BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ------NGÔ ĐỨC HIẾU ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG BẮT MỒI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA LOÀI BỌ RÙA HAI MẢNG ĐỎ Lemnia biplagiata Swartz
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -NGÔ ĐỨC HIẾU
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG BẮT MỒI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA
LOÀI BỌ RÙA HAI MẢNG ĐỎ (Lemnia
biplagiata Swartz) TRÊN NGÔ VỤ ĐÔNG XUÂN
TẠI HUYỆN ANH SƠN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
NGHỆ AN, 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
- -NGÔ ĐỨC HIẾU
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG BẮT MỒI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA
LOÀI BỌ RÙA HAI MẢNG ĐỎ (Lemnia
biplagiata Swartz) TRÊN NGÔ VỤ ĐÔNG XUÂN
TẠI HUYỆN ANH SƠN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGIỆP
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60-62-01-10 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRƯƠNG XUÂN LAM
Trang 3NGHỆ AN, 2015 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và những kết quả nghiên cứu trong luận
án này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một luận văn nào.
Tôi cũng xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc.
Nghệ An, ngày 22 tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
Ngô Đức Hiếu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc về những chỉ dẫn tận tình của PGS.TS Trương Xuân Lam, Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, trong quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Nông Lâm Ngư trường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy và cung cấp các kiến thức quý báu và những chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn thạc sĩ này.
Ngoài ra, tôi còn nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi của Lãnh đạo và cán bộ thuộc Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VI, Cục Bảo vệ thực vật về thời gian cũng như kinh phí để học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn về tất cả những giúp đỡ quí báu đó.
Cuối cùng, tôi muốn giành sự biết ơn đặc biệt đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp – những người đã luôn động viên và tạo mọi điều kiện để hoàn thành bản luận văn.
Trang 5Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .
1.1 Những nghiên cứu về côn trùng bắt mồi trên ngô trên thế giới
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên
Trang 6tra
2.5 Nội dung nghiên cứu ……… 19
2.6 Phương pháp điều tra, nghiên cứu 19
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều tra thành phần, mức độ phổ biến của các loài côn trùng bắt
mồi trên ngô vụ đông xuân tại địa điểm điều
tra
25
3.2 Phổ vật mồi và khả năng khống chế rệp ngô của loài bọ rùa hai
mảng đỏ trên cây ngô tại địa điểm điều
tra
31
3.3 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái của loài bọ
40
3.4 Đề xuất các biện pháp lợi dụng, bảo vệ các côn trùng bắt mồi nhằm
hạn chế việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học trên cây ngô tại vùng điều
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Thành phần, mức độ xuất hiện các loài côn trùng bắt mồi
trên cây ngô vụ Đông - Xuân tại huyện Anh Sơn - Nghệ An 25
Bảng 3.2: Tỷ lệ số lượng của họ, giống và loài của nhóm côn trùng bắt
mồi trên cây ngô vụ Đông xuân ở Anh Sơn - Nghệ An 29
Bảng 3.3: Phổ vật mồi của loài bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata
trên một số cây trồng ở Anh Sơn tỉnh Nghệ An 32
Bảng 3.4: Diễn biến mật độ bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata và
tỷ lệ hại của rệp ngô trên giống DK 6919 vụ đông 2014 tại huyện Anh
Sơn, Nghệ An
33
Bảng 3.5: Diễn biến mật độ bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata tỷ lệ
hại của rệp ngô trên giống DK 8868 vụ đông 2014 tại huyện Anh Sơn,
Nghệ An
36
Bảng 3.6: Kích thước các pha phát dục của bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia
Bảng 3.7: Vòng đời của bọ rùa bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagata
Bảng 3.8: Khả năng đẻ trứng của bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia
Bảng 3.9: Thời gian sống của trưởng thành bọ rùa hai mảng đỏ L.
Bảng 3.10: Tỷ lệ nở của trứng bọ rùa 2 mảng đỏ Lemnia biplagiata 49
Bảng 3.11: Khả năng ăn rệp ngô của ấu trùng bọ rùa 2 mảng đỏ
Lemnia biplagiata so với ấu trùng bọ rùa Nhật Bản Propylea japonica 50
Bảng 3.12: Khả năng ăn rệp ngô của trưởng thành bọ rùa hai mảng đỏ 51
Trang 8và trưởng thành bọ rùa Nhật Bản
Bảng 3.13: Biến động mật độ của trưởng thành và ấu trùng bọ rùa hai
mảng đỏ Lemnia biplagiata ở vụ đông xuân 2014-2915 tại huyện Anh
Sơn - Nghệ An
53
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của thuốc hóa học đối với ấu trùng của bọ rùa
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của thuốc hóa học đối với trưởng thành bọ rùa
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Tỉ lệ phần trăm giữa các bộ côn trùng bắt mồi trên cây ngô tại
Hình 3.2: Các loài côn trùng bắt mồi phổ biến trên ngô tại tại huyện Anh
Hình 3.3: Diễn biến mật độ của bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata và
tỷ lệ hại của rệp ngô trên giống DK 6919 vụ đông 2014 tại huyện Anh
Sơn, Nghệ An
34
Hình 3.4: Diễn biến giữa mật độ của bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia
biplagiata và tỷ lệ hại của rệp ngô trên giống DK 8868 vụ đông 2014 tại
huyện Anh Sơn, Nghệ An
37
Hình 3.5 Quan hệ giữa mật độ của loài bọ rùa hai mảng đỏ và bọ rùa 6
vằn bắt mồi trên cây ngô tại Anh Sơn, Nghệ An vụ Đông xuân 2014-2015 38
Hình 3.6: Mối quan hệ giữa loài bọ rùa hai mảng đỏ với rệp ngô tại
huyện Anh Sơn, Nghệ An vụ Đông xuân năm 2014-2015 39
Hình 3.7 : Hình thái các pha phát dục của bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia
Hình 3.8: Nhịp điệu sinh sản của bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata 47
Hình 3.9 Ảnh hưởng của mật độ ấu trùng đến tỷ lệ vào nhộng và vũ hóa
Hình 3.10: Mối quan hệ của trưởng thành và ấu trùng bọ rùa hai mảng
đỏ với rệp ngô vụ đông xuân 2014-2015 ở Anh Sơn, Nghệ An 54
Hình 3.11: Sơ đồ nhân nuôi bọ rùa hai mảng đỏ trong phòng thí nghiệm
Trang 10MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, cây ngô (Zea mays L.) là cây lương thực quan trọng thứ 2 sau
lúa nước (Nguyễn Hữu Tình, 1997) [31] Cây ngô được du nhập vào Việt Namkhoảng thế kỷ 16 theo 2 con đường chính: từ Trung Quốc vào miền Bắc và từ quầnđảo vào phía Nam Sản xuất ngô tăng ở cả 8 vùng sinh thái nông nghiệp (trải rộng
cả nước) ở mỗi địa phương ngô được trồng nhiều vụ trong năm Ngô là cây thức ănchăn nuôi quan trọng nhất hiện nay Ngô là thức ăn xanh ủ chua lý tưởng cho giasúc, đặc biệt là bò sữa Gần đây, ngô còn dùng làm thực phẩm, người ta dùng ngôbao tử làm rau vì hàm lượng dinh dưỡng cao Ngô còn là nguyên liệu cho ngànhcông nghiệp chế biến và cũng là nguyên liệu trong dược và thuốc chữa bệnh cho conngười
Anh Sơn là một huyện miền núi thuộc miền Tây tỉnh Nghệ An, đây là huyệnđược UNESCO đưa vào danh sách các địa danh thuộc khu dự trữ sinh quyển miềntây Nghệ An.Vùng đất Anh Sơn nghiêng dần từ phía Tây về phía Đông, điểm caonhất là đỉnh núi Kim Nhan Địa hình đồi núi có 41.416ha, chiếm 80% diện tích tựnhiên Phần còn lại là ruộng và đất bãi ven sông Khí hậu mang những nét chungcủa vùng nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió PhơnTây Nam Lào Anh Sơn là huyện có diện tích trồng ngô lớn nhất tỉnh tập trung ởcác xã như Tường Sơn, Tam Sơn, Đỉnh Sơn, Hùng Sơn, Cẩm Sơn, Hoa Sơn, ĐứcSơn, Thạch Sơn, Vĩnh Sơn Diện tích trồng ngô với 3.200 ha được sản xuất 2 vụchính trong năm và khoảng 1.000 ha ngô vụ 3, tổng sản lượng thu hoạch hàng nămhơn 30.500 tấn ngô hạt Ngô Anh Sơn không chỉ cung cấp nguồn nguyên liệu thức
ăn chăn nuôi cho địa bàn nội huyện mà còn xuất bán ra các địa phương khác, đem
lại nguồn thu đáng kể cho nông dân
Cùng với việc tăng năng suất, sản lượng cây ngô, thì hình hình sâu hại ngôcũng gia tăng, nhiều loại sâu hại thường phát dịch ở những ruộng ngô bị hạn vào
Trang 11thời kỳ ngô sắp trỗ cờ, kết bắp Trong khi đó, với trình độ hiểu biết hạn chế, ngườinông dân liên tục sử dụng thuốc hóa học để diệt sâu hại, gây mất cân bằng sinhthái, ô nhiễm môi trường, làm giảm chất lượng sản phẩm và tăng tính kháng củanhiều loại sâu hại nguy hiểm, đặc biệt các loài rệp hại ngô Thuốc hóa học khôngnhững diệt sâu hại mà còn tiêu diện hết các loài thiên địch trên cánh đồng ngô trong
đó phải kể đến các loài côn trùng bắt mồi (Nguyễn Viết Tùng, 2006) [33]
Việc điều tra, nghiên cứu phòng trừ các loại sâu hại trên ngô là một yêu cầucấp bách trong thức tế sản xuất ngô hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải đánh giá hiệntrạng các loài côn trùng bắt mồi, tìm ra được các biện pháp phòng trừ sinh học, lợidụng tập đoàn côn trùng bắt mồi để phòng trừ sâu hại ngô nhằm tăng sản lượng,chất lượng của ngô nhưng lại an toàn và bảo vệ môi trường sinh thái Từ những yêu
cầu trong thực tiễn chúng tôi thực hiện đề tài: Điều tra thành phần côn trùng bắt mồi, đặc điểm sinh học, sinh thái của loài bọ rùa hai mảng đỏ (Lemnia biplagiata Swartz) trên cây ngô vụ đông xuân tại huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Điều tra thành phần côn trùng bắt mồi và vật mồi của chúng trên cây ngô,đồng thời nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài bọ rùa hai mảng
đỏ Lemnia biplagiata Swartz Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp bảo vệ tập đoàn
côn trùng bắt mồi trên ngô, lợi dụng và duy trì chúng trong phòng trừ sinh học sâuhại ngô nhằm giảm thiểu việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học trên cánh đồng, bảo vệmôi trường sinh thái và tạo sản phẩm ngô an toàn cho người và gia súc ở tỉnh NghệAn
1.3 Yêu cầu nghiên cứu
- Xác định thành phần loài, mức độ phổ biến của các loài côn trùng bắt mồitrên cây ngô tại địa điểm điều tra Phổ vật mồi và khả năng khống chế sâu hại củamột số loài côn trùng bắt mồi phổ biến trên ngô tại địa điểm điểu tra
- Đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của loài bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia
biplagiata Swartz và đề xuất những biện pháp cho việc sử dụng côn trùng bắt mồi
Trang 12có hiệu quả nhằm kiểm soát sâu hại chính trên ngô và hạn chế việc sử dụng thuốctrừ sâu hóa học.
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học
Bổ sung các dẫn liệu khoa học về thành phần thiên địch bọ xít bắt mồi trêncây ngô tại huyện Anh sơn tỉnh Nghệ An; Đặc điểm sinh học, sinh thái học và khả
năng sử dụng loài loài bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata Swartz trong hệ sinh
thái trông cây ngô giúp người trồng ngô có nhận thức về các loài bắt mồi một cáchhợp lý
Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua điều tra thành phần thiên địch bắt mồi trên cây ngô và nghiên
cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia
biplagiata Swartz tiến hành đề xuất biện pháp kiểm soát và phòng chống sâu hại
ngô một cách hiệu quả theo hướng tổng hợp nhằm đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội
và môi trường
Cung cấp dẫn liệu giúp người dân cũng như cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý
ở địa phương nhận biết, bảo vệ và sử dụng các loài côn trùng bắt mồi phòng trừ sâuhại ngô trong quá trình sản xuất ngô đảm bảo an toàn cho người và gia súc
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Những nghiên cứu về côn trùng bắt mồi trên ngô trên thế giới
1.1.1 Các nghiên cứu về thành phần loài và khả năng
sử dụng côn trùng bắt mồi trên ngô.
Thành phần loài côn trùng bắt mồi của các loài sâu hại trên cây ngô và cácnghiên cứu một số loài côn trùng bắt mồi phổ biến trong phòng trừ sinh học sâu hạingô cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu, cụ thể là 61 loài côn trùng bắt mồi sâuhại ngô đã được ghi nhận, trong đó có nhiều loài có khả năng sử dụng cho hiệu quả
phòng trừ cao như bọ xít bắt mồi Oriorus sp và bọ mắt vàng Chrysoperla sp tại
California Environmental Protection Agency phòng trong năm 1975 (Coppel andMertins, 1977) [38] Theo Lane (2000) [46] đã ghi nhận 7 loài bắt mồi quan trọng
trên ngô trong gồm Chrysoperla carnea, C rufilabris, Chrysopa spp., ruồi ăn rệp
Aphidoletes aphidimyza và bọ rùa bắt mồi Hippodamia convergens Các loài côn
trùng bắt mồi này là những tác nhân quan trọng và hiệu quả trong phòng trừ rệphại Nghiên cứu các loài bắt mồi phổ biến cũng đã được nghi nhận gồm ruồi ăn rệp
Aphidoletes aphidimyza và bọ rùa bắt mồi Hippodamia convergens Gillian
Ferguson (2005) [40] đã mô tả và nghiên cứu và ghi nhận một số loài như ruối ăn
rệp Aphidoletes aphidimyza, bọ rùa Hippodamia convergens, Harmonia axyridis và
bọ mắt vàng Chrysoperla sp trên cây ngô Để phòng trừ rệp Aphis gossypii, rệp Macrosiphum euphorbiaend và rệp Aulacorthum solani thì biện pháp phòng trừ
sinh học được ưu tiên và sử dụng với việc thả một số loài côn trùng bắt mồi như
ruồi ăn rệp Aphidoletes aphidimyza và bọ rùa Hippodamia convergens, Harmonia
axyridis Trong công trình phòng chống bọ trĩ hại ngô thì có thể sử dụng loài bọ
xít nhỏ thuộc họ Anthocoridae (Jamie Intosh, 2008) [43]
Bọ rùa ăn thịt có vai trò quan trọng trong việc tiêu diệt côn trùng gây hại câytrồng, đặc biệt là nhóm rệp hại Theo De Bach (1968) [39] đã ghi nhận trong 118
Trang 14trường hợp thành công mỹ mãn trong việc sử dụng biện pháp đấu tranh sinh học đã
có tới 21 trường hợp hoàn toàn chỉ sử dụng bọ rùa Tính cho tới nay thì đã có 29trường hợp sử dụng bọ rùa thành công trong đấu tranh sinh học, các nhà sinh học
Liên Xô đã sử dụng thành công loài bọ rùa Ấn Độ (Serangium parcesetosum) trong việc phòng trừ rệp cánh trắng hại cam (Dialeurodes citri) ở miền Nam Liên Xô
(dẫn theo Hoàng Đức Nhuận , 1982) [27]
Để phát huy tác dụng của côn trùng nói chung và bọ rùa nói riêng, một sốtác giả còn nghiên cứu một số khía cạnh phối hợp côn trùng ăn thịt bản xứ với côntrùng ăn thịt nhập nội Trong 225 trường hợp nhập nội thiên địch để trừ sâu hại trênthế giới thì có 51 trường hợp sử dụng bọ rùa (Bing et al., 1992; De Bach, 1964)[37],[39]
Tại Trung Á đã sử dụng thành công bọ rùa 11 chấm (Semiadalia 11- notata) và
bọ rùa 8 chấm (Brumus octosignatus) trừ rệp hại bông ở Châu Âu, các nhà sinh học đã
tiến thêm một bước trong việc sử dụng phức hệ bọ rùa địa phương có nhiều đặc tính
sinh học khác nhau; bọ rùa 7 chấm (Coccinella septempunctata), bọ rùa 2 chấm (Adalia bipunctata), bọ rùa sặc sỡ (Adonia variegata), bọ rùa 14 chấm (Harmonia
14 - punctata) và bọ rùa mập (Harmonia conglobata) trong công tác phòng trừ rệp
củ cải đường (dẫn theo Hoàng Đức Nhuận , 1982) [27]
Để phòng trừ sâu hại trên cây ngô trong thời gian từ 7/1993 đến tháng6/1995 tiến hành điều tra ở nhiều đồn điền trồng ngô ở Đông Bắc Ấn Độ đã kếtluận: Trong số các loài bắt mồi thì nhóm Phytoseiid được xem như một tác nhânsinh học điều hòa sâu hại ngô có hiệu quả nhất và ưu thế nhất (Hill and Waller,1988; Srivastava & Butani, 1987) [42], [50]
Đã ghi nhận 39 loài côn trùng bắt mồi thuộc các họ Reduviidae, Carabidae,Coccillenidae, Vespidae, Formicidae Đồng thời các tác giả cũng cho biết sự tácđộng lẫn nhau các nhóm với thuốc trừ sâu Trên cơ sở nghiên cứu các tác giả trên
đi đến kết luận: bảo tồn côn trùng bắt mồi bằng cách sử dụng chọn lọc các loại
Trang 15thuốc trừ sâu như Fenazaquin và Sulfur đã làm tăng số lượng một số loài bắt mồi
và lựa chọn các giống ngô phù hợp là cơ sở để đạt được những thành công trongchương trình IPM đối với sâu hại trên ngô (Muraleedharan, 1991)[47]
Mureleedharan (1992) [47] đã nghiên cứu tính ăn mồi của loài Chrysilla
versicolor (Phintella versicolor) đối với rầy xanh Empoasca flavescens Fabr trong
phòng thí nghiệm Kết quả là một ngày đêm, một nhện trưởng thành ăn 17,6 rầytrưởng thành và 80,5 rầy non, một con non có thể ăn tối đa 32,6 rầy trưởng thành
và 62,5 rầy non
Susan (1999)[51] đã xác định loài ruồi bắt mồi trên sâu đục thân ngô
Ostrinia nubilalis Hubner là Lydella thompsoni Trong số đó có 6 loài bắt mồi đã
tồn tại được ở Mỹ Tuy nhiên chỉ có 3 loài Eriborus terebran, Macrocentrus
grandii, Lydella thompsoni là có khả năng phân bố rộng và có hiệu quả trong
phòng trừ sinh học Loài ruồi bắt mồi Lydella thompsoni đã có mặt ở rất nhiều
vùng ở nước Mỹ mà những vùng đó không được nhân thả Nhiều năm sau đó loàiruồi này đã trở thành một loài ruồi bắt mồi quan trọng nhất trừ sâu đục thân ngô ởnhiều vùng ở nước Mỹ, tỷ lệ sâu đục thân ngô bắt mồi lên tới 75%
Nhưng đến năm 1960 số lượng loài ruồi bắt mồi giảm một cách đột ngột,nhiều vùng thuộc phía Nam Carolina, nhiều nơi không còn thấy sự xuất hiện củaloài ruồi này Cho đến nay sự xuất hiện của loài ruồi này được ghi nhận từ phía tâyConnecticut đến trung tâm Ohio và phía nam Carolina Trên cơ thể của ruồi có rấtnhiều lông Trứng phát triển hoàn toàn bên trong cơ thể trưởng thành cái cho đếnkhi sắp nở Trưởng thành cái đẻ trứng bên ngoài cơ thể sâu non Mỗi trưởng thànhcái có khả năng đẻ 1000 quả trứng Mùi phân của sâu non sâu đục thân ngô đã hấpdẫn trưởng thành cái đến đẻ trứng Trứng của ruồi đẻ ra nở ngay ra ấu trùng vàchúng xâm nhập vào cơ thể sâu non Nó thích tấn công sâu non tuổi 4 Thời gianphát triển của giòi khoảng 8 ngày Vòng đời của ruồi gắn liền với vòng đời của sâuđục thân ngô và phát triển mạnh nhất vào mùa xuân (Kieckhefer , 1984; Kieckheferand Gellner, 1988) [44], [45]
Trang 16De Bach (1964) [39] đã nhận xét thành phần thiên địch của sâu đục thân ngôbao gồm cả các loài ký sinh và các loài bắt mồi Những loài bắt mồi ở pha sâu non
tuổi nhỏ có hiệu quả hơn cả Nhóm bắt mồi phổ biến là Orius insidious (Say) (Hemiptera: Anthocoridae), Chrysoperla spp (Neuroptera: Chrysopidae), các loại bọ
rùa (Coleoptera: Coccinellidae)
Các loài côn trùng bắt mồi trên cây ngô đã tiêu diệt được khoảng 10 đến 20%trứng và sâu non của sâu đục thân ngô Đã tìm thấy 24 loài bắt mồi trên sâu đục thânngô Có 6 loài đã được nghiên cứu thành công Trong 6 loài này có loài ruồi bắt mồi
sâu đục thân ngô Lydella thompsoni Herting (Diptera: Tachinidae) là quan trọng hơn
cả Nó tiêu diệt được trên 30% sâu đục thân ngô ở nhiều vùng Nhưng sự bắt mồi củaloài này không ổn định chúng có thể biến mất ở nhiều vùng Một số loài bắt mồi
khác là Eriborus terebrans Gravenhorst, Simpiesis viridula và Macrocentris grandii
Goidanich (Vidya t al., 1983; Wang et al., 1997) [52], [53]
Rantulangi (2004)[48] cho biết ở Maros, Barru, Takalar, Jeneponto,Bantaeng, Bulukumba và Sinjai (phía nam Sulawesi) đã tìm thấy các loài côn trùng
bắt mồi Proreus sp., Euborellia sp., Chysopa sp., và Orius tristicolor Loài ruồi bắt mồi Lydella thompsoni Herting là một loài bắt mồi thường xuyên ở miền nam nước Pháp trên ký chủ sâu non của Ostrinia nubilalis[ Pyralidae], Sesamia nonagrioides,
Archanara geminipuncta và A dissolute.
Thành phần loài côn trùng bắt mồi của các loài sâu hại trên ngô đã đượcnhiều tác giả nghiên cứu, cụ thể là 41 loài côn trùng bắt mồi sâu hại ngô đã đượcghi nhận, trong đó có nhiều loài có khả năng sử dụng cho hiệu quả phòng trừ cao
như: bọ xít bắt mồi Oriorus sp và bọ mắt vàng Chrysoperla sp Lane Greer (2000) [46] đã ghi nhận 7 loài bắt mồi quan trọng trên ngô gồm Chrysoperla carnea, C.
rufilabris, Chrysopa spp., ruồi ăn rệp Aphidoletes aphidimyza và bọ rùa bắt mồi Hippodamia convergens Các loài thiên địch này là những tác nhân quan trọng và
hiệu quả trong phòng trừ rệp hại Nhân nuôi và thả các loài ruồi ăn rệp
Aphidoletes aphidimyza và bọ rùa bắt mồi Hippodamia convergens tốt nhất là vào
Trang 17thời gian nhiệt độ lạnh Gillian Ferguson (2005) [40] đã mô tả và nghiên cứu và
phát triển một số loài như ruối ăn rệp Aphidoletes aphidimyza, bọ rùa Hippodamia
convergens, Harmonia axyridis và bọ mắt vàng Chrysoperla sp để phòng trừ rệp
ngô Các biện pháp phòng trừ sinh học được ưu tiên và sử dụng với việc thả một số loài ruồi ăn rệp Aphidoletes aphidimyza và bọ rùa Hippodamia convergens,
Harmonia axyridis Trong công trình phòng chống bọ trĩ hại cây ngô thì có thể sử
dụng loài bọ xít nhỏ thuộc họ Anthocoridae (Jamie 2008) [43]
1.1.2 Các nghiên cứu về sinh học, sinh thái của bọ rùa và bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata
Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của bọ rùa Propylea japonica được nghiên cứu ở Trung Quốc trong các năm 1978-1981, bọ rùa P japonica có thể
hoàn thành 10 thế hệ trong 1 năm Song ngoài tự nhiên nó chỉ có 6 thế hệ trong 1năm Tuổi thọ của bọ rùa trưởng thành kéo dài 50 ngày Điều kiện thích hợp cho bọrùa phát triển là 25°C và 70-90% (Hamasaki Kenji and Matsui Masaharu, 2006)[41]
Semyanov (1999) [49] cho biết, bọ rùa Propylea japonica Thunberg là động
vật ăn rệp bông quan trọng ở phía đông Hồ Bắc, Trung Quốc, đã được nghiên cứuvào năm 1980-1981 Chúng có 4-5 thế hệ/năm Trưởng thành qua đông trong vếtnứt trong đất và rễ cây trồng Chúng tiếp tục hoạt động trong tháng 2, tháng 3 vàđầu tháng 5 chúng di cư đến các cánh đồng bông, và phát triển nhiều vào tháng 6,tháng 7 Từ tháng 10, chúng đã di cư đến ruộng lúa Trứng nở trên bề mặt dưới của
lá bông gian phát dục là 2-6 ngày, ấu trùng vừa nở đã hoạt động trên phần trên củacây trồng Giai đoạn ấu trùng kéo dài 6-9 ngày Trong quá trình phát triển, mỗi ấutrùng tiêu thụ 128-184 (trung bình 169,9) rệp Giai đoạn nhộng kéo dài 3-4 ngày.Trưởng thành được hoạt động ban ngày, và ghép đôi thường xuyên Trưởng thànhcái đẻ 281 quả trứng mỗi ngày Mật độ bọ rùa trên bông biến động cùng với mật độrệp bông
Trang 18Yang (1985) [55] đã nghiên cứu sự phát triển của ấu trùng, nhộng, và sự
sinh sản của Propylea japonica Thunberg khi được cung cấp trứng ngài bột
Ephestia kuehniella Ấu trùng và trưởng thành có thể phát triển trên trứng E kuehniella như trên rệp vừng đậu Acyrthosiphon Pisum Harris Khi cung cấp đầy
đủ thức ăn chúng có thể phát triển với mật độ cao Khả năng sinh sản của trưởng
thành cái khi nuôi bằng trứng E kuehniella chỉ được khoảng một phần ba khi nuôi bằng A pisum, tỷ lệ nở của trứng là 63,7-66,5% và những ấu trùng phát triển bình thường Các kết quả này cho thấy rằng trứng E kuehniella có thể sử dụng làm thức
ăn thay thế Tuy nhiên, để có được số lượng lớn ấu trùng và trứng có chất lượng thì
ấu trùng nuôi bằng trứng E kuehniella và trưởng thành cần được nuôi bằng A.
pisum.
Lemnia biplagiata có mặt ở Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc,
Miến Điện và Ấn Độ Nó là loài ăn tạp, ăn các loài rệp trên tre, lúa, ngô, rau , đậu,
cây ăn quả Khả năng sinh sản của trưởng thành cái khi ăn rệp Aphid craccivora là 1064±96,6 quả/con cái (690–1229) , khi ăn rệp đào Myzus persicae là 1651,0±840
quả/con cái (1047-1852) ở nhiệt độ 20°C thời gian phát dục của pha trứng là 5ngày, pha ấu trùng là 16 ngày và pha nhộng là 7 ngày ỏ 25°C thời gian phát dụccủa các pha tương ứng là 3 ngày,10 ngày và 4 ngày ỏ 30°C thời gian phát dục củacác pha tương ứng là 2 ngày, 8 ngày và 2,5 ngày Trong cả giai đoạn phát dục
trưởng thành cái tiêu thụ vật mồi rệp tuổi 3- 4 Aphid craccivora ở 20oC,25oC, 30oC
là 258,2±11,3; 226±8,7 và 224,8±8,6 rệp Trưởng thành đực tiêu thụ tương ứng là203,0±14,0; 188,3±6,7 và 187,3±12,5 rệp (Semyanov, 1999) [49]
Behura (1983) [36] trong nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ đã nghiên
cứu về khả năng ăn mồi của Lemnia biplagiata cho biết, cả pha ấu trùng L.
biplagiata ăn hết 430 ± 42 rệp Aphis gossypii, trưởng thành ăn hết 1548 ± 118 rệp
trong vòng 14–38 ngày sau vũ hóa
Trang 191.2 Những nghiên cứu về côn trùng bắt mồi trên ngô ở Việt Nam
1.2.1.Các nghiên cứu về thành phần loài
Côn trùng bắt mồi trên ngô có vai trò khá quan trọng trong hạn chế sự giatăng của các loài sâu hại, chúng đã được khá nhiều nhà khoa học quan tâm nghiêncứu (Nguyễn Đức Khiêm, 2001) [17] Theo Phạm Văn Lầm (1996) [20] ghi nhận
59 loài côn trùng bắt mồi của sâu hại ngô Chúng thuộc 36 họ côn trùng, nhện, nấm
và virus Các loài thiên địch thu thập được nhiều nhất ở bộ cánh màng (26 loàichiếm 30,6% tổng số loài thu thập được) và bộ cánh cứng (19 loài chiếm 26,3%),
bộ cánh nửa có 9 loài (chiếm 12,5%) Các bộ khác như bộ cánh mạch, bộ cánhthẳng, bộ hai cánh phát hiện từ 1 – 4 loài Trong các loài trên đã xác định tên được
Theo Nguyễn Xuân Chính (2004) [7] các loài côn trùng bắt mồi sâu hại ngôthu được 15 loài, 3 loài có mức độ phổ biến cao là: Bọ rùa đỏ, bọ rùa 6 vằn và bộcánh cộc nâu
Trương Xuân Lam và Vũ Quang Côn (2004) [18] đã có nhận xét số lượng cáthể của nhóm bắt mồi là bọ xít tỷ lệ số lượng cá thể trên cây ngô đạt 6,93 - 8,52%
Tỷ lệ số lượng cá thể của nhóm bọ xít bắt mồi (họ Reduviidae) đạt trung bình 17,02
- 24,91% , nhóm bọ rùa (Coccinellidae) đạt 27,12 - 34,01%, nhóm bọ chân chạy bắtmồi (họ Carabidae) trung bình 9,04 - 20,92%, nhóm ong bắt mồi (họ Vespidae,Polistidae và Sphecidae) trung bình 10,06 - 14,4% và nhóm côn trùng bắt mồi khác(họ Staphylinidae, Cicindeliae, Formicidae, Asilidae, Coenagrionidae và Mantidae)trung bình 12,36 - 25,71%
Trang 20Theo tài liệu của Nguyễn Công Thuật (1996) [32], những loài bắt mồi phổbiến của các loài sâu hại ngô gồm 25 loài côn trùng thuộc cánh cứng và bọ xít bắtmồi, trong đó có vai trò quan trọng là các loài trong họ bọ chân chạy, họ bọ rùa và
họ bọ xít ăn sâu
Tại Đức Trọng-Lâm Đồng có 13 loài côn trùng bắt mồi (Phạm Văn Lầm,1995) [19] Tại vụ ngô hè thu và thu đông ở Thanh Trì-Hà Nội cho thấy có 5 loàibắt mồi Trong đó bọ rùa đỏ hoạt động mạnh và có vai trò quan trọng trong tiêudiệt rệp Các loài kiến đỏ kiến đen có ý nghĩa trong việc tiêu diệt sâu non và nhộngsâu đục thân Bộ cánh cụt có vai trò tích cực trong việc làm giảm số lượng ấu trùngcủa sâu hại khác (Phạm Văn Lầm, 2005) [22]
Kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Dung (2001)[11] trên sinh quầnruộng ngô tại Gia Lâm-Hà Nội có 17 loài côn trùng bắt mồi của sâu hại ngô thuộc 7
bộ, trong đó bộ cánh cứng (Coleoptera) chiếm số lượng nhiều nhất (7 loài), tiếp đến
là bộ cánh màng (4 loài) và nhiều loài thiên địch khác
Tại Nam Đàn-Nghệ An trên các giống ngô ở 2 vụ ngô đông và ngô xuân có
26 loài thiên địch sâu hại ngô ( Phan Xuân Hảo, 2007) [14]
Họ Bọ rùa (Coccinellidae), bộ (Coleoptera), lớp (Insecta) có một lịch sửphát triển khá lâu dài Theo ý kiến của Iablokoff - Khazorian thì họ Coccinellidaehiển nhiên được hình thành từ khu vực nào đấy ở vùng nhiệt đới mà hiện nay ở đó
họ Coccinellidae cũng vô cùng phong phú và đa dạng (Bộ Khoa học và công nghệ Viện khoa học và công nghệ Việt Nam, 2007; Hoàng Đức Nhuận ,1982) [2], [27]
-Triển vọng sử dụng bọ rùa trong đấu tranh sinh học bảo vệ cây trồng ở ViệtNam là rất lớn, do trên một phạm vi đất đai không lớn nhưng Việt Nam có rất nhiềuloài bọ rùa có ích đồng thời phát triển Hệ bọ rùa có ích ở Việt Nam rất phong phú,tuy nhiên từ trước đến nay chưa được điều tra một cách có hệ thống Năm 1976,Viện bảo vệ thực vật đã công bố danh sách bọ rùa gồm 63 loài và phân loài, trong
đó có 48 loài có ích Cho tới nay số loài bọ rùa có ích trong khu hệ bọ rùa Việt
Trang 21Nam lên tới 165 loài, thuộc 5 phân họ, 60 giống, trong đó có 159 loài ăn rệp, vànhững sinh vật nhỏ khác hại thực vật (Phạm Văn Lầm, 1995) [19].
Các loài côn trùng bắt mồi trên ngô với vật mồi là sâu hại ngô có vai trò kháquan trọng trong hạn chế sự gia tăng của các loài sâu hại ngô, chúng đã được khánhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu (Bùi Sỹ Doanh và Lê Ngọc Quỳnh, 1993)[10]
Phạm Văn Lầm (2005) [22] ghi nhận 72 loài thiên địch của sâu hại ngô(trong đó có 28 loài bắt mồi ) Chúng thuộc 36 họ côn trùng, nhện, nấm và virus.Các loài thiên địch thu thập được nhiều nhất ở bộ cánh màng (26 loài chiếm 30,6%tổng số loài thu thập được) và bộ cánh cứng (19 loài chiếm 26,3%) Bộ nhện lớn đãphát hiện được 13 loài (chiếm 18,1%), bộ cánh nửa có 9 loài (chiếm 12,5%) Các
bộ khác như bộ cánh mạch, bộ cánh thẳng, bộ hai cánh, bộ nấm, virus mỗi bộ pháthiện từ 1 – 4 loài Trong các loài trên đã xác định tên được của 63 loài gồm 40 loàibắt mồi ăn thịt (chiếm 57,1%), 17 loài ký sinh trên sâu hại ngô (chiếm 21,45%), 4loài ký sinh bậc 2 (chiếm 5,7%), 2 loài ký sinh trên côn trùng ăn rệp ngô (chiếm2,9%) và 2 loài vi sinh vật gây hại cho sâu hại ngô (chiếm 2,9%)
Côn trùng bắt mồi trên cây ngô xuất hiện khá phổ biến trên đồng ruộng TạiGia Lâm – Hà Nội, Trần Đình Chiến (1991) [5] đã cho biết trên vụ ngô Xuân năm
2003, xuất hiện 15 loài thuộc 3 bộ, 8 họ Trong đó bộ cánh cứng có số loài thuđược nhiều nhất (11 loài) Ba loài xuất hiện với mức độ phổ biến cao là: Bọ rùa 6vằn, chân chạy dạng kiến và bọ cánh cộc
Theo Hồ Thị Thu Giang (1996) [12] các loài côn trùng bắt mồi trên sâu hạingô thu được 15 loài, 3 loài có mức độ phổ biến cao là: Bọ rùa đỏ, bọ rùa 6 vằn và
Trang 22- 44,91%, nhóm bọ chân chạy bắt mồi (họ Carabidae) trung bình 9,04 - 20,92%,nhóm ong bắt mồi (họ Vespidae, Polistidae và Sphecidae) trung bình 10,06 - 14,4%
và nhóm côn trùng bắt mồi khác (họ Staphylinidae, Cicindeliae, Formicidae,Asilidae, Coenagrionidae và Mantidae) trung bình 12,36 - 25,71%
Về biện pháp phòng trừ sâu hại ngô, đã từ lâu đời người dân đã tự biết chămsóc ruộng ngô của mình bằng biện pháp thủ công, tuy nhiên đối với mỗi loài sâuhại thì có những biện pháp phòng trừ khác nhau
1.2.2 Các nghiên cứu về sinh học, sinh thái của bọ rùa và bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata
Nghiên cứu về vòng đời, đặc điểm sinh vật học của các loài bọ rùa tuy chưanhiều nhưng cũng đã có những công trình nghiên khá chi tiết về một số loài bọ rùaphổ biến Nghiên cứu của Hồ Thị Thu Giang (1996) [12] về loài bọ rùa 6 vằn
Menochilus sexmaculatus khi nuôi bằng rệp cải có vòng đời trung bình là 28,8 ±
0,9 ngày ở điều kiện nhiệt độ trung bình là 18,90C, ẩm độ trung bình là 81,6%.Khả năng đẻ trứng của bọ rùa dao động 272,5 – 328 quả Sâu non bọ rùa có 4tuổi, sức ăn rệp cải của bọ rùa tăng dần từ tuổi 1 đến trưởng thành Sức ăn củasâu non tuổi 1 cao nhất đạt 9,8 ± 0,20 con/ngày ở điều kiện nhiệt độ trung bình
là 21,70C, ẩm độ trung bình 75,6 %, còn trưởng thành đạt 81,1 ± 0,99 con/ngày
ở điều kiện nhiệt độ trung bình ở 20,10C, ẩm độ trung bình 93,1%
Bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata có vòng đời trung bình từ 17,7 ngày (nuôi bằng rệp muội Aphis craccivora) đến 24,0 ngày (nuôi bằng rệp mía
Ceratovacuna lanigera) Một trưởng thành cái đẻ được 22,3 trứng khi ăn rệp muội Aphis craccivora và 183,5 trứng khi ăn rệp mía Ceratovacuna lanigera (Quách Thị
Ngọ và Phạm Văn Lầm,1999) [26]
Trần Đình Chiến (2002) [6], Phạm Văn Lầm (1998) [21] cho biết vòng đời
của loài bọ rùa bọ rùa 6 vằn Menochilus sexmaculatus trung bình 25,31 ± 2,61
ngày ở 25,9 – 29,00C và ẩm độ 81,7 – 90,3% Trưởng thành cái đẻ trung bình 219,4
Trang 23quả trứng, ăn 87,6 con rệp đậu tương trên ngày Chúng có khả năng ăn nhiều loạirệp khác nhau (rệp đậu tương, rệp ngô, rệp cải) nhưng thích ăn nhất là rệp đậutương Sức ăn của ấu trùng tăng dần từ tuổi 1 đến tuổi 4, tuổi 4 có khả năng ăn caonhất, trung bình một ngày đêm ăn hết 59,1 con rệp.
Bọ rùa 18 chấm Harmonia sedecimnotata có vòng đời trung bình từ 14,8
ngày khi nuôi ở nhiệt độ 30,7°C đến 17,7 ngày ở nhiệt 27,1°C Một cá thể trưởngthành cái đẻ trung bình 21,9-28,6 trứng Tuổi thọ của trưởng thành trung bình là22,8-24,2 ngày Một cá thể bọ rùa 18 chấm trong cả đời nó có thể tiêu diệt khoảng972,5 trứng nhện đỏ cam (Phạm Quỳnh Mai, 2009) [25]
Vòng đời của bọ rùa 17 chấm Harmonia sedecimnotata dài hơn vòng đời của bọ rùa đen nhỏ Stethorus sp và trung bình là 19,1-23,2 ngày khi ở nhiệt độ
thay đổi từ 30,3°C xuống 26,8°C Một cá thể trưởng thành cái đẻ trung bình 414,7trứng Tuổi thọ của trưởng thành trung bình là 33,0 ngày Một trưởng thành bọ rùa
17 chấm Harmonia sedecimnotata trong vòng 24 giờ tiêu diệt được khoảng 119,6 – 134,0 rệp muội đen Toxoptera aurantii, hoặc 72,4-85,8 ấu trùng rầy chổng cánh.
(Nguyễn Thành Vĩnh và nnk, 2005) [34]
Bọ rùa chữ nhân Coccinella transversalis có vòng đời kéo dài rừ 20 – 27
ngày Trong đó pha trứng 3-4 ngày, pha ấu trùng 14 – 17 ngày, pha nhộng 3 – 6
ngày Khả năng ăn rệp Aphis gossypii của bọ rùa trưởng thành trung bình là 29±3
rệp/ngày Nếu thiếu thức ăn, cả ấu trùng và trưởng thành đều ăn trứng hoặc các ấutrùng tuổi nhỏ hơn (Mai Phú Quý và nnk, 2005) [29]
Vòng đời của bọ rùa đỏ khi ăn rệp đậu tương (Aphis glycines) là 26,54±1,25
ngày ở điều kiện nhiệt độ trung bình là 29,8°C và ẩm độ trung bình là 83,5% Vòngđời của bọ rùa đỏ là 36,56±1,7 ngày ở nhiệt độ trung bình là 25,6°C Sức ăn của bọrùa đỏ trong một ngày tăng dàn từ tuổi 1 đến trưởng thành Pha trưởng thành ăn hết808,56±23,39 rệp Loài rệp thích hợp nhất cho bọ rùa đỏ là rệp đậu, rệp ngô, rệp
Trang 24cải Tổng số trứng đẻ trung bình cảu một trưởng thành là 182,7 quả ở nhiệt độ23,5°C và ẩm độ 87% (Hồ Thị Thu Giang và Trần Đình Chiến 2005) [13].
Theo Nguyễn Quang Cường và nnk (2009) [8] khi nuôi bọ rùa hai mảng đỏbằng 2 loại thức ăn khác nhau thì tổng thời gian phát triển từ giai đoạn trứng chođến giai đoạn trưởng thành có sự khác nhau không lớn Khi nuôi bằng rệp mía thìthời gian phát dục kéo dài trung bình khoảng 12 ngày, còn thức ăn là rệp đậu màuđen là khoảng 11 ngày Thời gian sống của trưởng thành bọ rùa hai mảng đỏ đốivói con đực là 40,43±6,74 ngày, con cái là 54,0±9,42 ngày Tổng số trứng đẻ trungbình của một con cái là 1113,07±196,26 quả
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hạnh và nnk (2008) [15] về bọ rùa Nhật Bản
Propylea japonica với thức ăn là rệp đậu màu đen, ở nhiệt độ 23°C, ẩm độ 75% thì
khả năng đẻ trứng của BRNB là 208-1843 quả, trung bình 615 quả Tuổi thọ trưởngthành cái trung bình là 50,9 ngày, trưởng thành đực là 57,8 ngày Cùng điều kiệnkhi không được giao phối khả năng đẻ trứng của con cái chỉ đạt 170-690 quả, trungbình 412,6 quả Tuổi thọ con cái kéo dài trung bình là 84,9 ngày, con đực là 85,3ngày
Vòng đời của bọ rùa Nhật Bản kéo dài 14-15 ngày, trong đó giai đoạn trứngphát triển trung bình 2,08±0,04 ngày, giai đoạn ấu trùng phát triển trong khoảng 5-
6 ngày, giai đoạn nhộng 2,62±0,27 ngày, giai đoạn trước đẻ trứng 4,5±0,23 ngày.Khả năng ăn mồi của ấu trùng bọ rùa Nhật Bản tương đối cao, mỗi ấu trùng có thể
ăn hết 208-293 ngày, trung bình 257±7 rệp đậu màu đen Mỗi trưởng thành bọ rùaNhật Bản trong 3 ngày đầu tiên ăn hết trung bình 196±10 rệp Trong 15 ngày đẻtrứng đầu tiên, mỗi bọ rùa cái có thể đẻ từ 326-498 trứng, trung bình 430 trứng.Khả năng ăn rệp cao ở cả giai đoạn ấu trùng và cả trưởng thành, trung bình cả pha
ấu trùng mỗi cá thể ăn hết 257 rệp, trong 3 ngày đầu sau vũ hóa mỗi trưởng thành
bọ rùa Nhật Bản ăn hết 196 rệp (Vũ Thị Chỉ, 2007) [4]
Trang 25Gần đây, các nghiên cứu đều tập trung vào việc tìm hiểu vai trò của côntrùng bắt mồi và hướng lợi dụng chúng trong việc kìm hãm sự phát triển của sâuhại ngô Đồng thời các nghiên cứu cũng tập trung nghiên cứu thành phần loài, đặcđiểm sinh học, sinh thái của các loài sâu hại, tạo cơ sở khoa học trong biện phápđấu tranh sinh học nhằm giảm sử dụng thuốc hoá học, hạn chế ô nhiễm môi trường(Trương Đích, 2000; Bùi Sỹ Doanh và Lê Ngọc Quỳnh, 1993; Hà Quang Hùng,2005) [9], [10], [16]
Theo Quách Thị Ngọ và Phạm Văn Lầm (1999) [26], Nguyễn Thị Kim
Oanh (1993) [30] loài bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata khi nuôi bằng rệp muội Aphis craccivoracó vòng đời dài hơn khi nuôi bằng rệp mía Ceratovacuna
lanigera Trưởng thành cái đẻ được ít trứng khi ăn rệp muội Aphis craccivora và
nhiều trứng khi ăn rệp mía Ceratovacuna lanigera
Loài bọ rùa đỏ Nhật bản khi nuôi bằng rệp cải có vòng đời trung bình là38,8 ± 0,9 ngày ở điều kiện nhiệt độ trung bình là 18,90C, ẩm độ trung bình là81,6% Sức ăn rệp cải của bọ rùa tăng dần từ tuổi 1 đến trưởng thành Sức ăncủa sâu non tuổi 1 cao nhất đạt 10,8 ± 0,20 con/ngày ở điều kiện nhiệt độ trungbình là 21,70C, ẩm độ trung bình 75,6 %, còn trưởng thành đạt 91,1 ± 0,99con/ngày ở điều kiện nhiệt độ trung bình ở 20,10C, ẩm độ trung bình 93,1% (HồThị Thu Giang, 1996) [12]
Trưởng thành cái loài bọ rùa bọ rùa 6 vằn Menochilus sexmaculatus đẻ trung bình 219,4 quả trứng và đẻ nhiều hơn loài bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata khi rệp đậu tương trên ngày Loài bọ rùa bọ rùa 6 vằn Menochilus sexmaculatus và
bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata có khả năng ăn nhiều loại rệp khác nhau (rệp
đậu tương, rệp ngô, rệp cải) nhưng thích ăn nhất là rệp đậu tương (Trần ĐìnhChiến, 2002) [6]
Việc từ bỏ hoàn toàn biện pháp hoá học trong phòng trừ sâu hại nhìn chungkhó thực hiện, vì vậy cần phải xây dựng hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp bảo vệ
Trang 26cây trồng (IPM) Biện pháp có ý nghĩa và hiệu quả về kinh tế và khoa học là biệnpháp sinh học, do đó việc tìm hiểu vai trò của các loài côn trùng bắt mồi nói chung,
bọ rùa nói riêng là hướng nghiên cứu cần tiếp tục được quan tâm (Bộ môn côntrùng, Khoa nông học - Trường ĐHNN Hà Nội, 2004; Phạm Tuyết Nhung, 2002)[1], [28]
1.2.3 Nhận xét chung
Ở Việt Nam các nghiên cứu hệ thống về thành phần loài côn trùng bắt mồi,mối quan hệ giữa chúng với sâu hại ngô và sử dụng côn trùng bắt mồi trong kiểmsoát sâu hại ngô đã được nghiên cứu (Đinh Thế Lộc và nnk, 1997) [23] một số đặcđiểm sinh học, sinh thái của một số loài bọ rùa bắt mồi trên cây ngô cũng đã được
đề cạp và có một số kết quả Tuy nhiên ở Nghệ An nhất là trên cây ngô ở huyệnAnh Sơn thì các nghiên cứu này còn chưa được quan tâm, nhất là các biện pháptrong quy trình quản lý tổng hợp dịch hại ngô còn rất ít, chưa được quan tâm mộtcách hệ thống Việc phòng trừ sâu bệnh chủ yếu bằng hoá học, lạm dụng quá mứcgây ra những vấn đề về tiêu thụ, sức khoẻ và môi trường
Trang 27CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Các vùng trồng ngô ở huyện Anh Sơn - Nghệ An như các xã như
Tường Sơn, Tam Sơn, Đỉnh Sơn, Cẩm Sơn, Thạch Sơn
Các nghiên cứu sinh học được thực hiện tại phòng thí nghiệm của Chi cụckiểm dịch thực vật vùng VI – Vinh – Nghệ An
- Thời gian: đề tài được tiến hành từ 6/2014 đến 6/2015
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Các loài côn trùng bắt mồi trên ngô
- Các loài sâu hại trên ngô, rệp ngô Rhopalosiphum maydis là con mồi của
các loài côn trùng bắt mồi
- Bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata (Coleoptera: Coccinellidae)
2.3 Vật liệu điều tra
- Các giống ngô DK 6919, DK 8868 và một số giống ngô khác
- Thuốc trừ sâu Diaphos 50 EC, Diazol 60 EC và Vibasu 10 H
- Hóa chất : Cồn 70o, axelen, Cloruafukaly, Formandehyt
2.4 Dụng cụ điều tra
+ Vợt côn trùng D = 35 cm, L = 70-80 cm
+ Giá đựng ống nghiệm kích thước 40x30x15 cm
+ Các khay to đựng hộp nuôi
+ Ống nghiệm với kích cỡ từ Φ =0.5 tới Φ = 5 cm
+ Đĩa Petri và lọ tam giác nút mài với thể tích V= 70-100cm
+ Các lọ nhựa với đường kính từ 15 cm tới 20 cm và cao từ 20–30 cm.+ Các loại lọ độc
+ Đệm bông đựng mẫu
+ Các lọ bảo quản mẫu trong cồn 700
Trang 28+ Panh, kéo, bút lông, kim mổ.
+ Các lồng lưới có kích thước 30x30x40 cm, 50x50x100 cm
+ Kính hiển vi, kính lúp 2 mắt và kính núp cầm tay
+ Nhiệt độ và ẩm kế Trung Quốc
+ Tủ sấy, đèn bàn và tủ lạnh để bảo quản mẫu
+ Các loại bình bơm thuốc bằng tay, ống đong ml và xy lanh
2.5 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần loài, mức độ phổ biến của các loài côn trùng bắt mồi(trong đó chú trọng các loài bọ rùa bắt mồi thuộc họ Coccinellidae thuộc bộ cánhcứng Coleoptera) trên ngô vụ đông xuân tại địa điểm điều tra
- Xác định phổ vật mồi và khả năng khống chế rệp ngô (Rhopalosiphum
maydis Fitch) của loài bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata trên cây ngô tại địa
điểm điều tra
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài bọ rùa hai mảng đỏ
Lemnia biplagiata trong điều kiện phòng thí nghiệm.
- Đề xuất các biện pháp lợi dụng, bảo vệ các loài côn trùng bắt mồi nhằmhạn chế việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học trên cây ngô tại vùng điều tra
2.6 Phương pháp điều tra, nghiên cứu:
Các nghiên cứu chủ yếu dựa theo phương pháp điều tra theo Quy chuẩn kỹthuật Quốc gia QCVN 01-38:2010/BNNPTNT của Cục bảo vệ thực vật (2010) [3]
và các thông tin niên quan lấy ở Tổng cục thống kê (2008) [35] bao gồm:
2.6.1 Xác định thành phần côn trùng bắt mồi trên cây ngô
Thành phần côn trùng bắt mồi và vật mồi của chúng trên ngô được tiến hànhđiều tra trên diện rộng, tại 5 xã thuộc huyện Anh Sơn Điều tra theo phương pháp điềutra tự do không cố định điểm, định kỳ 7-15 ngày điều tra 1 lần, thu thập tất cả các loạicôn trùng bắt mồi bắt gặp khi điều tra
Phương pháp thu mẫu được tiến hành như sau: Đối với côn trùng bắt mồisống trên cây dùng vợt để thu bắt con trưởng thành, hoặc bắt bằng tay đối với con
Trang 29non Những mẫu côn trùng thu được cho ngay vào lọ có chứa cồn để bảo quản mẫuvật để phân loại Xác định con mồi bằng cách ghi chép sự bắt mồi của các loài côntrùng bắt mồi bắt gặp hoặc thử nghiệm khả năng ăn mồi của chúng trên cánh đồnghoặc trong phòng nuôi.
Sử dụng bẫy hố (Pitfall trapping): Bẫy hố được làm từ các cốc nhựa cóđường kính 10cm, chiều cao 13cm, mỗi cốc chứa 20ml cồn với 4% foocmon Cốcđược đặt thấp hơn mặt đất khoảng 1cm Sau khi đặt bẫy, cứ 10 ngày thu mẫu từ cácbẫy hố một lần, sau đó cách 10 ngày đặt bẫy lại, và sau 10 ngày thu mẫu lần tiếptheo Bẫy hố dùng để thu thập các loài cánh cứng bắt mồi, kiến bắt mồi
2.6.2 Xác định phổ vật mồi, sức ăn mồi của côn trùng bắt mồi
Những cá thể của côn trùng bắt mồi trên vụ ngô Đông- Xuân được ở ngoàiđồng bị bỏ đói 24 giờ, sau đó tiến hành thí nghiệm để xác định phổ thức ăn, sức ăn
mồi và một số tập tính ăn mồi của chúng Chúng được nuôi trong các lọ nhựa có
đường kính từ 15 - 20cm, cao 15 - 25cm, có bông giữ ẩm, đậy vải màn để thông khíđặt trong phòng thí nghiệm, thức ăn để nuôi là một số loài sâu hại ngô thuộc bộ cánhvảy, thiếu trùng và trưởng thành bọ xít, châu chấu, cào cào, một số loài côn trùngthuộc các bộ khác Các vật mồi được thu trực tiếp ngoài ruộng ngô Hàng ngày quansát thành phần vật mồi và số lượng vật mồi đã bị tiêu diệt trong các lọ nuôi để xác địnhphổ vật mồi, sức ăn mồi, pha vật mồi bị tấn công và vật mồi ưa thích nhất của các đốitượng nuôi Đồng thời vệ sinh lọ nuôi, thay bông giữ ẩm, thay lá rau, bổ sung vật mồi
vào lọ nuôi với lượng dư thừa sử dụng trong ngày.
2.6.3 Điều tra mật độ của các loài côn trùng bắt mồi và vật mồi
Tại các ruộng ngô điều tra, tiến hành điều tra trên các cây ngô ở mỗi hàng đãchọn, sao cho cây ngô chọn sau không trùng với hàng ngô chọn trước Tại mỗi câyngô đã chọn, sử dụng vợt côn trùng (D=45cm) bắt các côn trùng có khả năng dichuyển ở trên ngọn, sau đó quan sát từ gốc ngô cho tới ngọn ngô và sử dụng tayhoặc ống hút để thu các mẫu côn trùng là sâu hại hoặc côn trùng bắt mồi có mặttrên cây ngô, ghi chép vật mồi để xác định phổ vật mồi và chụp ảnh quá trình bắt
Trang 30mồi của các loài côn trùng bắt mồi trên cây ngô Mật độ điều tra được tính con/cây.Song song với việc thu mẫu bằng vợt, tay hoặc ống hút thì tiến hành sử dụng cácbẫy hố để thu bắt một số loài bắt mồi sống ở mặt đất (như bọ chân chạy, kiến) hoặcmàn treo để thu bắt đối với các loài côn trùng như các loài ong bắt mồi Mẫu thuđược bảo quản trong các lọ mẫu và được chú thích với các thông tin đầy đủ
2.6.4 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ rùa
* Nuôi bọ rùa:
Trong khi điều tra thu thập trưởng thành ngoài tự nhiên đem về phòng thínghiệm và tiếp tục nuôi bằng thức ăn là rệp ngô để cho chúng đẻ trứng và chọnnhững ổ trứng đẻ ra cùng 1 ngày tiếp tục nuôi cho đến trưởng thành để theo dõi cácchỉ tiêu về hình thái, sinh vật học
* Nghiên cứu vòng đời của bọ rùa:
Sau khi thu thập trưởng thành ngoài tự nhiên đem về phòng nuôi sâu chochúng giao phối và theo dõi cho chúng đẻ trứng, chọn những quả trứng được đẻ racùng 1 ngày được tách ra nuôi theo phương pháp cá thể số cá thể theo dõi là n= 30
để làm thí nghiệm
+ Pha trứng: thời gian quan sát từ khi trứng mới đẻ đến khi trứng nở, từ đó
xác định được thời gian phát dục của pha trứng, tỷ lệ nở của trứng, đồng thời theodõi ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ khác nhau đến thời gian phát dục của pha trứng
+ Pha ấu trùng; chọn những ấu trùng nở cùng 1 ngày để làm thí nghiệm,theo dõi ngày ấu trùng lột xác, lấy ấu trùng lột xác cùng 1 ngày tiếp tục làm thínghiệm
+ Pha nhộng: chọn những cá thể vào nhộng cùng 1 ngày theo dõi cho đếnkhi trưởng thành
+ Pha trưởng thành: chọn những cá thể vũ hoá cùng 1 ngày, cho ghép đôi
và tiếp tục theo dõi đến khi trưởng thành đẻ quả trứng đầu tiên, để tính thời gianphát dục của pha trưởng thành, đồng thời nuôi cho đến khi chết để theo dõi thờigian sống và khả năng đẻ trứng của trưởng thành
Trang 31Tiến hành quan sát, mô tả hình thái, màu sắc, đo đếm kích thước của các phaphát dục (trứng, ấu trùng các tuổi, nhộng, trưởng thành).
* Nghiên cứu khả năng đẻ trứng của trưởng thành bọ rùa:
Tiến hành cho từng cặp đực cái mới vũ hóa vào trong hộp nhựa để chúngghép đôi và giao phối, hàng ngày theo dõi khả năng đẻ trứng của bọ rùa trưởngthành đến khi chúng kết thúc thời kỳ sinh sản, và chết sinh lý, từ đó xác định nhịpđiệu sinh sản và sức sinh sản của bọ rùa
* Nghiên cứu khả năng ăn mồi của bọ rùa:
Chúng tôi kết hợp theo dõi vòng đời và cung cấp thức ăn cho ấu trùng bọ rùa.Hàng ngày cung cấp lượng rệp ngô tuổi 2-3 dư thừa, đếm số lượng rệp cho vào vàsau 1 ngày thì đếm số rệp còn lại Từ đó xác định sức ăn qua các tuổi của bọ rùa
* Điều tra ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đến loài bọ rùa hai
mảng đỏ Lemnia biplagiata
- Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV của nông dân trên cây ngô Từ đóchọn ra 3 loại thuốc nông dân sử dụng nhiều nhất
- Bố trí thí nghiệm để đánh giá ảnh hưởng của 3 loại thuốc BVTV nông dân
thường sử dụng trên ngô đến bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata trong phòng thí
nghiệm đối với ấu trùng và trưởng thành: Bố trí các công thức thí nghiệm trong ôthí nghiệm có quây lưới (trong đó có rệp ngô là thức ăn của bọ rùa hai mảng đỏ
Lemnia biplagiata) Thí nghiệm được lặp lại 3 lần Tiến hành phun thuốc theo nồng
độ khuyến cáo
2.6.5 Phương pháp bảo quản và xử lý mẫu
Mẫu vật được xử lí và bảo quản theo phương pháp bảo quản côn trùng:
Bảo quản khô: Hầu hết các mẫu vật côn trùng bắt mồi trưởng thành được
ghim và sấy khô ở nhiệt độ 45 - 500C bằng tủ sấy trong khoảng thời gian 20 - 24giờ, sau đó chuyển vào hộp lưu mẫu và gắn tên khoa học cho từng mẫu vật
Bảo quản ướt: Trứng, sâu non, nhộng, trưởng thành của côn trùng bắt
mồi được bảo quản trong các ống nghiệm bằng cồn 700 Các mẫu vật đều được
Trang 32ghi nhãn đầy đủ theo tiêu chuẩn phân loại quy định Mẫu vật được bảo quảntại phòng Côn trùng học thực nghiệm và sinh thái học côn trùng tại Viện ST
và TNSV
Định loại mẫu vật: Cách thức định loại được tiến hành theo các tài liệu
định loại cánh cứng bắt mồi (Coleoptera) định loại theo các tài liệu của HoàngĐức Nhuận (2007) Bọ xít bắt mồi (Heteroptera) định loại theo các tài liệu củaDistant (1902 Các nhóm côn trùng bắt mồi khác định loại theo các tài liệu củaPhạm Văn Lầm (1994); Trương Xuân Lam và Vũ Quang Côn (2004)
2.6.6 Xử lý số liệu
Số liệu sẽ được xử lý bằng phần mềm xử lý thống kê Primer-e theo Clarke
& Gorley sản xuất năm 2001
Với các chỉ tiêu theo dõi sau:
- Mức độ bắt gặp
Mức độ bắt gặp: f (%) =
+ Ít phổ biến (f ≤ 25%)++ Phổ biến (25% < f ≤ 50%)+++ Rất phổ biến: f > 50%
- Hệ số tương quan:
Nếu r = 0 thì đại lượng x và y độc lập nhau
0 < r 0,5 thì hai đại lượng x, y có quan hệ tuyến tính yếu
0,5 < r 0,7 hai đại lượng x, y có quan hệ tuyến tính tương đối chặt
0,7 < r 0,8 thì hai đại lượng có quan hệ tuyến tính chặt
0,8 < r 0,9 thì hai đại lượng x, y có quan hệ tuyến tính khá chặt
0,9 < r < 1 thì hai đại lượng x, y có quan hệ tuyến tính rất chặt
* Kích thước trung bình của cơ thể:
X i
XTB (mm) =
N
Trong đó: XTB là giá trị trung bình của cơ thể
Xi là giá trị kích thước của cá thể thứ i
N là số cá thể theo dõi
* Thời gian phát dục trung bình của một cá thể (ngày)
x 100 Số lần bắt gặp mẫu Tổng số lần điều tra
Trang 33∑xi*nJ
XTB (ngày) =
N
Trong đó: XTB: thời gian phát dục trung bình
Xi: thời gian phát dục của cá thể thứ i
* Mật độ sâu hại chính và côn trùng thiên địch
Tổng số sâu điều tra
Mật độ (con/cây) =
Tổng số cây điều tra Tổng số cây có rệp
Tỷ lệ cây có rệp (%) = x 100 Tổng số cây điều tra
* Tỷ lệ hại:
Tổng số cây bị hại
TLH (%) = x 100 Tổng số cây điều tra
N: tổng số cây điều tra
Mức độ gây hại của rệp được phân theo thang 3 cấp:
Cấp 1 (nhẹ) :rệp xuất hiện rải rác
Cấp 2 (TB): rệp phân bố 1/3 búp cờ
Cấp 3 (nặng) rệp phân bố trên 1/3 búp cờ
Trang 34CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều tra thành phần, mức độ phổ biến của các loài côn trùng bắt mồi trên ngô vụ đông xuân tại địa điểm điều tra
Trên đồng ruộng cây ngô vụ đông xuân tại huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An,
ngoài các loài sâu hại, còn tồn tại một lực lượng đối địch với sâu hại là các loài côntrùng bắt mồi có ý nghĩa, đặc biệt chúng có khả năng kìm hãm sự gia tăng quần thểcủa các loài sâu hại có kích thước nhỏ Để đánh giá được vai trò của thiên địch bắtmồi trên cây ngô, chúng tôi tiến hành điều tra thành phần và mức độ phổ biến củachúng trên cây ngô vụ đông xuân 2014-2015 tại 5 xã thuộc huyện Anh Sơn tỉnhNghệ An Kết quả điều tra được ghi lại ở bảng 3.1
Bảng 3.1: Thành phần, mức độ phổ biến các loài côn trùng bắt mồi trên cây
ngô vụ Đông- Xuân tại huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An
STT Tên Việt
Mức độ phổ biến T
7
T
T1 2
Dohrn, 1979
Trang 36BỘ CHUỒN CHUỒN – ODONATA
Họ Chuồn chuồn ngô - Libellulidae
19 Chuồn chuồn
ngô vàng
Brachythemis contaminate
++: Xuất hiện trung bình: 25- 50%
+++: Xuất hiện nhiều: >50%
Kết quả bảng 3.1 cho thấy, trên cây ngô trồng tại tại huyện Anh Sơn tỉnhNghệ An đã thu thập được 21 loài côn trùng bắt mồi, thuộc 6 bộ và 10 họ, trong đó
bộ Cánh khác (Heteroptera ) chiếm số lượng nhiều nhất với 8 loài ( chiếm 38,1 %)
thuộc 3 họ Họ Bọ xít ăn sâu ( Reduviidae ) có 5 loài, họ Bọ xít 5 cạnh(Pentatomidae) có 2 loài, họ Bọ xít mù ( Miridae) có 1 loài Tiếp đến là bộ Cánh
Trang 37cứng (Coleoptera ) có 7 loài (chiếm 33,3 % ), thuộc 3 họ trong đó Họ Bộ chân
chạy (Carabidae) có 2 loài, họ Bọ rùa (Coccinellidae ) có 3 loài, họ Bọ cánh cộc
(Staphilinidae ) có 2 loài Bộ Cánh da ( Dermaptera) và bộ Chuồn chuồn(Odonata) đều có 2 loài (chiếm 9,5 %), bộ Bọ ngựa (Mantodea) và bộ Cánh màng(Hymenoptera ) đều có 1 loài duy nhất (chiếm 4,8 % ) Trong bộ Cánh khác thì họ
Bọ xít ăn sâu ( Reduviidae ) chiếm số lượng lớn với 5 loài (chiếm 23,8 % ) Đâycũng là những loài xuất hiện sớm và có mức độ phổ biến cao, từ khi bắt đầu đếnkhi kết thúc điều tra
Trong 21 loài côn trùng bắt mồi trên ngô thì có 7 loài côn trùng bắt mồi(chiếm 33,33%) xuất hiện sớm và có mức độ xuất hiện cao từ khi bắt đầu đến khikết thúc điều tra Các loài côn trùng bắt mồi có mức độ xuất hiện cao là những loài
có vai trò chủ yếu trong tập hợp côn trùng bắt mồi có ý nghĩa lớn trong việc lợidụng để phòng trừ sinh học sâu hại trên cây ngô ở điểm điều tra 7 loài có mức độ
bắt gặp cao là: bọ xít nâu bắt mồi Coranus fuscipennis Reuter, 1881, bọ xít mù xanh Crytohinus lividipennis Reuter, 1884, bọ chân chạy 2 vệt vàng Chlaenius
bimaculatus Dejean,1873, bọ rùa đỏ Micrapis discolor Fabricius, 1798, Bọ rùa hai
mảng đỏ Lemnia biplagiata Swartz, bọ đuôi kìm nâu đen Euborellia annulata (Fabricius, 1793) và bọ cánh cộc 3 khoang Paederus fuscipes Curtis,1826
Bảng 3.2: Tỷ lệ số lượng của họ, giống và loài của nhóm côn trùng bắt mồi
trên cây ngô vụ Đông xuân ở Anh Sơn tỉnh Nghệ An
Các bộ côn trùng
thu thập
Số lượng họ
Tỷ lệ
%
Số lượng giống
Tỷ lệ
%
Số lượng loài
Trang 39Hình 3.1: Tỉ lệ phần trăm giữa các bộ côn trùng bắt mồi trên cây ngô tại tại
huyện Anh Sơn tỉnh Nghệ An
Cả 7 loài có mức độ bắt gặp cao (>50%) thì loài bọ xít nâu bắt mồi Coranus
fuscipennis xuất hiện nhiều ở tháng 10 và tháng 11, bọ xít mù xanh Crytohinus lividipennis xuất hiện nhiều vào tháng 11, bọ chân chạy 2 vệt vàng Chlaenius bimaculatus xuất hiện nhiều ở tháng 10, bọ rùa đỏ Micrapis discolor xuất hiện
nhiều ở tháng 11, bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata Swartz xuất hiện nhiều vào tháng 10, bọ đuôi kìm nâu đen Euborellia annulata xuất hiện nhiều ở tháng 9
và tháng 10 và bọ cánh cộc 3 khoang Paederus fuscipes xuất hiện nhiều ở tháng 10
và tháng 11
Trang 40Hình 3.2: Các loài côn trùng bắt mồi phổ biến trên ngô tại tại huyện Anh Sơn
tỉnh Nghệ An 3.2 Phổ vật mồi và khả năng khống chế rệp ngô của loài bọ rùa hai mảng đỏ trên cây ngô tại địa điểm điều tra
3.2.1 Phổ vật mồi của loài bọ rùa hai mảng đỏ trên cây ngô
Tại địa điểm điều tra trên các loại cây trồng, cây bụi và cỏ dại, chúng tôi đều
nhận thấy sự có mặt của loài bọ rùa hai mảng đỏ Lemnia biplagiata Xác định phổ vật
mồi đã ghi nhận có 7 loài rệp là vật mồi của loài bọ rùa này, trong đó mức độ bắt
gặp bọ rùa hai mảng đỏ ăn cao là rệp ngô Rhopalosiphun maidis, tiếp theo là rệp bắp cải Brevicorynae brassicae, rệp đậu Aphis craccivora và rệp mía
Ceratovacuna lanigera (bảng 3.3)