TƯỞNG HÙNG QUANG XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI, BÀI TẬP ĐỂ RÈN KĨ NĂNG PHÂN TÍCH –TỔNG HỢP CHO HỌC SINH CHUYÊN SINH TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SINH THÁI HỌC Chuyên ngành: Lý luận và PPDH môn
Trang 1TƯỞNG HÙNG QUANG
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI, BÀI TẬP
ĐỂ RÈN KĨ NĂNG PHÂN TÍCH –TỔNG HỢP CHO HỌC SINH CHUYÊN SINH TRONG DẠY HỌC
CHUYÊN ĐỀ SINH THÁI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH môn Sinh học
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH NHÂM
VINH - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Vinh, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Tưởng Hùng Quang
Trang 3Lời cám ơn
Hoàn thành đề tài này, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hớng dẫn khoa học PGS TS Nguyễn Đình Nhâm, ngời đã tận tình hớng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu Tôi xin chân thành cám ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa sinh Trờng Đại học Vinh đã có những ý kiến đóng góp quý báu cho đề tài.
Cám ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo trong Tổ sinh học Trờng THPT Chuyên Hà Tĩnh
đã tạo điều kiện và hợp tác cùng với tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan……….…….…….i
Lời cám ơn……… …… …….ii
Mục lục………………… iii
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt………… … ……iv
Danh mục các bảng số liệu……… … v
Danh mục các hình vẽ hoặc đồ thị……….……vi
MỞ ĐẦU………. 1
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU…… ……….…… 4
Chương I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI……… …4
1.1.Cơ sở lí luận của đề tài……… …….… 4
1.1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ……………… 4
1.1.2 Cơ sở lý luận về kĩ năng……… ……… …6
1.1.3 Cơ sở lý luận về câu hỏi, bài tập ………… ……… …13
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài ……….18
Chương II SỬ DỤNG CÂU HỎI, BÀI TẬP ĐỂ RÈN KĨ NĂNG PHÂN TÍCH – TỔNG HỢP CHO HỌC SINH CHUYÊN SINH TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SINH THÁI HỌC … 19
2.1 Phân tích nội dung và cấu trúc phần sinh thái học ……… 19
2.1.1 Mục tiêu phần sinh thái học – THPT………… …… 19
2.1.2 Vị trí, vai trò phần sinh thái học – THPT……… ……… ….20
2.1.3 Nội dung phần sinh thái học - THPT….….……… 20
2.2 Quy trình xây dựng câu hỏi – bài tập để rèn kĩ năng phân tích – tổng hợp cho học sinh chuyên sinh trong dạy học chuyên đề sinh thái học 22
2.3 Hệ thống câu hỏi, bài tập rèn kĩ năng phân tích – tổng hợp……… 24
2.4 Quy trình sử dụng câu hỏi - bài tập để rèn kĩ năng phân tích – tổng hợp bằng hệ thống châu hỏi, bài tập ……… 53
2.4.1 Nguyên tắc rèn luyện kĩ năng phân tích – tổng hợp………… … 53
2.4.2 Quy trình chung rèn kĩ năng phân tích – tổng hợp………… ……54
2.5 Vận dụng quy trình để rèn luyện kĩ năng phân tích – tổng hợp 56
2.6 Tiêu chí đánh giá việc rèn kĩ năng phân tích – tổng hợp…… ……66
Chương 3.THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ………68
3.1 Mục đích thực nghiệm……… ……….… 68
3.2 Đối tượng thực nghiệm……… ……… 68
3.3 Nội dung thực nghiệm……… … ……68
3.4 Bố trí thực nghiệm ……… ……… …… ……69
3.5 Xử lí kết quả thực nghiệm………… ……….…… 69
3.6 Phân tích kết quả thực nghiệm về việc rèn luyện kĩ năng phân tích – tổng hợp ……… 69
3.6.1 Phân tích định lượng ……….……… 69
3.6.2 Phân tích định tính ……… 74
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ……… ……….…… 76
Tài liệu tham khảo … 77 Phụ lục
Trang 5DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các kiểu phân bố cá thể của quần thể….……….10
Bảng 2.1: Nội dung phần sinh thái học.………21
Bảng 2.2.Hệ thống CH-BT và yêu cầu đáp án đạt được……… … 24
Bảng 2.3 Tiêu chí đánh giá việc rèn kĩ năng PT-TH……… ………….66
Bảng 2.4 Đánh giá việc rèn luyện kĩ năng theo từng tiêu chí 66
Bảng 3.1 Bảng tổng hợp kết quả các lần kiểm tra kĩ năng PT-TH ….……….…70
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp mức độ về các tiêu chí của kĩ năng PT-TH ……… 70 Bảng 3.3 Bảng tổng hợp mức độ của từng tiêu chí của kĩ năng PT-TH….….…72
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ HOẶC ĐỒ THỊ
Sơ đồ 1.1 Các nhân sinh thái……….8
Sơ đồ 1.2 Các loại môi trường……….10Tranh sơ đồ 1.1 Lưới thức ăn trong hệ sinh thái rừng……….11
Đồ thị 3.1 Đồ thị biểu diễn các mức độ về kĩ năng PT-TH trước, trong
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Việt Nam chúng ta đang ở thời kì đổi mới mạnh mẽ với sự nghiệp công nghiệphóa – hiện đại hóa Đất nước, hợp tác Quốc tế ngày càng sâu rộng Điều này đangtiếp tục đòi hỏi cấp thiết phải đào tạo một nguồn nhân lực đủ về số lượng, đảm bảo
về chất lượng đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập
Chất lượng và số lượng nguồn lực nói trên phụ thuộc vào sự nghiệp Giáo dục
và đào tạo, trong đó hệ thống các trường THPT chuyên trong toàn quốc hiện đangđóng một vai trò hết sức quan trọng Việc bồi dưỡng cho học sinh (HS) chuyên nóichung và HS chuyên sinh nói riêng hiện nay cũng cần phải thường xuyên được đổimới và phải luôn bám sát mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông, tiếp cận nộidung, yêu cầu thi học sinh giỏi (HSG) Quốc gia, Quốc tế Vì vậy, trong dạy họcgiáo viên (GV) cần chú trọng đến việc phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lựcđộc lập, năng lực vận dụng, ứng dụng tri thức vào thực tiễn cho các em HS
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Hội nghị ban chấphành Trung ương Đảng lần thứ 8 (Khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáodục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiệnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã đề ra nhữngmục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể cho giáo dục đào tạo trong thời gian tới.Trong đó đặc biệt nhấn mạnh mục tiêu đào tạo con người theo hướng phát triểnnăng lực
Ở các trường THPT chuyên hiện nay, việc dạy học cần phải đạt được các mụcđích:
- Phát triển cho HS các kĩ năng phân tích – tổng hợp (PT-TH), khái quát hóa,trừu tượng hóa, tư duy logic; khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề, đặc biệt làcác vấn đề nảy sinh từ thực tế cuộc sống; khả năng ngôn ngữ, kĩ năng trình bày diễnđạt ý tưởng khoa học và khả năng thích ứng với xã hội
- Rèn luyện cho HS phương pháp, thói quen tự học, tự nghiên cứu, tìm tòikhám phá phát hiện vấn đề
- Rèn luyện cho HS kĩ năng thu thập, phân loại và xử lí thông tin từ các nguồntài liệu, tư liệu khác nhau
- Trang bị cho HS phương pháp nghiên cứu khoa học và tập dượt, tiến hànhnghiên cứu khoa học
Với các loại tài liệu phong phú đa dạng của bộ môn Sinh học (SH) hiện nay
Trang 9về mặt cập nhật kiến thức đã tiếp cận với nội dung, yêu cầu thi HSG Quốc gia,Quốc tế Tuy nhiên việc xây dựng hệ thống các câu hỏi, bài tập (CH-BT) đi cùngquy trình sử dụng một cách khoa học, hiệu quả hệ thống các CH-BT cho đối tượng
HS chuyên vẫn luôn rất cần thiết và ý nghĩa
Trong quá trình tổ chức dạy học ở mỗi phần, mỗi chủ đề kiến thức đều phảihướng tới rèn luyện cho HS các kĩ năng Để thực hiện mục tiêu trên có nhiều biệnpháp, và chúng tôi cho rằng sử dụng các CH-BT để tổ chức hoạt động học tập cho
HS là một biện pháp mang lại hiệu quả cao
Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập
để rèn luyện kĩ năng phân tích – tổng hợp cho học sinh chuyên sinh trong dạy học chuyên đề sinh thái học”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng CH-BT để rèn luyện kĩ năng PT-TH cho HS chuyên sinhtrong quá trình dạy học chuyên đề Sinh thái học góp phần nâng cao chất lương dạyhọc
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các CH-BT và phương pháp sử dụng CH-BT để rèn luyện kĩ năng PT-TH cho
HS chuyên sinh trong quá trình dạy học chuyên đề STH
3.2 Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy học cho HS đội dự tuyển và đội tuyển tham dự thi HSG Quốcgia môn SH lớp 12 bằng cách sử dụng CH-BT
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng hệ thống CH-BT khoa học, phù hợp với đối tượng và có quytrình sử dụng CH-BT hợp lí thì sẽ rèn luyện cho HS chuyên sinh phát triển tốt kĩnăng PT-TH
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về kí năng , về xây dựng và sử dụng CH-BTtrong dạy học sinh học
5.2 Điều tra thực trạng sử dụng CH-BT để rèn luyện kĩ năng PT-TH cho học sinhchuyên sinh trong bồi dưỡng HSG Quốc gia phần sinh thái học
5.3 Phân tích nội dung chuyên đề Sinh thái học để làm cơ sở thiết kế hệ thốngCH-BT
5.4 Xây dựng và sử dụng hệ thống CH-BT để rèn luyện kĩ năng PT-TH chohọc sinh chuyên sinh trong bồi dưỡng HSG Quốc gia phần snh thái học
Trang 105.5 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng CH-BT đã
đề xuất
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Nghiên cứu các tài liệu về chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nướctrong công tác giáo dục
- Nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài để tổngquan tình hình nghiên cứu, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
6.2 Phương pháp chuyên gia:
Gặp gỡ, trao đổi với các chuyên gia trong lĩnh vực mà mình nghiên cứu, từ đó
có những định hướng cho việc nghiên cứu đề tài
6.3 Phương pháp điều tra:
Thông qua hình thức dự giờ, quan sát, trưng cầu ý kiến, tiếp xúc trao đổi với
GV để tìm hiểu thực trạng xây dựng và sử dụng CH-BT để bồi dưỡng HS chuyên.6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính đúng đắn của giả thuyết khoahọc và mức đạt được mục tiêu của đề tài
6.5 Phương pháp thống kê toán học:
Trên cơ sở thu thập số liệu và xử lí bằng các tham số thống kê để khái quát kếtquả nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn được trình bày bởi 3 phần chính:
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Xây dựng và Sử dụng câu hỏi, bài tập để rèn luyện kĩ năng phân tích - tổng hợp cho học sinh chuyên sinh trong dạy học chuyên đề Sinh thái học Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Trang 11NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1.1 Trên thế giới
Trên thế giới, đã từ lâu ở nhiều nước tiên tiến người ta đã sử dụng CH-BT vớivai trò là phương tiện dạy học Qua thực tế cho thấy loại phương tiện dạy học nàymang lại hiệu quả dạy học cao nên đã có nhiều tài liệu về lí luận dạy học khuyếnkhích sử dụng CH-BT để rèn luyện tính chủ động tích cực học tập của học sinh ỞLiên Xô (cũ), đã có nhiều tài liệu đề cập đến nội dung phương pháp thiết kế và sửdụng cũng như vai trò giá trị của CH-BT trong dạy học như: Socolovskaia 1971,Abramova, P.B.Gophman, Kadosnhicov, Laixeva, Karlinxki 1975, 1979 Các tác giả
đã trình bày các quan điểm về bản chất, ý nghĩa của CH-BT trong dạy học Hệ thốngcác CH-BT mà các tác giả thiết kế đã trở thành những công cụ góp phần cải tiếnphương pháp dạy học phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinhtrong các trường ở Liên Xô thời bấy giờ
Trong thập kỉ 70 của thế kỷ XX, ở một số nước trong đó có Pháp, các tài liệu
lý luận dạy học có chú ý khuyến khích dùng bài tập để rèn luyện tính tích cực, chủđộng của học sinh Họ quan niệm bài tập vừa là phương pháp, vừa là nội dung, vừa làbiện pháp dạy học cụ thể Đồng thời, trong chừng mực nào đó nó còn được coi làmục tiêu của việc dạy học Do đó bài tập cần được thiết kế và sử dụng hợp lý
Tuy nhiên cơ sở lí luận của việc sử dụng CH-BT vẫn chưa được nghiên cứumột cách hệ thống Đặc biệt là quy trình thiết kế và sử dụng CH-BT trong dạy họcnhư thế nào thì chưa được bàn đến nhiều cho nên giá trị của việc sử dụng CH-BTtrong dạy học chưa được đề cao
1.1.1.2 Ở trong nước
Trong những năm gần đây, sự đổi mới về đường lối quản lí giáo dục củaĐảng ta đã mở ra một giai đoạn phát triển mạnh trong nghiên cứu phương pháp dạyhọc Đặc biệt là nghiên cứu phương pháp nhằm phát huy tính tích cực chủ động của
HS trong học tập, cũng như chú trọng rèn luyện kĩ năng hướng tới hình thành pháttriển năng lực cho người học
Các bộ môn như Toán, Vật lí, Hoá học đã từ lâu đã có nhiều công trìnhnghiên cứu, sử dụng CH-BT trong dạy học như các công trình của: Dương XuânTrinh (1982), Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Cương (1992), Nguyễn Văn Khôi(1995),
Trang 12Trong bộ môn SH, bắt đầu từ những năm 60 của thế kỉ XX đã có những côngtrình nghiên cứu liên quan như công trình của Trần Bá Hoành (1970), Nguyễn ĐứcThành (1986) Lê Đình Trung (1994), Vũ Đức Lưu (1995), Lê Thanh Oai (2004),
Việc phát huy tính tích cực của HS trong dạy học SH đã được nhiều nhàkhoa học quan tâm như: Trần Bá Hoành, Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, Những tác giả này đề xuất những phương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạyhọc SH đã đưa ra các câu hỏi, bài tập, bài tập tình huống, công tác độc lập nghiêncứu sách giáo khoa của HS và đã đưa lại những kết quả góp phần đáng kể nâng caohiệu quả dạy học SH trong trường phổ thông Các vấn đề này được đề cập cụ thểtrong các tài liệu như:
+ Lý luận dạy học SH - Đinh Quang Báo(Chủ biên), Nguyễn Đức Thành.+ Kỹ thuật dạy học SH – Trần Bá Hoành
+ Dạy học giải quyết vấn đề trong bộ môn SH – Nguyễn Văn Duệ (Chủbiên), Trần Kiên, Dương Tiến Sĩ
+ Sử dụng CH-BT để tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trongdạy học STH 11 THPT - Lê Thanh Oai Trong luận án tác giả đã tập trung nghiêncứu xác định nguyên tắc, quy trình thiết kế và sử dụng CH-BT như một phươngpháp tổ chức hướng dẫn HS tự lực phát hiện kiến thức mới nhằm nâng cao chấtlượng dạy học STH
Ngoài ra cũng có một số tác giả nghiên cứu, sử dụng CH-BT trong quá trìnhdạy học như:
+ Phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo thông qua dạy học bài tập di truyền
ở trường phổ thông - Đào Đại Thắng
+ Xây dựng và sử dụng câu hỏi, bài tập để dạy học chuyên đề sinh học tế bàocho học sinh trường chuyên - Trần Thị Ái Huế
+ Xây dựng và sử dụng CH – BT để hướng dẫn học sinh tự khám phá trongdạy học chương 1, 2, 3 phần di truyền và biến dị - Lê Thị Thu
Như vậy, trong những năm qua đã có nhiều nghiên cứu về đổi mới phươngpháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm Đặc biệt việc sử dụng CH-BT,kết hợp công tác độc lập nghiên cứu tài liệu của HS trong các khâu của quá trìnhdạy học đã bước đầu có đóng góp đáng kể nâng cao chất lượng đào tạo trong ngànhgiáo dục nói chung và dạy học SH nói riêng Tuy nhiên các công trình nghiên cứu
về việc sử dụng CH-BT để rèn luyện các kĩ năng cụ thể cho học sinh chưa thực sựphổ biến
Trang 13Việc đi sâu nghiên cứu thiết kế và sử dụng CH-BT trong dạy học SH có tínhkhoa học, khái quát cao và tiện sử dụng trong hoạt động dạy - học của GV và HS làviệc phải được tiến hành thường xuyên trên phạm vi rộng lớn Đây là vấn đề hết sứchấp dẫn và rất cần thiết đòi hỏi sự quan tâm của các cấp quản lí giáo dục cũng nhưmọi giáo viên đứng lớp.
Ở các trường chuyên, như báo cáo về quá trình xây dựng và phát triển hệthống các trường THPT chuyên của Bà Nguyễn Hải Châu – Phó Vụ trưởng VụGDPT – Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo đã khẳng định: “Phương pháp dạy học ở trườngchuyên được vận dụng linh hoạt, sáng tạo nhưng phải nhằm mục đích:
- Phát triển cho HS các kỹ năng phân tích, tổng hợp, tư duy logic; khả năngphát hiện, giải quyết vấn đề, đặc biệt là các vấn đề nảy sinh từ thực tế cuộc sống;khả năng ngôn ngữ, kỹ năng trình bày diễn đạt ý tưởng khoa học và khả năng thíchứng với xã hội
- Rèn luyện cho HS phương pháp, thói quen tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi,khám phá phát hiện vấn đề độc đáo, mới lạ
- Hình thành, rèn luyện cho HS kỹ năng thu thập, phân loại và xử lí thông tin
từ các nguồn tư liệu khác nhau
- Trang bị cho HS phương pháp nghiên cứu khoa học và tập dượt nghiên cứukhoa học”
Qua đó thấy được việc xây dựng và sử dụng CH-BT để rèn các kĩ năng cho
HS là rất cần thiết
1.1.2 Cơ sở lí luận về kỹ năng
1.1.2.1 Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện hiệu qua một công việc đạt đượcmục đích bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức, hành động phù hợp vớihoàn cảnh và phương tiện nhất định Khi nói tới kỹ năng là nói tới khả năng thựchiện một hành động đạt tới mức đúng đắn, thuần thục nhất định và rèn luyện kỹnăng chính là rèn luyện cho HS khả năng triển khai các thao tác một cách logic phùhợp với mục tiêu hoạt động học tập [14]
Nhà trường không chỉ là nơi cung cấp những tri thức, mà thông qua những trithức trọng tâm, cơ bản rèn luyện cho HS cách học, cách tự chiếm lĩnh tri thức [14]
1.1.2.2 Kỹ năng học tập
Muốn học tập có kết quả, con người cần phải có một hệ thống kỹ năng chuyênbiệt gọi là kỹ năng học tập Theo các nhà tâm lý học, kỹ năng học tập là khả năng
Trang 14của con người thực hiện có kết quả các hành động học tập phù hợp với điều kiện vàhoàn cảnh nhất định, nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ đề ra.
Kỹ năng học là khả năng sử dụng cách học tác động đến nội dung học hay là
khả năng thực hiện một hoạt động học Trong đó cách học là cách tác động của chủ
thể đến đối tượng học, hay là cách thực hiện hoạt động học
Các kỹ năng cơ bản cần rèn luyện có thể bao gồm: [22]
- Kỹ năng tái hiện (nhắc lại, lặp lại, nhớ…)
- Kỹ năng nhận thức (nhận biết, thông hiểu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, phêphán…)
- Kỹ năng thực hành (hoạt động chân tay, luyện tập, ứng dụng, triển khai…)
- Kỹ năng xử sự (thái độ, thói quen ứng xử…)
- Kỹ năng hợp tác (học nhóm, tranh luận…)
- Kỹ năng giải quyết vấn đề (thu nhận, xử lý thông tin…)
- Kỹ năng nghề nghiệp (lĩnh vực chuyên sâu, nghề…)
- Kỹ năng tự học (tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh…)
- Kỹ năng tự quản lý việc học (thời gian, môi trường học)
Đối với HS THPT có thể nêu hệ thống kỹ năng học tập chung như sau:
- Các kỹ năng học tập phục vụ chức năng nhận thức liên quan đến việc thuthập, xử lý, sử dụng thông tin: kỹ năng làm việc với sách giáo khoa, kỹ năng quansát, kỹ năng tiến hành thí nghiệm, kỹ năng PT-TH, kỹ năng so sánh, kỹ năng kháiquát hoá, kỹ năng suy luận, kỹ năng áp dụng kiến thức đã học
- Các kỹ năng học tập phục vụ chức năng tổ chức, tự điều chỉnh quá trình họctập liên quan đến việc quản lý phương tiện học tập, thời gian, sự hỗ trợ từ bên ngoài
và chất lượng; kỹ năng tự kiểm tra, tự đánh giá, kỹ năng tự điều chỉnh
- Các kỹ năng phục vụ chức năng tương tác trong học tập hợp tác: kỹ năng họcnhóm
1.1.2.3 Kỹ năng nhận thức:
* Kỹ năng PT-TH
Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành các
bộ phận, các thành phần tương đối độc lập để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn Đó
là quá trình diễn ra trong đầu chủ thể nhằm tách đối tượng tư duy thành nhữngthuộc tính, những bộ phận, những mối liên hệ, quan hệ giữa chúng để nhận thức đốitượng sâu sắc hơn [21]
Ví dụ, khái niệm các nhân tố sinh thái có thể được phân tích trong tư duythành các thành phần, thể hiện trong sơ đồ 1.1:
Trang 15Trong dạy học, vấn đề hình thành kỹ năng phân tích cho học sinh cần phảiđược coi trọng Tuỳ đặc điểm từng môn học và nhiệm vụ học tập cụ thể, các GV đã
đề ra những yêu cầu phân tích khác nhau Nhưng mục đích chủ yếu của việc rènluyện kỹ năng phân tích là hình thành ở các em thói quen tìm hiểu sự vật, hiệntượng có chiều sâu, nhằm nắm được bản chất của đối tượng nghiên cứu, cho nênnhiệm vụ chủ yếu của hoạt động phân tích trước hết là nắm được cấu trúc của đốitượng, nghĩa là:
- Xác định các yếu tố tạo thành đối tượng
- Tìm mối liên hệ giữa các yếu tố đó
- Yếu tố trung tâm, yếu tố điều khiển của hệ thống nằm ở đâu ?
- Hoạt động trong những môi trường nào, điều kiện nào ?
Trên cơ sở ấy mà xác định được tính chất, mâu thuẫn nội tại, động lực pháttriển và các vấn đề khác
Tổng hợp là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các thành phần đã được tách rời
trong quá trình phân tích thành một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh Đây là thaotác trí tuệ, trong đó chủ thể tư duy dùng trí óc đưa những thuộc tính, những thànhphần đã được phân tích vào thành một chỉnh thể, giúp ta nhận thức được bao quáthơn.[21]
Rèn luyện kỹ năng tổng hợp nhằm giúp HS sắp xếp những số liệu, những sựkiện lộn xộn, rời rạc và đa dạng mà các em thu thập được qua nghiên cứu lý luận và
Sơ đồ 1.1 Các nhân tố sinh thái
CÁC NHÂN TỐ SINH THÁI
Nhân tố
Nhân tố vật lí Nhân tố hóa học
Mối quan
hệ các SV cùng QT
Mối quan
hệ các SV khác QT
nhưỡng
Nước
Trang 16khảo sát thực tiễn thành những sự vật, những hiện tượng, những quá trình hoànchỉnh, thống nhất.
Phân tích và tổng hợp là hai quá trình có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sungcho nhau trong một quá trình tư duy thống nhất Phân tích là cơ sở để tổng hợp,được tiến hành theo phương hướng của sự tổng hợp Tổng hợp diễn ra trên cơ sởphân tích, được thực hiện trên kết quả của sự phân tích Không có quá trình phântích thì không thể tiến hành tổng hợp được Ngược lại, phân tích không có tổng hợpthì quá trình đó trở nên vô nghĩa trong quá trình nhận thức.[21]
Tổng hợp sơ bộ ban đầu cho ta ấn tượng chung về đối tượng, nhờ đó mà xácđịnh được phương hướng phân tích đối tượng Từ sự phân tích đối tượng sẽ giúp ta
có một nhận thức đầy đủ hơn về đối tượng, phân tích càng sâu thì sự tổng hợp cuốicùng càng cao, càng đầy đủ Sự tổng hợp hoàn chỉnh sẽ ảnh hưởng đến chất lượngcủa sự phân tích tiếp theo.[1]
Trong quá trình nghiên cứu, phân tích và tổng hợp phải xen kẽ nhau, chỉhướng cho nhau Nếu chỉ đi sâu phân tích mà không tổng hợp thì có thể mất phươnghướng, tổng hợp mà không có phân tích sẽ phiến diện, không bản chất Phân tíchgắn với suy diễn, tổng hợp gắn với quy nạp Phân tích và tổng hợp xen kẽ nhau địnhhướng cho suy diễn và quy nạp
Phân tích và tổng hợp trong SH thường được dùng để phân tích về cấu trúc, cơchế, quá trình sinh học.[14]
Ví dụ, PT-TH để thấy được cơ chế điều chỉnh số lượng cá thể của quần thểsinh vật:
+ Trong điều kiện môi trường thuận lợi như có nguồn thức ăn dồi dào, ít kẻthù… sức sinh sản của quần thể sẽ tăng lên, nhập cư có thể tăng lên, tử vong giảm,xuất cư cũng ít Do đó, số lượng cá thể của quần thể tăng lên nhanh chóng
+ Khi số lượng cá thể trong quần thể tăng lên cao, sau thời gian, nguồn thức ăntrở nên thiếu hụt, nơi sống chật chội… dẫn tới cạnh tranh gay gắt giữa các cá thểlàm cho mức tử vong cao, xuất cư nhiều, sức sinh sản giảm, nhập cư hạn chế Sốlượng cá thể của quần thể lại được giảm cuống
Phân tích và tổng hợp có các hình thức diễn đạt là:[14]
- Diễn đạt bằng lời.
- Diễn đạt bằng sơ đồ phân tích: Diễn đạt một cách trực quan bằng một
sơ đồ logic với nguyên tắc cái toàn thể được chia nhỏ thành các bộ phận Phép chia ấy được biểu diễn bằng mũi tên
Ví dụ, các loại môi trường có thể phân tích bằng sơ đồ 1.2.
Trang 17- Diễn đạt bằng bảng hệ thống: Hình thức này vừa thể hiện được sự phân tích qua việc đặt tên gọi các cột, vừa thể hiện được sự tổng hợp thông qua việc trình bày chúng ở các ô, các cột, các dòng tương ứng Hình thức này giúp chúng ta hệ thống các kiến thức và đặc biệt là rất hiệu quả cho việc thực hiện biện pháp so sánh.
Ví dụ: Phân tích đặc điểm và ý nghĩa sinh thái của các kiểu phân bố cá thể của quần thể trong khu vực sống có thể diễn đạt bằng bảng 1.1:
Bảng 1.1 Các kiểu phân bố cá thể của quần thể
- Thường gặp khi điều kiện sống phân bố không đồng đều trong môi trường.
- Các cá thể sống thành bầy đàn khi chúng trú đông, ngủ đông…
Các cá thể
hỗ trợ nhau chống lại điều kiện bất lợi của môi
trường
Nhóm cây bụi mọc hoang dại, đàn trâu rừng…
MÔI TRƯỜNG CạnNước
Sinh vật
ngọt
Mặtđất
Không khí
Các lớpđất có độ sâu
khác nhau
Sơ đồ 1.2 Các loại môi trường
lợmặn
Đất
Trang 18- Thường gặp khi điều kiện sống phân bố đồng đều trong môi trường
và có sự cạnh tranh gay gắt giữa các cá thể trong quần thể.
- Các cá thể giữ khoảng cách tương đối đều trong làm tổ, kiếm mồi…
Làm giảm mức độ cạnh tranh giữa các
cá thể trong quần thể
Các cây thông trong rừng thông, chim Hải âu làm tổ.
Phân bố
ngẫu
nhiên
- Là dạng phân bố dễ gặp trong tự nhiên.
- Là dạng trung gian giữa 2 dạng trên.
- Thường gặp khi điều kiện sống phân bố đồng đều trong môi trường
và giữa các cá thể trong quần thể không có sự cạnh tranh gay gắt.
- Các cá thể có thể tập trung có thể phân tán một cách ngẫu nhiên.
Sinh vật tận dụng được nguồn sống tiềm tàng trong môi
trường.
Các loài sâu sống trên tán cây, các con
sò sống trong phù sa vùng triều, các cây gỗ trong rừng mưa nhiệt đới.
- Diễn đạt dưới dạng tranh sơ đồ: Tranh sơ đồ là một hình vẽ sơ lược thể hiện những nét chính của đối tượng, hiện tượng
Ví dụ, Sơ đồ lưới thức ăn trong hệ sinh thái rừng, tranh sơ đồ 1.1.
Tranh sơ đồ 1.1 Lưới thức ăn trong hệ sinh thái rừng
Trang 19Ngoài kỹ năng PT-TH, trong quá trình dạy học người GV còn cần phải rènluyện cho HS các thao tác khác của tư duy như: so sánh, suy luận, trừu tượng hóa,khái quát hóa…
Các kỹ năng nhận thức có mối quan hệ mật thiết với nhau, tương tác, hỗ trợlẫn nhau Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ đề cập đến quá trìnhrèn luyện kỹ năng PT-TH cho HS
1.1.3.4 Rèn luyện kỹ năng PT-TH
Rèn luyện kỹ năng tư duy là tạo điều kiện cho HS nắm vững một hệ thống cácthao tác nhằm làm sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong nhiệm vụ học tập vàđối chiếu chúng với hành động cụ thể Giúp HS biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố
đã cho và yếu tố phải tìm, quan hệ giữa chúng trong trong nhiệm vụ học tập.[14]Việc PT-TH có thể diễn đạt bằng các phương tiện dạy học như:[14]
- CH-BT yêu cầu PT-TH đặc trưng cho chương trình SH mang tính lý thuyết,dẫn tới hình thành những kiến thức đại cương, đặc biệt là sự phát hiện những mốiliên hệ có tính quy luật trong tự nhiên;
- Tranh, sơ đồ phân tích, bảng hệ thống …
Phương pháp dạy học tích cực tạo điều kiện cho HS phát huy được khả năng
tư duy: kích thích, đòi hỏi HS suy nghĩ, tìm tòi phát huy trí lực ở mức cao nhất, bộc
lộ được tiềm năng của mình giải quyết mục tiêu dạy học đặt ra.[14]
Trong dạy học, để rèn luyện kỹ năng tư duy cho HS có nhiều phương pháp,biện pháp khác nhau Để rèn luyện kỹ năng PT-TH cho HS trong dạy học phầnSTH, chúng tôi chọn phương pháp dạy học bằng CH - BT Đây là một trong nhữngphương pháp dạy học tích cực phát huy được tính chủ động, tích cực và sáng tạocủa HS, giúp HS rèn luyện được các kỹ năng của tư duy
1.1.3 Cơ sở lý luận về CH-BT
1.1.3.1 Khái niệm về CH-BT
a) Khái niệm về câu hỏi
Theo quan điểm về logic học thì Aristôt là người đầu tiên phân tích câu hỏi.Ông cho rằng: "Câu hỏi là một mệnh đề trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cáichưa biết" Trả lời câu hỏi đó là bài làm mà khi hoàn thành chúng học sinh phải tiếnhành hoạt động tái hiện, có thể là trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thực hànhhoặc xác minh bằng thực nghiệm
Khái niệm câu hỏi cũng còn được diễn đạt dưới dạng khác như: Câu hỏi làdạng cấu trúc ngôn ngữ, diễn đạt một nhu cầu, một đòi hỏi hay một mệnh lệnh cầnđược giải quyết Câu hỏi thuộc phạm trù khả năng nghĩa là sẽ được giải quyết nó
Trang 20chứa đựng cả hai yếu tố, sự có mặt của cái chưa rõ cần được giải quyết và điều biếtliên quan đến điều cần tìm.
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau nhưng về dấu hiệu bản chất của các câuhỏi đều được các tác giả nêu ra đó là: Xuất hiện điều chưa rõ cần được giải quyết từđiều đã biết.Trong đời sống cũng như trong nghiên cứu khoa học, con người chỉ nêu
ra thắc mắc, tranh luận khi đã biết nhưng chưa đầy đủ, cần biết thêm Sự tương quangiữa cái đã biết và cái chưa biết thúc đẩy việc mờ rộng hiểu biết cho con người.b) Khái niệm bài tập
Theo từ điển tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên (2000) thì bài tập là bài ra cho
HS làm để vận dụng những điều đã học được
Theo các nhà lí luận dạy học ở Liên Xô (cũ) thì bài tập đó là một dạng bài làmgồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi mà trongkhi hoàn thành chúng, HS nắm được một tri thức hay một kỹ năng nhất định hoặchoàn thiện chúng Khái niệm bài toán ở đây được coi là một dạng bài tập, đó là bàitập định lượng
Trong SH, ở nước ta thường dùng khái niệm bài tập trong đó có cả bài tậpđịnh tính và bài tập định lượng
Theo tác giả Vũ Đức Lưu thì: “Bài tập là nhiệm vụ mà người giải cần thựchiện, trong bài tập có dữ kiện và yêu cầu cần tìm Nghĩa là trong bài tập luônluôn chứa đựng những vấn đề đã biết và những vấn đề chưa biết mâu thuẫn lẫnnhau, thôi thúc người giải phải vận dụng những điều đã học để tìm cách giảinhằm hình thành kiến thức mới, hoặc củng cố hoàn thiện tri thức hay kiểm trađánh giá mức độ nhận thức của người giải về những kiến thức đã được học.Bài tập được sử dụng ở cả 3 khâu của quá trình dạy học đó là: dùng bài tập
để hình thành kiến thức mới, để củng cố hoàn thiện tri thức, hoặc để kiểm trađánh giá mức độ nhận thức của HS
Bài tập gồm giả thiết và yêu cầu phải thực hiện, trong đó giả thiết có thể lànhững đồ thị, hình vẽ, bảng số liệu hoặc dữ kiện Kết luận (yêu cầu) là một mệnhlệnh mà người giải phải thực hiện, có thể được truyền đạt bằng câu hỏi hay mộtmệnh lệnh
Đối với bộ môn SH ở Việt Nam, tên sách thường dùng là Bài tập SH như:Bài tập SH 11, Bài tập SH 12 Như vậy bài tập có ý nghĩa như tác giả Liên Xô(cũ) đã quan niệm
Qua những quan niệm của các tác giả đã nêu trên, thì khái niệm Bài tập SHđược nhiều người chấp nhận nhất vì nó chung hơn, rộng hơn khái niệm bài toán,
Trang 21nghĩa là: nó bao gồm cả bài toán trong đó (bài toán là một hệ thông tin xác địnhbao gồm những điều kiện và những yêu cầu mà thoạt đầu chủ thể nhận thức thấykhông phù hợp mâu thuẫn với nhau) dẫn tới nhu cầu cần phải khắc phục bằngcách biến đổi chúng Khi giải bài tập, HS không đơn thuần là vận dụng kiến thức
mà còn tìm kiếm kiến thức cũ ở tình huống mới
Về thành phần cấu tạo thì bài tập có phần giống câu hỏi là chứa đựng điều đãbiết và điều cần tìm, điều cần tìm là dựa vào những điều đã biết, điều cần tìm vàđiều đã biết quan hệ chặt chẽ với nhau, từ những điều đã biết ta có thể dùng phépbiến đổi tương đương để dẫn đến những điều cần tìm Những mối quan hệ giữa điều
đã biết với những điều cần tìm ở bài tập chặt chẽ hơn mối quan hệ giữa điều đã biếtvới điều cần tìm trong câu hỏi ở chỗ: Những điều đã biết trong bài tập phải vừa đủ
để người thực hiện bài tập chỉ biến đổi những điều đã biết bằng những đại lượngtương đương ắt sẽ dẫn đến kết luận Từ đó ta có thể hiểu bản chất của việc giải bàitập là sự thực hiện phép biến đổi tương đương, để chứng minh rằng điều đã cho vàđiều cần tìm là hoàn toàn phù hợp
1.1.3.2 Cấu trúc CH-BT
Mỗi CH-BT đều có hai thành phần là điều đã biết và điều cần tìm, chúng cómối quan hệ với nhau nhưng về mặt cấu trúc ta cần xem thành phần nào nêu trước,thành phần nào nêu sau Thực tiễn cho thấy, trình tự này không đòi hỏi nghiêm ngặt
vì rằng CH-BT cũng phản ánh hiện thực khách quan nhưng về hình thức thể hiệncủa CH-BT lại thông qua cấu trúc logic của tư duy con người, nghĩa là theo logicnhận thức, mà logic nhận thức không phải lúc nào cũng tuân thủ logic vận động của
sự vật trong thực tại khách quan Trong thực tại, bao giờ nguyên nhân cũng xuấthiện trước, từ đó mới xuất hiện kết quả Nhưng trong nhận thức lại có thể dựa vàokết quả mới tìm được nguyên nhân Do vậy, tuỳ tác giả truyền đạt mà trong CH-BT
có thể nêu điều đã biết, sau đó mới nêu điều cần tìm hoặc có thể nêu điều cần tìmtrước và kèm theo điều kiện đã cho
- Phần thứ nhất (điều đã biết) là tài liệu có tính chất "nguyên liệu" bao gồm:Đoạn tư liệu trong sách giáo khoa; đoạn tư liệu trích trong các tư liệu tham khảo;các tập hợp từ, cụm từ, các thông tin gợi ý, ví dụ, hình vẽ, thí nghiệm… cho trước
- Phần thứ hai (điều chưa biết) là các câu hỏi hướng dẫn HS hoạt động tư duy,
xử lí các tư liệu đã có bao gồm:
+ Tóm tắt nội dung, lập sơ đồ hệ thống hoá
+ Xác định nội dung cơ bản hay dấu hiệu bản chất
+ Chọn câu trả lời đúng trong tập hợp các câu cho trước
Trang 22+ Điền từ, cụm từ, thông tin thích hợp vào bảng, vào ô trống, vào hình vẽ.+ Mô tả hình vẽ, ghi chú thích vào hình vẽ, phân tích tìm nội dung cơ bản quahình vẽ.
+ Phát biểu tính quy luật của các hiện tượng
+ Lập bảng so sánh
+ Giải thích thí nghiệm
+ Xác định mối quan hệ
+ Xác định ý nghĩa hay giá trị của kiến thức
1.1.3.3 Nguyên tắc xây dựng CH-BT trong dạy học
Phương pháp dạy học hiện đại nhằm phát huy tính tích cực chủ động, khảnăng tự học, nghiên cứu của HS Để hoạt động dạy-học có hiệu quả lại phụ thuộcrất nhiều vào việc xây dựng hệ thống CH-BT sao cho phù hợp với từng đối tượng
Vì vậy khi xây dựng CH-BT cần phải đảm bảo một số nguyên tắc cơ bản sau đây:
1 CH-BT phải có tác dụng nêu vấn đề, đồng thời vấn đề đó phải chứa đựngmâu thuẫn nhận thức luôn buộc HS ở trạng thái có nhu cầu giải quyết
2 CH-BT thiết kế phải có tính hệ thống phù hợp với cấu trúc của chương, bài
để sau khi trả lời HS thu được một kiến thức mới hệ thống và theo những logic nhấtđịnh
3 CH-BT được thiết kế phải có nội dung yêu cầu ngắn gọn rõ ràng, chính xác.Yêu cầu CH-BT phải đảm bảo nguồn tri thức, tài liệu tra cứu trong quá trình tìm tòilời giải
4 Trong mỗi bài học CH-BT đưa ra phải đảm bảo nguyên tắc từ dễ đến khó,
có tác dụng hấp dẫn, kích thích HS đam mê nghiên cứu tìm tòi lời giải
5 Câu hỏi trong các bài toán nhận thức khi thiết kế phải có tính kế thừa, saocho khi trả lời một câu hỏi sẽ cho thêm một giả thiết giúp cho việc giải quyết cácvấn đề liên quan đến bài toán được dễ dàng hơn
6 CH-BT phải có khả năng huy động tính tự lực chủ động sáng tạo của nhiềutầng lớp học sinh Nghĩa là CH-BT được xây dựng phải vừa sức, không khó quá,không dễ quá, phù hợp với năng lực của HS
7 CH-BT không nên yêu cầu đơn thuần là trình bày kiến thức trong tài liệugiáo khoa mà phải có những yêu cầu phân tích, giải thích hoặc chứng minh chonhững kiến thức mà HS lĩnh hội từ tài liệu giáo khoa, từ tài liệu tham khảo khác
1.1.3.4 Cơ sở phân loại CH-BT
CH-BT vô cùng đa dạng Trong dạy học không phải chủ đề nào của nội dungdạy và học đều có sẵn các CH-BT phù hợp với mọi đối tượng Vì vậy nhiều trường
Trang 23hợp GV phải tự xây dựng CH-BT để hướng dẫn người học tự nghiên cứu phát hiệnkiến thức Khi xây dựng CH-BT, GV cần phân loại CH-BT cho phù hợp với mụctiêu dạy học.
1 Với mục đích kiểm tra kết quả thực hiện mục tiêu, ta có:
- CH-BT để kiểm tra sự ghi nhớ những kiến thức đã học
- CH-BT để kiểm tra sự nắm vững bản chất của kiến thức, nghĩa là nêu, giảithích nội dung, kiến thức đã lĩnh hội
- CH-BT để kiểm tra khả năng vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết mộtnhiệm vụ nhận thức mới
- CH-BT để kiểm tra sự nắm vững giá trị kiến thức nghĩa là xác định được vaitrò, ý nghĩa của kiến thức trong lý luận và thực tiễn
- CH-BT để kiểm tra thái độ, hành vi của con người sau khi học tập một chủ
đề nào đó
2 Với mục đích hình thành, phát triển năng lực nhận thức ta có:
- CH-BT rèn luyện kỹ năng quan sát
- CH-BT rèn luyện kỹ năng phân tích
- CH-BT rèn luyện kỹ năng tổng hợp
- CH-BT rèn luyện kỹ năng so sánh
- CH-BT rèn luyện kỹ năng sử dụng con đường quy nạp
- CH-BT rèn luyện kỹ năng sử dụng con đường diễn dịch
3 Với mục đích sử dụng trong các giai đoạn của quá trình dạy học, ta có:
- CH-BT hình thành kiến thức mới
- CH-BT củng cố, hoàn thiện kiến thức
- CH-BT kiểm tra và đánh giá
4 Theo quan hệ của các CH-BT cần xác định, ta có:
- CH-BT định tính
- CH-BT định lượng
5 Theo cách trình bày câu trả lời, ta có:
- Câu hỏi tự luận
- Câu hỏi trắc nghiệm khách quan
6 Theo nội dung mà CH-BT phản ánh, ta có:
- CH-BT nêu ra các sự kiện
- CH-BT xác định các dấu hiệu bản chất
- CH-BT xác định mối quan hệ
- CH-BT xác định cơ chế
Trang 24- CH-BT xác định phương pháp khoa học
- CH-BT xác định ý nghĩa lý luận hay thực tiễn của kiến thức
1.1.3.5 Phương pháp sử dụng CH-BT trong dạy học SH
Trong dạy học, CH-BT luôn được sử dụng trong các khâu khác nhau nhằm đạtđược những mục tiêu khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôichỉ nghiên cứu sâu vào việc xây dựng và sử dụng CH-BT để ôn luyện, bồi dưỡngHSG về chuyên đề STH
- Sử dụng CH-BT để tạo tình huống
Con người hoạt động khi có nhu cầu, nhu cầu có được khi đứng trước mộtnhiệm vụ cần giải quyết Do đó, GV cần xác định rõ nhiệm vụ cần nhận thức vàdiễn đạt nhận thức đó bằng câu hỏi, bài tập
- Sử dụng CH-BT để định hướng vấn đề học tập
Khi nghiên cứu một vấn đề mà chứa đựng nhiều nội dung, người học không dễ
gì xác định được vấn đề cơ bản, đặc điểm nào là bản chất Do đó, GV cần địnhhướng cho người học bằng câu hỏi hay bài tập
CH-BT định hướng vấn đề học tập khác với CH-BT tạo tình huống ở chỗ: chỉcần chỉ ra những vấn đề học tập mà không cần chỉ ra những mâu thuẫn cần giảiquyết
- Sử dụng CH-BT để gợi ý, để giới hạn vấn đề cần trả lời:
Khi một câu hỏi lớn đặt ra gồm nhiều khía cạnh khác nhau, ta có thể nêu câuhỏi để gợi ra từng vấn đề nhỏ và nội dung từng vấn đề Sau một câu hỏi gợi ý sẽ dẫnngười học giải quyết được vấn đề lớn
- Sử dụng CH-BT để hướng dẫn quan sát:
Khi quan sát hình vẽ, sơ đồ có nhiều chi tiết, nhưng chỉ cần nghiên cứu mộtchi tiết nào đó GV phải rèn luyện cho HS có kỹ năng quan sát và nhận biết, tathường dùng CH hoặc BT để hướng dẫn
- Sử dụng CH-BT để phát triển khả năng tư duy
Trong dạy học ngoài việc hướng tới mục tiêu tri thức, thì đồng thời phảihướng tới mục tiêu quan trọng nữa là phát triển tư duy Trong các kỹ năng tư duy ,trước hết phải sử dụng CH-BT để phát triển kỹ năng so sánh, PT-TH
- Sử dụng CH-BT để tự kiểm tra và kiểm tra kết quả học tập:
Để HS hoạt động tích cực, tự lực trong học tập, khâu kiểm tra và tự kiểm tra sẽgóp phần định hướng cho hoạt động dạy và học Do đó cần xác định rõ mục tiêudạy học cụ thể, từ đó mà sử dụng CH-BT phù hợp để HS tự kiểm tra và tự điều
Trang 25chỉnh cách học nhằm nắm vững kiến thức, kỹ năng và phát triển năng lực nhậnthức.
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
- Qua thăm dò, khảo sát ý kiến từ một số đồng nghiệp dạy chuyên sinh thì đềucho rằng việc rèn kĩ năng cho HS được các GV luôn quan tâm và thực hiện thườngxuyên thông qua quá trình dạy học, ôn tập Tuy nhiên việc đánh giá sự phát triển kĩnăng tư duy của HS theo tiêu chí, tiêu chuẩn cũng như việc chủ động xây dựng hệthống CH-BT để rèn kĩ năng tư duy cụ thể thì chưa có GV thực hiện một cách đầy
đủ và bài bản
- Về kĩ năng PT-TH của HS chuyên tại thời điểm mới được gọi vào đội dựtuyển, đội tuyển HSG được đánh giá thông qua bài kiểm tra khảo sát đầu vào dựatrên bộ tiêu chí chúng tôi ứng dụng, kết quả như sau:
+ Mức độ đạt được về kỹ năng PT-TH của HS còn thấp (40%), do chưa đượcrèn luyện về kỹ năng PT-TH nên HS chưa biết cách phân tích, tổng hợp, suy luận,dẫn dắt và trình bày vấn đề
+ HS chủ yếu là đạt được mức độ 1 của kỹ năng PT-TH (80%), tuy nhiên cònmột số ít HS (20%) vẫn chưa đạt được tiêu chí này Mức độ đạt được các tiêu chícủa HS giảm dần từ tiêu chí 1 đến tiêu chí 4 Tỉ lệ HS đạt được tiêu chí 4 còn rấtthấp (30%)
+ Đối với tiêu chí 1 và tiêu chí 2, số HS đạt được ở mức độ B khá cao (40% 60%) nhưng ở các tiêu chí 3 và tiêu chí 4 thì số HS đạt được còn thấp (20% - 30%).Đối với mức độ A thì cả 4 tiêu chí có rất ít HS đạt được (10% - 20%)
Qua 5 năm tham gia giảng dạy bồi dưỡng HSG Quốc gia và dạy học cho HSchuyên sinh, chúng tôi đã kiểm nghiệm được kết quả như sau:
+ Năm 2011, chúng tôi giảng dạy theo chuyên đề, chỉ cung cấp lí thuyết sâurộng và xây dựng hệ thống CH-BT khai thác và ôn tập chung, chưa phân tách CH-
BT rèn kĩ năng nhận thức cụ thể thì kết quả của bài thi phần STH còn rất thấp mặc
dù đề thi vẫn rơi vào đúng nội dung kiến thức mà chúng tôi đã trang bị cho HS.+ Năm 2012, đã xây dựng hệ thống CH-BT nhằm rèn luyện kĩ năng PT-THcho HS đã bước đầu phát huy tác dụng với chất lượng đội tuyển đạt kết quả cao hơnnhiều, chứng tỏ HS đã có kỹ năng làm bài tốt hơn, biết xây dựng đáp án tốt hơn chomột đề bài
+ Từ năm 2013 đến 2015, việc triển khai sử dụng và điều chỉnh, bổ sung đồngthời với việc đa dạng hóa hình thức trong vận dụng quy trình rèn luyện đã mang lạikết quả rất khả quan trong các bài thi của HS ở phần STH
Trang 26Chương 2 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI, BÀI TẬP ĐỂ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG PHÂN TÍCH – TỔNG HỢP CHO HỌC SINH CHUYÊN SINH TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SINH THÁI HỌC.
2.1 Phân tích nội dung và cấu trúc phần STH
2.1.1 Mục tiêu phần STH - THPT
2.1.1.1 Mục tiêu về kiến thức
Sau khi học xong phần này HS phải:
- Nêu được khái niệm môi trường sống và các nhân tố sinh thái Ảnh hưởngcủa các nhân tố sinh thái đến đời sống của sinh vật, các qui luật sinh thái
- Trình bày được định nghĩa về quần thể, quần xã, hệ sinh thái và sinh quyển
- Nêu được đặc trưng cơ bản của quần thể, quần xã
- Trình bày được mối quan hệ giữa các cá thể trong quần thể, quần xã, hệ sinhthái
- Trình bày được các loại diễn thế sinh thái, nguyên nhân diễn thế sinh thái
- Trình bày được quá trình biến đổi vật chất, chuyển hóa năng lượng trong hệsinh thái
- Hiểu được chu trình sinh địa hóa và vấn đề sử dụng bền vững tài nguyênthiên nhiên
2.1.1.2 Mục tiêu về kĩ năng
- Kĩ năng quan sát: Quan sát tranh, sơ đồ, tự nhiên, biết PT-TH kiến thức từ
tranh, sơ đồ, tự nhiên
- Kĩ năng thực hành: Kĩ năng đánh giá nhận xét qua xem phim, băng hình haythực tế
- Kĩ năng tư duy: Kĩ năng tư duy thực nghiệm, qui nạp, chú trọng tư duy líluận như: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa Kĩ năng nhận biết, nêu và giảiquyết vấn đề nảy sinh trong học tập và trong thực tế
- Kĩ năng tự học: Tự nghiên cứu tài liệu, thu thập xử lí thông tin
- Kĩ năng làm việc cá nhân, làm việc theo nhóm
- Kĩ năng ứng dụng thực tế: Sau khi học xong các kiến thức về STH, HS cóthể vận dụng được các kiến thức đó vào thực tiễn
2.1.1.3 Mục tiêu thái độ
- Bồi dưỡng qui luật thống nhất, mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố trong
hệ sinh thái
Trang 27- Có ý thức vận dụng tri thức, kĩ năng học được vào cuộc sống, lao động vàhọc tập Thấy được mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người Xây dựng ý thức tựgiác, tình yêu thiên nhiên bảo vệ môi trường.
Lên THPT, chương trình STH được trình bày ở dạng nâng cao với các kiếnthức mang tính tổng hợp, trừu tượng và khái quát Kiến thức được trình bày ở dạngkhái niệm và quy luật Mặt khác những khái niệm STH được trình bày theo một hệthống chặt chẽ, có tính kế thừa cao, HS không nắm vững nội dung của chương STH
cá thể thì sẽ không thể khám phá, tiếp thu tốt nội dung của các bài, các chương sau.Cũng như các khoa học khác, những kiến thức của STH đã và đang đóng góp tolớn cho nền văn minh nhân loại trên cả 2 khía cạnh: lí luận và thực tiễn
STH giúp chúng ta ngày càng hiểu biết sâu về bản chất của sự sống trong mốitương tác với các yếu tố của môi trường, cả hiện tại và quá khứ, trong đó bao gồm cuộcsống và sự tiến hóa của con người Hơn nữa, STH còn tạo nên những nguyên tắc vàđịnh hướng cho hoạt động của con người đối với tự nhiên để phá triển nền văn minhngày một cao theo đúng nghĩa hiện đại của nó, tức là không làm hủy hoại đến đời sốngcủa sinh giới và chất lượng của môi trường
Trong cuộc sống, STH đã có những thành tựu to lớn được con người ứng dụngvào nhiều lĩnh vực hoạt động của mình như:[15]
- Nâng cao năng suất vật nuôi cây trồng trên cơ sở cải tạo điều kiện sống của chúng
- Hạn chế và tiêu diệt các địch hại, bảo vệ đời sống cho vật nuôi, cây trồng và
cả con người
- Thuần hóa và di giống các loại sinh vật
- Khai thác hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, duy trì đa dạng SH và pháttriển tài nguyên cho sự khai thác bền vững
- Bảo vệ và cải tạo môi trường sống cho con người và các loài sinh vật sống tốt hơn.STH giờ đây là cơ sở khoa học, là phương thức cho chiến lược phát triển bềnvững của xã hội con người đang sống trên hành tinh kỳ vĩ này của Hệ thái dương
2.1.3 Nội dung phần STH - THPT
Nội dung phần STH được tóm tắt theo bảng 2.1:
Trang 28- Tác động của các nhân tố sinh thái lên cơ thể sinh vật.
- Khái niệm và dấu hiệu bản chất của quần thể sinh vật
- Các mối quan hệ của các cá thể trong quần thể
- Các đặc trưng cơ bản của quần thể (tỉ lệ giới tính, nhóm tuổi,
sự phân bố cá thể, mật độ cá thể, kích thước quần thể và tăngtrưởng của quần thể)
- Các dạng biến động số lượng, nguyên nhân gây ra biến động,
cơ chế điều hòa số lượng để trở về trạng thái cân bằng của QTsinh vật
Chương II:
Quần xã sinh
vật
- Khái niệm quần xã sinh vật
- Các đặc trưng cơ bản của quần xã
- Các mối quan hệ của các sinh vật trong quần xã
- Khái niệm, nguyên nhân dẫn đến diễn thế sinh thái, các dạngdiễn thế sinh thái, chiều hướng biến đổi chung của các loại diễnthế sinh thái và ý nghĩa của việc nghiên cứu diễn thế sinh thái.Chương III:
Hệ sinh thái,
Sinh quyển
và bảo vệ môi
trường
- Trình bày về hệ sinh thái: khái niệm, các thành phần của một
hệ sinh thái và cách phân loại các hệ sinh thái
- Giới thiệu về cách thức trao đổi vật chất trong hệ sinh tháithông qua chuỗi và lưới thức ăn
- Các chu trình sinh - địa - hóa
- Khái niệm sinh quyển, các khu SH
- Sự vận chuyển của dòng năng lượng trong hệ sinh thái
- Khái niệm về hiệu suất sinh thái
- Tìm hiểu về các dạng tài nguyên thiên nhiên
- Khái quát các hoạt động của con người đến môi trường sống
Trang 29môi trường đều có những đặc điểm chung và được quyết định bởi mối quan hệtương tác giữa cá thể với môi trường, đồng thời khi lên các cấp tổ chức cao hơnluôn có những đặc trưng riêng mà cấp tổ chức thấp hơn không có như: các đặctrưng về cấu trúc của quần thể; các đặc trưng về cấu trúc của quần xã; mối quan hệdinh dưỡng, chuyển hóa năng lượng trong hệ sinh thái; sinh thái học toàn cầu trongsinh quyển.
Ngoài ra, ở mỗi cấp tổ chức giới thiệu thêm một số mội dung cụ thể nữa như:Các dạng biến động số lượng, nguyên nhân gây ra biến động, cơ chế điều hòa sốlượng để trở về trạng thái cân bằng của quần thể sinh vật; Khái niệm, nguyên nhândẫn đến diễn thế sinh thái, các dạng diễn thế sinh thái, chiều hướng biến đổi chungcủa các loại diễn thế sinh thái và ý nghĩa của việc nghiên cứu diễn thế sinh thái;Tìm hiểu về các dạng tài nguyên thiên nhiên, khái quát các hoạt động của con ngườiđến môi trường sống và sinh quyển, các biện pháp cụ thể bảo vệ tài nguyên thiênnhiên, môi trường
2.2 Quy trình xây dựng CH-BT để rèn luyện kĩ năng PT-TH cho HS chuyên sinh trong dạy học chuyên đề STH.
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi đưa ra quy trình xây dựng hệ thống
CH-BT để rèn luyện kỹ năng PT-TH cho HS gồm các bước như sau:
Đây là sơ đồ về các bước trong quy trình xây dựng hệ thống CH-BT rèn kĩnăng PT-TH, được diễn đạt theo các bước như sau:
Nghiên cứu
Trang 30Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Mục tiêu của bài học là việc sau khi học xong bài hoc, HS phải đạt đượcnhững yêu cầu về kiến thức, về kỹ năng, về hành vi và thái độ Thực chất việc xácđịnh mục tiêu bài học là: xác định yêu cầu cần đạt được của người học sau khi họcbài học đó, là cái đích của bài học phải đạt tới, chỉ rõ nhiệm vụ học tập HS phảihoàn thành GV trong quá trình thiết kế bài giảng cũng như thiết kế hệ thống CH-
BT phải quan tâm và xác định được mục tiêu bài học cần đạt được, từ đó để thiết kếnhững CH-BT đạt yêu cầu, kích thích khả năng học tập của HS
Bước 2: Trang bị cho HS kiến thức cơ bản và giải quyết CH-BT nền
Việc tiếp theo là GV sẽ trang bị cho HS kiến thức nền cơ bản cũng như cungcấp và yêu cầu trả lời hệ thống CH-BT nền trong các tài liệu giáo khoa và tài liệuchuyên Đây là bước quan trọng để HS đảm bảo tiền đề để tiến hành rèn luyện kĩnăng
Bước 3: Phân tích nội dung của bài học để xác định các đơn vị nội dung có thể thiết kế được các CH-BT rèn kĩ năng
Việc phân tích logic nội dung bài học rất quan trọng giúp GV cân đối tỉ lệ hợp
lý giữa điều chưa biết và điều đã biết
Mặt khác, sách giáo khoa và tài liệu chuyên là tài liệu học tập, vừa là nguồncung cấp kiến thức cho HS, vừa là phương tiện chủ yếu để GV tổ chức hoạt độngdạy học và xây dựng CH-BT Vì vậy, GV cần phải phân tích nội dung bài học đểxác định rõ được những đơn vị kiến thức nào có thể thiết kế được CH-BT để sửdụng xây dựng hệ thống CH-BT phục vụ giảng dạy
Bước 4: Xây dựng các CH-BT để rèn kĩ năng PT-TH
Xử lý sư phạm với việc mã hóa các module kiến thức thành các CH-BT cógiá trị cao trong việc rèn kĩ năng cho HS Các CH-BT này trở thành phương tiện,đối tượng của quá trình dạy học
Bước 5: Hoàn thiện câu hỏi và sắp xếp hệ thống câu hỏi.
Sau khi được xây dựng, chỉnh sửa, hoàn thiện các câu hỏi được sắp xếp mộtcách hợp lí đảm bảo nguyên tắc từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ tổnghợp khái quát thấp đến tổng hợp khái quát cao…tạo thành một hệ thống CH-BT cógiá trị cao trong quá trình rèn luyện kĩ năng PT-TH cho HS
2.3 Hệ thống CH-BT rèn luyện kĩ năng PT-TH
Trang 31Việc tổ chức dạy học cho HS chuyên sinh nói chung, dạy học cho HS độituyển HSG Quốc Gia môn SH nói riêng được tiến hành theo các chuyên đề Đểnâng cao hiệu quả trong dạy học chuyên đề STH, chúng tôi đã nghiên cứu phântích, thiết lập các module kiến thức để khai thác một cách hiệu quả và việc thực hiệnchuyên đề chính là thực hiện tuần tự các module
Kết quả quá trình nghiên cứu chúng tôi đã xây dựng được hệ thống CH-BTtrong một số module và yêu cầu đáp án đạt được của chuyên đề STH được dùng đểrèn kĩ năng PT-TH cho HS chuyên sinh Hệ thống CH-BT và yêu cầu đáp án đạtđược được trình bày trong bảng 2.2:
Bảng 2.2 Hệ thống CH-BT và yêu cầu đáp án đạt được
- Vậy loài loài có giới hạn sinh thái rộng nhất làloài thân mềm, loài có giới hạn sinh thái hẹp nhất
là loài giáp xác
Trang 32sinh thái rộng
nhất, hẹp nhất?
Giải thích
3 Phân tích mối
quan hệ giữa giới
hạn sinh thái với
+ Những sinh vật có giới hạn sinh thái hẹp vớinhiều nhân tố sinh thái thì có phạm vi phân bốhẹp
+ Những sinh vật có giới hạn sinh thái rộng vềnhân tố sinh thái này nhưng hẹp về nhân tố sinhthái khác thì phân bố giới hạn
- Mối quan hệ giữa giới hạn sinh thái với đờisống của sinh vật:
+ Các sinh vật có thể có giới hạn sinh thái rộng
về nhân tố sinh thái này, nhưng lại có giới hạnsinh thái hẹp về nhân tố sinh thái khác
+ Khi một nhân tố sinh thái nào đó không phùhợp cho cá thể sinh vật, thì giới hạn sinh thái củacác nhân tố khác có thể bị thu hẹp
+ Trong cùng một loài, cùng điều kiện môitrường, mỗi cá thể có giới hạn sinh thái khácnhau phụ thuộc vào lứa tuổi, trạng thái sinh lí,trạng thái sức khỏe…
+ Cùng một cá thể, các chức năng sinh lí khácnhau có giới hạn sinh thái khác nhau đối vớicùng một nhân tố sinh thái
- Những đặc điểm thích nghi của sinh vật:
+ Với độ đậm đặc của nước: Các thực vật thủysinh hình thành nhiều khoang trống chứa khí,nhiều mấu và tơ gai để níu giữ và vươn lên trongnước Cơ thể nhiều loài động vật thủy sinh như
cá thu, cá heo… có hình thuôn nhọn để bơi
Trang 33sống nhanh, giảm tỉ trọng bằng cách tích lũy lipit hoặc
có túi hơi…
+ Với lượng ôxi thấp trong nước: Thực vật tăng
bề mặt tiếp xúc với nước, bằng cách có cơ thểdẹp, thuôn dài…động vật trao đổi khí qua toàn
bộ bề mặt cơ thể hoặc hình thành cơ quan chuyêntrách như mang, phổi…
+ Nhiệt độ nước: khá ổn định nên đa số là sinhvật chịu nhiệt hẹp Tuy nhiên, có nhiều loài vikhuẩn, tảo phát triển trong suối nước nóng 65đến 90oC hoặc vùng nước đóng băng
+ Ánh sáng trong nước: thay đổi theo lớp nướcnông sâu Càng xuống sâu cường độ ánh sángcàng giảm, các nhóm sinh vật được phân bố ởcác lớp nước khác nhau với những đặc điểm hácnhau
+ Độ mặn của nước: có các loài sinh vật chịu muối rộng hẹp khác nhau
nghi với sự biến
đổi của nhiệt độ
môi trường như
+ Ở xứ lạnh kích thước cơ thể tăng lên
Trang 34+ Có lỗ chân lông và và tuyến mồ hôi để điềuhòa thân nhiệt.
+ Có các tập tính sinh thái: ản nấp, di cư, ngủđông
- Giảm thiểu lượng khí khổng trên cơ thể
- Gia tăng bề dày của thân, lá để tích nước
- Các sinh vật cùng loài cạnh tranh nhau khichúng sống quần tụ, hình thành bầy đàn trongtrường hợp: điều kiện sống bất lợi như nơi ở chậthẹp, thức ăn cạn kiệt, tỉ lệ đực cái không phùhợp…
- Trong trồng trọt:
+ Trồng luân canh, xen canh
+ Trồng với mật độ thích hợp, chủ động tỉa thưađúng kĩ thuật
- Trong chăn nuôi:
+ Kết hợp nuôi nhiều loài có nhu cầu sống khácnhau trong cùng môi trường sống
+ Nuôi với mật độ thích hợp, chủ động tách đànhợp lí
3 Ở các rừng cây Khi rừng đã khép tán, các cành phía dưới thiếu
Trang 35làm củi đun Hãy
cho biết việc làm
Việc người trồng rừng chặt tỉa các cành phía dưới
để tận dụng làm củi đun là hợp lí, vừa tận dụngđược nguồn nguyên liệu cho sinh hoạt vừa có lợicho cây trồng
4 Trên cơ sở sinh
thái học, hãy giải
ở, được thể hiện như tập tính chiếm cứ lãnh thổ,
kí sinh cùng loài, ăn thịt lẫn nhau, tự tỉa thưa …
- Mật độ quần thể càng lớn, thì sự cạnh tranhcùng loài càng gay gắt, quyết liệt dẫn tới sự phânhoá về ổ sinh thái và nơi ở làm xuất hiện các loàimới bằng con đường cách li sinh thái và cách liđịa lí và thiết lập nên trạng thái cân bằng sinh họcmới trong tự nhiên
- Trong quá trình cạnh tranh giữa các cá thể trongquần thể, các cá thể có sức sống cao hơn (các conkhoẻ mạnh thắng thế), có khả năng sinh sản caohơn sẽ có nhiều khả năng truyền vốn gen sangcác thế hệ sau, nhờ vậy giúp cho loài tồn tại, pháttriển và tiến hoá Các quan hệ kí sinh cùng loàihay ăn thịt đồng loại tuy không phổ biến, nhưng
có ý nghĩa giúp loài tồn tại, phát triển và tiến hoá
Trang 36+ Điều kiện sống phân bố không đều.
+ Loài có tập quán sống tập trung theo nhóm
- Loài có mật độ thấp nhưng độ thường gặp caodo:
+ Điều kiện sống phân bố đồng đều
+ Loài có tập quán sống riêng lẻ
b) Nhận xét và giải thích:
- Ở vùng có độ đa dạng loài cao thì số lượng cáthể trong mỗi loài ít
Ví dụ: Động, thực vật ở rừng nhiệt đới rấtphong phú và đa dạng, nhưng số lượng cá thểmỗi loài ít do môi trường có nhiều loại thức ănphù hợp cho nhiều loài, mỗi loài thích nghi vớimột vùng nhất định trong môi trường không gianhep → có nhiều loài và khả năng cạnh tranh cũngnhiều → số lượng cá thể trong mỗi loài ít
- Ở vùng có độ đa dạng loài thấp thì số lượng cáthể trong mỗi loài nhiều
Ví dụ: Ở hệ thực vật rừng ôn đới, động vật ởbắc cực số lượng cá thể trong mỗi loài là rấtcao do môi trường ít loại thức ăn, diện tích phân
bố mỗi loại thức ăn lại rất lớn → ít loài hơn,nhưng số lượng cá thể trong mỗi loài lại nhiều
3 Các nhân tố
sinh thái có liên
quan đến mật độ
cá thể của quần
Có nhiều nhân tố sinh thái có liên quan đến mật
độ cá thể của quần thể và làm giới hạn kích thướcquần thể, gồm:
1) sự cạnh tranh về nguồn thức ăn hoặc nơi sống
Trang 372) các bệnh dịch truyền nhiễm (có nguy cơ pháttán càng mạnh khi mật độ quần thể tăng lên, làmtăng tỉ lệ chết của quần thể),
3) tập tính ăn thịt (một số loài động vật ăn thịt ưutiên săn bắt các loài con mồi có mật độ quần thểcao vì hiệu quả săn bắt sẽ cao hơn so với các loàicon mồi có mật độ quần thể thấp),
4) các chất thải độc (có xu hướng tăng lên khikích thước quần thể tăng, đến mức nhất định cóthể gây độc và gây chết các cá thể trong quầnthể)
- Hàm số tăng trưởng logistic là: (dN/dt) =
rmaxN[(K – N)/K]; trong đó, dN là mức tăngtrưởng; N là số lượng cá thể của quần thể (kíchthước quần thể); dt là khoảng thời gian; rmax là hệ
số hay tốc độ tăng trưởng; K là số lượng cá thểtối đa mà quần thể có thể đạt được
- Khi N (kích thước quần thể) quá nhỏ, số cá thể
có thể sinh con tương đối ít Trong khi đó, khi Nquá lớn, hệ số tăng trưởng giảm do nguồn tàinguyên sống bị giới hạn Đường cong tăngtrưởng theo hàm logistic là dốc nhất (tốc độ tăngtrưởng nhanh) tương ứng với các giá trị N ở mứctrung bình, nghĩa là chưa đạt đến giới hạn về số
lượng cá thể tối đa của quần thể (K)
- Quần thể bị khai thác quá mức nhưng vẫn có
khả năng phục hồi số lượng cá thể nhanh hơn làquần thể có tiềm năng sinh học lớn hơn
- Tiềm năng sinh học của quần thể thể hiện quacác đặc điểm sinh học cơ bản sau :
+ Có chu kì sống (vòng đời) ngắn, thời gian
Trang 38kiện sống giống
nhau, nếu cả hai
quần thể này đều
bị con người khai
+ Có kích thước cơ thể nhỏ
- Quần thể bị khai thác quá mức và khó có khả
năng phục hồi số lượng cá thể là quần thể có tiềmnăng sinh học thấp Tiềm năng sinh học thấp thểhiện qua các đặc điểm sinh học sau:
+ Có chu kì sống dài, tuổi thành thục và sinh sảnmuộn
+ Mức sinh sản thấp và mức tử vong thấp do concái được bố mẹ chăm sóc và bảo vệ
+ Có kích thước cơ thể lớn hơn
lệ tử vong do thiếu thức ăn; Cạnh tranh gay gắt
về thức ăn và chỗ ở dẫn đến tiêu diệt lẫn nhau(hiện tượng ăn thịt con non và trứng mới đẻ; tựtỉa thưa ở thực vật)
- Do sự di cư một bộ phận của quần thể sang lãnhthổ khác hay bị tác động bởi các nhân tố ngẫunhiên
* Số lượng cá thể của quần thể giảm xuống mứctối thiểu sẽ có nguy cơ bị tuyệt chủng vì:
- Sự nhiễu loạn (bão, lụt, động đất, núi lửa ) liênquan tới các yếu tố cấu trúc của quần thể như tỉ lệsinh sản/ tử vong, tỷ lệ đực cái, tỉ lệ nhóm tuổi
- Cấu trúc các quần thể nhỏ thường không ổnđịnh khi số lượng cá thể của quần thể giảmxuống đến một mức nhất định không có khả năng
Trang 39phục hồi thì có khả năng dẫn đến diệt vong
+ Ở thập kỉ 1990 là: (2,0% + 0,9%) – (1,2% + 0,5%) = 1,2%
+ Ở thập kỉ 2000 là: (2,3% + 1%) – (0,9% + 0,2%) = 2,2%
- Đồ thị:
5 Tại sao kích
thước quần thể
động vật khi vượt
quá mức tối đa
hoặc giảm xuống
+ Mức sinh sản giảm: khả năng bắt cặp giữa đực
và cái thấp, số lượng cá thể sinh ra ít, đặc biệt dễxảy ra giao phối gần
Trang 40tăng hay giảm?
Dựa vào cơ sở
nào em đưa ra kết
luận đó?
Số lượng cá thể của quần thể trĩ
- Dựa vào cách thính kích thước độ nhiều củaquần thể hoặc có thể dựa vào tỉ lệ %, kết qủa thuđược: 1:26; 2:27; 3:28; 4:30; 5:32; 6:33
- Từ kết quả trên, kết luận số lượng cá thể củaquần thể đang tăng đều
7 Vì sao rùa tai
- Rùa tai đỏ, ốc bươu vàng là những loài có tốc
độ sinh sản cao, giới hạn sinh thái rộng (ănđược nhiều loài khác) hơn các loài bản địa nênchúng trở thành những loài ưu thế Vì vậy,chúng cạnh tranh thành công hơn và có thể loạitrừ nhiều loài bản địa có ổ sinh thái trùng vớichúng hoặc chúng tiêu diệt các loài là thức ăncủa các loài bản địa
- Khi rùa tai đỏ, ốc bươu vàng mới xâm nhậpvào Việt Nam chúng không hoặc có rất ít thiênđịch (loài ăn thịt chúng) cũng như không hoặc
ít gặp phải sự cạnh tranh của các loài khác