------NGUYỄN THỊ HẠNH XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI LẠC VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC, SINH THÁI HỌC CỦA MỌT Carpophilus dimidiatus Fabr.. ------NGUYỄN THỊ HẠNH XÁC ĐỊNH
Trang 1- -NGUYỄN THỊ HẠNH
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI LẠC VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC, SINH
THÁI HỌC CỦA MỌT Carpophilus dimidiatus Fabr.
(COLEOPTERA: NITIDULIDAE) TRONG KHO BẢO QUẢN LẠC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ CHÚNG
TẠI VÙNG BẮC TRUNG BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN, 2015
Trang 2- -NGUYỄN THỊ HẠNH
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN SÂU MỌT HẠI LẠC VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC,
SINH THÁI HỌC CỦA MỌT Carpophilus dimidiatus
Fabr (COLEOPTERA: NITIDULIDAE) TRONG KHO BẢO QUẢN LẠC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ CHÚNG TẠI VÙNG BẮC TRUNG BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10 Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thanh
NGHỆ AN, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài nghiên cứu này là do tôi thực hiện, các kếtquả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chưa từng được sử dụng vàcông bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và cácthông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sỹ này, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bảnthân tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu khác:
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo hướng dẫn
TS Nguyễn Thị Thanh đã dành nhiều thời gian quý báu để hướng dẫn và tạođiều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo và các cán bộ nhân viênChi cục Kiểm dịch thực vật vùng VI - Nghệ An đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về
cơ sở vật chất, điều kiện thí nghiệm trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn tập thể các Thầy cô giáo Khoa Nông Lâm Ngư,Trường Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ và có những góp ý sâu sắctrong thời gian học tập và thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lớp Cao học Khoa học câytrồng khóa 21 cùng bạn bè, người thân trong gia đình đã động viên khích lệ tôitrong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Ý nghĩa khoa học 3
Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.1 Nghiên cứu về thành phần sâu mọt và thiệt hại của nông sản 4
1.1.2 Nghiên cứu về thành phần, thiệt hại của sâu hại lạc 8
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 10
1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần sâu mọt và thiệt hại của nông sản 10
1.2.2 Nghiên cứu sinh học, sinh thái học của sâu mọt hại nông sản 13
1.2.3 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại lạc và thiệt hại của chúng 14
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Nội dung nghiên cứu 16
Trang 62.2 Phạm vi nghiên cứu 16
2.3 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 17
2.3.1 Dụng cụ nghiên cứu 17
2.3.2 Vật liệu nghiên cứu 17
2.4 Phương pháp nghiên cứu 17
2.4.1 Điều tra thành phần và mật độ sâu mọt trong kho lạc 17
2.4.2 Tìm hiểu đặc điểm nhận biết một số loài sâu mọt gây hại trên lạc 19
2.4.3 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 19
2.4.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 19
2.4.5 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 20
2.4.6 Phương pháp nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 22
2.5 Phương pháp định loại 23
2.6 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 24
2.6.1 Thời gian nghiên cứu 24
2.6.2 Địa điểm nghiên cứu 24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Thành phần sâu mọt hại kho lạc và thiên địch 25
3.1.1.Thành phần sâu mọt hại kho không chuyên bảo quản lạc ở tỉnh Nghệ An 25 3.1.2 Sự phân bố của các loài sâu mọt trong kho không chuyên bảo quản lạc ở 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh 29
3.1.3 Thành phần sâu mọt hại kho chuyên bảo quản lạc ở tỉnh Nghệ An 32
Trang 73.1.4 Sự phân bố của các loài sâu mọt trong kho chuyên bảo quản lạc ở 3 tỉnh
Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh 34
3.1.5 Thành phần thiên địch trong kho bảo quản lạc ở tỉnh Nghệ An 36
3.2 Diễn biến mật độ của một số loài sâu mọt hại lạc trong kho bảo quản năm 2014 tại tỉnh Nghệ An 37
3.2.1 Mật độ sâu mọt hại kho chuyên bảo quản lạc 37
3.2.2 Mật độ sâu mọt hại kho không chuyên bảo quản lạc 39
3.3 Triệu chứng gây hại của một số loài sâu mọt trên lạc nhân 41
3.3.1 Triệu chứng gây hại của mọt đục hại nhỏ Rhizopertha dominica Fabr 41
3.3.2 Triệu chứng gây hại của mọt thò đuôi Carpophilus dimidiatus Fabr 42
3.3.3 Triệu chứng gây hại của mọt Ngô Sitophilus zeamais Motsch 44
3.3.4 Triệu chứng gây hại của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum Fabr 44
3.4 Một số đặc điểm hình thái của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 45
3.4.1 Pha trứng 46
3.4.2 Pha sâu non 48
3.4.3 Pha nhộng 48
3.4.4 Trưởng thành 49
3.5 Đặc điểm sinh học của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 50
3.5.1 Thời gian phát dục 50
3.5.2 Khả năng sinh sản 52
3.6 Đặc điểm sinh thái của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 55
3.6.1 Ảnh hưởng của thuỷ phần hạt lạc đến diễn biến quần thể mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 55
Trang 83.6.2 Ảnh hưởng của thủy phần hạt lạc đến tỷ lệ thiệt hại do mọt Carpophilus
dimidiatus Fabr gây nên 57
3.7 Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 59
3.7.1 Biện pháp phi hóa học 59
3.7.2 Biện pháp hoá học 61
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63
Kết luận 63
Đề nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 65
TÀI LIỆU TIẾNG ANH 70
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
A modicella: Aproaerema modicella
M testulatis: Macura testulatis
R dominica: Rhizopertha dominica
S exiqua: Spodoptera exiqua
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Thành phần sâu mọt trong kho không chuyên bảo quản lạc ở tỉnh
Nghệ An
26
Trang 10Bảng 3.2 Sự phân bố của sâu mọt trong kho không chuyên bảo quản lạc ở
3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh
30Bảng 3.3 Thành phần sâu mọt trong kho chuyên bảo quản lạc ở tỉnh Nghệ
An
33Bảng 3.4 Sự phân bố của sâu mọt trong kho chuyên bảo quản lạc ở 3 tỉnh
Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh
35Bảng 3.5 Thành phần thiên địch trong kho bảo quản lạc ở tỉnh Nghệ An 36Bảng 3.6 Diễn biến mật độ của một số loài sâu mọt hại chính trong kho
chuyên bảo quản lạc
38Bảng 3.7 Diễn biến mật độ của một số loài sâu mọt hại chính trong kho
không chuyên bảo quản lạc
40Bảng 3.8 Kích thước các pha phát dục của mọt Carpophilus dimidiatus
Fabr
46Bảng 3.9 Thời gian phát dục của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr. 50
Bảng 3.10 Khả năng sinh sản trung bình của mọt Carpophilus dimidiatus
Fabr
53
Bảng 3.11 Tỷ lệ trứng nở trung bình của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr. 54
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của thuỷ phần hạt lạc đến quần thể mọt Carpophilus
dimidiatus Fabr.
55Bảng 3.13 Ảnh hưởng của thuỷ phần hạt lạc đến tỷ lệ thiệt hại do mọt
Carpophilus dimidiatus Fabr gây ra
58
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến mật độ mọt Carpophilus dimidiatus
Fabr
61
Bảng 3.15 Hiệu lực của thuốc Phosphine đối với quần thể mọt Carpophilus
dimidiatus Fabr.
62
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Diễn biến mật độ của một số loài sâu mọt hại chính trong kho
chuyên bảo quản lạc
38Hình 3.2 Diễn biến mật độ của một số loài sâu mọt hại chính trong kho
không chuyên bảo quản lạc
41
Hình 3.4 Triệu chứng gây hại của trưởng thành Rhizopertha dominica
Hình 3.5 Triệu chứng gây hại bên trong của trưởng thành Carpophilus
Hình 3.7 Triệu chứng gây hại của mọt trưởng thành Sitophilus zeamais
Hình 3.8 Trưởng thành mọt Tribolium castaneum Fabr. 45
Hình 3.9 Triệu chứng gây hại của mọt Tribolium castaneum Fabr gây nên 45
Hình 3.10 Hình thái các pha phát dục của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 47 Hình 3.11 Diễn biến quần thể mọt Carpophilus dimidiatus Fabr ở thuỷ
Hình 3.14 Ảnh hưởng của thuỷ phần hạt lạc đến tỷ lệ thiệt hại do mọt
Carpophilus dimidiatus Fabr gây ra 59
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu của nước ta, lạc có giá trị kinh tếcao Hàng năm, riêng mặt hàng này đã giúp nước ta thu về hàng trăm triệu USDtrong xuất khẩu Bên cạnh giá trị dinh dưỡng của chúng, lạc còn là cây được sửdụng để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, làm tăng độ phì của đất và phát triển nôngnghiệp bền vững
Theo nhận định của các nhà khoa học, tiềm năng để nâng cao năng suất vàsản lượng lạc ở nước ta còn rất lớn cần được khai thác Từ năm 1990 trở lại đây,diện tích gieo trồng, năng suất, sản lượng lạc không ngừng tăng lên, từ 201.400 hanăm 1990 lên 243.900 ha năm 2000 (tăng 21,1%) và đến năm 2010 là 258.700 ha(tăng 28,45 %) [21]
Theo Tổng cục thống kê (2004) [45], tổng diện tích lạc của cả nước đạt258,7 nghìn ha, năng suất trung bình 17,4 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 451,1 nghìntấn Dự kiến trong giai đoạn 2010 - 2015 đưa diện tích trồng lạc lên 330 nghìn
ha, sản lượng đạt 550 - 560 nghìn tấn
Nghệ An được coi là vùng trồng lạc có truyền thống lâu đời ở nước ta Câylạc là cây công nghiệp ngắn ngày chủ yếu của vùng đất cát ven biển, đất bãi vàđất đồi Hiện nay Nghệ An là địa phương có diện tích gieo trồng lạc lớn nhấttrong cả nước (24,1 nghìn ha và sản lượng là 48,5 nghìn tấn) chủ yếu tập trungtại một số huyện ven biển như Nghi Lộc (4300 ha), Diễn Châu (3800 ha) và chủyếu được sản xuất trong vụ xuân [5]
Theo Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, trong thời gian tới sẽ tiếp tục đầu tưthâm canh, mở rộng sản xuất lạc để đến năm 2020 sẽ đưa diện tích gieo trồng lạccủa tỉnh lên đến 35 nghìn ha, năng suất bình quân đạt 20 tạ/ha [45]
Tuy nhiên, công tác xuất khẩu lạc nhân của nước ta thời gian qua còn gặp rấtnhiều khó khăn, do sản phẩm lạc nhân của nước ta chưa có đủ tính cạnh tranh cao về
Trang 13kích cỡ hạt, phẩm chất, màu sắc, hàm lượng dầu, Sâu bệnh hại là một trong những
nguyên nhân làm giảm phẩm chất lạc nhân của nước ta Các loài sâu mọt trên lạc
ngoài tác hại làm giảm khối lượng, phẩm chất, còn tạo điều kiện cho nấm mốc
phát triển, đặc biệt là nấm Aspergillus flavus sinh ra độc tố Aflatoxin rất nguy hiểm
cho người và gia súc
Trong những năm qua, nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu sâubệnh hại lạc và tổn thất do chúng gây ra, đồng thời đưa ra các biện pháp phòngtrừ hợp lý Các kết quả nghiên cứu được áp dụng trong sản xuất đã góp phầnnâng cao năng suất và sản lượng lạc ở nước ta Riêng việc nghiên cứu sâu bệnhhại lạc mới chỉ được quan tâm ở ngoài đồng ruộng còn tình hình sâu bệnh hại lạcsau thu hoạch hầu như chưa được các nhà khoa học quan tâm nhiều
Cho đến nay, tài liệu được công bố về sâu mọt hại lạc trong bảo quản sauthu hoạch của nước ta cũng như trên thế giới còn rất hạn chế Vì vậy, việc điềutra xác định chính xác danh mục dịch hại, nhằm phát hiện kịp thời các đối tượngdịch hại kiểm dịch thực vật (KDTV) và các loài sâu mọt trong kho bảo quản lạcsau thu hoạch và trên lạc nhân xuất khẩu, đồng thời tìm các biện pháp phòng trừkịp thời; đảm bảo uy tín chất lượng hàng hoá nông sản của nước ta trên thịtrường quốc tế là một nhiệm vụ quan trọng của ngành kiểm dịch thực vật
Kết quả nghiên cứu chắc chắn là những dẫn liệu góp phần làm cơ sở choviệc xây dựng các quy trình kiểm tra, xác định danh mục dịch hại kiểm dịch thựcvật của nước ta, giúp ích việc phân tích, đánh giá nguy cơ dịch hại của ngành vàcác đối tác xuất nhập khẩu với Việt Nam Nghiên cứu sâu mọt hại trên lạc nhân,nhằm hạn chế tác hại của chúng, nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng nàytrên thị trường quốc tế là việc làm cần thiết của thực tế hiện nay
Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết nêu trên, thực hiện nhiệm vụ của Chicục kiểm dịch thực vật vùng VI - Nghệ An và của ngành Kiểm dịch thực vật,dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thanh, trong thời gian từ 6/2014 đến
9/2015, chúng tôi thực hiện đề tài: "Xác định thành phần sâu mọt hại lạc và
một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của mọt Carpophilus
Trang 14dimidiatus Fabr (Coleoptera: Nitidulidea) trong kho bảo quản lạc và biện pháp phòng trừ chúng tại vùng Bắc Trung Bộ"
2 Mục tiêu của đề tài
Trên cở sở xác định thành phần và mật độ sâu hại lạc, thành phần thiên địchcủa chúng đồng thời tìm hiểu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài mọt chủ yếunhằm đề xuất biện pháp phòng chống chúng một cách hợp lý
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
- Những kết quả nghiên cứu về thành phần sâu mọt và thiên địch trên lạc bảoquản sau thu hoạch, góp phần bổ sung vào danh mục thành phần sâu mọt hại lạcnhân đã công bố ở nước ta
- Bổ sung một số dẫn liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài mọt
Carpophilus dimidiatus Fabr.
Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp các dẫn liệu về tình hình gây hại, biến động mật độ và một số
đặc tính sinh học của sâu mọt hại lạc làm cơ sở cho công tác phân tích, đánh giánguy cơ dịch hại trên lạc nhân xuất khẩu đồng thời làm căn cứ khoa học quantrọng phục vụ công tác kiểm dịch thực vật lạc nhân xuất khẩu tại Nghệ An, giúpcán bộ KDTV phát hiện nhanh, chính xác các đối tượng sâu hại trên lạc nhân từ
đó có các biện pháp xử lý kịp thời
- Kết quả nghiên cứu về hình thái, sinh học, sinh thái học của loài
Carpophilus dimidiatus Fabr thuộc họ Nitidulidae, bộ Coleoptera góp phần xây
dựng các biện pháp phòng chống sâu mọt hại lạc trong bảo quản, đặc biệt sửdụng thuốc hợp lý và tránh ô nhiễm môi trường
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về thành phần sâu mọt và thiệt hại của nông sản
Sự phá hại của côn trùng đối với sản phẩm bảo quản rất đa dạng Trước hếtphải kể đến việc làm giảm phẩm chất hoặc phá huỷ làm cho vật chất dữ trữ haylưu trữ bị giảm hoặc mất hoàn toàn giá trị sử dụng Trong nhiều trường hợp, thiệthại có thể là rất lớn và thậm chí là vô giá
Báo cáo của Pavvgleg (1963) cho thấy tổn thất hạt bảo quản hàng năm đượccông bố ở Mỹ là khoảng 15-23 triệu tấn (trong đó khoảng 7 triệu tấn do chuột, 8-
16 triệu tấn do cồn trùng), ở Châu Mỹ La Tinh người ta đã đánh giá rằng ngũ cốc
và đậu đỗ sau thu hoạch bị tổn thất khoảng 25 -50% Ở một số nước Châu Phi,khoảng 30% tổng sản lượng nông nghiệp bị mất đi hàng năm (Dẫn theo Vũ QuốcTrung, 1991) [36]
Bakal (1963) đánh giá sự mất mát lương thực hàng năm do chuột, côn trùng
và nấm mốc gây ra là 33 triệu tấn, lương thực này đủ để nuôi sống người dânnước Mỹ trong 1 năm (Dẫn theo Snelson, 1978) [78]
Theo công bố của FAO [66, 67] kết quả nghiên cứu của các tác giả Mỹ vềmất mát ngũ cốc sau thu hoạch vào năm 1967 ở các nước công nghiệp phát triển
đã lên tới 42 triệu tấn, tức bằng 95% tổng sản lượng thu hoạch của Canada haygấp đôi sản lượng lương thực của nước ta năm 1992
Hall (1970) cho biết, ở các nước Mỹ La tinh, thiệt hại được đánh giá vàokhoảng 25-50% đối với riêng các mặt hàng ngũ cốc và đậu đỗ Tại Châu Phi,thiệt hại vào khoảng 30% Ở khu vực Đông Nam Á, những năm qua đã xảy ra vụdịch hại lớn do côn trùng gây ra đối với ngũ cốc, làm tổn thất tới 50% (Dẫn theoBùi Công Hiển, 1995) [14]
Trang 16Năm 1973, tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO)
đã thông báo rằng không lâu nữa, nguồn cung cấp lương thực của thế giới sẽkhông đủ để chống lại thiệt hại mùa màng và nạn đói Ít nhất 10% lương thựcsau thu hoạch bị mất do dịch hại trong kho và thiệt hại tới 30% là phổ biến ở cácnước trên thế giới (Dẫn theo Snelson, 1978) [78]
Freeman paul (1980) [69] thông báo là tổn thất về sinh tố BI ở gạo bảo quản
8 tháng đối với mẫu bị nhiễm côn trùng lớn hơn 10-15% so với mẫu không bịnhiễm
Cotton và Wilbur (1974) đã thống kê được số lượng loài côn trùng gây hạihạt dự trữ trong kho trên thế giới gồm 43 loài, trong đó có 19 loài thuộc nhómgây hại chủ yếu và 24 loài thuộc nhóm côn trùng gây hại thứ yếu (Dẫn theoSnelson, 1987) [78]
Kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật ở Cộng hoà dân chủ Đứctrước đây (1986), tại các nước Đông Âu có 20 loài côn trùng hại chủ yếu trênnông sản cất giữ trong kho (Dẫn theo Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 1989) [25]
Các tác giả trong vùng Đông Nam Á đã phát hiện được 122 loài thuộc 28
họ của bộ cánh cứng (Coleoptera) và 17 loài thuộc 6 họ của bộ cánh vảy(Lepidoptera) (Sukparakam, 1985) [80], Sukparakam và Tauthong: (1981) [79],Nilpanit (1991) [75], Nakakita (1991) [74]
Hill D.S (1983) [64] đã thu thập và xác định được 38 loài côn trùng gây hạisản phẩm kho vùng nhiệt đới
Việc thay đổi kỹ thuật bảo quản nông sản sau thu hoạch, nguồn thức ăn củacôn trùng hại kho, các điều kiện sinh thái cũng có nhiều thay đổi Do vậy thànhphần, mật độ các loài côn trùng cũng luôn có sự biến đổi Cho đến nay việcnghiên cứu thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản nông sản vẫn đangđược nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm
Thiệt hại do sâu hại kho gây ra là rất lớn về nhiều mặt: Nó làm giảm sốlượng sản phẩm, chất lượng, giá trị thương phẩm như làm giảm protein, lipit,
Trang 17vitamin biến tính, màu sắc không bình thường; Làm nhiễm bẩn, nhiễm độcnông phẩm, do đó làm ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng hoặc trực tiếptruyền bệnh cho người; Con người phải thêm chi phí khắc phục hậu quả; Mất uytín hàng hoá trên thương trường; Mất mát hạt giống cho mùa vụ sau.
Từ những thiệt hại to lớn đó mà đã có nhiều công trình nghiên cứu để đưa
ra các biện pháp phòng trừ
Mọt cứng đốt (Trogoderma granarium) là một trong những loài mọt rất nguy
hiểm Nó được nhiều nước trên thế giới đưa vào danh mục đối tượng KDTV như:Algeria, Angola, Bangladesh, Trung Quốc, Indonesia, Thailand, Malaysia, Zambia(Bank, 1977), Chúng đã gây thiệt hại trên 100 mặt hàng, đặc biệt là hàng nôngsản như bột mỳ, lúa mạch, thóc, và ở môi trường thức ăn trên chúng phát triển rấtnhanh (Monschel, 1971) (Dẫn theo Dobie, P Haines, 1985) [63]
Theo Khoo T N (1990) [71] ở Cộng hoà liên bang Đức riêng loài mọt thóc
(Sitophilus granarius) đã gây thiệt hại hơn 100 triệu mác hàng năm Ở nước này
riêng tổn thất của ngũ cốc nhập khẩu trong 3 năm (1949-1952) là 162 triệu mác(Schulze, 1964) Theo Justen (1960), ở Cộng hoà liên bang Đức năm 1957 đã có379.919 tấn ngũ cốc, 1.382 tấn quả khô và 19.641 tấn hạt có dầu đã bị thiệt hại
do côn trùng gây ra không thể sử dụng được
Theo thống kê của Mallis Amold (1990) [73] trên thế giới ước tính cókhoảng 1.000.000 loài côn trùng, trong đó có 900.000 loài đã biết tên, chiếm78% trong tổng số 1.150.000 loài động vật đã biết (Dẫn theo Vũ Quốc Trung,1978) [35]
Walterr V.E công bố thiệt hại do dịch hại gây ra khoảng 10% ở Minnesota,thậm chí tới 50% ở một số quốc gia đang phát triển (Mallis Amold, 1990) [73].Flinn P W And DAV Hagstrum (1990) [68], Freeman Paul (1980) [69]
đã ghi nhận được 41 loài côn trùng trong sản phẩm lương thực dự trữ ở một sốnước trên thế giới
Trang 18Lam My -Yen, 1993 [72] đã cho biết tổn thất sau thu hoạch đối với gạo cấtgiữ trong kho ở Châu Á khoảng 2 - 6%.
Theo đánh giá của FAO, hàng năm tổn thất về ngũ cốc dự trữ trên toàn thếgiới vào khoảng 10%, có nghĩa bằng 1,3 triệu tấn ngũ cốc đã bị mất do côn trùng
và khoảng 100 triệu tấn đã bị mất giá trị (Wolpent, 1967) Theo Snelson, (1987),
sự tổn hại ở vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới cao hơn vùng ôn đới (Dẫn theo BùiCông Hiển, 1995) [14]
Tại Liên Xô (cũ), đã thí nghiệm nuôi 10 đôi mọt thóc (Sitophilus
granarius) trong lúa mỳ ở điều kiện thích hợp Sau 5 năm, các thế hệ mọt này đã
ăn hết 406.205 kg ( Dẫn theo Phạm Quý Hiệp, 1995) [15]
Hầu như ở đâu có sự dự trữ và lưu trữ hàng hoá, nông sản, ở đó xuất hiệncác loài sinh vật gây hại Nhiều khi chỉ cần sau vài tuần, sinh vật gây hại đã pháttriển thành quần thể số lượng lớn và gây ra những vụ cháy ngầm, tiêu hủy mộtphần hoặc hoàn toàn hàng hoá bảo quản trong kho (Dẫn theo Bùi Công Hiển,1995) [14]
Theo Bengston Merv (1997) [57] cho rằng côn trùng là một trong những dịchhại lương thực và sản phẩm lương thực cất giữ Thiệt hại do dịch hại gây ra cholương thực là rất lớn khoảng 10%
Bengstong Merv (1997) [57] đã chỉ rõ các loài côn trùng gây hại kho chủ
yếu là Sitophilus spp., Rhizopertha dominica, Tribolium castaneum, Sitotroga
cerealella và Ephestia cautella phân bố khắp thế giới và đặc biệt các vùng khí
hậu ấm áp, trong đó 200 loài dịch hại ngũ cốc cất giữ trong kho
Theo Bolin Pai (2001) [58] kết quả điều tra cơ bản của Trường đại họcOklahoma vào đầu và cuối thập kỷ 80, chỉ ra các loại côn trùng chiếm ưu th ế
gây hại kho là Rhizopertha dominica, Cryptolestes spp., Tribolium castaneum
và ngài Ấn Độ
Trang 19Tổ chức C.A.B.I (2002) [61] nêu rõ các loài côn trùng Acanthoscelides
obtectus, Callosobruchus spp., Rhizopertha dominica, Sitophilus spp., Tribolium castaneum là loài gây hại nguy hiểm đối với kho thóc và đậu.
1.1.2 Nghiên cứu về thành phần, thiệt hại của sâu mọt hại lạc
Lạc là một trong những cây trồng khá giàu dinh dưỡng vì vậy trong suốtquá trình sinh trưởng, phát triển nó bị khá nhiều loài gây hại Đây cũng là nguyênnhân quan trọng làm giảm năng suất, tăng chi phí đầu tư cho sản xuất và là lý dohạn chế việc tăng năng suất lạc [50]
Smith, J W và Barfield, C.S, (1982) [77] cho biết nhờ phòng trừ được bọtrĩ gây hại mà năng suất lạc tại Brazil tăng thêm từ 35 - 50% Kết quả nghiên cứucũng chỉ ra rằng các loài sử dụng cây lạc làm thức ăn gồm 360 loài, trong đó có6% là những loài gây hại quan trọng
Hàng năm thiệt hại do sâu hại gây ra cho lạc lên tới 15 - 20% sản lượng Đểhạn chế thiệt hại do sâu gây ra cho lạc, trên thế giới, trong những năm gần đây đã
có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về sâu hại lạc
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Hill và Waller (1985) [65] đã chỉ ra rằngtrên cây lạc ở vùng nhiệt đới có 8 loài sâu hại chính và 40 loài gây hại thứ yếu
Những loài gây hại đặc biệt nguy hiểm như rệp đen (Aphis craccivora Koch.), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xám (Agrotis ifsilon Rotr.), sâu xanh
(Hellicoverpa armigera Hiib.), ban miêu (Epicauta impresicornic Pic.) và các loài (Epicauta spp.) Các loài sâu hại này được mô tả chi tiết về ký chủ, phạm vi phân
bố, triệu chứng tác hại, một số đặc điểm hình thái, sinh học và biện pháp phòng trừ.Còn theo nghiên cứu của Wallis E S và Byth D E (1986) [81] trên cây lạcchỉ tính riêng sâu đục củ và hại rễ đã có tới 15 loài, thuộc 12 họ, 9 bộ côn trùng.Trong đó các họ như kiến (Focmicidae), họ bọ hung (Scarabacidae), họ ngài đèn(Actiidae), họ ngài độc (Lymantridae), họ ngài đục lá (Phyllocnistidae), họ ngàicuốn lá (Tortricidae), họ ngài sáng (Pyralidae), rầy nhảy (Cicadelliae), mỗi họ có
Trang 20một loài, còn các họ ngài đêm (Noctuidae), bọ trĩ (Thripidae), mối (Termitidae)mỗi họ có hai loài.
Tại Trung Quốc, tác giả Ching Tieng Tseng (1991) [59] cho biết các loàigây hại ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của sản xuất lạc bao gồm sâu khoang
(Spodoptera litura Fabr.), sâu keo da láng (Spodoptera exigua Hiib.), sâu xanh (Hellicoverpa armigera Hiib.) Tổng giá trị phòng trừ các loài sâu này ước tính
vào khoảng 5 tỷ nhân dân tệ
Kết quả nghiên cứu trên lạc tại vùng Hyderabad, Ấn Độ của ICRISAT(1993) [70] trong mùa khô 1980 - 1981 và 1981 - 1982 cho thấy bọ trĩ gây hại cóthể là giảm đến 17% năng suất lạc quả và 30% năng suất chất xanh Tuy nhiênđiều này còn phụ thuộc vào tình hình thời tiết
Theo đánh giá của tác giả Ranga Rao và Wightman (1994) [84] tại Ấn Độ
các loài sâu gây hại nguy hiểm gồm nhóm sâu ăn lá như sâu róm (Amsacta sp.),
bọ trĩ (Thrips palmi), sâu khoang (Spodoptera litura), sâu xanh (Heliothis
armigera) và một số sâu hại trong đất Thiệt hại kinh tế do chúng gây ra vào
khoảng 15 - 20% năng suất
Wightman, J A (1994) [84] cho biết trên lạc tác hại của sâu khoang phụthuộc vào mật độ và giai đoạn sinh trưởng của cây Nếu sau gieo 10 ngày, mật độsâu là 1 con/cây, diện tích lá bị ăn là 47% thì năng suất sẽ giảm 22% Nhưng nếuvới mật độ 10 con/cây thì năng suất sẽ giảm là 56% Song ở giai đoạn cây hìnhthành củ cùng với mật độ như trên thì năng suất giảm ít hơn nhiều (9% và 16%tương ứng vớị mật độ) Do đó việc phòng trừ sâu khoang trên lạc là rất cần thiết
Ở vùng Tây Nam Thái Bình Dương, theo tác giả Waterhouse D F (1993)
[82] đã xác định được 157 loài sâu hại trên lạc trong số 160 loài thu được Trong
đó có 46 loài quan trọng và có ít nhất 25 loài đã được đầu tư nghiên cứu tỉ mỉ vàmột số loài đã áp dụng biện pháp phòng trừ có hiệu quả Còn tại vùng Đông NamChâu Á có 37 loài sâu hại trên lạc trong đó 19 loài có mức độ phổ biến cao
Trang 21Nhìn chung, trong thời gian qua các nhà khoa học mới chỉ tập trung nghiêncứu về thành phần, thiệt hại của côn trùng trên cây lạc ở ngoài đồng Ở giai đoạnsau thu hoach còn ít được các nhà khoa học quan tâm tuy nhiên qua các kết quảnghiên cứu trên đây cho thấy thành phần sâu mọt hại lạc trong kho bảo quản kháphong phú, mức độ gây hại cao.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần sâu mọt và thiệt hại của nông sản
Các kết quả điều tra về thành phần loài côn trùng gây hại trong kho ở ViệtNam không nhiều và ít được điều tra cập nhật
Nguyễn Công Tiễu (1936) là người đầu tiên quan tâm đến vấn đề này Ôngcũng là tác giả dịch cuốn “Cho được có hoa lợi nhiều và tốt hơn” của P.Braemen, trong đó chủ yếu giới thiệu vắn tắt các đặc điểm hình thái, đặc tính gâyhại của một số loài mọt kho thông thường (Dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [14].Gần ba mươi năm sau, tức là vào khoảng năm 1960, việc nghiên cứu côntrùng hại kho mới lại được tiếp tục Bắt đầu bằng những kết quả điều tra thànhphần loài côn trùng gây hại ở một số kho lương thực ở tỉnh Thanh Hoá ( LêTrọng Trải - Trường Đại học tổng hợp Hà Nội, 1980) [34]
Năm 1962 – 1963, Cục BVTV đã điều tra côn trùng trên 50 loại cây trồng ở
32 tỉnh thu thập và giám định được 266 loại côn trùng (Dẫn theo Hoàng Trung,1999) [38]
Đinh Ngọc Ngoạn (1965) [24] có kết quả kiểm tra côn trùng gây hại trongkho ở miền Bắc Việt Nam và Phạm Xuân Hương (1963) [17] có cuốn sách “Côntrùng phá hại kho và cách phòng trừ”
Đối với hàng hoá xuất nhập khẩu và bảo quản trong kho, Viện BVTV - Bộnông nghiệp năm 1967 – 1968 [49, 51] điều tra trên 113 mặt hàng để trong kho
ở các tỉnh phía Bắc đã thu thập được 78 loài côn trùng, trong đó có 51 loài gâyhại kho, có 5 loài côn trùng và một số loài nhện có ích, số còn lại chưa rõ
Trang 22Ngoài ra còn có một số nghiên cứu khác như: Kết quả điều tra côn trùng hạikho là đối tượng của KDTV (Dương Quang Diệu, Nguyễn Thị Giáng Vân, 1976)[7]; Thành phần côn trùng hại dược liệu bảo quản (Nguyễn Thị Lương Vân,1982) [48].
Hoàng Văn Thông - Nguyễn Thị Giáng Vân, (1989) [31] đã công bố kếtquả điều tra trong hơn 80 kho trên 20 loại nông lâm sản phẩm cất giữ ở các tỉnhphía Bắc đã thu thập được 42 loài côn trùng
Kết quả điều tra (1996) của cục BVTV về thành phần côn trùng hại kho ởViệt Nam thu thập được 76 loài thuộc 37 họ của 6 bộ (Dẫn theo báo cáo khoahọc BVTV, 1996) [41]
Kết quả điều tra thành phần côn trùng hại ở Việt Nam năm 1996 của CụcBVTV đã thu thập và giám định được 110 loài côn trùng trong kho thuộc 43 họcủa 8 bộ khác nhau, trong đó có 32 loại côn trùng gây hại chủ yếu và gây hại trênnhiều nhóm nông sản khác nhau (Báo cáo khoa học Cục BVTV, 1996) [46].Các nghiên cứu về thành phần sâu mọt trên hàng nông sản xuất nhập khẩucòn rất nhiều hạn chế Mới chỉ có một số nghiên cứu như kết quả theo dõi thànhphần côn trùng trong các mặt hàng xuất nhập khẩu trong 30 năm (từ 1960 - 1990của Nguyễn Thị Giáng Vân, 1991) [46] Kết quả đã thu thập, phát hiện được 130loài thuộc 9 bộ, 46 họ côn trùng hại trên hàng hoá xuất nhập khẩu và bảo quản.Theo Hoàng Văn Thông (1997) [32] thành phần côn trùng hại trên hàngnông sản nhập khẩu ở khu vực phía Bắc Việt Nam từ 1991- 1997 có 40 loài,phân bố trong 4 bộ Trong đó 36 loài thuộc bộ cánh cứng Coleoptera, 10 loài xuấthiện ở mức phổ biến Trên hàng nông sản xuất khẩu có 40 loài côn trùng hại nằmtrong 29 họ, thuộc 5 bộ Trong đó có 30 loài thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera) vàchỉ có 14 loài xuất hiện ở mức tương đối phổ biến
Kết quả nghiên cứu thành phần dịch hại trên giống côn trùng nhập nội tạikhu vực Hà Nội (Quách Viết Do, 1997) [9] đã điều tra, thu thập được 10 loài côn
Trang 23trùng, nhện hại trên giống cây trồng nhập nội 10 loài này đều là những loài nguyhiểm, có ảnh hưởng lớn đến năng suất, phẩm chất của nhiều loại cây trồng.
Kết quả điều tra thành phần loài côn trùng gây hại thóc dự trữ ở quy mô
hộ nông dân vùng Hà Nội cho thấy chỉ có 5 - 7 loài côn trùng gây hại, số lượngloài côn trùng gây hại ít hơn rất nhiều so với trong kho thóc dữ trữ đổ rời(Nguyễn Minh Màu, 1998) [22]
Báo cáo về thành phần loài côn trùng hại thóc dự trữ tại Hà Nội của NguyễnThị Bích Yên (1998) [53] cho thấy tác giả đã ghi nhận được 9 loài côn trùng gâyhại thuộc 8 họ của 3 bộ, trong đó có 3 loài thuộc nhóm gây hại sơ cấp và 6 loàinhóm gây hại thứ cấp
Thành phần loài côn trùng gây hại trong các kho thóc dự trữ đóng bao ởđồng bằng Sông Cửu Long ít hơn rất nhiều so với trong các kho thóc dự trữ đổrời và mới ghi nhận được 7 loài côn trùng là mọt gạo, mọt đục hạt nhỏ, mọt bộtnhỏ, mọt thóc Thái Lan, mọt râu dài, mọt răng cưa và mọt gạo dẹt (Vũ QuốcTrung, Bùi Minh Hồng, 1999) [37]
Theo Hoàng Trung (1999) [38] thành phần côn trùng hại kho ở 9 tỉnh phía bắcViệt Nam có 60 loài của 30 họ thuộc 7 bộ trong số này tập trung chủ yếu ở bộ cánhcứng 45 loài thuộc 22 họ
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Nguyễn Tứ Hải (2000 - 2003) [11] đã điềutra thành phần côn trùng trên giống cây trồng nhập nội là 53 loài, tập trung trong
10 bộ, chủ yếu là bộ Coleoptera 15 loài, Lepidoptera 14 loài
Đặng Việt Yên (2002) [54] đã thu thập được 16 loài sâu mọt trên mặt hàng
tỏi củ nhập từ Trung Quốc tại cửa khẩu Móng Cái Trong số đó bộ cánh cứng có
7 họ, bộ hai cánh (Diptera) có 1 họ, bộ cánh vảy (Lepidoptera) có 1 họ, lớp nhện
Acarina có 1 họ Những loài gây hại chính là Plodia interpunctella, Ephestia
cautella, Aracerus faciculatus trong số này thì Plodia interpunctella là nguy
hiểm nhất
Trang 24Phòng KDTV TW, (Cục BVTV) (2003) [28, 29] đã thống kê từ năm 1998đến năm 2002 toàn ngành đã phát hiện 40 loài côn trùng, gần 30 loài nấm bệnh, 58loài cỏ dại, Trong đó có 10 đối tượng KDTV của Việt Nam trên hàng hoá nhậpkhẩu Trong những năm qua sinh vật gây hại trên hàng nhập khẩu ngày càng nhiều,
đa dạng về loài Đặc biệt các đối tượng KDTV vật bị phát hiện tới gần 800 lần
Số liệu công bố gần đây về thành phần côn trùng trong kho thóc dự trữ đổrời ở vùng Hà Nội và phụ cận của Bùi Minh Hồng và Hà Quang Hùng (2004)[16] cho thấy đã ghi nhận được 15 loài côn trùng thuộc 11 họ của 3 bộ
Thành phần loài côn trùng trong kho thóc dự trữ đổ rời ở miền Bắc ViệtNam (Dương Minh Tú, 2004) [40] đã thu thập được 32 loài côn trùng thuộc 20
họ của 5 bộ Trong đó có 25 loài côn trùng gây hại (4 loài gây hại sơ cấp, 21loài gây hại thứ cấp) 7 loài côn trùng có ích (4 loài bắt mồi, 3 loài sống kýsinh), 3 loài côn trùng lần đầu tiên được bổ sung vào danh sách côn trùng trong
kho thóc dự trữ là Liposcelis entomophila E., Lipocelis bostrychophila B và
Cortcaria japonica R
1.2.2 Nghiên cứu sinh học, sinh thái học của sâu mọt hại nông sản
Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học côn trùng gây hạitrong kho không nhiều, chỉ có một số công trình được công bố như:
Đặc điểm sinh học và sinh thái học của mọt đậu xanh (Callosobruchus
chinensis) của Nguyễn Văn Đình (1964) [10] Đặc điểm sinh học, sinh thái học
của mọt gạo (Sitophilus oryzae L.) của Bùi Công Hiển (1976) [16].
Theo tài liệu của Vũ Quốc Trung (1978) [35], thuỷ phần gạo thích hợpnhất cho sự phát sinh và gây hại của mọt gạo và mọt bột đỏ là 15 - 20% Kếtquả nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học quần thể của các loài côn trùng gâyhại trong kho thóc ngoại thành Hà Nội của Bùi Công Hiển (1980) [13] và LêTrọng Trải (1980) [34]
Đặc điểm phát triển của mọt bột mỳ (Tribolium castanium Herbst.) của Vũ
Huy Tiếu (1986) [30]
Trang 25Theo Dương Minh Tú (1997) [39] vòng đời của mọt bột vàng Tenebrio
molitor nuôi trên bột mỳ ở 24,6°C, độ ẩm không khí tương đối 78% là 336 ngày
ở 25,8°C, độ ẩm không khí tương đối 75% là 257 ngày
Theo Nguyễn Thị Bích Yên (1998) [53] vòng đời trung bình của mọt đụchạt nhỏ khi nuôi trên gạo giã nhỏ có thủy phần là 10,3% ở nhiệt độ 25°C là 96,61ngày và 30°C là 67,2 ngày
Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của quầnthể mọt bột đỏ ở miền Bắc Việt Nam của Hà Thanh Hương (2002) [18] cho biết
vòng đời trung bình của mọt bột đỏ (Tribolium castaneum Herbst.) trong điều
kiện nhiệt độ 25°C là 99,62 ngày và 30°C là 70,9 ngày với ẩm độ 70%
1.2.3 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại lạc và thiệt hại của chúng
Cho đến nay, sâu hại là một trong những nguyên nhân hạn chế năng suất vàsản lượng, chất lượng lạc của nước ta Mặc dù vậy những nghiên cứu về sâu hạilạc chưa có nhiều, nhất là sâu hại lạc trong bảo quản sau thu hoạch
Theo tác giả Lê Văn Thuyết, Lương Minh Khôi (1992) [33] vùng Hà Nội
có 21 loài thường xuyên xuất hiện gây hại trên lạc Trong đó 10 loài gây hại có
ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế bao gồm: Sâu xám (Agrotis ipsilon Rotr.), bọ trĩ
(Caliothrips inducus Baynall.), rệp đen (Aphis craccivora Koch.), sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xanh Hellicoverpa armigera Hiib.), ban miêu sọc trắng (Epicauta gorhami Marseul.),
rầy xanh lá mạ (Empoasca flavescens Fabr.), châu chấu và sâu róm chỉ đỏ
(Euprotis sp.).
Trong những năm 1995 - 1996, các chuyên gia ICRISAT (1993) [70] đãphối hợp với các cán bộ trong nước tiến hành điều tra giám định thành phần sâuhại lạc và nghiên cứu các biện pháp phòng trừ ở Việt Nam Kết quả nghiên cứucho thấy, ở miền Bắc có tới 51 loài sâu hại được phát hiện trên lạc, trong đó có
47 loài hại trên đồng ruộng và 4 loài trong kho Các loài sâu hại quan trọng, gây
tác hại đáng kể nhất ở miền Bắc là sâu khoang (Spodoptera litura), sâu đục hoa,
Trang 26đục quả đậu (Macura testulalis), sâu xanh (Hellicoverpa armegara), bọ phấn, bọ trĩ (Scirlothrip dorsalis), rệp (Aphis craccivora) và sâu đục lá (Aproaerema
modicella) Ngoài ra, sùng trắng (Lepidiota sp.) cũng gây hại đáng kể ở một số
vùng đất bãi ven sông Các loài hại trong kho gồm: Tribolium castaneum,
Corcyra cephanonica, Ephestia cautella, Mites.
Theo tác giả Phạm Thị Vượng (1998) [52] trong năm 1967 - 1968, kết quảđiều tra ở một số tỉnh trồng lạc thuộc miền Bắc Việt Nam, ban điều tra cơ bản sâubệnh hại cây trồng của Bộ nông nghiệp đã công bố có 45 loài côn trùng hại lạc.Theo tác giả Nguyễn Tứ Hải (2000 – 2003) ở Miền Nam có 30 loài sâu hạikhác nhau, trong đó 28 loài gây hại trên đồng ruộng và 2 loài gây hại trong kho
đã được xác định Các loài sâu hại lạc quan trọng nhất ở các tỉnh phía Nam là sâu
khoang (S litura), sâu xanh (H armigera), sâu róm (Plusia sp.), sâu keo da láng (S exiqua), sâu đục lá (A modicella) và sâu đục hoa và quả đậu (M testulalis) Hai loài trong kho là Tribolium castaneum, Corcyra cephanonica.
Tác giả Ngô Thế Dân, Nguyễn Xuân Hồng, Đỗ Thị Dung, Nguyễn ThịChinh, Vũ Thị Đào, Phan Văn Toàn, Trần Đình Long và C-L-L GOW DA (2000)[6] cũng đã ghi nhận trên cây lạc ở Miền Nam có 30 loài sâu hại khác nhau Các
loài quan trọng nhất là sâu khoang, sâu xanh, sâu đục lá (Aproaerema modicella)
và sâu đục quả đậu đỗ (Maruca testulaslis Geyer.).
Tại Hà Tĩnh tác giả Nguyễn Đức Khánh (2002) [19] cho biết trong 36 loàisâu hại thu được trên lạc thì chỉ có 4 loài gây hại chính là sâu đục quả đậu đỗ, sâu
cuốn lá (Archips asiaticus Walsingham.), sâu khoang, sâu xanh.
Trong vụ lạc xuân tại Thanh Hoá tác giả Lê Văn Ninh (2002) [23] đã ghinhận được 24 loài sâu hại lạc
Như vậy qua nghiên cứu cho thấy thiệt hại về năng suất lạc do sâu mọt gây
ra là rất lớn nhưng ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới, việc nghiên cứucôn trùng hại lạc sau thu hoạch và biện pháp phòng trừ chúng chưa được nhàkhoa học quan tâm nghiên cứu
Trang 27CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
(1) Điều tra thành phần loài sâu mọt hại lạc và thiên địch của chúng trongbảo quản lạc xuất khẩu trên loại hình kho chuyên và không chuyên bảo quản lạc (2) Điều tra mật độ sâu mọt hại lạc trong kho chuyên và không chuyên bảoquản lạc xuất khẩu
(3) Nghiên cứu hình thái, một số đặc điểm sinh học và sinh thái học của
mọt Carpophilus dimidiatus Fabr hại lạc trong bảo quản lạc xuất khẩu.
(4) Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ quần thể mọt Carpophilus
dimidiatus Fabr tại Nghệ An.
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Điều tra, thu thập xác định thành phần loài và mật độ của các loài sâu mọthại lạc trong kho chuyên, không chuyên bảo quản lạc và thiên địch của chúng tạitỉnh Nghệ An
Xác định sự phân bố của các loài sâu mọt hại lạc trong kho chuyên vàkhông chuyên bảo quản lạc tại 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh
Xác định đặc điểm hình thái, thời gian phát dục, sức sinh sản, ảnh hưởngcủa thủy phần hạt lạc đến khả năng gây hại và diễn biến của quần thể mọt
Carpophilus dimidiatus Fabr trong bảo quản lạc xuất khẩu tại tỉnh Nghệ An.
Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ bằng xử lý nhiệt và thuốc hóa học
đến quần thể mọt Carpophilus dimidiatus Fabr tại tỉnh Nghệ An.
2.3 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
Trang 282.3.1 Dụng cụ nghiên cứu
* Dụng cụ điều tra gồm có:
- Túi đựng mẫu, xiên mẫu
- Lọ độc KCN, ống tuýp đựng mẫu côn trùng, bút lông, panh, ống hút côntrùng
- Vợt côn trùng (đường kính 30cm), túi nylon đựng mẫu
- Kính lúp cầm tay, đèn pin, dao, kéo
* Dụng cụ trong phòng gồm:
- Tủ sấy, tủ kính nuôi sâu mọt
- Kính lúp 2 mặt soi nổi
- Hộp nhựa nuôi sâu mọt
- Khay phân tích mẫu, hộp petry
- Máy đo thủy phần hạt, ôn kế, ẩm kế, cân điện tử
- Các hóa chất dùng để xử lý mẫu côn trùng
2.3.2 Vật liệu nghiên cứu
- Các kho chuyên và không chuyên bảo quản lạc
- Lạc vỏ, lạc nhân các loại
- Các loại côn trùng hại kho lạc
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Điều tra thành phần và mật độ sâu mọt trong kho lạc
* Thực hiện theo quy trình tiêu chuẩn ngành với lô hàng hạt xuất khẩu:Kiểm dịch thực vật phương pháp kiểm tra các loại hạt xuất khẩu, nhập khẩu vàquá cảnh (10TCN 337- 98) [2]
Trang 29* Phương pháp lấy mẫu theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) kiểm dịch thựcvật (TCVN 01 - 141: 2013/ BNNPTNT) [1].
- Thu thập mẫu: Chủ yếu thu bắt trưởng thành, sâu non, nhộng qua quan sátbằng mắt thường nơi chúng thường tập trung như nền kho, góc kho, kẽ nứt, chântường Các vật dụng làm kệ, kê lót hàng, nơi lưu trữ tập trung bao bì, nơi ẩmthấp, nơi có nhiều hàng tồn đọng lâu, hàng mục nát,
- Khi thu bắt mọt cánh cứng: Dùng ống hút côn trùng, hoặc bút lông, kẹpgạt côn trùng rơi vào miệng ống nghiệm rồi dùng nút bông bịt ống nghiệm lại.Nơi có nhiều sản phẩm bị hại, vật phẩm mục nát thì dùng rây nhiều cỡ để rây,tách côn trùng
- Đối với trưởmg thành cánh vảy khi thu bắt cần chú ý chúng có tính bayngược lên phía trên Do vậy khi đặt ống nghiệm cần đón đầu rồi dùng bút lônggạt nhẹ vào ống nghiệm Ngoài ra còn có thể dùng vợt để thu bắt trưởng thànhkhi chúng đang bay hoặc ở vị trí cao
- Đối với sâu non, nhộng cần lưu ý các kẽ nứt, chân tường, nơi có các vậtphẩm mục nát, thu thập các mẫu hàng bị hại mang về phòng bóc, tách để tìmchúng
- Số lần bắt gặp mẫu:
Tần suất bắt gặp (%) = Số lần bắt gặp mẫu x 100
Tổng số lần điều tra
+++: Xuất hiện nhiều (f ≥ 70% số lần bắt gặp)
++ : Xuất hiện trung bình (35% < f < 70% số lần bắt gặp)
+ : Xuất hiện ít ( f ≤ 35% số lần bắt gặp)
- Mật độ (con/kg):
Mật độ (con/kg) = Tổng số con điều tra (con)
Đơn vị điều tra (kg)
Trang 302.4.2 Tìm hiểu đặc điểm nhận biết một số loài sâu mọt gây hại trên lạc
Các mẫu thu thập được đem về phòng thí nghiệm giám định, theo dõi, chụpảnh, mô tả (mẫu lạc bị hại và mẫu sâu mọt)
Các mẫu sâu mọt trưởng thành được bảo quản để giám định Các mẫunhộng, sâu non tiếp tục được nuôi theo dõi các pha tiếp theo Mẫu lạc bị hại dùng
để quan sát các triệu chứng gây hại chủ yếu, các đặc điểm gây hại của từng loàisâu hại
2.4.3 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr.
Quan sát, mô tả, đo đếm kích thước từng pha của mỗi quần thể mọt
Carpophilus dimidiatus Fabr.
- Pha trứng: Đo chiều dài và chiều rộng của trứng theo thời gian phát dục
- Pha sâu non: Đo chiều dài và độ rộng đầu
- Pha nhộng và pha trưởng thành: Đo chiều dài và phần rộng nhất của cơ thể(Phần ngực)
Kích thước trung bình tính theo công thức:
Theo dõi thời gian phát dục của quần thể mọt Carpophilus dimidiatus Fabr.
theo từng pha phát dục: Trứng, sâu non, nhộng và trưởng thành Bố trí thí nghiệmtheo phương pháp nuôi cá thể (60 cá thể) trên lạc nhân với thủy phần ban đầu của
Trang 31hạt là 14% và điều kiện nhiệt độ, ẩm độ trong phòng Từ đó tính toán các chỉ tiêuvòng đời và thời gian phát dục của từng pha.
∑Xi.ni
Thời gian phát dục trung bình của cá thể: X =
N
Trong đó:
X: Thời gian phát dục trung bình
Xi: Thời gian phát dục của cá thể thứ i
ni: Số cá thể lột xác trong ngày thứ iN: Tổng số cá thể thí nghiệm
Tính sai số theo công thức:
X = X ±
2.4.4.2 Nghiên cứu khả năng sinh sản của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr.
Bố trí thí nghiệm với các cặp trưởng thành mới vũ hoá (n = 20), theo dõi:
- Khả năng đẻ trứng trung bình của một cá thể cái (Đẻ trứng (ĐT)/con cái)
ĐT/ con cái = Tổng số trứng đẻ (quả) x 100
Tổng số con cái (con)
- Số trứng đẻ trung bình trong ngày của một con cái (Số trứng (ST)/ngày)
ST/ ngày = Tổng số trứng đẻ (quả/con) x 100
Tổng thời gian đẻ (quả/con/ngày)
2.4.5 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 2.4.5.1 Ảnh hưởng của thuỷ phần hạt lạc đến diễn biến quần thể mọt
Carpophilus dimidiatus Fabr.
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm đối với loài mọt Carpophilus dimidiatus
Fabr ở các công thức có thuỷ phần hạt lạc là 8%, 14% và 20%, nhằm tìm ra thuỷ
Trang 32phần hạt thích hợp và không thích hợp cho sự phát triển của mọt Từ đó có cácbiện pháp hạn chế sự phát sinh, phát triển của chúng trên lạc nhân Sau thời gian
30, 45, 60, 75, 90 ngày, chúng tôi bóc tách hạt để kiểm tra sức tăng mật độ quầnthể của mỗi loài ở các công thức Ở mỗi thuỷ phần chúng tôi bố trí mọt với mật
độ 10 con/hộp, với tỷ lệ đực : cái là 50 : 50 Các công thức nhắc lại 3 lần Các chỉtiêu theo dõi là: Tổng số cá thể (con), tỷ lệ mọt chết (%), tỷ lệ sâu non (%)
- Tỷ lệ mọt chết (%) =
Số mọt chết
x 100Tổng số cá
thể
- Tỷ lệ sâu non (%) =
Số sâu non
x 100Tổng số cá
Carpophilus dimidiatus Fabr trên lạc nhân với 3 mức thuỷ phần khác nhau là
8%, 14% và 20% Trên mỗi thuỷ phần của lạc, chúng tôi tiến hành bố trí các mật
độ quần thể khác nhau là 10 cặp/kg, với tỷ lệ đực : cái là 50 : 50 Các công thứcđược nhắc lại 3 lần
Các thí nghiệm được tiến hành kiểm tra định kỳ sau 30, 45, 60, 75, 90 ngày
Từ đó chúng tôi xác định khả năng gây hại của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr.
ở từng thời điểm trên các thủy phần khác nhau của lạc nhân và sự liên quan giữa
tỷ lệ % hao hụt với mật độ quần thể mọt ban đầu
Lạc nhân sử dụng trong thí nghiệm được chọn lựa kĩ, loại bỏ những tạpchất cơ học, những hạt bị sâu bệnh Sau đó hạt lạc được xử lý ở nhiệt độ 45 -
500C đưa về thuỷ phần 8%, 14% và 20% Để đảm bảo cho mọt có thể sốngbình thường trong khoảng thời gian 3 tháng, chúng tôi bố trí mỗi thí nghiệm
Trang 331kg lạc nhân Sau khi gây nhiễm mọt, các mẫu này được đặt trong tủ kính,theo dõi hàng ngày về nhiệt độ, ẩm độ của môi trường, cũng như quá trình gâyhại của mọt đối với lạc nhân.
Công thức tính trọng lượng hao hụt:
Trong đó:
X (%): Phần trăm hao hụt trọng lượng
D0: Trọng lượng khô ban đầu
Dc: Trọng lượng khô tại thời điểm kiểm tra
2.4.6 Phương pháp nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ mọt Carpophilus
dimidiatus Fabr.
- Phương pháp xử lý nhiệt
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm đối với loài mọt Carpophilus dimidiatus
Fabr ở các công thức có độ phơi dày khác nhau: 15, 20, 25, 30 cm ở điều kiệnnhiệt độ 30 - 35°C và 40 - 45°C nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự
phát triển của mọt Từ đó có biện pháp khuyến cáo phòng trừ mọt Carpophilus
dimidiatus Fabr Ở mỗi điều kiện nhiệt độ chúng tôi bố trí mọt 100 con/1kg lạc
với thời gian phơi 5 giờ, thuỷ phần lạc trước khi phơi là 14%, số lần đảo xới là
10 lần Các công thức được nhắc lại 3 lần Chỉ tiêu theo dõi: Đo thuỷ phần lạcsau khi phơi ở các mức phơi có độ dày khác nhau
- Phương pháp nghiên cứu hiệu lực thuốc Phosphine (PH 3 )
Mọt Carpophilus dimidiatus Fabr được nhân nuôi trong các hộp nhựa
(chiều cao 40cm, đường kính 20cm) có nắp lưới ngăn côn trùng Nhộng có cùngngày tuổi thu thập được từ các hộp nuôi côn trùng sẽ được chuyển sang các hộp
0 - Dc
x 100
D0
Trang 34nuôi mới vũ hoá và giao phối Sử dụng các cá thể trưởng thành để đưa vào thínghiệm Chúng tôi sử dụng 100 cá thể trưởng thành /công thức/lần nhắc lại Thínghiệm gồm 8 công thức, nhắc lại 3 lần.
ép có thế tích 1m3 Đặt thuốc Phosphine ở liều lượng thí nghiệm vào trong thùngxông hơi rồi dùng giấy Krafi và hồ làm kín thùng xông hơi Kết thúc thời gianxông hơi, mở nắp dùng quạt đảo khí để thông thoáng trong thời gian 2 giờ Sau
đó lấy các hộp đựng côn trùng ra khỏi thùng xông hơi để kiểm tra số lượng cá thểsống, chết ở các thời điểm sau khi kết thúc xông hơi 2 giờ, 7 ngày và 14 ngày Dùng công thức Abbott để tính hiệu quả:
H (%) = Ca - Ta x 100
CaTrong đó:
H (%): Hiệu quả của thuốc
Ca : Số lượng côn trùng sống ở công thức đối chứng sau xử lý
Ta : Số lượng côn trùng chết ở công thức thí nghiệm sau xử lý
2.5 Phương pháp định loại
Trong quá trình phân tích, định loại sâu mọt, chúng tôi sử dụng chủ yếu cáctài liệu định loại côn trùng trong kho của các tác giả Dobie, P Haines, C P.Hodges; R J and prevett, P E (1985) [63]; Bùi Công Hiển (1995) [14]
Trang 352.6 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.6.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ tháng 6/2014 đến9/2015
2.6.2 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm điều tra thành phần, thu thập mẫu được tiến hành chủ yếu ở tỉnhNghệ An và các vùng phụ cận (tỉnh Thanh Hoá, Hà Tĩnh)
- Địa điểm phân tích giám định mẫu và các thí nghiệm về sinh học, đánh giáthiệt hại được tiến hành tại phòng kỹ thuật Chi cục KDTV vùng VI – 28 Trầnphú - Thành phố Vinh – tỉnh Nghệ An (Trực thuộc Cục BVTV)
Trang 36CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thành phần sâu mọt hại kho bảo quản lạc và thiên địch của chúng
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
3.1.1 Thành phần sâu mọt hại kho không chuyên bảo quản lạc ở tỉnh Nghệ
An
Điều tra trên các kho không chuyên bảo quản lạc ở Nghệ An kết quả cho thấythành phần sâu hại khá phong phú gồm 20 loài thuộc 13 họ của 02 bộ côn trùng.Trong số 20 loài thu thập được thì có tới 18 loài thuộc bộ Coleoptera (chiếm 90%
số loài) bộ Lepidoptera chỉ ghi nhận được 2 loài (chiếm 10%) (bảng 3.1)
Qua theo dõi, quan sát cho thấy phần lớn các côn trùng có mặt và gây hạitrên lạc ở những kho không chuyên dùng là từ các vật phẩm khác xếp chungtrong kho Có những mặt hàng như: Gạo, ngô, đậu đỗ, nhất là thức ăn gia súc bịcác côn trùng gây hại đã lây lan sang lạc rất nhanh Căn cứ vào đặc điểm, tínhchất gây hại của các loài trong kho lạc, có thể phân các đối tượng gây hại nàythành ba nhóm như sau:
Nhóm gây hại sơ cấp có 05 loài (chiếm 25%) gồm mọt cà phê (Aracerus
fasciculatus De Geer), mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica Fabr.), mọt gạo (Sitophilus oryzae L.), mọt thóc Thái lan (Lophocateres pusillus Klug.) và mọt
ngô (Sitophilus zeamais Motsch.) Trong đó có 2 loài rất phổ biến ở các kho nông sản đó là Sitophilus oryzae L., Rhizopertha dominica Fabr.
Nhóm gây hại thứ cấp gồm 15 loài (chiếm 75%) Trong nhóm này chúng tôi
phát hiện 02 loài thuộc giống Carpophilus đó là: Tribolium castaneum và
Ephestia cautella có trên lạc nhân, lạc vỏ và trên bao bì Loài Oryzaephilus surinamensis có trên lạc vỏ, nhưng tác hại của các loài này đối với lạc chưa
được xác định rõ ràng
Trang 37Bảng 3.1 Thành phần sâu mọt trong kho không chuyên bảo quản lạc ở tỉnh Nghệ An
phổ biến
Nhóm Hại thứ cấp
Hại sơ cấp
9 Mọt thò đuôi điểm vàng Carpophilus hemipterus L. Nitidulidae Coleoptera ++ x
Trang 38Stt Tên Việt Nam Tên khoa học Họ Bộ phổ biến Mức độ
Nhóm Hại thứ cấp Hại sơ cấp
13 Mọt khuẩn đen to Alphitobius diaperinus Pans. Tenebrionidae Coleoptera ++ x
14 Mọt khuẩn đen nhỏ Alphitobius leavigatus Fabr. Tenebrionidae Coleoptera ++ x
Ghi chú: +++: Xuất hiện nhiều (f ≥ 70% số lần bắt gặp)
++ : Xuất hiện trung bình (35% < f < 70% số lần bắt gặp)
+ : Xuất hiện ít ( f ≤ 35% số lần bắt gặp)
Trang 39Về mức độ phổ biến của từng loài chúng tôi thấy có sự khác nhau Trong đó
có các loài xuất hiện với tần suất cao như mọt đục hạt (Rhizopertha dominica Fabr.), mọt gạo (Sitophilus oryzae L.), mọt thò đuôi (Carpophilus dimidiatus Fabr.), mọt râu dài (Latheticus oryzae Waterhouse.), mọt mắt nhỏ (Patorus
ratzeburgi Wissm.), mọt thóc đỏ (Tribolium castaneum Fabr.) thuộc bộ cánh
cứng (Coleoptera) và ngài bột điểm (Ephestia cautella Walker.) thuộc cánh vảy (Lepidoptera) Số lượng loài có mức độ xuất hiện ít như mọt cà phê (Aracerus
fasciculatus De Geer.), mọt thuốc lá (Lasioderma serricorne Fabr.), mọt đầu dài
(Latheticus oryzae Waterhouse.), ngài gạo (Corcyra cephalonica S.), Còn lại là
xuất hiện các loài có mức độ phổ biến ở mức trung bình Theo nhận xét củachúng tôi thì những loài hại thứ cấp thường xuất hiện nhiều ở các kho vệ sinhkhông thường xuyên sạch sẽ
Các loài gây hại sơ cấp thựờng xuất hiện nhiều ở các kho lạc có lẫn nhiềucác nông sản khác như ngô, sắn, đã để lâu ngày
Trong kho lạc, chúng tôi nhận thấy có những loài rất phổ biến như mọt
gạo dẹt (Ahasverus advena Wall.), mọt gạo (Sitophilus oryzae L.), nhưng hầu
như không có tác hại trực tiếp gì đối với lạc hoặc tác hại của chúng trên lạckhông biểu hiện rõ ràng Tuy nhiên trên phương diện kiểm dịch thực vật, các loài
có mật độ cao đều được coi là nguy hiểm Vì sự có mặt của chúng với mật độ caođều khó được các nước nhập khẩu chấp nhận (mặc dù các loài này không phải làđối tượng KDTV của nước nhập khẩu) Mặt khác, nếu để kho bẩn, các loài nàyphát sinh với số lượng lớn cũng có khả năng gây hại cho lạc nhân Bởi vì các loàinày tuy không gây hại trực tiếp đối với lạc nhân, nhưng sự có mặt của chúngnhiều sẽ làm tăng độ ẩm của hạt lạc dẫn đến lạc dễ bị mốc, thay đổi màu sắc hoặc
bị lên men Với các thay đổi này, lạc nhân đều không có giá trị xuất khẩu Trongquá trình điều tra này, chúng tôi không phát hiện thấy loài sâu mọt nào là đốitượng kiểm dịch thực vật của Việt Nam
So sánh số liệu điều tra của chúng tôi với thành phần loài sâu mọt kho củangành Kiểm dịch thực vật thấy rằng: Thành phần này rõ ràng là ít hơn nhiều so
Trang 40với thành phần sâu mọt hại kho của ngành KDTV đã điều tra từ năm 1998 - 2002
là 115 loài theo kết quả điều tra của Trung tâm phân tích giám định – Cục Bảo vệThực vật [41] Hoặc so với kết quả điều tra năm 1999 tại 9 tỉnh phía Bắc củaHoàng Trung là 60 loài [38]
So sánh thành phần loài sâu mọt trong kho không chuyên bảo quản lạc vớithành phần loài sâu mọt trong kho nói chung ở Việt Nam của Nguyễn Thị GiángVân (l996) [47] thì số loài sâu mọt trong kho không chuyên bảo quản lạc là 110loài, như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ chiếm 18% (20 loài so với
110 loài) so với kết quả đã công bố ở Việt Nam và các khu vực khác
3.1.2 Sự phân bố của các loài sâu mọt trong kho không chuyên bảo quản lạc
ở 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh
Bên cạnh điều tra thành phần chúng tôi đã tiến hành điều tra sự phân bố củacác loài về mức độ xuất hiện ở 3 tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa và Hà Tĩnh Kết quảđược ghi nhận ở bảng 3.2
Qua bảng 3.2 nhận thấy ở các địa điểm khác nhau số lượng loài xuất hiệnvới mức độ phân bố khác nhau giữa 3 tỉnh
- Tại tỉnh Thanh Hoá: Đã thu thập được 16 loài sâu mọt thuộc 12 họ của 2