực vật phong phú và

đa dạng, được đánh giá là một trong những trung tâm về đa dạng sinh học của thế giới Nhưng việc nghiên cứu hệ thực vật ở đây chủ yếu theo hướng điều tra thành phần loài ở từng vùng như: Đặng Quang Châu (1999) và cộng sự khi nghiên cứu hệ thực vật ở Pù Mát đã công bố 883 loài, 460 chi, 144 họ [7]

Trang 16

Năm 2001, Phạm Hồng Ban với công trình "Nghiên cứu tính đa dạng

sinh học của các hệ sinh thái sau nương rẫy ở vùng Tây Nam Nghệ An" đã

công bố 506 loài, 334 chi, 105 họ thực vật bậc cao [1] Nguyễn Anh Dũng

2002, “Thành phần loài thực vật bậc cao có mạch ở xã Môn Sơn vùng đệm

vườn quốc gia Pù Mát” đã công bố 496 loài 391 chi [13]

Nguyễn Văn Luyện (1998) “Thảm thực vật trong hệ canh tác của

người Đan Lai ở vùng đệm Pù Mát” [27] Nguyễn Thị Quý (1999) đã điều tra

các loài dương xỉ ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát thống kê được 90 loài, 42 chi, 32 họ [30] Nguyễn Nghĩa Thìn, Ngô Trực Nhã, Nguyễn Thị Hạnh (2001)

trong công trình "Cây thuốc của đồng bào Thái, Con Cuông, Nghệ An" đã

công bố 551 loài cây thuốc, 364 chi, 120 họ [35] Đặc biệt nhất là năm 2004

vườn Quốc gia Pù Mát cho xuất bản cuốn sách "Đa dạng hệ thực vật Vườn

Quốc gia Pù Mát" công bố với 2.494 loài thực vật có mạch [36] Gần đây,

Phạm Hồng Ban và cộng sự (2009) đã công bố 509 loài thực vật bậc cao có mạch ở khu vực phía Bắc của huyện Quỳnh Lưu [2] Nguyễn Đức Linh và cộng sự (2010), đã công bố hơn 300 loài thực vật ở núi đá vôi vùng Đông Bắc huyê ̣n Nghı̃a Đàn [24] Năm 2012, Lê Thị Hương và cộng sự đã công bố 856 loài thực vật có mạch ở Khu BTTN Pù Hoạt [21]

1.2 Nghiên cứu họ Cỏ roi ngựa

1.2.1 Trên thế giới

Từ giữa thế kỷ 18, họ Cỏ roi ngựa đã được Linnaeus (1753) đặt tên cho 15

chi với khoảng 60 loài xếp vào 2 phân lớp, phân lớp 2 nhị (Diandria) và phân lớp 4 nhị (Tetraandia) Adanson (1763) lại dựa trên đặc điểm của quả chia thành

2 nhóm (sectio): nhóm có quả 2-4 hạt và nhóm có quả mọng hay nang Moench (1794) sắp xếp các chi họ này theo kiểu của Linnaeus Sang đầu thế kỷ 19 Jaume

St Hil (1805) đặt tên cho họ Cỏ roi ngựa là Verbenaceae (lấy từ tên chi

Verbena) [theo 29] Jussieur A L (1806) dựa vào cấu tạo của cụm hoa chia họ

hình bông Sau những kiểu phân chia sơ khai trên có hàng loạt những hệ

Trang 17

thống phân chia mới ra đời song nhìn chung có thể tóm tắt thành 2 kiểu chính là:

- Họ được phân chia thành các tông (tribus): tiêu biểu là các tác giả:

Lindley J (1836) chia họ thành 2 tông Viticeae và Verbeneae với 45 chi; Endlicher S (1836-1840) chia họ Cỏ roi ngựa thành 3 tông là Lippieae,

Lantaneae và Aegyptileae với 37 chi; Miquel (1856) chia họ thành 4 tông là Viticeae, Verbeneae, Symphoremeae và Avicennianeae và 6 phân tông

(Subtribus); Bentham et Hooker (1876) phân chia họ này thành 6 tông

Phrymeae, Verbeneae, Viticeae, Caryopterideae, Symphoremeae và Avicennianeae với các phân tông) [theo 29]

- Kiểu phân chia thứ hai là chia họ thành các phân họ (subfamilia) với các tông và phân tông Tiêu biểu cho kiểu phân chia này là hệ thống của

Briquet (1897) với 7 phân họ là Stilboideae, Verbenoideae, Chloanthoideae,

Viticoideae, Caryopteridoideae, Symphoremoideae và Avicennioideae với 17

tông, 67 chi Hệ thống Briquet không những chỉ nâng bậc các taxon từ tông lên phân họ mà còn có những thay đổi khá lớn trong việc nhập hoặc tách các taxon Hệ thống này là cơ sở cho một số các hệ thống sau này Melchior

(1964) trên cơ sở hệ thống Briquet bổ sung thêm 1 phân họ Nyctanthoideae và

2 tông, đưa số phân họ lên 8, số tông lên 19 Hệ thống Takhtajan (1973) về cơ bản giống với hệ thống Briquet (1897) và Melchior (1964) có bổ sung thêm

phân họ Phyrmoideae, phân họ Stilboideae và Nyctanthoideae không nằm

trong hệ thống của Takhtajan (1973) mà được chuyển sang họ khác như

Nyctanthoideae sang Oleaceae và Stilboideae thành 1 họ Stilbaseae) [theo

29]

Họ Cỏ roi ngựa là một họ có cấu tạo khá phức tạp nên có những quan điểm cho rằng nên tách thành nhiều họ Tiêu biểu cho quan điểm này là Takhtajan 1997 đã tách họ Cỏ roi ngựa thành 6 họ Mỗi họ trong hệ thống này của Takhtajan tương ứng với một phân họ của Briquet (1897) hay Melchior

(1964), những họ đó là Verbenaceae (4 tông Citharecyleae, Petreae,

Trang 18

Verbeneae, Lantaneae); Phyrmaceae; Cyclocheilaceae, Symphoremataceae, Avicenniaceae và Viticaceae Phân họ Nyctanthoideae được tác giả nhập vào Oleceae Phân họ Cariopteridoideae, Chloanthoideae được nhập vào họ Lamiaceae Đặc biệt chi Clerodendrum trong phân họ Viticoideae được

chuyển về phân họ Caryopteridoideae và nhập vào họ Lamiaceae) [theo 29]

Trên cơ sở hệ thống Briquet (1897), khi nghiên cứu họ Verbenaceae ở

Đông Dương, P Dop (1935) đã sắp xếp họ này trong 5 phân họ là

Symphoremoideae với 20 chi, 135 loài) [theo 29]

1.2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu có đề cập đến họ Cỏ roi

ngựa như: Lê Trần Chấn và cộng sự (1999), trong cuốn “Một số đặc điểm cơ

bản của hệ thực vật Việt Nam” đã công bố hệ thực vật Việt Nam có 131 loài

của 22 chi thuộc họ Cỏ roi ngựa [6]; Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993), trong

cuốn “Cây cỏ Việt Nam” công bố 123 loài của 26 chi [16]; Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai Văn Phô (2003), trong cuốn “Đa dạng hệ nấm và thực vật Vườn

Quốc gia Bạch Mã tỉnh Thừa Thiên Huế” công bố 22 loài của 7 chi [37]; Đỗ

Tất Lợi (2003) công bố 16 loài của 9 chi thuộc họ Cỏ roi ngựa có tác dụng làm thuốc [26]; Trần Đình Lý và cộng sự (1993), trong cuốn trong cuốn

“1900 loài cây có ích” công bố 28 loài của 14 chi [28]; Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1996), trong cuốn “Tính đa dạng thực vật ở Cúc Phương” công bố

36 loài thuộc 11 chi [23]; Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (1998), trong cuốn

“Đa dạng thực vật có mạch vùng núi cao Sapa – Phan Si Pan” công bố 16 loài thuộc 6 chi [39]; Lê Trần Chấn (1999), trong cuốn “Một số đặc điểm hệ

thực vật Việt Nam” đã công bố 144 loài của 25 chi [6]; Trần Minh Hợi và cộng

sự (2008), trong cuốn “Đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen sinh vật tại VQG

Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” đã công bố 23 loài thuộc 9 chi [18]; Nguyễn Nghĩa

Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn (2004) trong cuốn “Đa dạng thực vật Vườn

Quốc gia Pù Mát” đã công bố 59 loài và 13 chi [36]; Võ Văn Chi (2012),

Trang 19

trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” công bố 75 loài của 19 chi thuộc họ

Cỏ roi ngựa được sử dụng làm thuốc chữa bệnh [10]

Công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về họ Cỏ roi ngựa ở Việt Nam là

của tác giả Vũ Xuân Phương (2007) với cuốn “Thực vật chí việt Nam 6 họ Cỏ

roi ngựa” Tác giả đã phân loại họ Cỏ roi ngựa dựa vào hệ thống phân loại

của Briquet (1897), có bổ sung phân họ Phrymoideae và công bố có 26 chi,

140 loài được sắp xếp trong 4 phân họ, 13 tông [29]

1.2.3 Ở Nghệ An

Ở Nghệ An có nhiều công trình nghiên cứu về thực vật Tuy vậy, tính đến thời điểm này vẫn chưa có công trình nào chuyên nghiên cứu về đa dạng thành phần loài thực vật họ Cỏ roi ngựa

Một số công trình nghiên cứu về đa dạng hệ thực vật hoặc nghiên cứu

về cây thuốc ở Nghệ An có đề cập đến họ Cỏ roi ngựa: Nguyễn Thị Hạnh

(1999), Cây thuốc của đồng bào Thái, Con Cuông, Nghệ An đã công bố có 24

loài và 9 chi thuộc họ cỏ roi ngựa được đồng bào Thái, tỉnh Nghệ An dùng để

làm thuốc chữa bệnh [15]; Nguyễn Anh Dũng (2002), Nghiên cứu đa dạng

hệ thực vật bậc cao có mạch ở xã Môn Sơn vùng đệm Vườn Quốc gia Pù Mát đã công bố có 16 loài và 6 chi thuộc họ Cỏ roi ngựa ở khu vực Môn Sơn

[13] Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn (2004), Đa dạng hệ thực vật

Vườn Quốc gia Pù Mát đã công bố có 54 loài, của 12 chi thuộc họ Cỏ roi

ngựa ở vườn Quốc gia Pù Mát [36]

1.3 Điều kiện tự nhiên xã hội ở khu vực nghiên cứu

1.3.1 Điều kiện tự nhiện

1.3.1.1 Vị trí địa lý

Hoàng Mai là một thị xã thuộc tỉnh Nghệ An Đây là thị xã mới được thành lập vào này 3 tháng 4 năm 2013 theo Nghị quyết 47/NQ-CP của chính phủ, trên cơ sở điều chỉnh 16.974,88 ha diện tích tự nhiên và 105.105 nhân khẩu của huyện Quỳnh Lưu (bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên của thị trấn

Trang 20

Hoàng Mai và các xã: Mai Hùng, Quỳnh Vinh, Quỳnh Lộc, Quỳnh Lập, Quỳnh Dị, Quỳnh Phương, Quỳnh Liên, Quỳnh Xuân, Quỳnh Trang)

Xã Quỳnh Trang: Phía Bắc ngăn cách với xã Quỳnh Vinh bởi sông Hoàng Mai Phía Nam tiếp giáp với xã Quỳnh Tân huyện Quỳnh Lưu Phía Đông tiếp giáp với phường Mai Hùng Phía Tây tiếp giáp với xã Tân Thắng

và Quỳnh Thắng

Xã Quỳnh Vinh: Phía Bắc có dãy núi nhọn cao tiếp giáp với làng Tân Hùng, phường Quỳnh Thiện và huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa Phía Nam ngăn cách với phường Mai Hùng và Quỳnh Trang bởi sông Hoàng Mai Phía Đông tiếp giáp với phường Quỳnh Thiện Phía Tây tiếp giáp với xã Tân Thắng

1.3.1.2 Địa hình

Xã Quỳnh Vinh và Quỳnh Trang có địa bàn bán sơn địa, với nhiều dãy núi đá vôi và đá sét bao quanh nên rất phù hợp cho các ngành công nghiệp liên quan Hiện nay ở địa bàn xã có nhà máy xi măng Hoàng Mai, đang xây dựng nhà máy Tôn Hoa Sen và nhiều công trình có quy mô khác

Địa hình hai xã nghiên cứu đều có hướng nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và được chia làm 3 tiểu vùng:

a) Vùng đồng bằng: vùng có địa hình khá bằng phẳng và hình thành khu vực đồng bằng có sông Hoàng Mai chảy qua

b) Vùng trung du và bán sơn địa: gồm các khu vực phía Tây và Tây Bắc của hai xã có địa hình cao, được bao trùm bởi dãy núi chạy dài tạo nên dạng địa hình bán sơn địa rõ nét

c) Vùng núi cao: bao gồm dãy núi phía Bắc và Tây Bắc của xã Quỳnh Vinh và vùng phía Tây của xã Quỳnh Trang

Địa hình khu vực nghiên cứu bao gồm cả khu vực vùng ven sông, vùng trung du bán sơn địa và vùng núi cao thuộc hai xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Trang 21

1.3.1.3 Tài nguyên đất và tài nguyên rừng

Hai xã nghiên cứu (xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An) có tổng diện tích tự nhiên khoảng 6736 ha (67,36 km2), trong

đó có khoảng 2896,48 ha đất lâm nghiệp với 868,94 ha rừng tự nhiên, còn lại

là rừng trồng Độ che phủ của rừng đạt 29,8% Chủ yếu là rừng thứ sinh, rừng hỗn giao có trữ lượng không lớn, cây rừng phần lớn là gỗ tạp

1.3.1.4 Khí hậu, thủy văn

Xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh nằm trong tiểu vùng khí hậu ven biển

Có khí hậu nhiệt đới, gió mùa và chịu ảnh hưởng tương tác của khí hậu Vịnh Bắc Bộ và khí hậu khu vực Bắc Trung Bộ

Về nhiệt độ: tổng nhiệt độ trung bình trong năm đạt từ 8.700 đến 8.800oC, biên độ năm 13 - 14oC, biên độ nhiệt độ ngày từ 5,5 – 6,2oC Nhiệt

độ thấp nhất tuyệt đối chưa dưới 5oC, cao nhất chưa quá 41oC

Lượng mưa trung bình năm từ 1.650 - 1.850 mm, lượng mưa tập trung vào các tháng từ tháng 6 đến tháng 10 (lượng mưa chiếm tới khoảng 80% lượng mưa cả năm)

Sông Hoàng Mai chảy qua giữa hai xã có đặc điểm ngắn và dốc, đầu dòng là nước ngọt, nhưng càng về hạ lưu lại chuyển về nước lợ rồi nước mặn Đây là yếu tố khiến cho thành phần loài trong họ thực vật nghiên cứu thêm đa dạng

1.3.2 Điều kiện kinh tế-xã hội

1.3.2.1 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

Theo số liệu thống kê năm 2013, dân số tại địa bàn nghiên cứu chiếm

có 21120 người Dân cư trong độ tuổi lao động của khu vực nghiên cứu nói chiếm khoảng 60-65% tổng dân số

Lao động trong ngành nông nghiệp-lâm nghiệp-thủy sản chiếm khoảng 73,26% tổng số lao động, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 11,32% và khoảng 15,42% dịch vụ

Trang 22

Tỷ lệ lao động trong liên quan đến nông nghiệp và lâm nghiệp chiếm tỷ

lệ cao đã ảnh hưởng rất lớn đến việc khai thác, sử dụng và bảo vệ hệ thực vật trên địa bàn

1.3.2.2 Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp

Theo số liệu thống kê năm 2013, cơ cấu sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp bình quân của hai xã nghiên cứu tương ứng là 53,6% - 24,3% - 22,1%

1.3.2.3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng

Nhà máy xi măng Hoàng Mai đã góp phần giải quyết việc làm cho nhân dân trên địa bàn

Trong những năm qua, tiểu thủ công nghiệp chủ yếu dựa trên cơ sở tài nguyên có sẵn và nguyên liệu là sản phẩm được khai thác, được sản xuất trên địa bàn Hoạt động chủ yếu sử dụng trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ lạc hậu nên chưa khai thác hết thế mạnh của địa phương Một số ngành như: nghề may, nghề mây tre đan, nghề mộc gia dụng

Tuy nhiên, giá trị sản xuất công nghiệp đã và đang mang lại nhiều hiệu quả kinh tế cho hai xã góp phần nâng cao đời sống của một bộ phận nhân dân

1.3.2.4 Cơ sở hạ tầng

Giao thông vận tải: Hai xã nghiên cứu thuộc phía Tây của thị xã Hoàng

Mai nên giao thông chủ yếu là đường liên thôn, liên xã Vì vậy giao thông còn khó khăn đã phần nào gây trở ngại cho việc phát triển kinh tế Hiện tại đang xúc tiến làm tuyến đường 36 liên thông với Tân Thắng và Nghĩa Đàn để tăng cường sự lưu thông tạo điều kiện để phát triển kinh tế cũng như phát huy các thế mạnh tiềm năng của khu vực miền Tây thị xã

Y tế: Đây là những địa phương được sự quan tâm đầu tư của nhà nước

nên có hệ thống y tế cơ sở được trang bị đầy đủ trang thiết bị và kể cả đội ngũ cán bộ làm công tác y tế

Giáo dục và Đào tạo: Có hệ thống giáo dục và đào tạo từ giáo dục Mầm

non đến bậc THCS đầy đủ và được đầu tư đúng mực

Trang 23

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Toàn bộ các loài thực vật thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) tại hai xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

2.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 10 năm 2015 Tiến hành thu mẫu trong 3 đợt, mỗi đợt kéo dài từ 5 đến 7 ngày, cụ thể:

- Tháng 6-2014 chọn đề tài và địa điểm nghiên cứu

- Tháng 04-2015 thu mẫu đợt 1

- Tháng 06-2015 thu mẫu đợt 2

- Tháng 08-2015 thu mẫu đợt 3

Sau mỗi đợt thu mẫu xong thì xử lí mẫu, giám định mẫu và phân loại

Từ tháng 09-2015 đến tháng 10-2015 viết, hoàn thiện đề tài và bảo vệ

2.3 Dụng cụ và trang thiết bị phục vụ khảo sát thực địa

Các trang thiết bị xác định vị trí và khảo sát thực đi ̣a: Bản đồ khu vực nghiên cứu tỷ lệ 1/25.000, máy ảnh

Các vật dụng để thu mẫu: Dây buộc, kéo cắt cành, nhãn ghi mẫu vật, bút chì ghi nhãn, ống nhòm, túi đựng mẫu tạm thời, kẹp mắt cáo, cồn công nghiệp

2.4 Nội dung nghiên cứu

* Điều tra thu mẫu, xác định tên khoa học và từ đó xác định danh lục thành phần loài của họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) tại hai xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

* Phân tích tính, đánh giá đa dạng thực vật về các mặt: Thành phần loài, dạng sống, yếu tố địa lý thực vật, phân bố thực vật và giá trị sử dụng

Trang 24

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp nghiên cứu điều tra thực địa

2.5.1.1 Xác định điểm và tuyến thu mẫu

Việc xác định điểm và tuyến thu mẫu được thực hiện theo tài liê ̣u của Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [32] mô tả, cụ thể: Dựa vào bản đồ hai xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An Các điểm và tuyến đi qua các sinh cảnh khác nhau đặc trưng cho khu vực nghiên cứu

2.5.1.2 Phương pháp thu mẫu và xử lý sơ bộ ngoài thực địa

Nguyên tắc thu mẫu theo tài liê ̣u Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [32] và R.M Klein, D.T Klein(1975) [22]

Các mẫu thu có đủ các bộ phân dinh dưỡng, sinh sản, được gắn số hiệu

và ghi lại các thông tin sơ bộ ngoài thực địa Đối với cây gỗ, cây bụi mỗi cây

ít nhất thu 2 - 3 mẫu, kích cỡ phải đạt 29 x 41cm có thể tỉa bớt cành, lá, hoa

2.5.2 Phương pháp xử lý và trình bày mẫu

Áp dụng phương pháp xử lý và trình bày mẫu của tác giả Nguyễn

Nghĩa Thìn (2008), được trình bày trong tài liệu: Các phương pháp nghiên

cứu thực vật [34]

Ép mẫu: Trước khi sấy, mẫu được ép phẳng trên giấy báo dày, đảm bảo toàn bộ phiến lá được duỗi hoàn toàn, không bị quăn mép, các bộ phận của hoa, quả được mở hoặc bổ ra để tiện cho việc phân tích, ép và sấy mẫu

Sấy mẫu và lên tiêu bản bách thảo: Sau khi mẫu được xử lý ướt sơ bộ

ở ngoài thực địa, tiếp tục xử lý khô tại phòng Bảo tàng thực vật của trường Đại học Vinh Các mẫu tiêu bản đã được sấy khô và ép phẳng, sau đó trình bày và khâu đính trên bìa giấy cứng crôki kích thước 30 cm x 42cm

Trang 25

2.5.3 Phương pháp xác định tên khoa học của các loài

Để xác định tên khoa học của các loài, chúng tôi sử dụng phương pháp hình thái so sánh Sau khi phân tích xem xét các đặc điểm hình thái, tiến hành

xác định dựa vào khóa định loại của Phạm Hoàng Hộ [17] và Thực vật Chí

Việt Nam tập 6 Họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) của Vũ Xuân Phương (2007)

2.5.5 Phương pháp đánh giá đa dạng các phân họ, các chi và các loài

Dựa vào bảng danh lục thực vật của họ Cỏ roi ngựa ở địa bàn nghiên cứu

đã xây dựng, thực hiện theo tài liê ̣u của Nguyễn Nghĩa Thìn mô tả trong cuốn

“Các phương pháp nghiên cứu thực vật” (2007) [34] để tiến hành thống kê,

phân tích số loài trong mỗi họ, mỗi chi, đánh giá tính đa dạng loài của các chi (xác định chi giàu loài, tính tỷ lệ % số loài của các chi so với toàn bộ số loài của địa điểm nghiên cứu) Xác định chi nhiều loài, tính tỷ lệ % số loài các chi

đó so với toàn bộ số loài của cả khu hệ thực vật

2.5.6 Phương pháp đánh giá đa dạng về dạng sống

Để đánh giá đa dạng về dạng sống của hệ thực vật chúng tôi đã dựa vào thang phân loại dạng sống của Raunkiaer (1934) [47] Sắp xếp các loài thực vật vào 5 dạng sống chính như sau:

Trang 26

Bảng 2.1. Thang phân chia các dạng sống

Nhóm cây chồi trên

Những cây gỗ, dây leo, thảo, bì sinh, ký sinh có chồi tồn tại

nhiều năm cách đất từ 25 cm trở lên Gồm các dạng sống:

Ph Phananerophytes

- Chồi trên to: là cây gỗ cao trên 30 m Mg

- Chồi trên vừa: cây gỗ cao 8-30 m Me

- Chồi trên nhỏ: cây gỗ cao 2-8 m Mi

- Chồi trên lùn: cây bụi Na

- Cây bì sinh sống lâu năm Ep

- Cây thân thảo sống lâu năm cao trên 25 cm Hp

- Dây leo sống lâu năm, leo cao trên 25 cm Lp

- Cây ký sinh, bán ký sinh sống lâu năm Pp

- Cây mọng nước sống lâu năm cao trên 25 cm Suc

Nhóm cây chồi sát đất

Gồm những cây có chồi cách đất 0-25 cm, mùa bất lợi

thường được tuyết hay lá khô che phủ

Ch Chamaephytes

Nhóm cây chồi nửa ẩn

Cây có chồi nằm dưới, ngay sát mặt đất, mùa bất lợi

thường được tuyết hay lá khô che phủ

Hm Hemicryptophytes

Nhóm cây chồi ẩn

Cây có chồi nằm sâu trong đất (hoặc trong bùn, nước),

mùa bất lợi phần khí sinh tàn rụi hết nhưng còn thân

ngầm ở dưới đất, sẽ tái sinh vào mùa thuận lợi sau đó

Cr Cryptophytes

Nhóm cây chồi một năm

Cây chỉ sinh trưởng, ra hoa kết quả trong vòng một năm rồi

chết, chỉ còn hạt để duy trì sang mùa thuận lợi sau đó

Th Therophytes

Xây dựng phổ dạng sống: Sau khi thống kê các loài theo các kiểu dạng

Trang 27

đa dạng của điều kiện sống (nhân tố sinh thái) cũng như thấy được mức độ tác động của các nhân tố đối với hệ thực vật

2.5.7 Phương pháp đánh giá đa dạng về yếu tố địa lý thực vật

Mỗi một khu hệ thực vật được hình thành ngoài mối tương quan của các sinh vật với các yếu tố sinh thái như khí hậu, đất đai, địa hình, địa mạo còn phụ thuộc vào các điều kiện địa lý, địa chất xa xưa ít khi thấy được một cách trực tiếp Các yếu tố địa lý có ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài thực vật Vì vậy, trong khi xem xét sự đa dạng về thành phần loài, cần xem xét bản chất cấu thành nên hệ thực vật của một vùng và các yếu tố địa lý thực vật của vùng nghiên cứu

Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [34] đã phân chia các yếu tố địa lý của hệ thực vật Việt Nam bao gồm các yếu tố chính sau:

+ Yếu tố liên nhiệt đới châu Á, châu Úc, châu Mỹ 2.1 + Yếu tố liên nhiệt đới châu Á, châu Phi, châu Mỹ 2.2 + Yếu tố liên nhiệt đới châu Á, châu Mỹ 2.3

+ Yếu tố cổ nhiệt đới châu Á, châu Úc 3.1 + Yếu tố cổ nhiệt đới châu Á, châu Phi 3.2

+ Yếu tố Đông Nam Á 4.1 + Yếu tố nhiệt đới lục địa châu Á 4.2 + Yếu tố Đông Dương-Himalaya nhiệt đới 4.3 + Yếu tố Đông Dương-Nam Trung Hoa 4.4 + Yếu tố Đông Dương 4.5

Trang 28

+ Yếu tố ôn đới Đông Á-Bắc Mỹ 5.1 + Yếu tố ôn đới cổ thế giới 5.2 + Yếu tố ôn đới Địa Trung Hải-châu Âu-châu Á 5.3 + Yếu tố ôn đới Đông Á 5.4

+ Yếu tố cận đặc hữu Việt Nam 6.1 + Yếu tố đặc hữu Việt Nam 6.2

2.5.8 Phương pháp đánh giá về giá trị tài nguyên

Tiến hành thống kê giá trị sử dụng của các loài thực vật thuộc họ Cỏ roi

ngựa (Verbenaceae) dựa vào các tài liệu: “1900 cây có ích của Việt Nam” của Trần Đình Lý (1993) [28], “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi (1997, 2012) [8], [10], “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (quyển 3, 2000) [17], “Thực vật chí việt Nam” của Vũ Xuân Phương (2007) [29],

“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (2003) [26]

2.5.9 Đa dạng về môi trường sống

Chúng tôi phân chia môi trường sống ở địa bàn nghiên cứu thành các dạng được mã hóa như sau:

Trang 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần loài thực vật họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) tại hai xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Qua điều tra, phân loại bước đầu đã xác định và ghi nhận được 44 loài của 14 chi thuộc 4 phân họ trong họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) Trong đó, phân họ Cỏ roi ngựa (Verbenoideae) có 6 loài của 5 chi, phân họ Đẻn (Viticoideae) có 36 loài của 7 chi, phân họ Mấm (Avicennoideae) có 1 loài, phân họ Bội tinh giả (Symphorematoideae) có 1 loài

Theo cách sắp xếp của Brummitt (1992) [41], danh lục các loài thuộc

họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) tại hai xã Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An được trình bày chi tiết tại Bảng 3.1

Quỳnh Trang và Quỳnh Vinh, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

TT Tên khoa học Tên Việt Nam

Yếu

tố địa

Dạng sống

Nơi sống

Phân

bố

I Avicennoideae (Phân họ Mấm)

Genus 1 Avicennia (Chi Mấm)

II Symphorematoideae (Phân họ Bội tinh giả)

Genus 1 Congea (Chi Lâm nhung)

III Verbenoideae (Phân họ Cỏ roi ngựa)

Genus 1 Lantana (Chi Ngũ sắc)

Trang 30

Genus 2 Phyla (Chi Dây lức)

Genus 3 Stachytarpheta (Chi Hải tiên)

(L.) Vahl

Genus 4 Duranta (Chi Thanh quan)

Genus 5 Verbena (Chi Cỏ roi ngựa)

Vilm

Mã tiên bông 7 Hp e I, II

IV Viticoideae (Phân họ Đẻn)

Genus 1 Callicarpa (Chi Tử châu)

Schauer

Tử châu nhọn 6.2 Na a, b I, II

10 Callicarpa arborea Roxb Tử châu gỗ 4 Me c II

11 Callicarpa brevipes Benth

Hance

Tử châu cuống ngắn

6.1 Na b I, II

12 Callicarpa candicans (Burm

f.) Hochr

Tử châu chồi trắng

4 Na a, b I, II

13 Callicarpa dichotoma

(Lour.) Koch

Tử châu lưỡng phân

Budantz & V.X.Phuong

Tử châu răng sâu 6.2 Na a, b I, II

Trang 31

Genus 2 Tectona (Chi Tếch)

coriaceum (Clarke) Kosterm

Cam tảo dai 4 Me b, c II

Trang 32

Genus 5 Gmelina (Chi Lõi thọ)

32 Gmelina arborea Roxb Lõi thọ 4 Me b, c II

33 Gmelina asiatica L Tu hú đông 4 Na a, b,

c

I, II

Genus 6 Premna (Chi Cách)

34 Premna corymbosa (Burm

36 Premna fulva Craib Cách lông vàng 4.4 Mi a, b I, II

37 Premna herbacea Roxb Cách cỏ 3.1 Ch a, b I, II

38 Premna latifolia Roxb Cách lá rộng 4 Me a, b,

e

I, II

Genus 7 Vitex (Chi Đẻn)

39 Vitex peduncularis Wall ex

Schauer

(Cây) Chân vịt 4.2 Me b, c II

40 Vitex pierreana Dop Đẻn dài 4.4 Me b, c I, II

41 Vitex limonifolia Wall.ex

Kurz

Bình linh vàng chanh

4.2 Me a, b II

42 Vitex rotundifolia L f Bình linh xoan 4 Lp d I, II

43 Vitex trifolia L Quan âm 4 Na a, b I, II

44 Vitex tripinnata (Lour.)

Merr

Chân chim ba lá 4.4 Mi a, b I, II

Ghi chú: Nơi sống được chữ cái hóa là: a Ven đường, ven rừng; b Đồi núi thấp; c Núi cao; d Bờ sông nước lợ; e Vườn nhà; f Núi đá vôi Phân bố được La Mã hóa là: I Xã Quỳnh Trang; II Xã Quỳnh Vinh

Ngày đăng: 22/01/2016, 14:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Phạm Hồng Ban (2000), Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái sau nương rẫy ở vùng Tây Nam - Nghệ An. Luận án Tiến sĩ sinh học, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái sau nương rẫy ở vùng Tây Nam - Nghệ An
Tác giả: Phạm Hồng Ban
Năm: 2000
[3] Nguyễn Tiến Bân (2005), “Đa dạng hệ thực vật Việt Nam - Hiện trạng và các giải pháp”, Báo cáo khoa học Hội thảo toàn quốc, Đa dạng sinh học Việt Nam: Nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, Hà Nội, ngày 20- 21/12/2005, trang 8-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng hệ thực vật Việt Nam - Hiện trạng và các giải pháp”
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Năm: 2005
[4] Nguyễn Tiến Bân (Chủ biên) và nnk (2003, 2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 2, tập 3, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
[5] Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007), Cẩm nang ngành lâm nghiệp Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang ngành lâm nghiệp Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2007
[6] Lê Trần Chấn và cộng sự (1999), Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam
Tác giả: Lê Trần Chấn và cộng sự
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1999
[7] Đặng Quang Châu (1999), Bước đầu điều tra thành phần loài thực vật núi đá vôi Khu bảo tồn Thiên nhiên Pù Mát, Nghệ An.ĐHSP Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu điều tra thành phần loài thực vật núi đá vôi Khu bảo tồn Thiên nhiên Pù Mát, Nghệ An
Tác giả: Đặng Quang Châu
Năm: 1999
[8] Võ Văn Chi (1997), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1997
[9] Võ Văn Chi (2003), Từ điển thực vật thông dụng, Tập 1-2, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thực vật thông dụng
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2003
[10] Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Tập 1-2, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2012
[11] Võ Văn Chi, Trần Hợp (1999-2000), Tập I-II, Cây cỏ có ích ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ có ích ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[12] Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978), Phân loại học thực vật, Nxb, Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại học thực vật
Tác giả: Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến
Năm: 1978
[13] Nguyễn Anh Dũng (2002), Nghiên cứu đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch ở xã Môn Sơn vùng đệm Vườn Quốc gia Pù Mát.Luận văn Thạc sĩ Sinh học, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch ở xã Môn Sơn vùng đệm Vườn Quốc gia Pù Mát
Tác giả: Nguyễn Anh Dũng
Năm: 2002
[14] Võ Hành (2009), Đa dạng sinh học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học
Tác giả: Võ Hành
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2009
[15] Nguyễn Thị Hạnh (1999), Cây thuốc của đồng bào Thái, Con Cuông, Nghệ An. Luận án Tiến sỹ sinh học, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc của đồng bào Thái, Con Cuông, Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Năm: 1999
[16] Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993), Cây cỏ Việt Nam, tập 1-3, Montréal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
[17] Phạm Hoàng Hộ (1999 - 2000), Cây cỏ Việt Nam, tập 1-3, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Trẻ
[18] Trần Minh Hợi, Nguyễn Xuân Đặng (chủ biên) và nnk (2008), Đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen sinh vật tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen sinh vật tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Trần Minh Hợi, Nguyễn Xuân Đặng (chủ biên) và nnk
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
[19] Trần Hợp (2002), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên cây gỗ Việt Nam
Tác giả: Trần Hợp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
[20] Triệu Văn Hùng (2007), Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, Nxb Bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam
Tác giả: Triệu Văn Hùng
Nhà XB: Nxb Bản đồ
Năm: 2007
[21] Lê Thị Hương, Đỗ Ngọc Đài (2012), Đa dạng thực vật và bảo tồn ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt, Nghệ An, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 50(3E): 1347-1352 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Lê Thị Hương, Đỗ Ngọc Đài
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Thang phân chia các dạng sống - Điều tra thành phần loài thực vật họ cỏ roi ngựa (verbenaceae) tại hai xã quỳnh trang và quỳnh vinh, thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an
Bảng 2.1. Thang phân chia các dạng sống (Trang 26)
Bảng 2.2. Các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật Việt Nam - Điều tra thành phần loài thực vật họ cỏ roi ngựa (verbenaceae) tại hai xã quỳnh trang và quỳnh vinh, thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an
Bảng 2.2. Các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật Việt Nam (Trang 27)
Bảng 3.1. Danh lục các loài thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) tại hai xã - Điều tra thành phần loài thực vật họ cỏ roi ngựa (verbenaceae) tại hai xã quỳnh trang và quỳnh vinh, thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an
Bảng 3.1. Danh lục các loài thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) tại hai xã (Trang 29)
Bảng 3.2. Sự phân bố số lượng chi, loài trong các phân họ của họ Cỏ roi ngựa - Điều tra thành phần loài thực vật họ cỏ roi ngựa (verbenaceae) tại hai xã quỳnh trang và quỳnh vinh, thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an
Bảng 3.2. Sự phân bố số lượng chi, loài trong các phân họ của họ Cỏ roi ngựa (Trang 33)
Bảng 3.3.  Phân bố số lượng loài trong các chi của họ Cỏ roi ngựa - Điều tra thành phần loài thực vật họ cỏ roi ngựa (verbenaceae) tại hai xã quỳnh trang và quỳnh vinh, thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an
Bảng 3.3. Phân bố số lượng loài trong các chi của họ Cỏ roi ngựa (Trang 35)
Bảng 3.4. Tỷ lệ về diện tích, số chi, số loài so với cả nước - Điều tra thành phần loài thực vật họ cỏ roi ngựa (verbenaceae) tại hai xã quỳnh trang và quỳnh vinh, thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an
Bảng 3.4. Tỷ lệ về diện tích, số chi, số loài so với cả nước (Trang 36)
Bảng 3.5. Yếu tố địa lý của các loài trong họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) - Điều tra thành phần loài thực vật họ cỏ roi ngựa (verbenaceae) tại hai xã quỳnh trang và quỳnh vinh, thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an
Bảng 3.5. Yếu tố địa lý của các loài trong họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) (Trang 36)
Bảng 3.7. Giá trị sử dụng của các loài thực vật họ Cỏ roi ngựa - Điều tra thành phần loài thực vật họ cỏ roi ngựa (verbenaceae) tại hai xã quỳnh trang và quỳnh vinh, thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an
Bảng 3.7. Giá trị sử dụng của các loài thực vật họ Cỏ roi ngựa (Trang 42)
Bảng 3.8. Số lượng và tỷ lệ loài theo giá trị sử dụng - Điều tra thành phần loài thực vật họ cỏ roi ngựa (verbenaceae) tại hai xã quỳnh trang và quỳnh vinh, thị xã hoàng mai, tỉnh nghệ an
Bảng 3.8. Số lượng và tỷ lệ loài theo giá trị sử dụng (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w