1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh

63 494 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 5,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều loài sinh vật phù du, ấu trùng, động vật thân mềm ăn lọc, cácloài cá bột và nhiều loài cá trưởng thành đã sử dụng trực tiếp hay gián tiếp tảosilic như là một nguồn thức ăn cần thiế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THIẾT

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI CỦA

LỚP TẢO SILIC (BACILLARIOPHYCEAE)

Ở SÔNG HỘ ĐỘ, HUYỆN LỘC HÀ,

TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Trang 2

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ THIẾT

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI CỦA

LỚP TẢO SILIC (BACILLARIOPHYCEAE)

Ở SÔNG HỘ ĐỘ, HUYỆN LỘC HÀ,

TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Thực vật học

Mã số: 60.42.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN ĐÌNH SAN

Trang 4

NGHỆ AN - 2015

Trang 5

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Đài khí tượng thủy văn Hà Tĩnh, Phòng thống kê huyện Lộc Hà, các bạn học viên lớp cao học 21, chuyên ngành Thực vật và những người thân trong gia đình đã động viên, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này.

Nghệ An, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Thiết

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG, BIỂU ĐỒ iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Vài nét về tình hình nghiên cứu tảo Silic trên thế giới và ở Việt Nam 3

1.1.1 Trên thế giới 3

1.1.2 Ở Việt Nam 4

1.2 Đặc điểm hình thái của tảo Silic 10

1.2.1 Hình thái vỏ (vách tế bào) 10

1.2.2 Cấu trúc vỏ tảo 12

1.3 Vai trò và ứng dụng của tảo trong nuôi trồng thủy sản 13

1.4 Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Lộc Hà - Hà Tĩnh .14

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 16

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 16

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 16

2.3 Nội dung nghiên cứu 17

2.4 Phương pháp nghiên cứu 17

2.4.1 Phương pháp thu mẫu nước 17

2.4.2 Phương pháp thu mẫu tảo silic 17

2.4.3 Phương pháp phân tích mẫu nước 17

2.4.4 Phương pháp định loại tảo silic 18

Trang 7

2.4.5 Phương pháp định lượng tảo silic 18

2.4.6 Chỉ số tương đồng loài tảo Silic ở 3 mặt cắt và các đợt thu mẫu .19

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20

3.1 Một số chỉ tiêu về chất lượng nước ở sông Hộ Độ, Lộc Hà - Hà Tĩnh .20

3.1.1 Một số chỉ tiêu thủy lý 20

3.1.2 Một số chỉ tiêu thủy hóa 24

3.1.3 Đánh giá chung 34

3.2 Thành phần tảo silic ở sông Hộ Độ - huyện Lộc Hà - tỉnh Hà Tĩnh .35

3.2.1 Đa dạng về taxon tảo Silic (Bacillariophyceae) 35

3.2.2 Mối quan hệ giữa sự phân bố tảo Silic với môi trường nước ở sông Hộ Độ 41

3.2.3 Sự biến động số lượng tảo silic ở sông Hộ Độ Lộc Hà -Hà Tĩnh 43

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45

1 Kết luận 45

2 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ LỤC 49

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG, BIỂU ĐỒ

Trang Hình:

Hình 1.1 Đa dạng tảo Silic nhìn từ mặt vỏ 11

Hình 1.2 Cấu tạo vỏ tảo Silic 12

Hình 2.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu 16

Bảng: Bảng 3.1 Nhiệt độ môi trường ở các địa điểm nghiên cứu, đợt I 20

Bảng 3.2 Nhiệt độ môi trường ở các địa điểm nghiên cứu, đợt II 20

Bảng 3.3 Nhiệt độ môi trường ở các địa điểm nghiên cứu, đợt III 21

Bảng 3.4 Độ trong trung bình ở các địa điểm nghiên cứu 22

Bảng 3.5 Độ mặn trung bình ở các địa điểm nghiên cứu 23

Bảng 3.6 Độ pH trung bình ở các địa điểm nghiên cứu 25

Bảng 3.7 Hàm lượng Oxy hòa tan trung bình trong nước sông Hộ Độ .26

Bảng 3.8 Nhu cầu Oxy hóa học tại các điểm nghiên cứu 28

Bảng 3.9 Hàm lượng NO3- trung bình qua các đợt nghiên cứu 29

Bảng 3.10 Hàm lượng NH4+ trung bình qua 3 đợt nghiên cứu 31

Bảng 3.11 Hàm lượng PO43- trung bình qua các đợt nghiên cứu 32

Bảng 3.12 Hàm lượng SiO2 trung bình qua các đợt nghiên cứu 33

Bảng 3.13 Danh lục thành phần loài tảo Silic tại sông Hộ Độ ở huyện Lộc Hà - Hà Tĩnh qua 3 đợt nghiên cứu 35

Bảng 3.14 Sự phân bố taxon loài/dưới loài tảo Silic qua 3 đợt nghiên cứu tại sông Hộ Độ - Lộc Hà- Hà Tĩnh 38

Bảng 3.15 Sự biến động thành phần loài theo mặt cắt nghiên cứu 39

Trang 9

Bảng 3.16 Sự biến động thành phần loài qua các đợt thu mẫu ở sông

Hộ Độ 40

Bảng 3.17 Quan hệ thành phần tảo Silic ở 3 mặt cắt 41

Bảng 3.18 Quan hệ thành phần tảo Silic ở 3 đợt thu mẫu 41

Bảng 3.19 Kết quả phân tích mẫu định lượng tảo silic ở sông Hộ Độ (TB/lít) 43

Biểu đồ: Biểu đồ 3.1 Độ trong trung bình ở các địa điểm nghiên cứu 22

Biểu đồ 3.2 Độ mặn trung bình ở các địa điểm nghiên cứu 24

Biểu đồ 3.3 Độ pH trung bình ở các địa điểm nghiên cứu 25

Biểu đồ 3.4 Hàm lượng Oxy hòa tan trung bình trong nước 27

Biểu đồ 3.5 Nhu cầu Oxy hóa học tại các điểm nghiên cứu qua 3 đợt thu mẫu 28

Biểu đồ 3.6 Hàm lượng NO3- trung bình qua các đợt nghiên cứu 30

Biểu đồ 3.7 Hàm lượng NH4+ trung bình qua 3 đợt nghiên cứu 31

Biểu đồ 3.8 Hàm lượng PO43- trung bình qua các đợt nghiên cứu 32

Biểu đồ 3.9 Hàm lượng SiO2 trung bình qua các đợt nghiên cứu 34

Trang 10

MỞ ĐẦU

Tảo silic (Bacillariophyceae) là những cơ thể ở dạng đơn bào hoặc tậpđoàn, có kích thước hiển vi, sống chủ yếu trong nước mặn và lợ Chúng cókhả năng quang hợp để tạo ra chất hữu cơ - nguồn dinh dưỡng cần thiết, quantrọng trong hệ sinh thái nước

Nhiều loài sinh vật phù du, ấu trùng, động vật thân mềm ăn lọc, cácloài cá bột và nhiều loài cá trưởng thành đã sử dụng trực tiếp hay gián tiếp tảosilic như là một nguồn thức ăn cần thiết, không thể thay thế, bởi giá trị dinhdưỡng của tảo silic không thua kém các loài thực vật khác dùng làm thức ăncho chăn nuôi, thậm chí cá biệt, hàm lượng prôtein và lipit còn cao hơn khoaitây và lúa mì

Do hợp chất silic (SiO2 hoặc SiO4) không bị phân huỷ bởi nhiều loạihoá chất, nên sau khi tảo chết, lớp vỏ silic tích tụ qua nhiều năm, hình thànhnên những trầm tích lớn (quặng diatomit) với cấu trúc nhẹ, xốp, bền và nhiềuđặc tính tốt khác, diatomit được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp sản xuấtchất lọc, vật liệu cách nhiệt, cách âm, thủy tinh và vật liệu xây dựng

Như vậy, những hiểu biết về tảo silic là rất cần thiết cho việc đánh giátiềm năng của các hệ sinh thái nước, để từ đó có thể đưa ra những giải pháphợp lí phục vụ cho việc phát triển và khai thác các nguồn lợi trong thủy vực

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về tảo nói chung và tảo silic nói riêng chủyếu tập trung ở các thủy vực dạng ao, hồ, hồ chứa, các đầm, phá ven biển vàvùng biển ven bờ, riêng dạng sông, suối, đặc biệt đối với các hệ thống sônglớn, tuy những năm gần đây đã có một vài công trình đề cập nhưng nhìnchung hãy còn ít ỏi và tản mạn

Sông Hộ Độ, huyện Lộc Hà, Tỉnh Hà Tĩnh, chảy từ thượng nguồn(Huyện Hương Khê) chảy qua huyện Can Lộc đổ ra sông Già và ra biển Hệ

Trang 11

thống sông này chịu tác động của chế độ thủy triều nên dễ bị nhiễm mặn.Hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về vi tảo nói chung và tảo silic

nói riêng ở thủy vực này Vì vậy, tôi chọn đề tài “Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (Bacillariophyceae) ở sông Hộ Độ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh”.

Mục tiêu của đề tài là xác định thành phần loài tảo silic ở sông Hộ Độ,đồng thời tìm hiểu sự phân bố của chúng trong mối liên quan với một số yếu

tố sinh thái của môi trường

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Vài nét về tình hình nghiên cứu tảo Silic trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Trên thế giới

Nghiên cứu phân loại tảo Silic được tiến hành rất sớm, từ những thập

niên đầu thế kỷ XIX, với công trình đầu tiên là “Systema Algarum” của

Agardh C.A năm 1824 Sau đó, Ehrenberg C.G., Kuetzing F.T., Smith W.,Ralfs J đã đề xuất các hệ thống phân loại tảo Silic Tuy nhiên, cơ sở phân loạicủa các tác giả còn đơn giản, chủ yếu dựa vào số lượng thể sắc tố và các rãnh

có hay không để phân loại Sau đó, hệ thống phân loại tảo Silic đã đượcKastern G (1928), Kokubo A (1955), Kim Đức Tường (1965) bổ sung [1]

Do sự phát triển chung của khoa học kỹ thuật, những tri thức về tảoSilic ngày một phong phú Chúng đã được nghiên cứu theo nhiều hướng:phân loại, hình thái, sinh lí, sinh hóa, sinh thái và ứng dụng Mặt khác chúngcũng được nghiên cứu theo các hướng sinh thái khác nhau: tảo nước ngọt, tảobiển, tảo đất, tảo bì sinh, tảo sống trên băng tuyết

Theo hướng nghiên cứu về tảo phù du biển, Cupp E.E (1943) đã điềutra, nghiên cứu thành phần loài tảo Silic biển ven bờ ở khu vực Bắc Mỹ;Crossby và Cassie (1959) nghiên cứu tảo Silic ở Ôxtrâylia và Niudilân haySournia A (1968) khảo sát tảo Silic phù du ở vùng biển ven bờ Môzămbic.Đáng chú ý hơn cả là những công trình điều tra, khảo sát tảo Silic trên vùngbiển Ấn Độ Dương mà Kastern G là người đầu tiên thực hiện vào năm 1907

Về sau, vào những năm 1964 - 1965 một số nhà khoa học đã nghiên cứu đốitượng này tại 103 điểm, trong đó có một số khu vực mà Kastern G đã quantâm 60 năm trước đó Kết quả được Reimer Simonsen (1974) tổng hợp trong

Trang 13

cuốn “The Diatoms Plankton of The India Ocean”, mô tả 247 taxon loài và

dưới loài thuộc 80 chi, trong đó có 15 loài, 1 thứ và 3 chi được coi là mới đốivới khoa học [dẫn theo 4]

Kokubo A (1955) đã công bố cuốn “Tảo Silic phù du” bằng tiếng Nhật,

trong đó đã mô tả chi tiết 370 loài tảo Silic ở biển và ao, hồ của Nhật Bản

Năm 1965, Kim Đức Tường và cộng sự đã xuất bản cuốn “Trung Quốc hải

dương phù du khuê tảo loại” trình bày 228 loài tảo Silic phù du ở các vùng

biển Trung Quốc, là nơi có mối quan hệ mật thiết với biển và sông ngòi củanước ta [1]

Nghiên cứu tảo Silíc trên thế giới phải kể đến các công trình củaFoged N Tác giả đã dành trọn cuộc đời mình để nghiên cứu tảo Silic ở rấtnhiều nơi trên thế giới, từ châu Âu, châu Á, châu Mỹ đến châu Úc với hình

vẽ chi tiết các taxon tảo Silíc đã phát hiện được Năm 1976, ông đã tiến hànhnghiên cứu tảo Silic nước ngọt ở Srilanka trên 22 vùng khác nhau, công bốđược 310 loài, thuộc 34 chi, trong đó có 1 loài mới [21] Tiếp đó năm1978,tác giả tiến hành nghiên cứu ở phía đông nước Úc đã phát hiện và công

bố được 860 loài thuộc 70 chi, trong đó có 10 loài mới [22] Năm 1984,trong công trình “Tảo Silic ven biển Cuba” ông đã phát hiện và công bố 203loài, trong đó có 16 loài mới [23]

Ngoài việc điều tra và phân loại tảo thì hướng sử dụng vi tảo trong đó

có tảo Silic để chỉ thị cho chất lượng nước cũng được một số tác giả đề cậpđến [ dẫn theo 4]

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở miền Nam, dẫn liệu về tảo Silic phù du ở nước ta đã được đề cập khá

sớm Năm 1926, Rose M đã công bố 13 chi với 20 loài tảo Silic khi nghiêncứu vùng biển vịnh Nha Trang [1] Hoàng Quốc Trương (1962 - 1963) đãphát hiện 154 loài tảo Silic ở vịnh Nha Trang [19]

Trang 14

Năm 1966, trong cuốn “The plankton of South Vietnam”, cùng với các

loài tảo nước ngọt, Shirota A đã giới thiệu 213 loài tảo Silic trong 15 vùngnước lợ, nước mặn ven biển từ Thừa Thiên Huế đến Kiên Giang [24] Tuy chỉmới trình bày bảng tên loài cùng với những hình vẽ còn đơn giản, không cóphần mô tả hình thái mà chỉ nêu các kích thước nhưng đây là công trìnhnghiên cứu quan trọng về thực vật phù du biển Với danh mục loài phong phú,công trình đã giới thiệu bao quát về thực vật nổi vùng ven biển miền NamViệt Nam - điều mà trước đó chưa có tác giả nào thực hiện được

Trong danh mục loài thực vật phù du ở vùng biển Thuận Hải, Minh Hảicông bố năm 1982 do Viện nghiên cứu biển Nha Trang tổ chức điều tra năm

1977 - 1980 có ghi tên 170 loài tảo Silic [1]

Ở miền Bắc, trong những năm từ 1959 - 1962 và 1965 - 1966, chươngtrình hợp tác điều tra cơ bản tổng hợp vịnh Bắc Bộ đã được Trung Quốc vàViệt Nam tiến hành ở vịnh Bắc Bộ, kết quả có trên 140 loài tảo Silic đã đượccông bố [1]

Trần Trường Lưu (1970) [12], trong báo cáo “Tổng kết thực vật phù du

các vực nước điều tra”, đã thống kê được 74 chi thực vật nổi, trong đó tảo Silic

có 29 chi

Sau đó, năm 1972, Trương Ngọc An và một số đồng nghiệp đã tiếnhành khảo sát vùng cửa sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ và vùng biểnven bờ tỉnh Nam Hà, kết quả sơ bộ cho thấy sự ưu thế vượt trội của tảo Silicphù du (110 loài, chiếm 88%) trong những thủy vực nước lợ đó [2]

Năm 1972, Cudormina A.l có một báo cáo về thực vật phù du trongmùa hè ở vịnh Bắc bộ, do tàu Peelamida vớt mẫu vào tháng 7 năm 1961 đãđưa ra danh lục trong đó có 61 loài tảo Silic [1]

Cũng Trần Trường Lưu (1975) [13] đã tiến hành nghiên cứu trên sôngHồng, sông Đà, sông Mã và một số sông đào khác và đã thống kê được 98 chi

Trang 15

tảo sông thuộc các ngành: tảo Silic, tảo lục, tảo lam, tảo mắt, tảo giáp, tảovàng và tảo vàng ánh.

Năm 1978, trong báo cáo “Thực vật phù du vùng ven biển Quảng

Ninh - Hải Phòng”, Trương Ngọc An đã giới thiệu một bảng tên loài ghi

danh 156 loài tảo Silic Dựa vào các nguồn tài liệu trước đó ông đã biên

soạn cuốn “Phân loại tảo Silic phù du biển Việt Nam” mô tả 225 loài tảo

thuộc 2 bộ, 18 họ, 60 chi tảo Silic [1] Với danh mục loài phong phú, phần

mô tả chi tiết, dễ hiểu, các hình vẽ rõ ràng, cuốn sách thực sự là một tài liệuchuyên sâu về phân loại có giá trị, rất cần thiết và thuận lợi trong nghiên cứutảo Silic

Dương Đức Tiến (1981), nghiên cứu thực vật nổi trên một số sông, suốitiêu biểu thuộc các miền khác nhau ở Việt Nam, đã phát hiện được 286loài/dưới loài, trong đó tảo Silic chiếm ưu thế với 180 loài Ở một số con sônglớn như sông Hồng, trong số 55 loài vi tảo đã phát hiện có 33 loài tảo Silic, ởsông Hương có 64 loài tảo Silic (trong số 95 loài được tìm thấy), còn ở sôngCửu Long tác giả đã phát hiện 136 loài vi tảo, trong đó tảo Silic có 83loài/dưới loài [27]

Ở miền Trung, những nghiên cứu về thực vật nổi trong các vũng,vịnh, đầm phá ven biển phía Nam có các công trình tiêu biểu sau: Tôn ThấtPháp (1993) khi nghiên cứu khu hệ thực ở nước trong Phá Tam Giang (ThừaThiên Huế), đã công bố 238 taxon bậc loài và dưới loài thực vật nổi, trong

đó có 19 taxon mới đối với Việt Nam Trong khu hệ có loài chỉ xuất hiệnvào mùa ngọt hoá hay mặn hoá của Phá, song cũng có loài xuất hiện quanh

năm (tảo Silíc Lông chim Pennales) [15] Ở vịnh Quy Nhơn, có 185 loài

thực vật nổi được xác định và tảo Silíc chiếm 83,7 % về số loài Thực vậtnổi có mật độ cao trùng vào thời kỳ độ muối của nước trong vùng tương đốicao và giảm thấp vào các tháng mùa mưa, liên quan đến sự thiếu hụt của

Trang 16

những loài nước mặn Mật độ thực vật nổi dao động từ (2,27 - 321,82) 

106tb/m3 [dẫn theo 18]

Nguyễn Ngọc Lâm, Đoàn Như Hải, Nguyền Thị Mai Anh và Hồ VănThệ (2002) đã công bố kết quả về TVN trong thủy vực nước nông vùng cửasông Cửa bé (Vịnh Nha Trang) gồm 37 loài tảo Hai Roi và 60 loài tảo Silíc.Các loài chủ đạo quyết định sinh khối cũng như tần số xuất hiện là các loài

tảo Hai Roi Gonyaulax spp, Properidinium spp và tảo Silíc Trung Tâm

Coscinodiscus spp, Skeletonema costatum và Rhizosolenia spp Thành phần

loài thay đổi rõ rệt theo hai mùa khô và mùa mưa Nhiệt độ và độ mặn là haiyếu tố chính ảnh hưởng đến những thay đổi về mùa vụ Đỉnh cao của tảoSilíc cũng là đỉnh cao của tảo Hai Roi Hàm lượng muối dinh dưỡng (silic,photpho, nitơ) có liên quan chặt chẽ với độ mặn, nhưng các mối quan hệgiữa các thành phần sinh học và các muối dinh dưỡng lại không rõ ràng [dẫntheo 18]

Lê Thị Thúy Hà, Võ Hành (1999), trong công trình “Chất lượng nước

và thành phần loài vi tảo (Microalgae) ở sông La - Hà Tĩnh” đã xác định

được 136 loài và dưới loài trong đó có 60 loài tảo Silic (chiếm 44,12%) [9]

Nguyễn Đình San (2001), giới thiệu trong Luận án Tiến sĩ Sinh họccủa mình một danh mục gồm 196 loài thuộc 5 ngành tảo trong một số thủyvực bị ô nhiễm ở 3 tỉnh Bắc miền Trung, trong đó có 59 loài tảo Silic phù

du [16]

Ở sông Lam (Nghệ An), Lê Thị Thuý Hà (2004) với đề tài“Khu hệ

thực vật nổi ở vùng Tây Nam hệ thống sông Lam (Nghệ An - Hà Tĩnh)”, Luận

án Tiến sĩ Sinh học, đã phát hiện được 165 loài tảo Silic, trong đó bộ Discales

và bộ Diraphinales có nhiều loài nhất Tác giả cũng nghiên cứu yếu tố phân

bố địa lý theo Murapharov (1981) và đã kết luận yếu tố địa lý của tảo Silic ởvùng Tây Nam hệ thống sông Lam mang đầy đủ các yếu tố: Yếu tố phân bố

Trang 17

rộng (134 loài), yếu tố ôn đới Bắc (17 loài), yếu tố nhiệt đới và á nhiệt đới (7loài), yếu tố châu Úc đại dương (1 loài) [8].

Võ Hành cùng Phan Tấn Lượm (2010) đã thống kê được 110 loài tảoSilic ở cửa Cung Hầu (sông Tiền Giang), trong đó các chi chủ đạo thuộc về

Coscinodiscus, Chaetoceros, Pleurosigma, Cyclotella, Nitzschia, Rhizosolenium, Gyrosigma và Biddulphia [7].

Lương Quang Đốc (2007) đã phát hiện 113 loài/dưới loài tảo Silic sốngtrên nền đáy mềm ở đầm, phá tỉnh Thừa Thiên - Huế [5]

Ở Miền Nam, các công trình nghiên cứu về sự phân bố thành phầnloài tảo trong các ao nuôi tôm còn được đề cập trong công trình nghiên cứucủa Đỗ Thị Bích Lộc (2002) khi đánh giá sự ô nhiễm ao nuôi tôm Sú qua chỉ

số tảo (phytoplankton) trong các ao tôm tại Cần Giờ (TP HCM), TVN có sốloài thấp (14 - 48 loài, tảo Silíc chiếm ưu thế), trong khi mật độ tế bào lạikhá cao từ 8103 - 7.720109tb/L Các ao nuôi trên ruộng lúa có mật độthấp hơn (3,2 - 7,7106tb/L), ưu thế thuộc về các loài thuộc chi tảo Lam

Phormidium, Oscillatoria và tảo Silíc Nitzschia, Pleurosigma Trong một số

ao nuôi tôm thuộc Cần Giuộc (Long An) tảo phát triển mạnh, gây ô nhiễmmôi trường với mật độ dao động 4.436106 - 17.266106tb/m3 cùng với chỉ

số đa dạng loài rất thấp (< 2) Từ kết quả nghiên cứu của mình, tác giả kếtluận rằng thành phần loài TVN trong các ao nuôi thấp, trong khi mật độ tếbào lại cao hơn so với kênh rạch (nơi cấp nước cho ao) Sự phát triển quámạnh của một số loài đã lấn át sự phát triển của các loài khác, vì thế độ đadạng loài của TVN trong ao nuôi tôm thấp hơn so với mực nước tự nhiên.Với môi trường nước tĩnh và giàu dinh dưỡng là điều kiện tốt cho các loàitảo Lam phát triển mạnh, tạo đỉnh cao về mật độ tế bào trong ao nuôi [24].Nguyễn Văn Hảo (2002) cũng đưa ra một số dữ liệu về TVN trong các aonuôi tôm ở Tiền Giang, Bến Tre, Cà Mau với thành phần loài dao động 16 -

Trang 18

44 loài (tảo Silíc chiếm ưu thế) và mật độ tế bào đạt từ 0,2 - 6,6 103tb/L.Theo ông, thành phần loài và mật độ tảo trong ao qua các đợt khảo sát nghèonàn, trong các loài đã định danh không có tảo độc Bên cạnh sự nghèo nàn

về thành phần loài và mật độ tảo là sự hiện diện khá phong phú của nhóm

động vật không xương sống Copepoda (ưu thế là Oithona spp) [20] Trong luận án tiến sĩ của Hoàng Thị Bích Mai, với đề tài “ Biến động thành phần

loài và số lượng thực vật nổi trong ao nuôi tôm Sú tại Khánh Hoà”, tác giả

cho biết có 122 thuộc 5 ngành TVN được xác định: ngành Heterokontophyta

có 88 loài (là các loài thuộc lớp Bacillariophyceae), chiếm 72%; ngành Dinophyta có 11 loài, chiếm 9%; ngành Cyanobacteria có 14 loài, chiếm

11,5%; ngành Chlorophyta có 6 loài (5%) và ngành Euglenophyta với 3 loài,chiếm 2,5% Từ kết quả này, tác giả cho rằng thành phần loài thực vật nổitrong ao nuôi tôm ở Khánh Hoà khá phong phú, song diễn biến về sự pháttriển của chúng trong các ao còn phụ thuộc vào hình thức nuôi, mức độ tácđộng của con người [dẫn theo 18]

Hiện nay, các nghiên cứu về tảo được gắn liền với nhiều thiết bị vàphương pháp hiện đại, trong đó việc sử dụng kính hiển vi điện tử trong nhữngnghiên cứu sâu về từng nhóm tảo giúp cho việc phân loại chính xác hơn Cácphương pháp phân tích ADN được áp dụng với một số nhóm tảo, nhất là vớicác nhóm có tính độc tố giúp cho việc xây dựng cây phát sinh chủng loại vàphát hiện các loài và dưới loài mới cũng như thẩm định lại các loài đã biết Cóthể kể đến các công trình của Nguyễn Thị Thu Liên, Lê Như Hậu và NguyễnHữu Đại, Đặng Diễm Hồng và cộng sự, Đặng Đình Kim và cộng sự Các ứngdụng về toán học và tin học trong sinh học cũng được sử dụng để đánh giá tácđộng của các yếu tố môi trường lên tảo [dẫn theo 11]

Bên cạnh những thành tựu nói trên, chắc chắn còn có nhiều cuộc điềutra, khảo sát đã được tiến hành trên quy mô nhỏ hay mang tính địa phương

Trang 19

nhưng chưa được công bố đầy đủ, dù vậy chúng đều có những đóng góp đáng

kể trong việc nghiên cứu về tảo Silic ở nước ta

1.2 Đặc điểm hình thái của tảo Silic

Tảo Silic là đơn bào dạng hạt sống đơn độc hay sống thành tập đoàndạng palmella, dạng sợi, dạng chuỗi, dạng zíc zắc, dạng băng, dạng sao, dạngcác ống nhầy không phân nhánh hay phân nhánh đơn giản hoặc phức tạp dạngcây Kích thước của tế bào từ vài µm đến vài trăm µm Tế bào Tảo silíc cónhân là lưỡng bội Tảo silíc khác biệt với tất cả các ngành tảo khác bởi cấutrúc độc đáo của vách tế bào là gồm hai mảnh cấu thành bởi lớp trong làpectin và lớp ngoài là chất silíc (SiO2 7H2O) Hai mảnh vỏ có cấu trúc nhưhai nắp của một cái hộp lắp vào với nhau, bên trong chứa tế bào chất Nhưvậy có một mảnh vỏ lớn và một mảnh vỏ nhỏ hơn Bề mặt của mỗi mảnh vỏ

là mặt vỏ của tế bào Như vậy mỗi tế bào có hai mặt vỏ Mặt bên của mảnh vỏkhi lắp vào với mặt bên của mảnh vỏ thứ hai tạo thành mặt đai của tế bào.Nếu mặt vỏ có hình tròn, hình elíp hay hình có hai góc thì mỗi tế bào chỉ cóhai mặt đai, còn mặt vỏ có hình nhiều góc thì tương ứng với mỗi cạnh củahình đa giác của mặt vỏ là một mặt đai Những Tảo silíc trên mặt vỏ có cáccấu trúc hoa văn là các vách hay sườn ngang hoặc xiên hoặc các chấm xếpthành hang và đối xứng qua trục dọc tế bào theo kiểu lông chim thì thuộc lớpTảo silíc lông chim Thường các hoa văn nằm hai bên mặt vỏ để lại một dăi ởchính phần trục dọc không có hoa văn gọi là vùng trục Những Tảo silíc cóhoa văn là các đường vạch, là các chấm, các vân dạng vảy hay dạng mắt sàngxếp lộn xộn hay xếp theo quy luật nhất định trên bề mặt vỏ thì thuộc lớp Tảosilíc trung tâm

1.2.1 Hình thái vỏ (vách tế bào)

Tảo Silic rất đa dạng về mặt hình thái, có ít nhất 16 kiểu khác nhau:hình que, hình thuyền, hình đĩa, hình chuỗi, sợi, dải, sao [6]

Trang 20

Hình 1.1 Đa dạng tảo Silic nhìn từ mặt vỏ

1,2 - elip nhỏ, 3 - elip to, 4 - đàn ghi ta, 5 - thước kẻ, 6 - kim găm, 7 - hình trứng, 8,9 - dao chích, 10 - hình thoi, 11,13 - nửa dao chích, 12 - nửa vòng cung, 14 - hình chữ S, 15 - hình chữ nhật, 16 - hình u lồi (theo Gollerback, 1977) [6]

- Tập đoàn có thể tách rời: các tế bào được liên kết lại với nhau nhờ cơchất và trong những điều kiện thích hợp, chúng có thể tách ra những tập đoànnhỏ hơn

- Tập đoàn không thể tách rời: Các tế bào được liên kết lại với nhaunhờ vách có tẩm Silic hoặc nhờ các gai, sừng để móc với nhau

- Tập đoàn vỏ phân cách: giữa các tế bào liền kề nhau, do có cấu trúckhác nhau nên chúng có thể nối với nhau thông qua mặt vỏ

- Chuỗi: các tế bào nối với nhau liên tiếp tạo thành chuỗi dài nhờ vỏphân cách, các gai, các lông gai

- Dạng dải: các tế bào nối lại với nhau liên tiếp nhờ các mặt vỏ tiếpxúc hoặc các gai ở viền mép mặt vỏ

- Dạng chuỗi bậc chồng nhau: các tế bào liền nhau nối với nhau bằngcách một phần của tế bào này gối lên một phần của tế bào kia

- Dạng chữ chi (zigzag) hay hình sao: đầu mút của mỗi tế bào dính lạivới nhau theo kiểu zigzag hay hình sao nhờ các tấm chất nhầy

Trang 21

1.2.2 Cấu trúc vỏ tảo

Tảo Silic có cấu tạo gồm hai mảnh vỏ lồng vào nhau tương tự như hộpđĩa petri, nên khi quan sát tảo có thể thấy mặt đai (nhìn ngang) hoặc một vỏ(nhìn từ trên xuống)

Hình 1.2 Cấu tạo vỏ tảo Silic

a Nhìn thẳng, b Nhìn nghiêng: 1 Mảnh vỏ ngoài;

2 Mảnh vỏ trong; 3 Đường rãnh; 4 U lồi

(Nguồn: Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam - www.botanyvn.com)

Ngoài các đặc điểm về hình dạng, kích thước (chiều dài, chiều rộng,chiều cao) của tế bào tảo thì các cấu trúc và vi cấu trúc lỗ trên bề mặt của vỏtảo như hình dạng, số lượng, cách sắp xếp của chúng cũng phải được quan sát

để căn cứ vào đó mà định danh

- Tảo Silic trung tâm: hình dạng, số lượng, cách sắp xếp dải lỗ vân (đơn

lẻ hay thành nhóm) từ trung tâm đến viền mép của mặt vỏ; bề mặt vỏ (lồi,lõm, phẳng, hình nón hay gợn sóng); số lượng, hình dạng các u lồi, lông gai,gai, mấu, chúng sắp xếp ở trung tâm hay viền mép mặt vỏ

Trang 22

- Tảo Silic lông chim không rãnh: thường có dạng hình que, kích thướcrất nhỏ, đa số sống bám Những đặc điểm cần chú ý: hình dạng, cách liên kếtcác tế bào, có hay không có rãnh giả, số lượng các dải vân, sự sắp xếp các dảivân, các dải trơn chạy dọc theo mặt vỏ, đặc điểm phân bố các dải vân ở trungtâm với vùng đầu của mặt vỏ.

- Tảo Silic lông chim có rãnh: rãnh hay khe có phía ngoài rộng và hẹp ởgiữa, chia mặt vỏ thành hai phần bằng nhau hoặc có thể lệch sang bên, rãnh

có một u lồi ở trung tâm và kết thúc bởi 2 u lồi ở cực tế bào

Ngoài ra, trong thực tế khi định danh còn phải sử dụng một số các đặcđiểm khác như: gần phía đầu mặt vỏ và hai bên mép mặt vỏ thắt lại rồi mởrộng ra tạo thành hình đầu; đoạn kết thúc của rãnh ở trung tâm hoặc đầu mặt

vỏ có hình dạng như thế nào; quanh vùng trục có hay không có cấu trúc dạnghạt; cấu trúc trơn dạng chữ H trên bề mặt vỏ; rãnh lệch tâm hay không lệchtâm Ở nhiều loài tảo Silic trung tâm chỉ có thể định danh qua hình dạng vàcấu trúc của mặt đai; một số loài tảo Silic lông chim có cấu trúc vỏ khác nhau:một vỏ có rãnh (thường là nắp dưới) và một vỏ không có rãnh

1.3 Vai trò và ứng dụng của tảo trong nuôi trồng thủy sản

Vi tảo là sinh vật sản xuất của mọi hệ sinh thái thủy vực, cung cấpchất hữu cơ và dưỡng khí cho các sinh vật khác sống trong nước Đạidương và biển chiếm 71% diện tích trái đất, nhiều tác giả cho rằng hàngnăm tảo sống trong đó đã tạo nên 19 - 53 tỉ tấn chất hữu cơ thậm chí một sốtác giả người Mỹ còn đưa ra con số 70 - 280 tỉ tấn/năm Trong nghề nuôi cáthực vật nổi đóng vai trò then chốt, đúng như Gollerbakh M.M nhà nghiêncứu về tảo lớn của thế giới đã từng nói “không có thực vật nổi thì không cónghề cá” [dẫn theo 18].

Thực vật phù du tạo nên cơ sở cho chuỗi thức ăn trong môi trườngbiển Do đó có lẽ không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy rằng các vi tảo là

Trang 23

nguồn thức ăn không thể thiếu trong nuôi thương phẩm nhiều đối tượng, baogồm tất cả các giai đoạn sinh trưởng của nhuyễn thể hai mảnh vỏ, các giaiđoạn ấu trùng của một số loài giáp xác và giai đoạn sinh trưởng rất sớm củamột số loài cá Ngoài ra tảo còn được dùng để sản xuất khối lượng lớn cácđộng vật phù du (luân trùng, động vật chân chèo, Artemia) và các động vậtnày sẽ được dùng làm thức ăn cho các giai đoạn ấu trùng và ấu thể ban đầucủa các loài giáp xác và cá [3].

Trên thế giới, năm 1910 Allen G.O và Nelson E.M đã sử dụng tảoSilic làm nguồn thức ăn cho một số động vật không xương sống Năm 1939

Bruce D đã phân lập và nuôi 2 loài tảo đơn bào (Isochrysis galbana và

Pyramimonas grosii) để nuôi ấu trùng hàu Ở Nhật Bản việc nuôi tảo silíc Skeletonema costatum và Chaetoceros sp làm thức ăn cho ấu trùng tôm là

điều kiện tiên quyết sự thành bại của nghề nuôi tôm Hiện nay, việc nuôitảo theo quy mô công nghiệp để phục vụ cho nuôi trồng thủy sản đã rất phổbiến và đang phát triển thành công nghệ ở nhiều nước như: Ostrâylia, HànQuốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapo, Malaysia,Philippin… [18].

Ở Việt Nam, các nhà khoa học Việt Nam đã thử nghiệm đưa Spirulina

vào thức ăn của cá mè trắng, mè hoa, trắm cỏ, rô phi với tỉ lệ 5% đã làmtăng tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá [14] Từ năm 1980 đến naynhiều địa phương đã tiến hành nuôi trồng vi tảo để làm thức ăn cho các cơ

sở nuôi trồng thủy sản, đặc biệt ở Quảng Ninh, Đà nẵng, Bình Định, KhánhHòa… [18].

1.4 Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Lộc Hà - Hà Tĩnh

Trang 24

Huyện Lộc Hà nằm về phía Bắc của tỉnh Hà Tĩnh Phía Bắc giáphuyện Nghi Xuân, phía Nam giáp huyện Thạch Hà và thành phố Hà Tĩnh,phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện Can Lộc

Huyện Lộc Hà có tổng diện tích tự nhiên 11.830,85 km2, dân số có86.213 người, (năm 2007, khi mới thành lập huyện)

Địa hình địa mạo: Địa hình huyện Lộc Hà tương đối bằng phẳng, thấpdần về phía biển

Về khí hậu: Thời tiết chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa khô từ tháng 11

-4 và mùa mưa từ tháng 5 - 10

Nhiệt độ trung bình hàng năm 23,8oC, tháng nóng nhất là tháng 8,nhiệt độ trung bình có thể lên tới 37 - 39,7oC Các tháng mùa đông nhiệt độtrung bình 21,3oC, tháng lạnh nhất là tháng 12, tháng 1 với nhiệt độ có thểxuống đến 8 - 10oC

Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 84,5%, trong đó mùa mưathường dao động trong khoảng: 80 - 90%, còn mùa khô: 50 - 70%

Hà Tĩnh là vùng có lượng mưa trung bình hàng năm 2.363mm, cao nhất

là 2.725mm, khoảng 90% lượng mưa tập trung vào các tháng 7, 8, 9, 10 Tổnglượng mưa trong ngày là 169 ngày Vì thế mà Lộc Hà là huyện có lượng mưanằm trong phạm vi đó

Tổng thời gian chiếu sáng trung bình tại Lộc Hà là 1.657 1.858giờ/năm Độ bức xạ cực đại: 1.838 - 1.851kcal/năm Do độ dài ngày và

-độ cao mặt trời lớn nên tổng lượng bức xạ của khu vực cao tạo điều kiệnthuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản

Trang 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa vàthành phần loài tảo Silic ở sông Hộ Độ, huyện Lộc Hà - Hà Tĩnh

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Chúng tôi chọn một số điểm trên sông Hộ Độ huyện Lộc Hà

Mẫu được thu tại 3 mặt cắt, mỗi mặt cắt thu 3 điểm: bờ trái (1), giữadòng (2) và bờ phải (3) Mặt cắt I: tại cầu Hộ Độ; mặt cắt II: tại Cói Ghè; mặtcắt III: Thạch Đỉnh

Hình 2.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Trang 26

Thời gian nghiên cứu tài liệu:

Từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 10 năm 2015

Thời gian thu mẫu: Chia làm 3 đợt

Đợt 1: Tháng 12 năm 2014: thời gian mùa Đông

Đợt 2: Tháng 4 năm 2015: thời gian cuối mùa Xuân đầu mùa Hè

Đợt 3: Tháng 8 năm 2015: thời gian mùa Thu

2.3 Nội dung nghiên cứu

Phân tích một số chỉ tiêu thủy lý - thủy hóa tại địa bàn nghiên cứu Điều tra thành phần loài tảo silic cũng như số lượng của chúng ởsông Hộ Độ

Đề tài được tiến hành từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015 tạiphòng thí nghiệm Bộ môn Thực vật, TTTNTH - Trường Đại học Vinh

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu mẫu nước

Mẫu nước được thu vào chai Thạch Bích 1,25 lít, bảo quản ở 40C vàphân tích trong vòng 24 giờ Mẫu nước dùng để phân tích chỉ tiêu oxy hòa tan(DO) được thu riêng và cố định ngay trong lọ thủy tinh nút mài 125 ml

2.4.2 Phương pháp thu mẫu tảo silic

Mẫu tảo được thu bằng lưới vớt thực vật nổi N075, vợt qua vợt lại trêntầng mặt nhiều lần để thu mẫu định tính Lấy 10 lít nước lọc qua lưới nêutrên để lấy 50 ml làm mẫu định lượng Các mẫu tảo được cố định bằngformol 4% (gồm 27 mẫu định tính và 27 mẫu định lượng, tất cả đều đượcghi nhãn đầy đủ)

2.4.3 Phương pháp phân tích mẫu nước

- Nhiệt độ, pH được đo tại chỗ bằng máy đo Watertest

- Độ trong đo bằng đĩa Secchi

- Độ mặn được đo tại chỗ bằng máy đo độ mặn ATAGO

Trang 27

- Xác định hàm lượng Oxi hòa tan (DO) bằng phương pháp Winkler.

- Xác định độ Oxi hóa học (COD) bằng phương pháp Kalipemanganat

- Xác định hàm lượng NH4+: Sử dụng phương pháp so màu với thuốcthử Nesler ở bước sóng λ = 420nm

- Xác định hàm lượng NO3-: Sử dụng phương pháp so màu với axítphenoldisunfonic ở bước sóng λ = 440nm

- Xác định hàm lượng PO43-: Sử dụng phương pháp so màu với thuốcthử SnCl2 ở bước sóng λ = 630nm

- Xác định hàm lượng SiO2bằng phương pháp so màu với thuốc thửK2CrO4 ở bước sóng λ = 440nm

- Phương pháp so màu được thực hiện trên máy quang phổ tử ngoại

2.4.4 Phương pháp định loại tảo silic

Mẫu định tính được xử lý bằng phương pháp đốt trên bếp điện 6 -7 giờ,sau đó cố định bằng Baume Canada và quan sát dưới kính hiển vi quang học

có độ phóng đại 400 - 1000 lần, đo kích thước, vẽ hình chi tiết, lập bản mô tả

và chụp ảnh hiển vi

Để định loại các loài tảo silic, chúng tôi đã sử dụng các tài liệu:

+ Khóa định loại tảo silic của Zabelina M.M và cộng sự (1951)

+ “Phân loại tảo Silic phù du biển Việt Nam” của Trương Ngọc An

(1993) [1]

+ “Tảo và Địa y” của Gollerbakh M.M (chủ biên) (1977) [25].

Danh mục loài được sắp xếp theo hệ thống phân loại Gollerbakh M.M.(1977) [25]

2.4.5 Phương pháp định lượng tảo silic

- Xác định mức độ gặp theo quy ước (10 tiêu bản đối với mỗi mẫu thu).Nếu một loài xuất hiện:

+ ở 7 - 10 tiêu bản tức là từ 70 - 100%, gặp nhiều: +++

+ ở 4 - 6 tiêu bản tức là từ 40 - 60%, gặp trung bình: ++

Trang 28

+ ở 1 - 3 tiêu bản tức là dưới 40%, gặp ít: +

- Xác định số lượng tế bào tảo silic: bằng cách đếm trên buồng đếmGoriaev Gọi m là số tế bào có trong 25 ô lớn của buồng đếm Do thể tíchbuồng đếm là 10-4 cm3 (ml) nên số lượng tế bào có trong 1 ml là (m.104), tức

là trong 1 lít nước có m.104.103 = m.107 (tế bào/ lít) Khi thu mẫu ta lọc 10 lítnước lấy 50 ml, nghĩa là đã cô đặc thể tích 200 lần (2.102) Vậy số lượng tếbào tảo silic có trong 1 lít nước mẫu thực tế là:

x = 27

10 2

10

Trang 29

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Một số chỉ tiêu về chất lượng nước ở sông Hộ Độ, Lộc Hà - Hà Tĩnh

3.1.1 Một số chỉ tiêu thủy lý

3.1.1.1 Nhiệt độ

Trong các thủy vực, nhiệt độ nước phụ thuộc vào nhiệt độ không khí.Thông thường nhiệt độ nước (nhất là tầng nước mặt) có trị số gần với nhiệt độkhông khí Nhiệt độ nước là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của thựcvật nổi Ở trong khoảng nhiệt độ cực thuận thì chúng sinh trưởng và phát triểntốt nhất

Bảng 3.1 Nhiệt độ môi trường ở các địa điểm nghiên cứu, đợt I

(Ghi chú: đợt 2: tháng 4/2015)

Bảng 3.3 Nhiệt độ môi trường ở các địa điểm nghiên cứu, đợt III

Trang 30

( o C) 1 2 3 1 2 3 1 2 3

Không khí 31,5 30,9 30,8 32,0 31,7 32,2 32,5 32,8 33,0Nước 31,2 30,5 31,0 31,8 32,0 31,9 31,1 31,5 31,5

Nhiệt độ giữa các điểm trong 3 đợt thu mẫu có sự chệnh lệch nhiều, donhiệt độ nước phụ thuộc vào nhiệt độ không khí và mùa trong năm Nhiệt dộkhông khí ở các mùa khác nhau nên nhiệt độ khác nhau Còn trong một mặtcắt nhiệt độ không có sự dao động đáng kể, nguyên nhân do các điểm thu mẫutrong cùng một khu vực và thu mẫu tại một thời điểm trong cùng một ngày.Nhiệt độ cao nhất là ở đợt III thu mẫu, đây là mùa hè trong năm nên nhiệt độtrung bình cao nhất

3.1.1.2 Độ trong

Độ trong của nước thể hiện khả năng xâm thực của ánh sáng trongnước, nước càng trong, ánh sáng truyền xuống càng sâu tạo điều kiện thuậnlợi cho quá trình quang hợp của thủy sinh vật nói chung, vi tảo nói riêng vàngược lại Độ trong của nước chịu ảnh hưởng của các chất cặn lơ lửng trongnước, thủy sinh vật… Do đó, độ trong là một yếu tố rất quan trọng đối với sựphân bố theo chiều thẳng đứng và biến đổi theo mùa

Độ trong trung bình ở các điểm nghiên cứu qua 3 đợt thu mẫu đượctrình bày ở bảng 3.4 và biểu đồ 3.1

Trang 31

Bảng 3.4 Độ trong trung bình ở các địa điểm nghiên cứu

Bờ trái (1) Giữa dòng (2) Bờ phải (3)

(Ghi chú này dùng cho tất cả các biểu đồ trong luận văn)

Ngày đăng: 22/01/2016, 14:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Ngọc An (1993), Phân loại tảo Silic phù du biển Việt Nam, Nxb. Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 315 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại tảo Silic phù du biển Việt Nam
Tác giả: Trương Ngọc An
Nhà XB: Nxb. Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1993
2. Trương Ngọc An, Hàn Ngọc Lương (1978), Thực vật nổi ở cửa sông Ninh Cơ và sông Đáy - tỉnh Hà Nam Ninh, Tuyển tập công trình nghiên cứu Biển, Tập II (1), tr. 87-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật nổi ở cửa sông Ninh Cơ và sông Đáy - tỉnh Hà Nam Ninh, Tuyển tập công trình nghiên cứu Biển
Tác giả: Trương Ngọc An, Hàn Ngọc Lương
Năm: 1978
3. Bộ Thủy sản Việt Nam (2002), Cẩm nang sản xuất &amp; sử dụng thức ăn sống để nuôi trồng thủy sản, Bản dịch, 293 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang sản xuất & sử dụng thức ăn sống để nuôi trồng thủy sản
Tác giả: Bộ Thủy sản Việt Nam
Năm: 2002
4. Mai Văn Chung (2001), Tảo Silic phù du ở một số cửa sông, cửa lạch ven biển tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sỹ Sinh học, Đại học Vinh, 81 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tảo Silic phù du ở một số cửa sông, cửa lạch ven biển tỉnh Nghệ An
Tác giả: Mai Văn Chung
Năm: 2001
5. Lương Quang Đốc (2007), Nghiên cứu tảo Silic sống trên nền đáy mềm và một số đặc điểm sinh thái của chúng ở vùng đầm phá ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận án Tiến sĩ Sinh học, Viện Hải Dương Học, 222 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tảo Silic sống trên nền đáy mềm và một số đặc điểm sinh thái của chúng ở vùng đầm phá ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Lương Quang Đốc
Năm: 2007
7. Võ Hành, Phan Tấn Lượm (2010), “Đa dạng tảo Silic ở bãi tôm cửa Cung Hầu (sông Tiền Giang) tỉnh Trà Vinh”, Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội, Khoa học Tự nhiên &amp; Công nghệ, Tập 26, N o 3 tr. 154 - 160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng tảo Silic ở bãi tôm cửa Cung Hầu (sông Tiền Giang) tỉnh Trà Vinh”", Tạp chí Khoa học ĐHQG Hà Nội, Khoa học Tự nhiên & Công nghệ
Tác giả: Võ Hành, Phan Tấn Lượm
Năm: 2010
8. Lê Thị Thúy Hà (2004), Khu hệ thực vật nổi ở vùng Tây Nam hệ thống sông Lam (Nghệ An - Hà Tĩnh), Luận án Tiến sĩ Sinh học, Đại học Vinh, 133 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu hệ thực vật nổi ở vùng Tây Nam hệ thống sông Lam (Nghệ An - Hà Tĩnh)
Tác giả: Lê Thị Thúy Hà
Năm: 2004
9. Lê Thị Thúy Hà, Võ Hành (1999), Chất lượng và thành phần vi tảo ở sông La - Hà Tĩnh, Tạp chí Sinh học, 21 (2), tr. 9 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Sinh học
Tác giả: Lê Thị Thúy Hà, Võ Hành
Năm: 1999
10. Phan Văn Mạch, Lê Xuân Tuấn (2007), Kết quả điều tra thực vật nổi ở sông Sêsan và sông Srêpok. Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Hội nghị khoa học Toàn quốc lần thứ 2, Hà Nội 26/10/2007, Nxb. Nông nghiệp, tr. 454 - 462 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Hội nghị khoa học Toàn quốc lần thứ 2, Hà Nội 26/10/2007
Tác giả: Phan Văn Mạch, Lê Xuân Tuấn
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2007
11. Nguyễn Thùy Liên (2009), Nghiên cứu thành phần loài và cấu trúc khu hệ tảo và VKL tại một số thủy vực thuộc vùng Mã Đà, tỉnh Đồng Nai . Luận án Tiến sĩ Sinh học, ĐHQG Hà Nội, 237 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần loài và cấu trúc khu hệ tảo và VKL tại một số thủy vực thuộc vùng Mã Đà, tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Nguyễn Thùy Liên
Năm: 2009
12. Trần Trường Lưu (1970), Báo cáo “Tổng kết thực vật phù du các vực nước điều tra”, Tài liệu lưu trữ nội bộ, Viện nghiên cứu thủy sản, 19 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết thực vật phù du các vực nước điều tra”, "Tài liệu lưu trữ nội bộ, Viện nghiên cứu thủy sản
Tác giả: Trần Trường Lưu
Năm: 1970
13. Trần Trường Lưu (1975), Báo cáo “Tổng kết điều tra cơ bản một số sông miền Bắc”, Tài liệu lưu trữ nội bộ, Viện nghiên cứu thủy sản, 28 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết điều tra cơ bản một số sông miền Bắc”, "Tài liệu lưu trữ nội bộ, Viện nghiên cứu thủy sản
Tác giả: Trần Trường Lưu
Năm: 1975
14. Đặng Đình Kim (chủ biên), Đặng Hoàng Phước Hiền (1999). Công nghệ sinh học vi tảo, NXB Nông nghiệp, 203 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ sinh học vi tảo
Tác giả: Đặng Đình Kim (chủ biên), Đặng Hoàng Phước Hiền
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
15. Tôn Thất Pháp (1993), Nghiên cứu thực vật thủy sinh ở phá Tam Giang, tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận án PTS khoa học Sinh học, ĐHQG Hà Nội, 166 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực vật thủy sinh ở phá Tam Giang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Tôn Thất Pháp
Năm: 1993
16. Nguyễn Đình San (2001), Vi tảo trong một số thủy vực bị ô nhiễm ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và vai trò của chúng trong quá trình làm sạch nước thải, Luận án Tiến sĩ Sinh học, Đại học Vinh, 113 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi tảo trong một số thủy vực bị ô nhiễm ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và vai trò của chúng trong quá trình làm sạch nước thải
Tác giả: Nguyễn Đình San
Năm: 2001
17. Đặng Thị Sy (1996), Tảo Silic vùng cửa sông ven biển Việt Nam, Tóm tắt Luận án PTS khoa học Sinh học, ĐHQG Hà Nội, 186 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tảo Silic vùng cửa sông ven biển Việt Nam
Tác giả: Đặng Thị Sy
Năm: 1996
18. Hồ văn Thanh (2007), Tảo Silic (Bacillariophyta)và Tảo hai rãnh (Dinophyta) ở ven biển thuộc xã Kỳ nam - Huyện Kỳ Anh - Hà Tĩnh.Luận văn Thạc sỹ Sinh học, Đại học Vinh, 53 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tảo Silic (Bacillariophyta)và Tảo hai rãnh (Dinophyta) ở ven biển thuộc xã Kỳ nam - Huyện Kỳ Anh - Hà Tĩnh
Tác giả: Hồ văn Thanh
Năm: 2007
19. Hoàng Quốc Trương (1962), Phiêu sinh vật trong vịnh Nha Trang. Bacillariales, Hải Học Viện Nha Trang, Sài Gòn, tr. 121-124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phiêu sinh vật trong vịnh Nha Trang
Tác giả: Hoàng Quốc Trương
Năm: 1962
20. Nguyễn Văn Tuyên (2003), Đa dạng sinh học tảo trong thủy vực nội địa Việt Nam, Nxb. Nông nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh, tr 107 - 138.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học tảo trong thủy vực nội địa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Tuyên
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2003
21. Foged N. (1976), Freshwater diatoms in Srilanka (Ceylon). Bibliotheca Phycologica, Band 23, 220p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Freshwater diatoms in Srilanka (Ceylon)
Tác giả: Foged N
Năm: 1976

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Đa dạng tảo Silic nhìn từ mặt vỏ - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Hình 1.1. Đa dạng tảo Silic nhìn từ mặt vỏ (Trang 20)
Hình 1.2. Cấu tạo vỏ tảo Silic - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Hình 1.2. Cấu tạo vỏ tảo Silic (Trang 21)
Bảng 3.1. Nhiệt độ môi trường ở các địa điểm nghiên cứu, đợt I - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Bảng 3.1. Nhiệt độ môi trường ở các địa điểm nghiên cứu, đợt I (Trang 29)
Bảng 3.5. Độ mặn trung bình ở các địa điểm nghiên cứu - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Bảng 3.5. Độ mặn trung bình ở các địa điểm nghiên cứu (Trang 32)
Bảng 3.6. Độ pH trung bình ở các địa điểm nghiên cứu - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Bảng 3.6. Độ pH trung bình ở các địa điểm nghiên cứu (Trang 34)
Bảng 3.7. Hàm lượng Oxy hòa tan trung bình trong nước sông Hộ Độ - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Bảng 3.7. Hàm lượng Oxy hòa tan trung bình trong nước sông Hộ Độ (Trang 35)
Bảng 3.8. Nhu cầu Oxy hóa học tại các điểm nghiên cứu - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Bảng 3.8. Nhu cầu Oxy hóa học tại các điểm nghiên cứu (Trang 37)
Bảng 3.9. Hàm lượng NO 3 -  trung bình qua các đợt nghiên cứu - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Bảng 3.9. Hàm lượng NO 3 - trung bình qua các đợt nghiên cứu (Trang 38)
Bảng 3.10. Hàm lượng NH 4 +  trung bình qua 3 đợt nghiên cứu - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Bảng 3.10. Hàm lượng NH 4 + trung bình qua 3 đợt nghiên cứu (Trang 40)
Bảng 3.11. Hàm lượng PO 4 3-  trung bình qua các đợt nghiên cứu - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Bảng 3.11. Hàm lượng PO 4 3- trung bình qua các đợt nghiên cứu (Trang 41)
Bảng 3.12. Hàm lượng SiO 2  trung bình qua các đợt nghiên cứu - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Bảng 3.12. Hàm lượng SiO 2 trung bình qua các đợt nghiên cứu (Trang 42)
Bảng 3.13. Danh lục thành phần loài tảo Silic tại sông Hộ Độ - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Bảng 3.13. Danh lục thành phần loài tảo Silic tại sông Hộ Độ (Trang 44)
Bảng 3.16. Sự biến động thành phần loài qua các đợt thu mẫu ở sông Hộ Độ - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Bảng 3.16. Sự biến động thành phần loài qua các đợt thu mẫu ở sông Hộ Độ (Trang 48)
Bảng 3.17. Quan hệ thành phần tảo Silic ở 3 mặt cắt - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Bảng 3.17. Quan hệ thành phần tảo Silic ở 3 mặt cắt (Trang 49)
Bảng 3.19. Kết quả phân tích mẫu định lượng tảo silic - Điều tra thành phần loài của lớp tảo silic (bacillariophyceae) ở sông hộ độ, huyện lộc hà, tỉnh hà tĩnh
Bảng 3.19. Kết quả phân tích mẫu định lượng tảo silic (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w