Đội ngũ cán bộ giáo viên THCS trên cả nước nói chung và đội ngũ giáo viên THCS ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang nói riêng là một lựclượng – chủ thể chính trị to lớn và hết sức quan trọng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN XUÂN HOÀNG
VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN HÒN ĐẤT,
TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN XUÂN HOÀNG
VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN HÒN ĐẤT,
TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số : 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Viết Quang
Long An, 6/2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của các cấp lãnh đạo; các thầy giáo,
cô giáo; các bạn đồng nghiệp và gia đình Tôi xin chân thành cám ơn:
- Trường Đại học Vinh; trường Đại học Kinh tế - Công nghiệp Long An; cácthầy, cô giảng dạy lớp cao học Chính trị học K21 đã giảng dạy và tạo điều kiệnthuận lợi để bản thân hoàn thành luận văn
- Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hòn Đất; Lãnh đạo các trường Trung học
Cơ sở trên địa bàn huyện Hòn Đất; Văn phòng Huyện ủy, Văn phòng Ủy ban nhândân, Ban Tuyên giáo huyện ủy Hòn Đất đã nhiệt tình cung cấp thông tin, số liệu,cho ý kiến và tạo điều kiện thuận lợi cho bản thân trong quá trình nghiên cứu thực tế
để làm luận văn
- Gia đình đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho bản thân trongquá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS
TS Trần Viết Quang - Người hướng dẫn khoa học đã tận tâm bồi dưỡng kiến thức,phương pháp nghiên cứu và trực tiếp giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận vănnày
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, song chắc rằng luậnvăn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong nhận được những lời chỉ dẫncủa các thầy giáo, cô giáo, ý kiến đóng góp trao đổi của các bạn đồng nghiệp đểluận văn được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!
Tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa - CNH, HĐH
- Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ - GS, PGS, TS, ThS
Trang 5
MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 01
B NỘI DUNG 07
Chương 1 VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 07
1.1 Văn hóa chính trị 07
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở hiện nay 29
Chương 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY 43
2.1 Khái quát về các trường Trung học cơ sở và đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Hòn đất, tỉnh Kiên Giang hiện nay 43
2.2 Ưu điểm và hạn chế về văn hóa chính trị của đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở ở huyện Hòn đất, tỉnh Kiên giang 51
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG HIỆN NAY 66
3.1 Phương hướng nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở huyện Hòn đất, tỉnh Kiên giang hiện nay 66
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang hiện nay 72
C KẾT LUẬN 93
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
E PHỤ LỤC 99
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của toàn Đảng, toàn dân ta bao gồmnhững nội dung cơ bản như: xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa (XHCN); xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN; xây dựng nền văn hóa tiêntiến đậm đà bản sắc dân tộc Các nội dung đó hòa trong một tổng thể không thểtách rời, không thiếu mặt nào
Văn hóa chính trị (VHCT) trong xã hội thực sự là phương thức điều hành xãhội; nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội
Với tư cách là một phương diện của văn hóa, VHCT với các tính chất, đặcđiểm, chức năng của mình là nâng cao trình độ chính trị cho con người Điều đó, cónghĩa VHCT không phải là biểu hiện bề ngoài của chính trị, mà thẩm thấu trong cơthể chính trị; nó là sức sống và do đó là sức mạnh bên trong của đời sống chính trị.Như vậy, VHCT có vai trò vô cùng to lớn trong hoạt động chính trị, nó không chỉphản ánh đời sống chính trị, mà còn nằm ngay trong mọi thành phần, mọi hoạt độngchính trị của con người, nó tác động mạnh mẽ và toàn diện tới phương hướng, tínhchất, nội dung, kết quả và hiệu quả của hoạt động chính trị
Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức nóichung cũng như đội ngũ giáo viên trung học cơ sở (THCS) nói riêng đã có nhữngđóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nghị quyết Trungương 4 (khóa XI) đã chỉ rõ: “Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bướctrưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt Đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện,nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, đượcnhân dân tin tưởng Thành tựu 25 năm đổi mới là thành quả của toàn Đảng, toàndân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên” [2,tr.1]
Trang 7Tuy nhiên, thực tiễn ở nước ta cho thấy, mặc dù đội ngũ cán bộ, đảng viên
nhìn chung đã đạt đến một trình độ VHCT nhất định, đáp ứng cơ bản yêu cầu của sựnghiệp đổi mới đất nước Song, bên cạnh đó, có một bộ phận không nhỏ cán bộ,đảng viên vẫn còn nhiều thiếu hụt những giá trị VHCT như: thiếu giác ngộ lý tưởngcách mạng, hạn chế về trình độ và năng lực nhận thức, khả năng hoạt động thựctiễn, sa sút về phẩm chất, đạo đức và lối sống…dẫn đến nguy cơ đối với vận mệnhcủa Đảng, gây mất ổn định chính trị, làm giảm niềm tin của dân đối với Đảng vàNhà nước Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) cũng nhấn mạnh: “Một bộ phậnkhông nhỏ cán bộ, đảng viên; trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản
lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sốngvới những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhâních kỷ, cơ hội thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, thamnhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…” [2, tr.1] điều đó làm giảm uy tín củaĐảng, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào chế độ
Đội ngũ giáo viên của các trường Trung học cơ sở ở huyện Hòn Đất, tỉnhKiên Giang đã và đang tích cực phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ và đãđạt được nhiều thành tích đáng được biểu dương trong thời gian qua Qua đó, họ đãtạo nên sắc diện VHCT cho chính mình trong đời sống chính trị Tuy nhiên, đội ngũgiáo viên THCS ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang vẫn còn những hạn chế, yếukém chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn của địa phương, đất nước trong tìnhhình mới Do vậy, cần phải có những giải pháp kịp thời nhằm khắc phục và nângcao VHCT cho đội ngũ giáo viên THCS ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang hiệnnay
VHCT có vai trò rất quan trọng, song về phương diện lý luận, ở nước ta nóchưa được quan tâm nghiên cứu một cách thấu đáo, nghiêm túc, dường như nó bịhòa tan trong các khoa học chính trị Do vậy, VHCT cũng chưa được quan niệm,
Trang 8chưa được hiểu như một lĩnh vực văn hóa độc lập với những nét đặc thù với tínhchất và bản chất riêng, với sức mạnh và vai trò quan trọng của nó.
Từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, một số công trình nghiên cứu của vănhóa chính trị bắt đầu xuất hiện ở nước ta Ban đầu là những bài báo, bài tạp chí đăngtrên những tạp chí khoa học như: Tạp chí Cộng sản, Tạp chí triết học, Tạp chínghiên cứu lý luận, Tạp chí văn hóa-nghệ thuật…Những năm cuối thế kỷ XX xuấthiện một vài cuốn sách viết về VHCT Đó là: “Văn hóa chính trị Việt Nam- truyềnthống và hiện đại” của giáo sư (GS) Nguyễn Hồng Phong; “Văn hóa chính trị vàviệc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay” do giáo sư, tiến sĩ(GS.TS) Phạm Ngọc Quang chủ biên; “Vai trò của văn hóa trong hoạt động chínhtrị của Đảng ta hiện nay” do GS.TS Trần Văn Bính chủ biên; và cũng phải kể đếncác tác giả như Trần Văn Giàu: “Giá trị truyền thống Việt Nam”; Hồng Phong-Phạm Xuân Nam: “Văn hóa và phát triển”; Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm:
“Cơ sở văn hóa Việt Nam”; Huỳnh Khái Vĩnh: “Văn hóa lối sống” v.v…
Trong những năm gần đây, VHCT trở thành một trong những vấn đề hấp dẫn,lôi cuốn các nhà nghiên cứu Ở các trường đại học đã xuất bản nhiều giáo trình có
sự phân tích thích đáng cho VHCT như: Giáo trình Chính trị học do Viện Khoa họcChính trị thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn, hay giáo trìnhChính trị học của Khoa Luật trường Đại Học Vinh do Phó giáo sư, Tiến sĩ, Giảngviên cao cấp (PGS.TS.GVCC) Đoàn Minh Duệ và PGS.TS Nguyễn Đăng Dungđồng chủ biên
Trong thời gian gần đây, cũng đã có một số luận văn thạc sỹ (ThS), luận án
TS chuyên ngành chính trị học đã đi sâu vào đề tài VHCT Đó là: luận văn ThS
“VHCT và những giá trị tiêu biểu của VHCT Việt Nam truyền thống” của tác giảLâm Quốc Tuấn; luận văn ThS “Văn hóa chính trị Việt Nam và vai trò của nó đốivới công cuộc đổi mới hiện nay” của tác giả Lê Tấn Lập; luận văn ThS “Góp phầnlàm rõ khái niệm và chức năng của niềm tin chính trị” của Phạm Thị Thúy Hồng;
Trang 9Luận văn ThS “Văn hóa chính trị của đội ngũ giáo viên trung học phổ thông ởhuyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà tĩnh hiện nay” của Nguyễn Thị Bích Hợp; Luận vănThS “Tư duy lý luận của đội ngũ Hiệu trưởng các trường Tiểu học hiện nay” của ĐỗThị Thanh Hương; Luận văn ThS “Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng ở Đảng
bộ thành phố Cao lãnh, tỉnh Đồng tháp trong giai đoạn hiện nay” của Mai KiếnTrúc Các luận án, luận văn đó đã bước đầu đem lại những đóng góp có ý nghĩacho việc xây dựng VHCT, làm rõ đặc điểm, vai trò của VHCT trong đời sống chínhtrị - xã hội
Sự phát triển của bản thân chính trị học nói chung và lý luận về VHCT nóiriêng; đặc biệt là đòi hỏi nâng cao chất lượng VHCT của cán bộ Đảng, nhà nướchiện nay đang đặt ra một cách bức thiết việc nghiên cứu sâu sắc về VHCT, vềVHCT trong từng con người cụ thể với tư cách là những chủ thể chính trị trong hệthống chính trị Việt Nam Đội ngũ cán bộ giáo viên THCS trên cả nước nói chung
và đội ngũ giáo viên THCS ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang nói riêng là một lựclượng – chủ thể chính trị to lớn và hết sức quan trọng trong sự nghiệp trồng người –đào tạo ra những chủ thể chính trị mới hoạt động trên các lĩnh vực của đời sống xã
hội Với tất cả những lý do trên, đề tài: "Văn hóa chính trị của đội ngũ giáo viên Trung học Cơ sở ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang hiện nay" mong muốn khảo sát
thực trạng, năng lực, trình độ lý luận chính trị của đội ngũ giáo viên các trườngTHCS để đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao văn hóa chính trị cho độingũ giáo viên THCS các trường, góp phần vào sự nghiệp đổi mới về công tác dạy vàhọc trong nhà trường
Luận văn này muốn đi sâu nghiên cứu VHCT, nhằm đưa VHCT tới mọi hoạtđộng sống của các chủ thể chính trị, trong đó có việc nâng cao VHCT cho đội ngũgiáo viên THCS ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang như là sự tiếp nối những côngtrình đã có ở trên; nhằm tạo một bước phát triển mới về phương diện lý luận cũngnhư thực tiễn của quá trình xây dựng đội ngũ giáo viên THCS hiện nay nói chung
Trang 10và cán bộ giáo viên THCS ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang nói riêng Đề tàimong đóng góp tiếng nói nhỏ bé của mình vào sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp cáchmạng chung của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất quan điểm và giải pháp nhằmnâng cao VHCT cho đội ngũ giáo viên THCS ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang,đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu vấn đề VHCT của đội ngũ giáo viên THCS, qua đó làm
rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất quan điểm, giải pháp nâng cao VHCT cho độingũ này
Trang 11- Vận dụng kiến thức chính trị học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đểphân tích, làm rõ những vấn đề VHCT cũng như vai trò của nó trong hoạt độngchính trị của chủ thể chính trị; kế thừa các thành tựu nghiên cứu của những người đitrước về VHCT; dựa trên những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nguồn lựccon người để phân tích nhu cầu về chủ thể chính trị theo yêu cầu cách mạng hiệnnay.
Phương pháp nghiên cứu:
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử; tiếp cận đối tượng từ chính trị học; các phương pháp lịch sử - lôgíc,phân tích – tổng hợp, khái quát hóa trong quá trình thực hiện luận văn
5 Đóng góp về lý luận và thực tiễn cuả luận văn
- Luận văn phân tích, làm rõ tầm quan trọng và sự tác động đặc thù củaVHCT tới đội ngũ giáo viên THCS ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang và đưa ranhững giải pháp sát thực, hữu hiệu nhằm nâng cao VHCT cho đội ngũ giáo viênTHCS ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang nói riêng và giáo viên THCS trên cả nướcnói chung
- Luận văn làm rõ những đặc điểm, yêu cầu về VHCT đối với đội ngũ giáoviên THCS ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang trong việc nâng cao chất lượng củađội ngũ cán bộ này
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đếnVHCT và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy trong các trường THCS trênđịa bàn huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang nói riêng và các trường THCS trong cảnước nói chung
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đượckết cấu thành 3 chương, 6 tiết
Trang 13B NỘI DUNG Chương 1 VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Văn hóa chính trị
1.1.1 Khái niệm văn hóa chính trị
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hoá là một khái niệm đa diện, đa nghĩa do vậy sự biện giải về văn hóa có
vô vàn những cách tiếp cận khác nhau Nếu xét về đặc trưng văn hoá, mỗi quốc giađều có những nét riêng của mình Còn về mặt địa lý, thế giới hiện tại coi như đượcchia thành 2 phần Đông và Tây với ranh giới là đường nối liền chạy chéo từ lưu vựcsông Nile đến dãy Ural; theo đó văn hoá thế giới có thể phân thành hai loại hình,văn hoá phương Đông - trọng tĩnh và văn hoá phương Tây - trọng động, tương ứngvới hai nguồn gốc nông nghiệp và nguồn gốc du mục Văn hóa gốc nông nghiệptrong ứng xử với môi trường tự nhiên có ý thức tôn trọng, sống hoà hợp với thiênnhiên, lối tư duy tổng hợp, biện chứng, chủ quan, cảm tính và kinh nghiệm; ứng xửvới môi trường xã hội thì dung hợp trong tiếp nhận Mềm dẻo hiếu hòa trong đốiphó Văn hóa du mục luôn muốn chinh phục và chế ngự thiên nhiên, lối nhận thức
về phân tích, khách quan, lý tính và thực nghiệm, ứng xử trong xã hội theo cách độctôn khi tiếp nhận, cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó Tuy nhiên, hiểu nội hàm củavăn hoá không tách biệt rạch ròi như vậy Có nhiều học giả gắn khái niệm văn hoávới các nền văn minh, hoặc với thực tế về chính trị, kinh tế, tôn giáo, khoa học kỹthuật, đạo đức và xã hội Nhà xã hội học Mỹ Clifford Geertz quan niệm : khái niệmvăn hoá chính là những ý nghĩa được lưu truyền trong lịch sử thể hiện trong nhữnghình thái hành vi, một hệ thống nhận thức được truyền giữ thể hiện cách thức mà
Trang 14theo đó con người trao đổi, cư xử với nhau và phát triển nhận thức của mình về cuộcsống.
Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hộiloài người Ở phương Đông, từ văn hoá đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm.Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và từ hoá: Xem dáng vẻ con người, lấy đó màgiáo hoá thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ) Ở phương Tây, để chỉđối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Nga có từ kuitura Nhữngchữ này lại có chung gốc Latinh là chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần Vậy chữcultus là văn hoá với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tựnhiên và giáo dục cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, và họ
có những phẩm chất tốt đẹp
Vào thế kỉ XIX thuật ngữ “văn hoá” được những nhà nhân loại học phươngTây sử dụng như một danh từ chính Những học giả này cho rằng văn hoá (vănminh) thế giới có thể phân ra từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao nhất, và văn hoácủa họ chiếm vị trí cao nhất Bởi vì họ cho rằng bản chất văn hoá hướng về trí lực
và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E.B Taylor là đại diện của họ.Theo ông, văn hoá là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật,đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người cóđược với tư cách là một thành viên của xã hội
Ở thế kỉ XX, khái niệm “văn hoá” thay đổi theo F Boas, ý nghĩa văn hoáđược quy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu caosiêu như “trí lực”, vì thế sự khác nhau về mặt văn hoá từng dân tộc cũng không phảitheo tiêu chuẩn trí lực Đó cũng là “tương đối luận của văn hoá” Văn hoá không xét
ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác, trong quá trình lao động, ý thức của conngười xuất hiện, và ngay trong hoạt động lao động đó, con người đã tạo ra văn hóa
Trang 15Trong mấy thập kỷ vừa qua, vị trí vai trò của văn hóa ngày càng được khẳngđịnh trong đời sống nhân loại cũng như sự phát triển bền vững của các quốc gia,khái niệm văn hóa ngày càng được nhắc đến nhiều hơn, trở nên phổ biến và thâmnhập vào trong mọi hoạt động của con người.
Theo ông Phederico Mayo – Tổng giám đốc UNESCO thì: “Văn hóa là tổngthể sống động các hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị,các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dântộc” [28, tr.31] Định nghĩa trên đã tiếp cận văn hóa dưới góc độ hoạt động và vănhóa là hệ thống giá trị chuẩn mực đồng thời nhấn mạnh đặc tính dân tộc của vănhóa
Ở Việt Nam, trước cách mạng Tháng Tám, đã có một số học giả trong vàngoài nước nghiên cứu về văn hóa Việt Nam Đề cương văn hóa Việt Nam năm
1943 của Đảng ta và những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên lĩnh vực vănhóa, tư tưởng đã đặt nền móng cho lý luận văn hóa theo quan điểm Mác – Lênin rađời
Từ thực tiễn lịch sử lâu dài của dân tộc, trong tác phẩm “văn hóa đổi mới”, cốThủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sửcủa dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng các dân tộc Việt Namvượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, đểkhông ngừng phát triển và lớn mạnh, viết nên những trang sử lạ lùng bởi tính kiêncường trong hoạn nạn, bởi khí phách hào hùng trong giữ nước và dựng nước” [12,tr.9] … “Cốt lõi của sức sống đó là văn hóa với ý nghĩa bao quát và cao đẹp nhấtcủa nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trítuệ và tài năng, sức nhạy cảm tiếp thụ cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ bản lĩnh
và bản sắc của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để tự bảo vệ mình
và không ngừng lớn mạnh” [12, tr.10]
Trang 16Là người am hiếu văn hoá phương Đông và phương Tây, Chủ Tịch Hồ ChíMinh đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộcsống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, phápluật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàngngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phátminh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùngvới biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầuđời sống và đòi hỏi sự sinh tồn” [22, tr 431] Hồ Chí Minh nêu rõ, hoạt động sángtạo văn hóa là hoạt động có ý thức có mục đích của loài người Văn hóa với quanniệm rộng, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất, những giá trị tinh thần vàphương thức sinh hoạt.
Trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳngđịnh: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lựcphát triển kinh tế - xã hội Văn hóa khơi dậy tiềm năng, phát huy sức sáng tạo củacon người, tạo ra sự phát triển hài hòa giữa đời sống vật chất và tinh thần Văn hóaphải được đặt ngang hàng với kinh tế và chính trị” [11, tr.36]
Để thích ứng với xu thế hội nhập, hợp tác hiện nay tại Hội nghị Trung ương 9khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa,con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Nghị quyết đãđưa ra mục tiêu chung để phát triển văn hóa giai đoạn hiện nay là: “Xây dựng nềnvăn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện – mỹ,thấm nhuần tinh thần dân tộc, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nềntảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sựphát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,dân chủ, công bằng, văn minh” [4, tr.2]
Những định nghĩa về văn hóa dù phong phú đầy đủ đến cũng chỉ nêu bậtđược một vài phương diện của văn hóa Có thể nói, văn hóa là một khái niệm trừu
Trang 17tượng, nội hàm của văn hóa không xác định cụ thể, nên rất khó có một định nghĩa rõràng, đầy đủ, chính xác Tuy vậy, từ những quan niệm trên, ta thấy, khái niệm vănhóa có thể được nhận diện qua ba cấp độ khác nhau:
Ở mức độ đơn giản, văn hóa được xem là văn hóa nghệ thuật (văn hóa vănnghệ) Ở mức độ phức tạp hơn, văn hóa còn được xem là lối sống (văn hóa đờisống) bao gồm: ngôn ngữ giao tiếp, ẩm thực, cách cư xử, đạo đức, truyền thống, đứctính…, tức là hệ thống các giá trị tinh thần của một nhóm người, một dân tộc haymột xã hội Với nghĩa rộng nhất, văn hóa được xem là tất cả những giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo ra để phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của conngười Nói một cách đơn giản, văn hóa là tất cả những gì do con người, ở trong đờisống xã hội của con người và liên quan trực tiếp đến con người
Với cách tiếp cận như trên văn hóa có thể được hiểu, là một tập hợp bao gồm
hệ thống các giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức và phẩm chất, trí tuệ và tài năng,sức nhạy cảm tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ bản lĩnh và bản sắc củacộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để tự bảo vệ mình và để khôngngừng lớn mạnh
1.1.1.2 Khái niệm chính trị và mối quan hệ chính trị - văn hóa nhìn từ góc
độ chính trị học
Chính trị xuất hiện khi xã hội phân chia thành giai cấp và hình thành nhànước Thuật ngữ chính trị xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là những công việcliên quan tới nhà nước, là nghệ thuật cai trị nhà nước, là phương pháp nhất định đểthực hiện các mục tiêu của quốc gia
Chính trị là lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm các hoạt động và các mốiquan hệ liên quan đến các công việc và giải quyết các vấn đề chung của toàn xã hội.Đây là biểu hiện bề ngoài của chính trị Thực chất, chính trị là mối quan hệ, sựtương tác giữa chủ thể xã hội với toàn bộ các tổ chức và thành viên trong xã hội vớiquyền lực chi phối chứa đựng bên trong đó
Trang 18Trong các công việc chung của xã hội thì công việc của nhà nước chiếm vị tríquan trọng hàng đầu Trong xã hội có giai cấp, giai cấp chiếm ưu thế luôn luônmuốn giành lấy vai trò thực hiện các công việc chung để xác lập và duy trì địa vịthống trị của giai cấp mình Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, thựcchất chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, là những hoạt động xoay quanh vấn đềgiành, giữ chính quyền và sử dụng quyền lực nhà nước.
Từ thời cổ đại cho đến nay, nhiều nhà tư tưởng đã đưa ra nhiều quan niệmkhác nhau về phạm trù chính trị:
Nhà triết học cổ đại Hy Lạp – Platon đã cho rằng: “chính trị là sự cai trị, đó lànghệ thuật cai trị những con người với sự bằng lòng của họ, theo ông, cai trị bằngsức mạnh là độc tài còn cai trị bằng thuyết phục mới đích thực là chính trị” [10,tr.7]
Nhà xã hội học Đức đầu thế kỷ XX – Maxweber, quan niệm: “chính trị làkhát vọng tham gia vào quyền lực hay ảnh hưởng đến sự phân chia quyền lực giữacác quốc gia, bên trong quốc gia, hay giữa các tập đoàn người trong quốc gia Chínhtrị là những mong muốn và những tương tác khách quan của cộng đồng người đốivới quyền lực” [10, tr.8] Xuất phát từ quan điểm này, một số học giả khác hiểuchính trị là sự khôn khéo, khả năng đạt được sự phân chia chức năng mà vẫn đảmbảo duy trì sự tác động qua lại của chúng
Kế thừa những tinh hoa nhân loại, với thế giới quan khoa học của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác – Lênin đã đưa nhiều cách hiểu đúng đắn về chính trị
Theo C.Mác: “Giai cấp nào muốn nắm quyền thống trị, ngay cả người thốngtrị của nó đòi hỏi phải thủ tiêu toàn bộ hình thức xã hội cũ và sự thống trị nói chung,như trong trường hợp của các giai cấp vô sản, thì giai cấp ấy trước hết phải chiếmlấy chính quyền, để đến lượt mình, có thể hiểu lợi ích của bản thân mình như là lợiích phổ biến, đều mà giai cấp ấy buộc phải thực hiện trong bước đầu” [8, tr.48]
Trang 19Như vậy chính trị bao giờ cũng gắn liền với giai cấp, giai cấp nào muốn nắm đượcchính quyền, xóa bỏ xã hội cũ xây dựng xã hội mới, trước hết phải giành lấy chínhquyền.
Theo V.I.Lênin: “chính trị có lôgíc khách quan của nó, không phụ thuộc vào
dự tính của cá nhân này hay cá nhân khác, của đảng này hay của đảng khác” [17,tr.246] Đây là một quan niệm khẳng định chính trị không phải hình thành theo ýmuốn của mỗi người, mỗi Đảng mà gắn với điều kiện của lịch sử cụ thể nhất định
V.I.Lênin còn chỉ rõ: “chính trị là quan hệ giữa các giai cấp – là cái quyếtđịnh vận mệnh của nước cộng hòa Bộ máy là công cụ bổ trợ, nó càng vững mạnhchừng nào thì càng tốt và càng có ích hơn cho những sự biến đổi Nhưng không cónăng lực chấp hành sứ mệnh đó, thì cũng chẳng còn có tác dụng gì nữa” [20, tr.87-88] Như vậy, vấn đề Lênin quan tâm là “năng lực chấp hành sứ mệnh” của giai cấp.Năng lực này không chỉ phụ thuộc vào ý chí, nguyện vọng của giai cấp mà còn phụthuộc vào trình độ dân trí, trình độ văn hóa của quần chúng nhân dân Vì vậy, Lênin
đã nhấn mạnh: “một người không biết chữ là người đứng ngoài chính trị, trước hếtphải dạy a,b,c,d…cho họ đã Không thể, thì không thể có chính trị, không thế thì chỉ
có những tin đồn đại, những chuyện nhảm nhí, những chuyện hoang đường nhữngthiên kiến, chứ không phải là chính trị” [20, tr.218]
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đời sống xã hội có bốn lĩnh vực cơ bản là kinh
tế, chính trị, văn hóa và xã hội, phải coi các lĩnh vực đều quan trọng như nhau Chủtịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ mối quan hệ giữa chính trị và văn hóa, theo Người,chính trị và văn hóa tồn tại trong thể thống nhất: Chính trị với văn hóa, văn hóa vớichính trị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Sau khi giành được độc lập Người đãnhấn mạnh:… “Xưa kia chính trị bị đàn áp, nền văn hóa của ta vì thế không nảysinh được Nay nước ta đã độc lập, tinh thần được giải phóng, cần có một nền vănhóa hợp với khoa học, hợp với nguyện vọng của nhân dân” [5,tr.10]
Trang 20Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “văn hóa không đứng ngoài mà ởtrong kinh tế và chính trị” Khái niệm “ở trong” theo Người, chính là mối quan hệtoàn diện và hữu cơ của văn hóa với chính trị, chính trị với văn hóa Hoạt động vănhóa nào cũng mang tính chính trị và mọi hoạt động chính trị đều mang tính văn hóa,văn hóa phải trở thành động lực và mục tiêu của hoạt động chính trị.
Cùng với sự phát triển của đời sống chính trị, những kinh nghiệm chính trịđược tích lũy ngày càng phong phú và sâu rộng Một trong những động lực quantrọng thúc đẩy xã hội phát triển chính là văn hóa Văn hóa là động lực của sự pháttriển xã hội cũng như sự phát triển hiện thực chính trị Nhu cầu nâng cao hiệu quảhoạt động chính trị đã khái quát hóa kinh nghiệm chính trị thành lý luận chính trị, từ
đó tạo điều kiện cho sự tìm tòi, tiếp cận đúng quan niệm văn hóa chính trị
1.1.1.3 Khái niệm văn hóa chính trị
VHCT là một bộ phận, một phương diện của văn hóa trong xã hội có giai cấp(có chính trị), nhưng điều đó không có nghĩa VHCT là phép cộng giản đơn giữa vănhóa với chính trị, mà đó là sự thẩm thấu, xâm nhập vào nhau, chuyển hóa lẫn nhaugiữa văn hóa với chính trị, chính trị với văn hóa
Nếu hiểu VHCT như là những giá trị phản ánh quá trình tìm kiếm, thửnghiệm những phương thức, con đường để nâng cao chất lượng, hiệu quả và gópphần nhân đạo hóa các quá trình chính trị thì từ lâu nó đã là đối tượng nghiên cứucủa nhiều nhà tư tưởng lớn thời cổ đại như: Platôn, Aristốt (ở phương Tây);Khổng Tử, Mạnh Tử, Mặc Tử, Hàn Phi (ở phương Đông) Nó cũng được tiếp tụcphát triển và được thể hiện trong các tư tưởng chính trị của các nhà chính trị tư sảncận đại nổi tiếng như Môngtetxkiơ (1689-1755), Vôn te (1694-1778), Rút xô (1712-1778)
Đến những năm 1950, hai nhà chính trị học Mỹ H.Almond và H.Paul đã đưa
ra định nghĩa VHCT cho đến nay vẫn được nhiều người đồng tình: "Văn hoá chínhtrị là tập hợp các lập trường và các xu hướng cá nhân của những người tham gia
Trang 21trong một hệ thống nào đó, là lĩnh vực chủ quan làm cơ sở cho hành động chính trị
và làm cho hoạt động chính trị có ý nghĩa”
C Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin tuy chưa đưa ra khái niệm VHCT, nhưngtrong hệ thống học thuyết của các ông đều toát lên những tư tưởng, quan điểm cơbản về VHCT trên mọi khía cạnh đời sống chính trị của giai cấp vô sản và nhân dânlao động như: vấn đề đấu tranh giành quyền lực, vấn đề cải tạo xã hội cũ, xây dựng
xã hội mới; vấn đề xây dựng con người XHCN; vấn đề dân chủ XHCN
Những nhà chính trị học mácxít đã đưa ra nhiều định nghĩa về VHCT do sựkhác nhau về cách tiếp cận Theo từ điển chính trị rút gọn của Liên Xô (trước đây)các tác giả cho rằng: “Văn hoá chính trị là trình độ và tính chất của những hiểu biếtchính trị, những nhận định, những hành vi của công dân, cũng như nội dung, chấtlượng của những giá trị xã hội, những chuẩn mực xã hội và sự hoàn thiện của hệthống tổ chức quyền lực, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội, góp phần điềuchỉnh hành vi và quan hệ xã hội”
Trong lịch sử Việt Nam, ông cha ta cũng để lại nhiều tư tưởng chính trị quígiá, thể hiện nhãn quan VHCT sâu sắc Tư tưởng về độc lập dân tộc và chủ quyềnquốc gia, tư tưởng "khoan dân", "nhân nghĩa" đã trở thành triết lý sống của ngườiViệt Nam, cho đến nay những giá trị đó vẫn còn nguyên ý nghĩa
Hồ Chí Minh quan tâm giáo dục các mục tiêu của VHCT theo cả mô thức dântộc - khoa học - đại chúng trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,đồng thời Người xác lập quan hệ văn hoá - chính trị trên nền tảng dân tộc với nộidung XHCN trong giai đoạn cách mạng XHCN VHCT được tạo lập trong các quan
hệ chính trị mới, mà trong những quan hệ đó đánh dấu sự trưởng thành về nhân cáchchính trị của nhân dân, làm gia tăng các khả năng sáng tạo của quần chúng nhândân
Quan điểm nổi bật nhất và đặc sắc nhất trong tư tưởng VHCT của Hồ ChíMinh là xã hội mới phải có con người mới đại diện cho nó: "Muốn xây dựng
Trang 22CNXH, trước hết cần có những con người XHCN" [14, tr.106] Đối với Hồ ChíMinh, xây dựng thành công con người mới XHCN là xác lập cơ sở bền vững củaVHCT mới
Sự lựa chọn con đường kết hợp giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp vôsản là sự lựa chọn mang tính VHCT sâu sắc Quan điểm về một xã hội mới phải làmột xã hội không có áp bức dân tộc, áp bức giai cấp, áp bức con người Hồ ChíMinh đã đặt cơ sở cho việc hình thành một tư duy chính trị mới Với địa vị chính trịmới trong xã hội, giai cấp vô sản và nhân dân lao động thiết lập nên các quan hệVHCT mới - đó là khối liên minh công - nông - trí thức như nền tảng chính trị củaCNXH Trong quan hệ đó, giai cấp công nhân và đội tiên phong của nó là ĐảngCộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo chính trị, nhưng đội ngũ cán bộ của nótrong quan hệ quyền lực chỉ là những “đầy tớ” trung thành của nhân dân, nhân dân
là người làm chủ quyền lực chính trị thực sự VHCT trong tư tưởng Hồ Chí Minhkhông chỉ mang nội dung giai cấp công nhân, mà còn là tổng hợp các giá trị văn hoángười Việt Chủ tịch Hồ Chí Minh không chấp nhận một kiểu VHCT dựa trên cơ sởtăng trưởng kinh tế nhưng lại kéo theo sự nô dịch con người hoặc tạo ra các phảngiá trị về nhân cách con người VHCT cũng là loại hình văn hóa hướng con ngườilàm việc thiện, gắn với các lợi ích kinh tế, chính trị, nhưng nó phải là sự hài hòa, sựliên hiệp giữa cộng đồng và cá nhân, giữa truyền thống với hiện đại, giữa kinh tế vàvăn hóa, giữa giá trị vật chất và phi vật chất, giữa bản sắc văn hóa dân tộc với tiếpbiến văn hóa quốc tế trên nền tảng giá trị chân, thiện, mỹ
VHCT là một khái niệm chính trị học hiện đại, mới ra đời và đang được làmphong phú thêm trong tiến trình phát triển môn chính trị học ở các nước khác nhau,gắn liền với các chế độ chính trị, xã hội khác nhau Vì vậy khó có thể đưa ra mộtkhẳng định thống nhất Nhìn chung, VHCT là khái niệm dùng chỉ mối quan hệ giữatruyền thống xã hội (thường được gọi là văn hóa) đối với hành vi tham gia chính trịcủa con người, tức là giữa văn hóa và sự vận hành của thể chế chính trị Văn hóa
Trang 23gắn liển với dân tộc, phản ánh bản sắc độc đáo của dân tộc Mỗi dân tộc đều có nềnvăn hóa riêng Trong thực tế cùng một chế độ chính trị, nhưng ở mỗi nước khácnhau thì chế độ ấy có những biểu hiện khác nhau, bởi vì người dân (nhất là ngườilãnh đạo nhà nước) tham gia hoạt động chính trị ở từng nước chịu ảnh hưởng sâusắc bởi truyền thống văn hóa của dân tộc mình, vì vậy hoạt động chính trị của họ cósắc thái riêng phản ánh nền văn hóa đó Mỗi dân tộc có truyền thống VHCT riêng,
nó tác động to lớn đến sự phát triển chính trị của dân tộc đó
Như vậy, VHCT là một hệ thống giá trị văn hóa được con người tiếp nhận vàlựa chọn, biến nó thành nhu cầu, thành vũ khí, phương tiện trong hoạt động chínhtrị VHCT là tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành trong thựctiễn chính trị Nó chi phối hoạt động của các cá nhân, các nhà chính trị và địnhhướng hoạt động của họ trong việc tham gia vào đời sống chính trị
1.1.2 Cấu trúc, đặc điểm, chức năng của văn hóa chính trị
1.1.2.1 Cấu trúc của văn hóa chính trị
Cấu trúc của VHCT là một hệ thống giá trị bao gồm nhiều nhân tố cấu thành,chúng có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau
Tri thức, sự hiểu biết, giác ngộ khoa học về chính trị
Đây là giá trị nền tảng của VHCT, được định lượng một cách phổ biến bởi trithức chính trị Tri thức chính trị là trình độ học vấn và sự hiểu biết của con người vềchính trị VHCT luôn cần và cần phải có học vấn chính trị Tuy học vấn và văn hóa
là hai khái niệm không đồng nhất với nhau nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽvới nhau Trình độ học vấn giúp cho các chủ thể hiểu biết và nhận thức rõ hơn vềcác giá trị văn hóa, từ đó xác định các nguyên tắc, lý tưởng sống cho bản thân mình,lúc đó trình độ học vấn đã trở thành một khía cạnh của nhân cách văn hóa Ngượclại, văn hóa lại khẳng định những giá trị xã hội của học vấn, chủ thể nào có trình độhọc vấn mà không cống hiến cho xã hội, thậm chí phá hoại xã hội thì học vấn đóđứng ngoài văn hóa Có trình độ học vấn, quần chúng nhân dân tự giác và nâng cao
Trang 24ý thức trách nhiệm, tham gia tích cực và có hiệu quả trong thực hiện đường lối, chủtrương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước
Nói về vai trò của học vấn đối với chính trị, V.I Lênin có một nhận xét nổitiếng: “Người không biết chữ là người đứng ngoài chính trị” Chính trị là trí tuệ,không có tri thức chính trị khó có thể đạt tới trình độ tự giác, tích cực Những biểuhiện phiêu lưu, manh động, tính tự phát vô chính phủ trong các hành vi chính trịphần lớn đều xuất phát từ việc thiếu hiểu biết, thiếu sự dẫn dắt của lý trí sáng suốt,tỉnh táo tức là thiếu lý luận khoa học; “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn làthực tiễn mù quáng” Kinh nghiệm hoạt động chính trị thực tiễn cho thấy, nhiệt tìnhkhông dựa trên cơ sở hiểu biết nhiều khi dẫn tới hành vi phá hoại, cản trở xu thếphát triển nói chung
Sự hiểu biết chính trị không chỉ biểu hiện ở trình độ học vấn chính trị mà còn
ở trình độ kinh nghiệm, sự khôn ngoan, sự từng trải, sự nhạy bén, mẫn cảm vềchính trị được tích lũy qua thực tiễn chính trị của chủ thể Ở đó trình độ học vấnđược thẩm thấu vào hành vi nhận thức, suy nghĩ, tình cảm của con người, trở thànhnhững giá trị ứng xử của con người dưới dạng nguyên tắc sống hướng tới chân,thiện, mỹ, giúp chủ thể khắc phục căn bệnh chủ quan, duy ý chí
Về lý thuyết, giữa học vấn chính trị và kinh nghiệm chính trị thì học vấnchính trị có vị trí chi phối, nhưng trong thực tiễn khó khẳng định được cái nào quantrọng hơn cái nào Do vậy, tri thức chính trị và sự hiểu biết chính trị với tư cách lànhân tố cấu thành VHCT phải là sự thống nhất giữa tri thức lý luận và tri thức kinhnghiệm, trong đó tri thức lý luận càng đạt tới tính khách quan, khoa học bao nhiêucàng có vai trò to lớn, mở đường cho hành động đúng bấy nhiêu; nó giúp cho cácchủ thể nhận thức rõ bản chất các quá trình chính trị, các qui luật chính trị, các lợiích chính trị Tri thức kinh nghiệm sẽ là những giá trị tăng thêm sức mạnh cho trithức lý luận, nhưng nó chỉ trở thành giá trị VHCT khi nó kết hợp với tri thức, lýtưởng và niềm tin chính trị Tuyệt đối hóa kinh nghiệm là sai lầm, “bệnh kinh
Trang 25nghiệm” sẽ trói cột con người, không dám thừa nhận cái mới, áp dụng kinh nghiệmmột cách máy móc, chủ quan trong giải quyết các vấn đề chính trị VHCT sẽ là
“vòng kim cô” tốt nhất để điều khiển và phát huy tốt những giá trị quí báu của kinhnghiệm chính trị Vì vậy, tuyệt đối hóa hoặc phủ nhận vai trò của yếu tố nào cũngđều hạ thấp giá trị và trình độ VHCT Nếu văn hóa là thước đo trình độ hiểu biết thìVHCT phải được xem là trình độ giác ngộ khoa học về chính trị Sự hiểu biết đúngđắn, khoa học về chính trị cùng với sự hỗ trợ quan trọng của kinh nghiệm chính trị,kinh nghiệm sống của các chủ thể chính trị giúp họ nâng cao tính tự giác trong hoạtđộng thực tiễn
Trong đời sống chính trị hiện đại, sự đa dạng, phức tạp về chủ thể chính trị,
sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và trình độ dân trí ngày càng cao,nền kinh tế phát triển theo xu hướng xã hội hóa và toàn cầu hóa, cùng với sự pháttriển của nhân loại lấy mục đích nhân đạo, nhân văn, dân chủ làm định hướng lýtưởng mà nội dung cơ bản là giải phóng mọi năng lực sáng tạo của con người ở cấp
độ cá nhân lẫn xã hội đã tạo ra những phương thức, những công cụ để giành, giữ vàthực thi quyền lực chính trị phong phú hơn, trí tuệ hơn và nhân đạo hơn
Niềm tin, tình cảm và lý tưởng chính trị
Niềm tin và tình cảm chính trị được hình thành bằng những con đường khácnhau, ở mỗi đối tượng cụ thể trong một không gian và thời gian chính trị nhất định.Niềm tin và tình cảm chính trị là sự bộc lộ những phẩm chất, sắc thái cá nhân đốivới lý tưởng, chế độ chính trị, nhà nước, chính đảng, đối với các cơ quan lãnh đạo,các nhà lãnh đạo Nếu là kết quả của nhận thức đúng đắn, sâu sắc về lý tưởngchính trị đã lựa chọn, không chịu bất cứ sự áp đặt, cưỡng bức nào thì niềm tin chínhtrị sẽ mang tính ổn định và bền vững, cả khi đời sống chính trị thuận lợi, cả trongnhững lúc biến động nhiều trắc trở, khó khăn Thực tiễn cách mạng nước ta dưới sựlãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là ví dụ sinh động về điều này Với niềm tintrên cơ sở khoa học và cách mạng, nhiều cán bộ cách mạng và quần chúng nhân dân
Trang 26đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng thể hiện rõ nét tính cách anh dũng, kiêncường, bất khuất trong chiến đấu, lao động, học tập, trong những tình huống nguyhiểm, thậm chí “ngàn cân treo sợi tóc”, đe dọa tính mạng; trong những lúc khủnghoảng, khó khăn nhất nhưng vẫn giữ niềm tin vào lý tưởng cách mạng mà Đảng,Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn Nhưng ngược lại, niềm tin chính trị dựa trên nhậnthức cảm tính, giản đơn dễ bi quan dao động, thậm chí phản bội lại lý tưởng chínhtrị khi tình thế chính trị khó khăn, phức tạp Cuộc khủng hoảng và sụp đổ của Đông
Âu và Liên Xô đã minh chứng điều đó, sự thật là “mất niềm tin thì mất tất cả”
Muốn xây dựng VHCT tiến tiến, cách mạng - VHCT xã hội chủ nghĩa thìphải xây dựng được niềm tin trên cơ sở khoa học, chính nghĩa, tiến bộ, phù hợp với
xu thế phát triển của nhân loại
Văn hóa nói chung,VHCT nói riêng trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định baogiờ cũng là sự kế thừa và phát triển những giá trị chính trị truyền thống phù hợp vớiyêu cầu, điều kiện cụ thể Các giá trị VHCT truyền thống không chỉ là những “chấtliệu” tạo nên VHCT mà còn tạo nên bản sắc dân tộc cho VHCT Bản sắc văn hóadân tộc bao giờ cũng gắn liền với ý thức tự khẳng định mình của mỗi dân tộc, coi đó
là niềm tin truyền thống và tâm hồn dân tộc Vì vậy, truyền thống là nhân tố khôngthể thiếu trong hệ giá trị văn hoá của dân tộc Tính dân tộc được thể hiện qua ý thứcdân tộc, nó là cái cốt lõi để giữ gìn bản sắc dân tộc
Trang 27Trong thời đại ngày nay, khi mà sự giao lưu giữa các nền văn hóa trở nên cầnthiết và mạnh mẽ thì những giá trị truyền thống là căn cứ để phân biệt những giá trịđích thực của nền văn hóa dân tộc với các nền văn hoá khác Khi đó tính dân tộctrong VHCT càng phải đề cao hơn bao giờ hết
Hệ tư tưởng chính trị
Với tư cách là nhân tố phản ánh khái quát lợi ích của giai cấp cũng nhưphương thức, con đường để thực hiện lợi ích cơ bản của giai cấp, liên minh giai cấphoặc của nhân dân lao động nói chung "hệ tư tưởng là yếu tố cốt lõi nhất, là địnhhướng cơ bản cho đời sống tinh thần xã hội", đóng vai trò hạt nhân của VHCT, giữ
vị trí trung tâm, có tác dụng chi phối các nhân tố khác trong VHCT, cũng như trongtoàn bộ nền VHCT nói chung của một thể chế chính trị Nó qui định tính chất, nộidung, khuynh hướng phát triển và tính tích cực của VHCT trong một xã hội nhấtđịnh Hệ tư tưởng chính trị của một thời đại là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị
Ngoài ra, còn có nhiều yếu tố khác tham gia vào sự hình thành VHCT, đónggóp vào cấu trúc của VHCT như bầu không khí tâm lý, đạo đức, tôn giáo; bối cảnhyêu cầu của thời đại Như vậy, VHCT của bất cứ chủ thể nào cũng là một hệ thốngcấu trúc của nhiều nhân tố, có lôgíc kết cấu và vận động nội tại Lôgíc này phản ánhmối liên hệ, tác động, chuyển hóa lẫn nhau giữa các nhân tố cấu thành VHCT Trithức chính trị, qua thực tiễn chính trị biến thành niềm tin, lý tưởng của chủ thể;từniềm tin, lý tưởng đó biến thành hành động chính trị thực tiễn, qua đó hình thànhnhững chuẩn mực chính trị, thành nếp sống, thói quen hành vi trong ứng xử chínhtrị Chỉ đến khi những chuẩn mực giá trị và sự ứng xử chính trị đó thẩm thấu vào tưchất của chủ thể hoạt động chính trị, làm cho chúng có mặt thường trực trong hành
vi xử lý các tình huống chính trị, trong đời sống chính trị hàng ngày thì lúc đóVHCT mới thực sự được xác lập ổn định trong chủ thể tương ứng
Ý thức về sự đổi mới chính trị
Trang 28Đời sống chính trị hết sức đa dạng và phong phú, nó đòi hỏi mỗi cá nhântham gia vào đời sống chính trị cũng phải luôn có sự năng động, nhạy bén, sáng tạo
và đổi mới Nền văn hóa của loài người cũng đổi mới không ngừng
Văn hóa là đổi mới, văn hóa chính trị cũng là sự đổi mới mang tính giai cấp.Đổi mới phải trên cơ sở nhận thức và vận dụng một cách hợp lý, hiệu quả các quyluật Đổi mới cũng phải bắt nguồn, bám rễ từ mãnh đất của văn hóa dân tộc và tinhhoa văn hóa của thời đại Sự nghiệp đổi mới diễn ra trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chínhtrị, xã hội cả bề rộng và chiều sâu Những lạc hậu, bảo thủ, giáo điều, trì trệ, chậmđổi mới hoặc là sự ngẫu hứng, tùy tiện, đều là những trở lực, kìm hãm sự phát triển,tiến bộ của lịch sử Do đó, ý thức được tính tất yếu khách quan của sự đổi mới, từ
đó định hướng đúng trong quá trình đổi mới cũng là một bộ phận quan trọng trongcấu trúc của VHCT
1.1.2.2 Đặc điểm của văn hóa chính trị
Tính giai cấp của văn hóa chính trị
VHCT hình thành trong thực tiễn đấu tranh giai cấp, do đó nó luôn bị chi phốibởi thế giới quan, hệ tư tưởng, những quan điểm chính trị của giai cấp nhất định và
nó phục vụ lợi ích của mỗi giai cấp Không bao giờ có những giá trị chính trị chungchung Chính trị và công việc nhà nước đều là phạm vi hoạt động gắn với nhữngquan hệ quyền lực Do vậy, bất cứ hành vi nào của chủ thể chính trị khi đã chịu sựđiều chỉnh của các chuẩn giá trị VHCT cũng là hành vi hướng tới thực hiện lợi íchgiai cấp và bảo vệ lợi ích của giai cấp ấy một cách nhân văn
Tuy rất quan trọng, nhưng tính giai cấp không phải là thuộc tính duy nhất củaVHCT Tính dân tộc và tính nhân loại luôn tồn tại trong VHCT của từng giai cấp.Đặc biệt trong bối cảnh của thế giới hiện đại mối quan hệ giữa tính giai cấp, tínhdân tộc và tính nhân loại càng gắn bó chặt chẽ hữu cơ hơn bao giờ hết.Văn hóatrước hết là vấn đề tồn tại và phát triển của một cộng đồng người nhất định, cộng
Trang 29đồng trở nên bền vững khi nó trở thành dân tộc, đó là yếu tố quyết định của một nềnvăn hóa
Để phát triển bền vững theo hướng duy trì bản sắc văn hóa dân tộc, vừakhông đi ngược giá trị nhân loại, cần phải kết hợp nhuần nhuyễn tính giai cấp, tínhdân tộc và tính nhân loại trong văn hóa nói chung và VHCT nói riêng Việc pháthuy văn hóa dân tộc chung chung, thoát ly khỏi định hướng giai cấp trong lĩnh vựcvăn hóa là một sai lầm Mặt khác, trong khi khẳng định tính giai cấp của VHCTkhông được đối lập giữa giai cấp, cộng đồng, nhân loại; nếu không sẽ rơi vào quanđiểm giai cấp cực đoan Để đạt đến VHCT thì vừa phải sử dụng những giá trị giaicấp, vừa phải sử dụng những giá trị cộng đồng và nhân loại; điều đó cũng lý giảivấn đề vì sao nước ta với nhiều nước trên thế giới khác nhau về chế độ chính trịnhưng vẫn quan hệ, giao lưu và hợp tác
Tính lịch sử cụ thể của văn hóa chính trị
VHCT bị qui định bởi những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan Hailoại nhân tố này có nội dung, tính chất và phương thức qui định khác nhau trong cácthời kỳ lịch sử khác nhau, điều đó qui định tính lịch sử của VHCT
VHCT không chỉ là kết quả của sự phát triển của nhận thức chính trị và hoạtđộng chính trị sáng tạo của nhiều chủ thể VHCT ở các nước khác nhau và các dântộc khác nhau mà còn gắn liền với các nền chính trị khác nhau Có VHCT của giaicấp nắm quyền lực nhà nước đặc trưng cho mỗi nền chính trị, nhưng bản thân sự tồntại của mỗi nền chính trị lại không vĩnh viễn mà luôn có sự thay thế kế tiếp nhautrong lịch sử, nên VHCT cũng thay đổi theo
Hơn nữa,VHCT không phải là một hiện tượng biệt lập, sự xuất hiện và pháttriển của nó nằm trong mối liên hệ mật thiết, biện chứng với các yếu tố lịch sử, nóchịu sự chi phối của những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội Khi các yếu tố này có
sự thay đổi thì VHCT cũng chịu ảnh hưởng của sự thay đổi đó
Trang 30VHCT còn gắn với hiện tượng tâm lý xã hội của chủ thể (nhất là phương diện
cá nhân) Cùng tiếp cận giá trị nhưng tính khí và khí chất khác nhau sẽ tạo nênnhững quyết định hành vi, quyết định hoạt động chính trị của các chủ thể khác nhau.Tính cụ thể của VHCT không chỉ dựa trên cơ sở lý tưởng chính trị, lập trường vàhành vi mà có khi cả trên cơ sở của yếu tố tâm lý xã hội
Tính lịch sử, cụ thể của VHCT thể hiện cả ở chỗ: trong các điều kiện lịch sửkhác nhau, tính chất, nội dung, mức độ phát triển của VHCT không giống nhau Mặtkhác cũng cho thấy, giá trị VHCT không phải là cái gì bất biến mà luôn có sự vậnđộng và phát triển Điều đó ảnh hưởng lớn đến những thay đổi trong nhân cách xãhội của con người
Tính đa dạng phong phú của văn hóa chính trị
Hệ tư tưởng là nhân tố cốt lõi nhất của VHCT, mà trong mỗi hình thái kinh tế
- xã hội nhất định kết cấu giai cấp cũng phức tạp không thuần nhất, cho nên hệ tưtưởng của các giai cấp không đồng nhất Trong mỗi nền chính trị, VHCT khôngthuần nhất Do đối lập về lợi ích nên các giai cấp thường có hệ tư tưởng đối lập chiphối văn hóa của các giai cấp tương ứng, tạo nên bức tranh đa dạng của VHCT Bêncạnh VHCT của giai cấp nắm quản lý nhà nước còn có VHCT của các giai cấp vàgiai tầng khác trong xã hội Ngay trong CNXH, tuy lợi ích của các giai tầng thốngnhất với hệ tư tưởng vô sản, chi phối những định hướng cơ bản của VHCT; songmỗi giai cấp có tính độc lập tương đối, tạo nên bản sắc VHCT riêng VHCT XHCNcũng là sự thống nhất trong đa dạng Đảng ta cũng đã khẳng định: “nền văn hóa mànhân dân ta xây dựng là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng của cộng đồng cácdân tộc Việt Nam ”
Hơn nữa, sự xuất hiện và phát triển của VHCT nằm trong mối liên hệ mậtthiết với các yếu tố lịch sử, nó là “một tiểu hệ thống” trong lĩnh vực văn hóa nóichung, do đó có mối liên hệ chặt chẽ với các thành tố khác của nền văn hóa nóichung như: kinh tế, đạo đức, pháp quyền, thẩm mỹ, tôn giáo
Trang 31Trong chủ nghĩa xã hội, VHCT xã hội chủ nghĩa vừa là nội dung, là động lực,vừa là biểu hiện chất lượng của nền dân chủ (văn hóa dân chủ), là nhân tố thúc đẩycho việc đạt mục tiêu của CNXH: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh Đồng thời VHCT xã hội chủ nghĩa là phương thức để nhân dân lao độngtrở thành chủ thể thực sự của quản lý chính trị, quản lý nhà nước.
Tính thừa kế của văn hóa chính trị
Tính lịch sử, cụ thể không thể tạo nên sự gián đoạn hay cô lập tuyệt đối củaVHCT của một giai cấp nào đó trong một giai đoạn lịch sử nhất định Sự ra đời củamột nền VHCT bao giờ cũng là kết quả phủ định biện chứng đối với nền VHCTtrước nó Đó là sự giữ lại và nâng lên một trình độ mới những nhân tố có giá trịchung mang tính tích cực của nền VHCT bị phủ định
Tính kế thừa của VHCT trong sự phát triển được kết tinh từ những thành tựuvăn hóa, những di sản tinh thần của thời đại, của truyền thống, kết hợp với kinhnghiệm thực tiễn, từ đó làm cho VHCT không ngừng được nâng lên
Trong VHCT truyền thống, ông cha ta cũng đã để lại cho đời sống chính trịhiện tại của chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quí báu Trong quá trình vận động
và phát triển, các giá trị truyền thống không biến mất, mà nó hóa thân vào các giá trịcủa thời sau theo qui luật kế thừa và tái tạo Các giá trị trước trở thành truyền thốngkhi được các thế hệ sau lựa chọn, tiếp nhận và phát triển, đó chính là quan hệ giữatruyền thống và hiện tại Sự thích nghi của những giá trị cũ đối với sự thay đổi củathời đại là biểu hiện tính liên tục của văn hóa Bởi vậy, trong chính trị cũng phảiluôn có sự kế thừa về mặt giá trị, quay lưng với những giá trị truyền thống cũng cónghĩa quay lưng lại với lịch sử dân tộc Điều đó vừa là sự sa sút về bản lĩnh văn hóavừa trái với quy luật vận động và phát triển của văn hóa, và như thế ắt có sự trả giá
1.1.2.3 Chức năng của văn hóa chính trị
Trang 32Xét một cách khái quát, VHCT có một số chức năng cơ bản sau:
Chức năng tổ chức và quản lý xã hội
VHCT là kết quả của hoạt động sáng tạo của con người trong quá trình hiệnthực hóa mục tiêu, lý tưởng chính trị trong những điều kiện kinh tế chính trị xã hội.Nhưng đến lượt nó, VHCT lại đóng vai trò quan trọng trong tổ chức và quản lý xãhội Ngày nay, sự phát triển kinh tế - xã hội không chỉ bắt nguồn từ sức mạnh kinh
tế mà còn phụ thuộc vào sức mạnh của văn hóa nói chung,VHCT nói riêng Hiệuquả của nền kinh tế phụ thuộc ngày càng nhiều vào trình độ phát triển của khoa học
và công nghệ, giáo dục và đào tạo; vào các giá trị tinh thần của xã hội, các thể chếchính trị; vào trình độ, năng lực, phẩm chất của những con người chính trị Văn hóa
là nhân tố quan trọng của kinh tế, một nhân tố qui định bên trong của hoạt động sảnxuất, kinh tế không tự mình phát triển nếu thiếu nền tảng văn hóa, VHCT trong nó
và tác động vào nó
Mục đích của mọi quá trình xây dựng và phát triển là thực hiện “dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; giá trị văn hóa góp phần ngănngừa, hạn chế cái ác, cái xấu, cái sai, hướng con người vươn đến tính nhân văntrong giải quyết các mối quan hệ xã hội nhằm thực hiện mục đích trên
VHCT có ý nghĩa to lớn trong tổ chức và quản lý xã hội Vì vậy, cần phảiphát huy vai trò của nó trong xây dựng và phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chínhtrị và giải quyết tốt các vấn đề xã hội Đó cũng là một đòi hỏi khách quan
Chức năng nhận thức
Tri thức, sự hiểu biết về các vấn đề chính trị là một bộ phận quan trọng trongcấu trúc của VHCT Những tri thức đó giúp cho các chủ thể có thể nhận thức đượccác hiện tượng, sự kiện chính trị nảy sinh Trên cơ sở những tri thức lý luận và kinhnghiệm thực tiễn, mỗi cá nhân đã dần đạt đến sự năng động, nhạy bén với cái mớitrong chính trị, tăng cường sự mẫn cảm chính trị, họ lấy căn cứ là những giá trịchính trị, những tiêu chuẩn và khuôn mẫu chính trị để đánh giá
Trang 33Trong hoạt động nhận thức xã hội ở một giai đoạn nhất định, hệ tư tưởng làmột yếu tố không thể thiếu và cũng là một bộ phận quan trọng nhất trong VHCT.Trên cơ sở lập trường tư tưởng, quan điểm chính trị, cá nhân, giai cấp nhận thức cácvấn đề chính trị theo định hướng đó.
Chức năng nhận thức của VHCT được thể hiện trong môi trường chính trị,trong mối quan hệ qua lại giữa cá nhân với cộng đồng tạo nên một nền văn hóachung, thống nhất Là sản phẩm của tập thể, VHCT được hình thành, nhận biết vàbiểu hiện bởi mỗi cá nhân trong cộng đồng đó Đồng thời qua hành vi của các nhân
và của cả cộng đồng, VHCT lại tiếp thu những nhân tố mới, định hướng nhận thứccho hành vi của cá nhân hay của cộng đồng ấy
Chức năng điều chỉnh
VHCT có vai trò to lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ con người với conngười, con người với xã hội trong đời sống chính trị Trong quá trình điều chỉnh,một mặt nó dựa vào những chuẩn mực giá trị, mô hình chính trị để điều chỉnh hành
vi, hành động của chủ thể phù hợp với “cái tốt, cái đúng” Mặt khác, nó tăng cườngkhả năng tự điều chỉnh của các chủ thể phù hợp, hài hoà với lợi ích của các chủ thểkhác, với lợi ích xã hội
Với tầm cao của VHCT, giới cầm quyền có thể kịp thời phát hiện ra nhữngđiểm nóng chính trị - xã hội, nhằm đưa ra những biện pháp hữu hiệu để chủ động
"tháo ngòi nổ”, làm dịu đi các xung đột xã hội, giữ vững ổn định chính trị Trongnhững tình huống chính trị, VHCT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thiếu nó người ta
có thể làm cho những quan hệ xã hội vốn bình thường hoặc ít gay cấn lại trở nêncăng thẳng, gay gắt, nóng bỏng, thậm chí đối đầu
Vai trò điều chỉnh của VHCT chủ yếu thực hiện thông qua các chuẩn giá trịcủa nó với nhiều thang bậc và phạm vi khác nhau Có những chuẩn giá trị mà ýnghĩa và việc áp dụng điều chỉnh của nó chỉ mang tính nhất thời, đặc biệt là nhữngchuẩn giá trị củng cố quan hệ giữa các đảng phái chính trị, giữa các nhóm xã hội lớn
Trang 34khác nhau thường do sự cân nhắc về mặt chiến lược hoặc chiến thuật, do lợi ích củahoàn cảnh và thời cơ qui định Nhưng cũng có bộ phận các chuẩn giá trị chính trị
mà thường gọi là các nguyên tắc chính trị mang tính bền vững, bởi những nguyêntắc này thường quyết định vận mệnh chính trị của một chủ thể nào đó
Ý nghĩa điều chỉnh hành vi và các quan hệ chính trị của các chuẩn giá trịVHCT cũng không thuần nhất, có những chuẩn giá trị có tính bắt buộc, qui định rõquyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ cho các chủ thể chính trị; có nhữngchuẩn giá trị không mang tính bắt buộc Nếu các chủ thể khi tham gia vào đời sốngchính trị, thực thi các chuẩn mực bởi sự nhận thức được cái tất yếu, cái bắt buộc thì
sẽ tạo cho đời sống chính trị một sự ổn định, có điều kiện phát triển Phạm vi vàchiều sâu của các chuẩn giá trị VHCT cũng ngày càng phát triển theo trình độ pháttriển của xã hội Sự ổn định chính trị cũng phụ thuộc vào tính bền vững, tính tíchcực, tính hiện thực của các chuẩn giá trị VHCT trong đời sống chính trị mà điều đólại phụ thuộc vào tính tự giác trong nhận thức và hoạt động chính trị thực tiễn củacác chủ thể trong đời sống xã hội
Chức năng định hướng
Yếu tố định hướng cốt lõi trong VHCT ở mỗi thời kỳ lịch sử là hệ tư tưởngthống trị của thời kỳ đó Hệ tư tưởng đó có thể định hướng cho cả dân tộc trong mộtgiai đoạn lịch sử nhất định Nếu hệ tư tưởng mang tính cách mạng và khoa học thìcác chủ thể chính trị sẽ tạo nên được các giá trị và khuôn mẫu khoa học, hướng sựphát triển của xã hội theo những quy luật khách quan phù hợp và ngược lại nó sẽkìm hãm sự phát triển nói chung
Các nhu cầu chính trị lành mạnh luôn tạo cho VHCT một sự phát triển lâubền, ổn định, mà “trục xoay” của nó chính là giá trị con người, đó là “quả tim đíchthực của văn hóa” và là định hướng chính trị chủ đạo cho các chuẩn giá trị VHCT.Chính vì vậy, văn hóa nói chung, VHCT nói riêng là hệ thống điều chỉnh làm cânbằng sự phát triển, khắc phục sự xuất hiện của các phản giá trị văn hoá Thông qua
Trang 35hoạt động của các chủ thể, các chuẩn giá trị VHCT lan tỏa, đan xen vào mọi quan
hệ xã hội, trên cơ sở đó các chuẩn giá trị mới cũng hình thành và ngày càng pháttriển VHCT là trình độ giác ngộ của các chủ thể chính trị trong các quan hệ chínhtrị - xã hội Khi VHCT ở trình độ cao thì khả năng tự điều chỉnh hành vi của mỗichủ thể phù hợp với lợi ích xã hội tốt hơn, các chủ thể có thể nhanh chóng phát hiện
ra những lệch lạc trong hành động không còn phù hợp với mục đích và nhanh chóngđiều chỉnh chúng Đối với giới cầm quyền, tầm cao VHCT không chỉ giúp họ trong
xử lý các tình huống chính trị, giữ vững ổn định chính trị, mà còn góp phần khắcphục tệ quan liêu, cửa quyền trong hệ thống chính trị
Chức năng đánh giá và dự báo
Chức năng đánh giá của VHCT thể hiện qua thái độ của các chủ thể VHCTđối với một hiện tượng, một sự kiện, một quá trình chính trị nào đó Trên cơ sở nhậnthức, chủ thể đánh giá các hiện tượng trong đời sống chính trị và lựa chọn cho mìnhnhững hành vi theo đánh giá ấy Như vậy, VHCT kết hợp với khả năng chủ quancủa mỗi chủ thể là cơ sở cho các đánh giá chính trị
Nhờ vào khả năng đánh giá các hiện tượng và các quá trình chính trị, trên cơ
sở những tri thức và định hướng chính trị, các chủ thể có thể dự báo được sự pháttriển của chúng trong tương lai Khả năng dự báo này là một phần rất quan trọngtrong nhận thức VHCT của mỗi chủ thể, nếu dự báo chính xác thì hành vi của họ có
ý nghĩa to lớn trong việc hướng tới mục tiêu đề ra
Tính khoa học và cách mạng của hệ tư tưởng, sự mẫn cảm chính trị, khả năngnắm bắt những qui luật của đời sống chính trị là cơ sở chủ yếu của tiên đoán và dựbáo chính trị Muốn được như vậy, chủ thể phải luôn bám sát thực tiễn, phải lănmình vào cuộc sống hiện thực, khắc phục tệ quan liêu, thờ ơ, lãnh đạm chính trị
1.2 Sự cần thiết nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ giáo viên Trung học Cơ sở hiện nay
1.2.1 Tính đặc thù nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên Trung học Cơ sở
Trang 36Xã hội loài người đã trải qua nhiều chế độ xã hội khác nhau, nhiều phươngthức sản xuất khác nhau; vị trí, vai trò của người giáo viên trong từng chế độ đócũng được quan niệm khác nhau, nhưng ý nghĩa xã hội to lớn của nghề dạy học làkhông ai phủ nhận được Nhìn chung, các dân tộc trên thế giới qua các thời đại đềuđánh giá cao vai trò của người thầy giáo.
Cách đây 400 năm, J.A.Cômenxki đã gọi người giáo viên là người “chuyểngiao ngọn đuốc của nền văn minh”, “sợi dây chuyền giữa các thế hệ” và coi chức vụ
mà xã hội trao cho người giáo viên là chức vụ quang vinh mà dưới ánh mặt trời nàykhông có chức vụ nào ưu việt cho bằng A.Đixtecvec nhận định: “chính giáo viên lànhững người gieo hạt giống, không có giáo viên thì thế giới sẽ lùi lại chỗ dã man.K.Đ.Usinxki cũng đã khẳng định: “sự nghiệp dạy học trông bề ngoài thì bìnhthường, nhưng đó là sự nghiệp vĩ đại nhất của lịch sử loài người” Nhiều lời ca ngợi
và nhiều danh hiệu cao quý được trao cho người giáo viên: “Người kỹ sư tâm hồn”;
“viên kim cương của nhân loại”, “người gieo hạt giống vàng của chân lý”, “nhà kiếntrúc mẫu người tương lai của đất nước”
Nước ta có truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo là truyền thống quý báucủa dân tộc ta Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, truyền thống đó vẫn được bảotồn và phát triển, người giáo viên vẫn luôn được nhân dân yêu mến và ca ngợi Từxưa đến nay, trong dân gian ai cũng thuộc câu: “không thầy đố mày làm nên”, “Mộtchữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy” Cả đến khi công thành doanh toại, người
ta cũng nhắc nhau: “Mười năm rèn luyện sách đèn, công danh gặp bước chớ quên
ơn thầy”
Ở thời kỳ phong kiến - khi mà trí thức là thầy, thầy là trí thức, thầy có quyềnban phát tri thức cho người học Thì thời đại ngày nay, tri thức không còn nằm độcquyền trong tay người thầy nữa mà bản thân người học có thể tìm kiếm tri thức ởnhiều nguồn khác nhau, người thầy lúc này chỉ là người cầu nối, là một trong nhữngkênh để cung cấp tri thức cho người học Người thầy giáo giai đoạn này không chỉ
Trang 37đơn thuần là người biết chữ đi dạy học cho người không biết chữ mà phải là một độingũ những người có trình độ, có năng lực, có phương pháp sư phạm, tiến hành dạyhọc trong một tổ chức chặt chẽ theo một chương trình, kế hoạch, mục tiêu cụ thể Vìvậy, để làm rõ hơn khái niệm giáo viên là “Những người làm nghề dạy học” đồngthời quy định địa vị pháp lý của giáo viên, tại điều 70 của Luật Giáo dục nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ vềgiáo viên: “Nhà giáo là những người có nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhàtrường, cơ sở giáo dục khác” [27, tr.21] Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn: “Phẩmchất, đạo đức, tư tưởng tốt; đạt trình độ chuẩn vể chuyên môn nghiệp vụ; đủ sứckhỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; lý lịch bản thân rõ ràng Nhà giáo giảng dạy ở cơ sởgiáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên” [27,tr.21].
Về đội ngũ giáo viên, thuật ngữ “đội ngũ” được hiểu chung nhất là tập hợpmột số đông người cùng đặc điểm, chức năng hoặc nghề nghiệp, được tổ chức thànhmột lực lượng xã hội Do đó, đội ngũ giáo viên là tập hợp những người làm nghềdạy học hay tập hợp những người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhàtrường, cơ sở giáo dục khác, được tổ chức thành lực lượng và hoạt động theo mụcđích của ngành giáo dục đề ra
Trung học cơ sở là một bậc trong hệ thống giáo dục ở Việt nam, là một tronghai bậc học thuộc giáo dục trung học (ở Việt Nam, giáo dục trung học và giáo dụctiểu học nằm trong giai đoạn gọi là giáo dục phổ thông), giáo dục trung học cơ sởkéo dài bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín, Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúphọc sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có trình độ họcvấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếptục học trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộcsống lao động
Trang 38Mục tiêu của giáo dục phổ thông là: “Giúp học sinh phát triển toàn diện vềđạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cánhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hộichủ nghĩa, xây dựng nhân cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếptục học lên, hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc[27, tr.15].
Đội ngũ giáo viên, trong đó có giáo viên THCS chính là đội ngũ trí thức giáodục phổ thông - bộ phận đặc thù của trí thức Việt Nam Chúng ta coi “hiền tài lànguyên khí quốc gia”, giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốcsách hàng đầu Nhờ đó nước ta đã có một đội ngũ trí thức khá mạnh, trung thành vớiđất nước và đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trongnhiều thập kỷ qua Trong thời đại cách mạng tri thức và cách mạng thông tin hiệnnay nếu không có một đội ngũ trí thức đông và mạnh đủ khả năng nắm bắt, vậndụng tri thức mới của thời đại đang bùng nổ và sáng tạo tri thức mới thì không thểhội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức được
Như vậy, trí thức giáo dục phổ thông đa số là giáo viên, là bộ phận đặc thùcủa trí thức Việt Nam, có hoạt động đặc thù rất quan trọng Đó là những người thamgia trực tiếp vào quá trình giáo dục phổ thông nhằm bồi dưỡng tri thức toàn diệncho học sinh trước khi các em lên bậc trung học phổ thông chuẩn bị bước vào cáclớp đào tạo nghề, hay học lên cao đẳng, đại học
1.1.2 Đặc điểm về văn hóa chính trị của đội ngũ giáo viên Trung học Cơ sở
Giáo viên trung học cơ sở là một bộ phận của trí thức Việt Nam nên cũng cóđầy đủ tố chất của người trí thức như: lao động trí tuệ sáng tạo, có tinh thần yêunước, có ý thức dân tộc cao, cần cù, sáng tạo, thông minh, năng động và nhạy bénvới sự phát triển của thời đại
Trang 39VHCT là yếu tố rất quan trọng, giúp cho người giáo viên có bãn lĩnh vữngvàng trước những biến động của lịch sử Trên cơ sở đó, thực hiện hoạt động giáodục toàn diện, định hướng xây dựng nhân cách cho học sinh có hiệu quả Bên cạnhviệc nổ lực phấn đấu để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm, ngườigiáo viên cần phái có bản lĩnh chính trị vững vàng.
Một khi có bản lĩnh chính trị vững vàng thì sẽ có niềm tin vào tương lai tươisáng của đất nước, có khả năng xử lý trước những tình huống chính trị nảy sinhtrong hoạt động giáo dục Nếu thiếu bản lĩnh chính trị thì khó có thể trở thành mộtnhà giáo chân chính Bản lĩnh chính trị của một giáo viên phổ thông được thể hiện:
Trình độ lý luận chính trị
Đội ngũ giáo viên nói chung, trong đó có giáo viên THCS, là những ngườitrực tiếp thực hiện chiến lược phát triển, thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ chính trịcủa ngành Nếu không có một trình độ lý luận chính trị nhất định thì giáo viênTHCS sẽ không cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng, truyền tải đến học sinhnhững chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là đốivới giáo viên giảng dạy môn giáo dục công dân Không được cập nhật với tình hìnhchính trị luôn phát triển sôi động; không hiểu đúng đường lối, chính sách của Đảng
và nhà nước sẽ cụ thể hóa sai, truyền đạt không đúng chủ trương chính sách củaĐảng và nhà nước Trong giáo dục nếu người thầy truyền đạt sai sẽ dẫn đến cả thế
hệ hiểu sai, như vậy hậu quả sẽ khôn lường
Khi VHCT đạt đến trình độ khá cao thì có thể nhanh chóng phát hiện nhữnglệch lạc trong hành động và sẽ kịp thời đưa ra những biện pháp hữu hiệu để giảiquyết những vướng mắc, những mâu thuẫn trong xã hội Ngược lại, nếu thiếu trình
độ lý luận chính trị, có thể làm cho những mối quan hệ chính trị - xã hội vốn bìnhthường có khi trở nên nóng bỏng hơn Do vậy, người giáo viên THCS với nhiệm vụ
là định hướng đào tạo ra những thế hệ lao động sáng tạo và có phẩm chất đạo đức
Trang 40tốt, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội thì cần phải có trình độ lý luậnchính trị vững vàng.
Khả năng, năng lực nhận thức chính trị
VHCT góp phần đẩy mạnh xã hội hóa chính trị, làm cho mọi công dân quenvới hoạt động chính trị Sự thâm nhập của VHCT vào từng cá nhân sẽ làm nảy sinhtrong họ nhu cầu và khả năng tham gia tích cực và chủ động, tự giác vào các quátrình chính trị Nhờ có nhận thức VHCT mà con người đạt dần tới khả năng sáng tạo
và nhạy bén trong chính trị Con người căn cứ trên những tri thức và kinh nghiệmchính trị đã được tích lũy; kết hợp vơi sự giác ngộ lý tưởng mang tính khoa học,hình thành nên tư cách chính trị của mình, hướng tới những giá trị tốt đẹp Chính vìvậy, người giáo viên phải có nhận thức chính trị cao, đủ trình độ ở mức cần thiết để
có khả năng xử lý được những “tình huống chính trị” nảy sinh trong thực tiễn giảngdạy
Giáo dục là phải có tính toàn diện, bên cạnh “dạy chữ”, nâng cao trình độ họcvấn, thì điều rất quan trọng là dạy cho học sinh cách học để làm người, xây dựngnhân cách cho học sinh, đặc biệt trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng và sựphát triển của công nghệ thông tin hiện nay, giáo viên THCS phài có nhiệm vụ rấtquan trọng là định hướng, hướng dẫn cho suy nghĩ, hành động của học sinh nhằmgiúp các em có nhận thức và hành động đúng Do vậy khả năng, năng lực nhận thứcchính trị là yêu cầu không thể thiếu của người giáo viên THCS
Thái độ chính trị đúng đắn
Thái độ chính trị là những sắc thái khác nhau thể hiện tình cảm, ý nghĩ chínhtrị, đó là những cảm xúc, những rung động, lòng nhiệt tình, sự say mê hoặc thờ ơ,lãnh đạm với hoạt động chính trị
VHCT góp phần nâng cao sự sáng tạo, nhạy bén với cái mới trong chính trị,tăng cường sự mẫn cảm về chính trị, khắc phục tình trạng quan liêu, suy thoái vềđạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay Tình cảm chính trị