1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ huyện thủ thừa, tỉnh long an trong giai đoạn hiện nay

124 673 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 209,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguy cơ "tụt hậu xa hơn về kinh tế" đang là thách thức lớn đối với đấtnước; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, sự xuống cấp về đạo đức, lốisống của một bộ phận cán bộ, cùng với

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐINH VĂN SÁU

NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN TRONG GIAI ĐOẠN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐINH VĂN SÁU

NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN TRONG GIAI ĐOẠN

HIỆN NAY

Chuyên ngành: CHÍNH TRỊ HỌC

Mã số: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN LƯƠNG BẰNG

Long An, 6/ 2015 LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:Phòng Sau Đại học, Khoa Chính trị học Trường Đại học Vinh và Trường Đạihọc Kinh tế Công nghiệp Long An đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôihọc Cao học Xin cảm ơn quý thầy, cô Trường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng

Trang 3

dạy và cung cấp cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt quá trình tôi học tậpChuyên ngành Chính trị học tại Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An.

Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Lương Bằng,giảng viên Khoa Giáo dục chính trị, Trường Đại học Vinh đã tận tình hướng dẫn

và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Đồng thời, tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Huyện ủy, Hội đồng nhân dân,

Ủy ban nhân dân, Trung tâm bồi dưỡng chính trị, Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáoHuyện ủy, các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện, Đảng

ủy, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn trong huyện, bạn bè trong và ngoài lớp đãnhiệt tình hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi trong việc khảo sát, thu thập dữ liệu,đóng góp nhiều ý kiến và những kinh nghiệm quý báu để giúp tôi thực hiện côngtrình nghiên cứu của mình

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng luận văn chắc còn có thiếu sót, với ýthức luôn tự học hỏi và nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học, tôi rất mongđược sự góp ý của quý thầy, cô và các bạn

Long An, tháng 6 năm 2015 Tác giả luận văn

Đinh Văn Sáu DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ

LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘINGŨ CÁN BỘ CẤP HUYỆN 11

1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 11 1.2 Vai trò của việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán

bộtrong giai đoạn hiện nay31

Trang 5

Chương2:THỰC TRẠNG NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨCÁN BỘ CHỦ CHỐT HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG

AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY41

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An 41 2.2 Trình độ lý luận chính trị và công tác giáo dục lý luận chính trị của đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý chủ chốt huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An 45

Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CHỦ CHỐT HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY80

3.1 Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt huyện Thủ Thừa về vai trò của lý luận chính trị trong giai đoạn hiện nay 80

3.2 Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt huyện huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An 82

3.3 Đổi mới công tác quy hoạch, đánh giá, tuyển chọn, bố trí, sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An 104

C KẾT LUẬN

112

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

117

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước có những thời cơ, thuậnlợi, và nhiều diễn biến rất phức tạp, đòi hỏi cán bộ phải nâng cao năng lực lãnhđạo và sức chiến đấu, giữ vững bản chất cách mạng, vững vàng về chính trị, tưtưởng; thống nhất ý chí, hành động, thực sự trong sạch về đạo đức, lối sống, gắn

bó máu thịt với nhân dân Nếu công tác cán bộ tốt, đủ tầm cỡ, bản lĩnh, kiếnthức, dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm trước nhân dân và dám nói thẳng vào

sự thật, dám dựa vào dân thì đất nước sẽ vượt qua khó khăn, thử thách và tiếnkịp các nước láng giềng

Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xâydựng Đảng hiện nay” đã chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên,trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộcao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiệnkhác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội,thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãngphí, tùy tiện, vô nguyên tắc ”

Nguy cơ "tụt hậu xa hơn về kinh tế" đang là thách thức lớn đối với đấtnước; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, sự xuống cấp về đạo đức, lốisống của một bộ phận cán bộ, cùng với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủnghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái "lợi ích nhóm", đặc quyền,đặc lợi, nói không đi đôi với làm đang gây bất bình và làm giảm sút niềm tin củanhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Các thế lựcthù địch tăng cường chống phá, đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", thúcđẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ ta, hòng hạ thấp uy tín và phủđịnh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam

Để khắc phục những nhược điểm đó trước hết việc nâng cao trình độchính trị cho cán bộ, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,

Trang 7

vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam, kiên định mụctiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trítuệ của mỗi cán bộ trước hết là cán bộ lãnh đạo quản lý chủ chốt các cấp Hiệuquả công việc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đánh giá hiệu quả công việc của một cánbộ.

Bối cảnh đó, đòi hỏi Đảng phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiếnđấu, giữ vững bản chất cách mạng, vững vàng về chính trị, tư tưởng; thống nhấtcao về ý chí, hành động, thực sự trong sạch về đạo đức, lối sống; gắn bó máuthịt với nhân dân Hơn bao giờ hết, nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ trởthành một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn, quyết định vai tròlãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ

Trước hết, cán bộ phải vững mạnh về chính trị, kiên định chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thựctiễn Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Nâng caobản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộlãnh đạo, quản lý các cấp Kiên định đường lối đổi mới, công nghiệp hóa, hiệnđại hóa Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với quyluật khách quan và đặc điểm của Việt Nam Tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiệncác cơ chế, chính sách, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm khơi dậytiềm năng và nguồn lực của đất nước, tạo động lực mới cho sự phát triển

Mác-Hai là, tiếp tục đổi mới công tác tư tưởng, lý luận: Tiếp tục đổi mới nộidung, phương thức, nâng cao tính chiến đấu và hiệu quả của công tác tư tưởng.Đổi mới công tác tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết đấutranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lốisống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; ngăn chặn, đẩy lùi nhữngbiểu hiện "tự diễn biến," "tự chuyển hóa" trong nội bộ; tích cực chống quan liêu,tham nhũng, lãng phí Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt

Trang 8

động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, chủ động, kịp thời ngănchặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch.

Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn làm sáng tỏ những vấn đềxuất hiện trong quá trình đổi mới, làm tốt chức năng định hướng cho hoạt độngthực tiễn, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triểnđường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Đổi mới công tác giáodục lý luận chính trị và học tập nghị quyết của Đảng đảm bảo thiết thực, hiệuquả

Ba là, tiếp tục đổi mới công tác tổ chức và công tác cán bộ, nâng cao chấtlượng đảng viên Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội,thực dụng, bè phái, lợi ích nhóm, đặc quyền, đặc lợi, nói không đi đôi với làm…nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng vớiNhân dân "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát, hưởng thụ", côngtác phòng, chống tham nhũng, lãng phí Kiên quyết xử lý và kịp thời thay thếnhững cán bộ lãnh đạo, quản lý tham nhũng, lãng phí, uy tín giảm sút; xử lýnghiêm minh trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng, lãngphí trong tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương mình trực tiếp quản lý Phòngngừa, ngăn chặn quan hệ lợi ích nhóm, chống đặc quyền, đặc lợi Phòng ngừacác nguy cơ đối với đảng cầm quyền Tập trung đổi mới phương thức lãnh đạocủa Đảng đối với hệ thống chính trị, đặc biệt là với Nhà nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ, đến việc lựachọn, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ Người luôn cho rằng, vấn đề cán bộ có

ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng cũng như công tác xây dựngĐảng Người dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “bất cứ chính sách,công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công” Đảng ta cũng khẳng định: Cán bộ

là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ có vị trí,vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng hệ thống chính trị

Đảng ta đang lãnh đạo đất nước từng bước xây dựng mô hình phát triểnkinh tế xã hội, cùng với việc đất nước hội nhập sâu vào thế giới, trong bối cảnh

Trang 9

quốc tế và khu vực có những diễn biến phức tạp, thuận lợi và khó khăn, thời cơ

và thách thức đan xen, tác động lẫn nhau đang đặt ra những yêu cầu và đòi hỏirất cao cho đội ngũ cán bộ Nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới hết sứcnặng nề, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnhchính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, năng lực,… phù hợp với yêu cầu củacách mạng trong giai đoạn hiện nay Cho nên, nhiệm vụ của hệ thống chính trị làphải nâng cao trình độ về mọi mặt cho đội ngũ cán bộ; nhất là trình độ lý luậnchính trị cho cán bộ chủ chốt cấp huyện

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI nhấn mạnh: “Cán bộ, đảng viênphải nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng và nhân dân, hếtlòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, các tổ chức Đảng phải tạođiều kiện để đảng viên công tác, lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả,đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước”; “Kiện toàn, nâng cao chấtlượng các cơ quan tham mưu, đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, nhất là ởcấp chiến lược”

Đổi mới việc học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dânnhằm tạo bước tiến mới, có kết quả, chất lượng cao hơn, góp phần làm cho chủnghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng giữvai trò chủ đạo trong đời sống xã hội; bảo đảm thế hệ trẻ Việt Nam luôn trungthành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và với chế độ ta; Đổi mới mạnh mẽ việcđào tạo, bồi dưỡng giáo viên lý luận chính trị, bảo đảm sát hợp với thực tiễn, đápứng yêu cầu tiếp tục đổi mới việc học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáodục quốc dân Xây dựng cho được đội ngũ giáo viên lý luận chính trị tâm huyết,yêu nghề, tuyệt đối trung thành, có niềm tin, có kiến thức mới gắn với thực tiễn.Đây là nhân tố quyết định sự thành công của việc tiếp tục đổi mới học tập lýluận chính trị trong nhà trường

Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ chính trị khẳng định: “ Đào tạo, bồidưỡng lý luận chính trị là nhiệm vụ quan trọng của Đảng Mỗi cán bộ lãnh đạo,quản lý phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời, học đi đôi

Trang 10

với hành, lý luận gắn với thực tiễn, gắn học tập với rèn luyện phẩm chất đạođức, tư cách người cách mạng; đổi mới nâng cao chất lượng công tác đào tạo,bồi dưỡng lý luận chính trị phải luôn bám sát mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ củachiến lược cán bộ và gắn kết chặt chẽ với các khâu của công tác cán bộ”.

Hiện nay đội ngũ cán bộ trong tỉnh Long An nói chung, huyện Thủ Thừanói riêng đa số trưởng thành từ cơ sở, đây cũng là điều kiện thuận lợi trong việcgắn bó mật thiết giữa chính quyền với nhân dân Nhưng trong đó có một số cán

bộ ít được đào tạo lý luận chính trị một cách căn bản và toàn diện, ảnh hưởngkhông nhỏ đến hoạt động của địa phương Do vậy, để xây dựng đội ngũ cán bộcủa huyện Thủ Thừa ngang tầm với quá trình đổi mới của đất nước, góp phầnthực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa thì một trong những yêu cầu đặt ra đối với cán bộ là phải nângcao trình độ lý luận chính trị Với ý nghĩa và tầm quan trọng đó, tác giả chọn

vấn đề:“Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộhuyện Thủ Thừa, tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay” làm Luận văn Thạc sĩ chính trị học.

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ đã được nhiềuNghị quyết của Trung ương Đảng, nhiều nhà nghiên cứu và một số luận vănthạc sỹ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Chính trị, Chính trị họcquan tâm nghiên cứu, trao đổi, các công trình đó có thể chia thành các nhóm:

Nhóm thứ nhất gồm những vấn đề lý luận chung về nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ bao gồm các tác phẩm, sách và các bài viết: Tạp chí Khoa học Chính trị, Số 3/1999; Đoàn Thế Hanh: Tăng cường nhận thức lý luận chính trị đối với cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết TW 5, khóa X, Tạp chí Cộng sản, Số 781 (tháng 11/2007); Vũ Ngọc Am: Đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ cơ sở, Nxb Chính trị Quốc gia, 2003.Vũ Ngọc Am: Một số vấn đề về đổi mới phương pháp giáo dục lý luận chính trị, Nxb thông tấn, 2009.

Trang 11

Các tác giả này đã bàn đến vai trò, tầm quan trọng của việc giáo dục lýluận chính trị, nâng cao trình độ lý luận chính trị, nêu lên một số phương hướng,giải pháp nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.

Các cấp Trung ương, Tỉnh uỷ và Ủy ban nhân dân tỉnh Long An đã ban

hành một số văn bản về giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị

và chế độ đào tạo đối với cán bộ cấp cơ sở, như: Quyết định số

1853-QĐ/BTGTW, ngày 04/3/2010: Về việc ban hành quy chế giảng dạy và học tập của Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc Tỉnh của Ban Tuyên giáo Trung ương; Quy định Số 12 QĐ/TC-TTVH, ngày 09/01/2004: Về việc xác định trình độ lý luận chính trị của BCH TW - Ban Tổ

chức - Ban Tư tưởng văn hóa TW; Thông báo Số 181-TB/TW, ngày 03/9/2008:

Về đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Trường Chính trị cấp Tỉnh và Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện của BCH TW; Quyết định số 185-QĐ/

TW, ngày 03/9/2008, Về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Trung tâm BDCT huyện, thị xã, thành phố trực thuộc Tỉnh của BCH TW; Kết luận số 57- KL/TW, ngày 08/3/2013 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới việc học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân; Kết luận số 57-KL/TW, ngày 08/3/2013 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Kết luận số 94-KL/TW, ngày 28/3/2014 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Chỉ thị số 34-CT/

TW, ngày 30/5/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về tăng cường công tác chính trị tư tưởng; củng cố tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng và công tác phát triển đảng viên trong các trường học;

Nhóm thứ hai gồm những vấn đề lý luận liên quan gần với vấn đề về nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ bao gồm các: Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 26/5/2014 của Bộ Chínhtrị về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; Nghị quyết số 02-NQ/HU, ngày 08/8/2011 của Huyện ủy Thủ Thừa“Về đào

Trang 12

tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trọng tâm

là đào tạo cán bộ cho hệ thống chính trị giai đoạn 2011-2015 và những năm tiếp theo”; Quyết định số 279-QĐ/TU,ngày 27/9/2011của Tỉnh ủy Long An“ban hành đề án công tác cán bộ của Tỉnh giai đoạn 2011-2020 và những

năm tiếp theo”Về những đặc điểm của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay,Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 01/2009 62-67 Nhận thức về quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và những vấn đề đạo dức của Đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 01/2008 103 - 110 Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn chính trị trong các trường cao đẳng nghề Tạp chí Giáo dục, 231, 2010, tr.21-23

của Nguyễn Lương Bằng

Ban tuyên giáo trung ương: Chương trình bồi dưỡng chuyên đề: Phương pháp dạy lý luận chính trị dành cho giáo viên giảng dạy lý luận chính trị tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, Nxb Lao động xã hội, năm 2008

Ngoài ra có một số bài viết trên các tạp chí Xây dựng Đảng, tạp chí cộng

sản, báo mạng Vietnamnet Cụ thể: Phạm Thị Niết: Phát triển những nguyên tắc đạo đức Hồ Chí Minh trong giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên Tạp chí

để nâng cao hiệu quả công tác

Luận văn Thạc sĩ Triết học: “Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản lý cấp huyện ở tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay” của

Trang 13

Nông Văn Tiềm, 2001; “Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Thị Hồng Lê, 2004 Luận văn của ThS Phạm Đình Đạt: Góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ đảng viên.“Nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới ở Đảng bộ khối các cơ

quan tỉnh Hà Tỉnh trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Thị Lệ Hà, 2011

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ

môn giáo dục chính trị của Từ Bá Thảo: “Nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận chính trị cho Đảng viên mới ở đảng bộ huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay” Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn giáo dục chính trị Lê Quỳnh Mai: “Nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị ở trường Chính trị tỉnh Bắc Giang dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn; Khoa Khoa học Chính trị, chuyên ngành Hồ Chí Minh học

Đây là những tài liệu bổ ích và quý giá, là tài liệu tham khảo quan trọng

để chúng tôi thực hiện đề tài này Bên cạnh đó hàng năm tại huyện Thủ Thừacũng đã có những báo cáo tổng hợp các hoạt động nâng cao trình độ lý luậnchính trị cho đội ngũ cán bộ nhưng chưa có một công trình nào đi sâu nghiêncứu một cách có hệ thống và đánh giá đầy đủ, khách quan về thực chất của việcnâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ chủchốt cấp huyện Vì vậy, tác giả chọn vấn đề này làm luận văn thạc sỹ chuyênngành chính trị học, với mong muốn góp phần thúc đẩy việc nâng cao trình độ lýluận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An

2 Mục đíchnghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát trình độ lý luận chính trị của đội ngũcán bộ cấp huyện, xây dựng, đề xuất, giải pháp nâng cao trình độ lý luận chínhtrị cho cán bộ chủ chốt huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đáp ứng yêu cầu, nhiệm

vụ mới trong giai đoạn hiện nay

3 Nhiệm vụnghiên cứu

Trang 14

Làm rõ khái niệm, tầm quan trọng và yêu cầu của việc nâng cao trình độ

lý luận chính trị đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp huyện trong giaiđoạn hiện nay

Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng trình độ lý luận chính trị củacán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An

Nghiên cứu quan điểm, đề xuất giải pháp nâng cao trình độ lý luận chínhtrị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt huyện Thủ Thừa, tỉnh Long Antrong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

4.1 Đối tượng nghiên cứu.

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao trình độ lý luậnchính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt huyện Thủ Thừa, tỉnhLong An

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Thực trạng, nguyên nhân, giải pháp nâng cao trình độ lý luận chính trị chocán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An trong giaiđoạn hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đểnâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ nó chung, cán bộ lãnh đạo, quản lýchủ chốt nói riêng

Mác-5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng,chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời có sử dụng tổng hợp các phương phápnghiên cứu lý thuyết, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp quan sát,phương pháp chọn mẫu, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp kết hợplịch sử và logic, phương pháp kết hợp phân tích định lượng và định tính, phương

Trang 15

pháp phân tích, tổng hợp và so sánh đánh giá số liệu, phương pháp thống kê,phương pháp chuyên gia, phương pháp xử lý thông tin…

6 Ý nghĩa và những đóng góp mới về khoa học của đề tài

Luận văn góp phần làm rõ tính tất yếu khách quan của việc nâng cao trình

độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt huyện ThủThừa, tỉnh Long An Qua đó, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp nâng cao trình độ lýluận chính trị cho đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý chủ chốt huyện Thủ Thừa,tỉnh Long An

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo giúp chocấp ủy Đảng, các Trung tâm bồi dưỡng chính trị trong việc nghiên cứu, xâydựng nội dung, chương trình, bồi dưỡng cán bộ các cấp nói chung, cán bộ huyệnThủ Thừa, tỉnh Long An nói riêng

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận - kiến nghị và tài liệu tham khảo, đề tài cócấu trúc gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 16

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN

CHÍNH TRỊ CHO ĐỘINGŨ CÁN BỘ CẤP HUYỆN 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm lý luận

Nhận thức là quá trình phản ánh thế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn

xã hội Quá trình nhận thức không diễn ra thụ động, giản đơn, máy móc, mà làquá trình phản ánh năng động, sáng tạo, biện chứng Đó là quá trình đi từ chưabiết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ không đầy đủ và không chính xác đếnđầy đủ và chính xác hơn Quá trình nhận thức của con người và loài người nóichung trải qua hai giai đoạn là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Sự nhậnthức của loài người tất yếu dẫn đến sự ra đời của lý luận

Tri thức kinh nghiệm chủ yếu thu nhận được từ quan sát và thí nghiệm vàbao gồm hai loại, một là tri thức kinh nghiệm thông thường thu nhận được từnhững quan sát hàng ngày trong cuộc sống và lao động sản xuất, hai là tri thứckinh nghiệm khoa học thu nhận được từ những thí nghiệm khoa học.Tri thứckinh nghiệm có vai trò không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày của conngười, những kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn sẽ đem lại cho chúng tanhững bài học hết sức quan trọng Kinh nghiệm còn là cơ sở để chúng ta kiểmtra lý luận, sửa đổi, bổ sung lý luận đã có, đồng thời tổng kết khái quát thành lýluận mới

Tri thức kinh nghiệm có những hạn chế nhất định bởi nó giới hạn ở lĩnhvực các sự kiện, miêu tả, phân loại các dữ kiện thu được từ quan sát và thínghiệm; mới chỉ đem lại những hiểu biết về các mặt riêng rẽ, về các mối liên hệbên ngoài, chưa nắm bắt được mối quan hệ bản chất, tất yếu của các sự vật, hiệntượng Trong hoạt động thực tiễn cần coi trọng tri thức kinh nghiệm, nhưngkhông nên cường điệu nó, mà cần phát triển kinh nghiệm lên trình độ lý luận

Trang 17

Định nghĩa khái niệm lý luận theo khoa học triết học: “Lý luận là sự tổnghợp các tri thức về tự nhiên và xã hội tích lũy được trong quá trình lịch sử”[30,tr.526] là “hệ thống tư tưởng chủ đạo trong một lĩnh vực tri thức”

Định nghĩa khái niệm lý luận theo Từ điển Tiếng Việt: “Lý luận là hệ thốngnhững tư tưởng được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạo thựctiễn Lý luận là những kiến thức được khái quát và hệ thống trong một lĩnh vực nàođó” [42,tr.544-545] Theo quan điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh “Lý luận là sự tổngkết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và

xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [30,tr.497]

Như vậy, xét về bản chất, lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từthực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giớikhách quan Lý luận được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn, nhưng lýluận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm Tri thức lý luận thể hiệntrong hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật Khác với kinh nghiệm, lý luậnmang tính trừu tượng và khái quát cao, nhờ đó, nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc

về bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan

Lý luận thể hiện tính chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn, hệ thống hơn, nghĩa là

có tính bản chất sâu sắc hơn và do đó, phạm vi ứng dụng của nó cũng phổ biếnhơn, rộng hơn nhiều so với tri thức kinh nghiệm C Mác, Ph Ăngghen chỉ rõ:

“Sự quan sát theo kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy

đủ tính tất yếu và nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem quy sự vận động bềngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên trong thực sự”[8,tr.343]

1.1.2 Khái niệm chính trị

Chính trị là những vấn đề về tổ chức và điều hành bộ máy nhà nước trongnội bộ một nước và về mặt quan hệ nhà nước giữa các nước với nhau Ngoạidiên khái niệm chính trị là những hoạt động của một giai cấp, một chính đảng,một tập đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành bộ máy nhà nước,những hiểu biết về mục đích, đường lối, nhiệm vụ đấu tranh của một giai cấp,

Trang 18

một chính đảng, một tập đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành

bộ máy nhà nước Chính trị là biểu hiện của xung đột giai cấp, nếu không còngiai cấp thì không còn nhà nước và chính trị cũng biến mất Khái niệm chính trịxuất hiện sớm và được mở rộng nội hàm qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau

Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giaicấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh một vấn đề trung tâm đó

là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước

Trong tác phẩm Chính trị, Aristotle đã khẳng định, con người theo bảnnăng tự nhiên đã có tính chính trị Khổng Tử (551-471 TCN) là một trongnhững nhà tư tưởng đầu tiên có cách tiếp cận riêng đến Học thuyết chính trị.Căn bản trong học thuyết của ông là "quân tử (người cầm quyền) nên học tự kỷluật, nên cai trị người dân của mình bằng chính gương của mình, và nên đối xửvới họ bằng tình thương và sự quan tâm." Niềm tin chính trị của ông gắn chặtvới luân thường đạo lý và đạo đức cá nhân Ông cho rằng chỉ những người quân

tử liêm khiết và tuân theo đạo của người quân tử thì mới được cầm quyền, vànhững tư cách của những nhân vật đó phải kiên định với địa vị trong xã hội Ôngnói rằng "Triều đại tốt cốt ở vua làm tròn bổn phận của vua, bề tôi làm tròn bổnphận của bề tôi, cha làm tròn bổn phận của cha, và con làm tròn bổn phận củacon." Platon (428-328 TCN) nói trong sách Nền Cộng hòa rằng tất cả nhữngchế độ chính trị theo truyền thống như (dân chủ, quân chủ, chính thể đầu

sỏ, chính thể hào hiệp vốn đã đồi bại, tham nhũng và nhà nước nên được điềuhành bởi tầng lớp những người cầm quyền cũng là triết gia được giáo dục tốt

Họ được đào tạo từ lúc chào đời và được chọn dựa trên năng lực: "những người

có kỹ năng đặc biệt về quan sát tổng quan xã hội

Aristote (384–322 TCN) cho rằng về bản chất, con người là một động vậtchính trị Theo Ông luân thường và chính trị có liên kết chặt chẽ với nhau, vàmột đời sống thật sự đạo đức chỉ có thể có ở những người tham gia vào chính trị.Giống như Platon, Aristotle thấy rằng có nhiều hình thức nhà nước khác nhau,

và ông cho rằng hình thức "đúng" của nhà nước có thể biến thành một hình thức

Trang 19

nhà nước "lệch lạc", nơi mà thể chế bị mục nát Theo ông, chế độ quân chủ, cómột người cai trị, sẽ biến thành chuyên chế; chế độ quý tộc, với một nhóm nhỏngười cai trị, sẽ biến thành chính thể đầu sỏ; và xã hội có tổ chức (polity) donhiều người dân cùng cai trị thì sẽ biến thành chế độ dân chủ.Hiện nay, trên thếgiới đã hình thành 4 cách hiểu khác nhau về chính trị:

1) Nghệ thuật của phép cai trị

2) Những công việc của chung

3) Sự thỏa hiệp và đồng thuận

4) Quyền lực và cách phân phối tài nguyên hay lợi ích

Một số quan niệm về chính trị

Theo Đavit Easton(1917, (canađa): chính trị là sự phân phối có thẩmquyền các giá trị Bernard Crick 2008, người Anh thì chính trị là dung hòa cácđòi hỏi chính đáng về phân phối hàng hóa và dịch vụ là đạo đức được thực hiệncông khai Haroll Lasswell 1902-1978, người Mỹ: Chính trị là ai được gì, baogiờ và bằng cách nào Ở phương Tây theo quan điểm của Bernard Crick

Theo định nghĩa của từ điển Bách khoa Việt nam"Chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước" Theo

V.I Lênin, cái căn bản nhất của chính trị là tổ chức chính quyền nhà nước.Chính trị là sự tham gia vào các công việc nhà nước, định hướng nhà nước, xácđịnh hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước Bất kỳ hoạt động

xã hội nào cũng có tính chất chính trị, nếu như việc giải quyết nó trực tiếp haygián tiếp gắn với lợi ích giai cấp, gắn với vấn đề chính quyền Căn cứ vào việcxác định nội dung của khái niệm chính trị của các nhà kinh điển của chủ nghĩaMác- Lênin mà các nhà khoa học soạn thảo chương trình giảng dạy, nghiên cứu,thường đề cập đến những vấn đề về chính trị là: Sự hình thành và phát triểnchính trị Việt Nam từ thời dựng nước đến 1945; Quá trình hình thành và các giai

Trang 20

đoạn phát triển thể chế chính trị Việt Nam hiện đại; Đặc điểm thể chế chính trịViệt Nam hiện nay; Quyền lực của nhân dân lao động trong thể chế cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam.

Đổi mới và hoàn thiện thể chế chính trị Việt Nam thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa; Kiên định đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủnghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Những vấn đề về chính trị của đời sống của xã hội Việt Nam trong lịch

sử cũng như đương đại thường đi vào trọng tâm các vấn đề như: quan điểm, tưtưởng, đường lối chính trị; các thể chế chính trị, con người chính trị; các dạnghoạt động của các chủ thể chính trị, các quan hệ chính trị- xã hội …

Để đạt được mục đích chính trị, mỗi giai cấp đều có những phương pháp,cách thức, tổ chức v.v để củng cố, duy trì sự tồn tại quyền lực của mình TheoPGS.TS Lê Văn Cương thủ đoạn chính trị của Trung Quốc là khi nào xã hộicăng thẳng cận kề có thể bùng nổ không kiểm soát được thì lãnh đạo TrungQuốc sẽ đẩy mâu thuẫn ra bên ngoài bằng cách vu cáo Việt Nam hay Philipines,Nhật Bản, Ấn Độ đang xâm phạm chủ quyền thiêng liêng của Trung quốc trênkhu vực biển đảo.Từ đó kêu gọi người dân hãy kìm nén hoặc gạt bất bình sangmột bên để tập trung lực lượng chống ngoại xâm Đây là món sở trường củalãnh đạo Trung Quốc

1.1.3 Khái niệm lý luận chính trị và bản chất của lý luận chính trị

1.1.3.1 Khái niệm lý luận chính trị

Chính trị là hình thái ý thức xã hội chỉ xuất hiện và tồn tại trong các xã hội

có giai cấp và nhà nước, nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa cácgiai cấp, các dân tộc và các quốc gia, cũng như thái độ của các giai cấp đối vớiquyền lực nhà nước

Ý thức chính trị thông thường hình thành trực tiếp từ hoạt động thực tiễntrong môi trường chính trị của xã hội Ở trạng thái tâm lý xã hội, những cảm xúc vàtâm trạng về chính trị của quần chúng thường thiếu bền vững và không ổn định.Song, những trạng thái tâm lý xã hội như vậy lại có vai trò to lớn và trực tiếp đối

Trang 21

với hành vi chính trị của quần chúng đông đảo; thông qua đó hệ tư tưởng chính trịtác động vào đời sống chính trị của xã hội.

Lý luận chính trị của một giai cấp nhất định phản ánh trực tiếp tập trung lợiích giai cấp của giai cấp ấy Hệ tư tưởng chính trị được thể hiện trong đường lối,cương lĩnh chính trị của các chính đảng của các giai cấp khác nhau cũng như trongluật pháp, chính sách nhà nước, công cụ của giai cấp thống trị Hệ tư tưởng chínhtrị được hình thành một cách tự giác Nó được các nhà tư tưởng của giai cấp xâydựng và truyền bá

Hệ tư tưởng chính trị gắn với các tổ chức chính trị Thông qua các tổ chứcchính trị mà một giai cấp nào đó tiến hành cuộc đấu tranh về ý thức hệ vì lợi íchcủa giai cấp của mình Lý luận chính trị có vai trò rất quan trọng đối với sự pháttriển xã hội Thông qua tổ chức nhà nước nó tác động trở lại cơ sở kinh tế và "cóthể, trong những giới hạn nhất định thay đổi cơ sở kinh tế" Hệ tư tưởng chính trịcũng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội Nó thâm nhập vào cáchình thái ý thức xã hội khác Tác động tích cực hoặc tiêu cực của hệ tư tưởng chínhtrị (cũng như ý thức chính trị nói chung) phụ thuộc vào tính chất tiến bộ, cáchmạng hoặc phản tiến bộ, phản cách mạng của giai cấp mang hệ tư tưởng đó Khigiai cấp còn tiến bộ, cách mạng - tiêu biểu cho xu thế phát triển đi lên của lịch sửthì hệ tư tưởng chính trị của nó có tác dụng tích cực đến sự phát triển xã hội Khigiai cấp đó trở thành lạc hậu, phản động, thì hệ tư tưởng chính trị của nó tác độngtiêu cực, kìm hãm phát triển xã hội

Khái niệm nâng cao trình độ lý luận chính trị Lý luận chính trị thuộcphạm trù kiến trúc thượng tầng, nâng cao trình độ lý luận chính trị là làm chocán bộ hiểu các mâu thuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết định các mâuthuẫn trong lĩnh vực chính trị tư tưởng; cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm haymuộn, kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo C.Mác viết: "Cơ sở kinh tếthay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiềunhanh chóng" [7,tr.15]

Trang 22

Nâng cao trình độ lý luận chính trị là làm cho cán bộ hiểu những quanđiểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạođức, tôngiáo, nghệthuật, v.v cùng vớinhững thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoànthể xã hội, v.v được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định Hiểu được quy luậtvận động phát triển,liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếutốchínhtrị, pháp luật xã hội nhất định Nhờ có nhà nước, giai cấp thống trị mớithực hiện được sự thống trị của mình về tất cả các mặt của đời sống xã hội Cơ

sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt của đời sống xã hội, chúng thốngnhất biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối vớikiến trúc thượng tầng

Quá trình đó diễn ra không chỉ trong giai đoạn thay đổi từ hình tháikinhtế-xã hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác, mà còn diễn ra ngay trongbản thân mỗi hình thái kinh tế - xã hội

Sự thay đổi cơ sở hạ tầng dẫn đến làm thay đổi kiến trúc thượng tầngdiễn ra rất phức tạp.Trong đó có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng thayđổi nhanh chóng cùng với sự thay đổi cơ sở hạ tầng như chínhtrị, pháp luật,v.v Trong kiến trúc thượng tầng, có những yếu tố thay đổi chậm như tôn giáo,nghệ thuật, v.v hoặc có những yếu tố vẫn được kế thừa trong xã hội mới Mộtgiai cấp chỉ có thể giữ vững được sự thống trị về kinh tế chừng nào xác lập vàcủng cố được sự thống trị về chính trị, tư tưởng Nếu kiến trúc thượng tầng tácđộng phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì nó là động lực mạnh mẽthúc đẩy kinh tế phát triển; nếu tác động ngược lại, nó sẽ kìm hãm phát triểnkinh tế, kìm hãm phát triển xã hội

Hồ Chí Minh luôn coi con người, con người vừa là mục tiêu vừa là độnglực của cách mạng Hồ Chí Minh nói: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải cócon người xã hội chủ nghĩa chủ nghĩa" Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VIII đã khẳng định mục tiêu của Đảng và nhà nước ta hiện nay là

"xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kĩ thuật hiệnđại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát

Trang 23

triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc pḥòng anninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh" Vì vậy, cóthể nói sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là "một cuộc cách mạng toàndiện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội" Đó trước hết làcuộc cách mạng con người, vì con người và do con người Xã hội phát triểnchính là kết quả của những nỗ lực vượt bậc và bền bỉ của toàn dân ta, với nhữngcon người phát triển cả về trí lực, cả về khả năng lao động, và tính tích cựcchính trị xã hội, và đạo đức, tình cảm trong sáng" (Đảng Cộng sản Việt Nam -Văn kiện Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành trung ương khoá VII) Nhận địnhtrên một lần nữa thể hiện rõ quan điểm của Đảng ta coi tư tưởng Hồ Chí Minh làmột trong những nền tảng tư tưởng quan trọng, thực hiện lời dạy của Bác trongthời gian miền Bắc nước ta bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, mùa Xuânnăm 1961 Bác nói "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có nhữngcon người xã hội chủ nghĩa" Lời Người chỉ ra rằng: Con người luôn luôn là chủthể sáng tạo trong bất cứ sự nghiệp cách mạng nào, do đó xã hội mới chỉ có thể

là sản phẩm của hoạt động tự giác của con người Tuy cách mạng nước ta đượcđặt dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1930, tuy con người Việt Nam từ đó đếnnay đã qua mấy cuộc đổi đời căn bản, đã lập nên những kỳ tích trong cuộc đấutranh xoá bỏ ách áp bức dân tộc và ách áp bức giai cấp, nhưng cách mạng xã hộichủ nghĩa đánh dấu một giai đoạn mới trong sự phát triển của con người ViệtNam: tự cải tạo xây dựng mình thành con người xã hội chủ nghĩa

1.1.3.2 Bản chất của lý luận chính trị

- Lý luận chính trị xuất phát từ thực tiễn

C.Mác chỉ rõ: “Khuyết điểm chủ yếu từ trước cho đến nay, của mọi chủnghĩa duy vật (kể cả duy vật của Phoiơbắc) là sự vật, hiện thực, cái có thể cảmgiác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan,chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thựctiễn”[6,tr.252] "Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản củachủ nghĩa Mác-Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù

Trang 24

quáng Lý luận mà không liên hệ với thứ thực tiễn là lý luận suông"[30, tr.496] Lýluận chính trị từng giai đoạn lịch sử có những nội dung khác nhau, theo Người:

“Mấu chốt của vấn đề chính trị ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX làgiành và giữ chính quyền, là thực hiện dân chủ kiểu mới, là làm cho nhân dân thực

sự là người làm chủ, làm cho dân giàu, nước mạnh và sẵn sàng làm bạn với tất cảcác nước trên tinh thần hòa hiếu, tôn trọng chủ quyền và hợp tác cùng có lợi”.Nhiệm vụ của chi bộ các cơ quan là phải " Tăng cường giáo dục lý luận chính trị vàhọc tập nghề nghiệp của nhân viên Chăm sóc giúp đỡ cho mỗi một người tiếnbộ"[29,tr.252]

- Lý luận chính trị mang tính giai cấp

Quan điểm của V I Lênin

V.I.Lênin viết "Trong điều kiện chuyên chính vôsản, những hình thức đấutranh giai cấp của giai cấp vô sản không thể giống như trướcđược"[41,tr.298]

- Lý luận chính trị phản ánh mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn tronghoạt động chính trị

1.1.4 Đặc trưng của lý luận chính trịMác - Lênin

1.1.4.1 Lý luận chính trị Mác - Lênin mang tính trừu tượng và khái quát cao

Nhờ có lý luận khoa học mà hoạt động của con người nên chủ động, tự giác,hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát Sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lênin là ởchỗ, trong khi khái quát thực tiễn cách mạng, lịch sử xã hội, nó vạch rõ quy luậtkhách quan của sự phát triển, dự kiến những khuynh hướng cơ bản của sự tiếnhóa xã hội Điều đó làm cho các Đảng của giai cấp công nhân có thể vạch rađường lối, phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp hành động cho phù hợp với đặcđiểm, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mỗi nước một cách sáng tạo Chủ tịch HồChí Minh ví "không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi" [28,tr.234]

Trong hoạt động của cán bộ không thể dừng lại ở những kinh nghiệm thunhận lại trực tiếp từ thực tiễn mà phải nâng lên thành lý luận bởi lý luận là mộttrình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm Coi trọng thực tiễn không có nghĩa

Trang 25

là xem thường lý luận, hạ thấp vai trò của lý luận Không nên đề cao cái này, hạthấp cái kia và ngược lại Lý luận có vai trò rất lớn đối với thực tiễn, tác độngtrở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của conngười Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạothực tiễn Đánh giá vai trò và ý nghĩa lớn lao của lý luận, Lênin viết: “Không có

lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng” [40, tr.30] Lýluận một khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành "lực lượng vật chất" Lýluận có thể dự kiến được sự vận động trong tương lai, từ đó vạch ra phươnghướng cho thực tiễn, chỉ rõ những phương pháp hành động có hiệu quả nhất đểđạt mục đích của thực tiễn

1.1.4.2 Lý luận chính trị Mác - Lênin có tính chính xác và lôgíc chặt chẽ

Thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêucực tạo niềm tin trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân Khắc phụcnhững sơ hở thiếu sót trong quá trình thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xãhội

Khi chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước được thực hiện đúngđắn, phù hợp với lợi ích của quốc gia, dân tộc, phù hợp với lợi ích của đại đa sốquần chúng nhân dân thì các đối tượng chống đối sẽ không còn lý do để xuyêntạc, chống phá Khi đã tạo được niềm tin vào Đảng, vào chế độ và con đườngphát triển đất nước thì các hoạt động chống đối sẽ tự triệt tiêu Và đó chính làcách thức bảo vệ Đảng hiệu quả nhất trước những luận điệu tuyên truyền, vucáo, xuyên tạc, kích động gây mâu thuẫn nội bộ

1.1.4.3 Lý luận chính trị Mác - Lênin có tính liên hệ, thống nhất với thực tiễn

Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủnghĩa Mác - Lênin “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn

mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông"[25,tr.496]

Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thể hiện tiêu biểu cho

Trang 26

sự gắn bó mật thiết giữa lý luận và thực tiễn C Mác và Ăngghen đã khái quátthực tiễn cách mạng, lịch sử xã hội để xây dựng nên hệ thống lý luận của mình.Đến thời V.I Lênin sự phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễn mới ởnước Nga lúc đó, V.I Lênin đã đưa ra chính sách kinh tế mới (NEP) và Ngườinhận xét: “toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi vềcăn bản” [39,tr.428] Như vậy, sức mạnh của lý luận là ở chỗ nó gắn bó mậtthiết với thực tiễn, được kiểm nghiệm, bổ sung và phát triển trong thực tiễn.

Chủ nghĩa duy tâm đại biểu cho lợi ích của các thế lực lỗi thời Họ cố tình

né tránh vấn đề thực tiễn, tìm cách làm cho quần chúng lao động không hiểuđược sức mạnh to lớn trong thực tiễn cánh mạng Khắc phục những yếu tố sailầm, kế thừa có chọn lọc các quan niệm về thực tiễn của các nhà triết học trướcđây, Mác và Ăngghen đã đưa ra một quan niệm khoa học về thực tiễn và về vaitrò của thực tiễn đối với lý luận

Nói về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, V.I.Lênin nhận xét: “Quanđiểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận

về nhận thức”[35,tr.167] Thực tiễn là phạm trù chỉ những hoạt động vật chất cómục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xãhội

Thực tiễn có quá trình vận động của nó Trình độ phát triển của thực tiễnnói lên trình độ chinh phục tự nhiên, trình độ làm chủ xã hội của con người.Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội

Để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con người cần phải tiến hànhnhững hoạt động xã hội Hoạt động xã hội gồm: hoạt động vật chất và hoạt độngtinh thần, hoạt động sản xuất và hoạt động phi sản xuất, v.v

Hoạt động thực tiễn là hoạt động cơ bản của xã hội và nó có những đặctrưng riêng Đây là hoạt động vật chất, hoạt động cảm tính Trong hoạt độngthực tiễn, con người sử dụng các công cụ, phương tiện vật chất, sức mạnh vậtchất của chính mình để cải tạo tự nhiên và xã hội, đó là hoạt động đối tượng hóa,vật chất hóa tư tưởng Thông qua hoạt động thực tiễn, con người tạo ra một hiện

Trang 27

thực mới, “một thiên nhiên thứ hai” Hoạt động thực tiễn có tính lịch sử - xã hội.Cải tạo tự nhiên và xã hội là hoạt động cơ bản, phổ biến, là phương thức tồn tạicủa xã hội loài người Để tồn tại, con người phải tiến hành lao động sản xuấtnhằm tạo ra của cải vật chất nuôi sống mình Động vật hoạt động theo bản năng,chỉ biết tìm kiếm những gì sẵn có trong tự nhiên để sống Con người không thểthỏa mãn với những cái mà tự nhiên mang đến cho mình dưới dạng sẵn có Hoạtđộng thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, là hoạt động đặc trưng chocon người.

Thực tiễn gồm những dạng cơ bản và không cơ bản Dạng cơ bản đầu tiêncủa thực tiễn là hoạt động sản xuất vật chất Đây là dạng hoạt động thực tiễnnguyên thủy nhất và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xãhội, quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn Dạng cơ bản thứ hai củathực tiễn là hoạt động chính trị - xã hội nhằm cải tạo xã hội, phát triển các quan

hệ xã hội, chế độ xã hội Với sự ra đời và phát triển của khoa học, một dạng cơbản khác của thực tiễn cũng xuất hiện - đó là hoạt động thực nghiệm khoa học.Các dạng không cơ bản của thực tiễn là những hoạt động trong một số lĩnh vựcnhư đạo đức, nghệ thuật, giáo dục, tôn giáo, v.v Các dạng này được hình thành

và phát triển từ những dạng cơ bản, chúng là dạng thực tiễn phát sinh

Thực tiễn là hoạt động của cộng đồng người, của đông đảo quần chúngnhân dân trong xã hội Thực tiễn có quá trình vận động của nó Trình độ pháttriển của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục tự nhiên, trình độ làm chủ xã hộicủa con người

Không hiểu được vai trò của thực tiễn cũng là bản chất của chủ nghĩa duytâm đại biểu cho lợi ích của các thế lực lỗi thời Họ cố tình né tránh vấn đề thựctiễn, tìm cách làm cho quần chúng lao động không hiểu được sức mạnh to lớntrong thực tiễn cánh mạng của hàng triệu con người

1.1.4.4 Lý luận chính trị Mác - Lênin có sự thống nhất cao giữa tính Đảng và tính khoa học.

Trang 28

Lý luận chính trị Mác - Lênin là một cuộc cách mạng thật sự trong họcthuyết về xã hội, một trong những yếu tố chủ yếu của bước ngoặt cách mạng màMác và Ăngghen đã thực hiện trong triết học Giải thoát chủ nghĩa duy vật khỏitính hạn chế siêu hình, Mác đã làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên hoàn bị và mởrộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hộiloài người: "Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tưtưởng khoa học"[37,tr.53] Với sự ra đời của Lý luận chính trị Mác - Lênin triếthọc Mác, vai trò xã hội của triếthọc cũng như vị trí của triết học trong hệ thốngtri thức khoa học cũng biến đổi "Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằngnhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới" [12,tr.35] Luận điểm đócủa Mác nói lên sự khác nhau về chất giữa triết học của ông với các học thuyếttriết học trước kia, kể cả những học thuyết triết học tiến bộ Tuy vậy, Mác không

hề phủ nhận, trái lại Mác đã đánh giá cao vai trò to lớn của các nhà triết học vàcác học thuyết triết học tiến bộ trong sự phát triển xã hội Chẳng hạn, Máckhâm phục và đánh giá rất cao chủ nghĩa vô thần triết học của các nhà duy vậtPháp thế kỷ XVII Song, mặt hạn chế về tính thực tiễn là "khuyết điểm chủyếu" của mọi học thuyết duy vật trước Mác nên nó chưa trở thành công cụ nhậnthức khoa học để cải tạo thế giới bằng cách mạng Nay nó đã được Mác khắcphục, vượt qua và đi tới chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cho chủ nghĩa duy vật trởthành triệt để

Lý luận chính trị Mác - Lênin Triết học Mác là thế giới quan khoa học củagiai cấp công nhân, mộtgiai cấp tiến bộ và cách mạng nhất, một giai cấp có lợiích phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động và với sự phát triển xã hội

Sự kếthợp lý luận của chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân đã tạo nên bướcchuyển biến về chất của phong trào, từ trình độ tự phát lên tự giác Khi bàn vềvai trò của giai cấp vô sản V.I Lênin khẳng định rẳng:"Điểm chủ yếu của họcthuyết Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp

vô sản là người xây dựng chủ nghĩa xã hội"[36,tr.58]

Phép biện chứng mácxít mang tính cách mạng sâu sắc nhất" vì trong quan

Trang 29

niệm tích cực về cái hiện đang tồn tại, phép biện chứng đồng thời cũng bao hàm

cả quan niệm về sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếucủa nó; vì mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xét ở trong

sự vận động, tức là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó; vì phép biện chứngkhông khuất phục trước một cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính chất phêphán và cách mạng" [10,tr.58] Sức mạnh"cải tạo thế giới" của triết học mácxítchính là sự gắn bó mật thiết cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng nhândân đông đảo, nhờ đó lý luận "sẽ trở thành lực lượng vật chất"

Lý luận chính trị Mác - Lênin được khái quát trên cơ sở khái quát cácthành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, thoátkhỏi chủ nghĩa thần bí

Hồ Chí Minh nhận xét" Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩachân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin" [27,tr.268]

1.1.5 Giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ

1.1.5.1 Khái niệm giáo dục lý luận chính trị

Khái niệm giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội Giáo dục làm nảy sinh mối quan hệgiữa người với người, trong việc truyền lại tri thức, kinh nghiệm của thế hệtrước cho thế hệ sau Mục đích của giáo dục là làm cho các thành viên của xãhội nắm được tri thức, kỹ năng, hình thành được các thái độ để phát triển nhâncách, làm cho con người trở nên có giá trị tích cực đối với xã hội Những trithức, kỹ năng, thái độ của các thành viên xã hội được quy định bởi các chế độkinh tế, xã hội và chính trị, bởi cơ sở vật chất và kỹ thuật của xã hội Giáo dục

có hai nghĩa: thứ nhất là, giáo dục là một hiện tượng khách quan Thứ hai là,công tác giáo dục được tổ chức theo cách riêng Giáo dục được tiến hành trongtất cả các lĩnh vực của cuộc sống con người Giáo dục không chỉ hạn chế ở dạyhọc, mà vượt xa khỏi phạm vi dạy học Mỗi một thế hệ khi bước vào cuộc sốngđều phải tiếp xúc với hệ thống giáo dục Con người dần phải làm quen với cácquan hệ xã hội, tư tưởng và điều kiện kinh tế nhất định của xã hội Các quan hệ

xã hội đó quyết định tính chất và điều kiện chung của sự hoạt động của thế hệ

Trang 30

mới, bằng vô số những tác động vô hình Tất cả những tác động đó chính là quátrình giáo dục đang diễn ra một cách khách quan Còn giáo dục được tổ chứctheo cách riêng là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự pháttriển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần

có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra Giáo dục theo nghĩarộng của từ đó được hiểu như là tổng thể các nỗ lực nhằm làm cho mỗi thế hệthích ứng với chế độ xã hội, mà sự vận động tiến lên của loài người đã kêu gọi

họ Toàn bộ quá trình học tập, giáo dục có tổ chức, hoạt động của người giáoviên và người được giáo dục, của thầy và trò được gọi là quá trình giáo dục

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, giáo dục gồm có ba nội dung sau đây:

“Một là, trí dục

Hai là, thể dục: Giống như những điều người ta dạy ở các trường thể dục

và trong luyện tập quân sự

Ba là, dạy kỹ thuật bách khoa Việc dạy kỹ thuật bách khoa này làm chocác em biết những nguyên tắc cơ bản của tất cả mọi quá trình sản xuất, đồngthời làm cho trẻ em và thiếu niên có được những kỹ năng sử dụng những công

cụ đơn giản nhất của tất cả các ngành sản xuất” [38, tr 263]

Trong mối quan hệ giữa xã hội - con người - giáo dục, trong đó conngười là chủ thể của quá trình vận động phát triển Mọi sự hoạt động xảy ratrong xã hội đều do con người và vì con người Con người là vấn đề trung tâmcủa mọi trung tâm.Thời đại nào cũng vậy, giáo dục là một hoạt động của conngười mang tính đặc trưng Giáo dục liên quan đến mọi thành viên của xã hội

Xã hội loài người phát triển không phải do ý muốn của cá nhân, một lực lượngsiêu tự nhiên, mà do nhiều yếu tố hợp thành Xã hội càng văn minh thì tri thứccàng phong phú Con người sinh ra không phải có ngay tri thức, muốn có trithức thì phải có giáo dục Giáo dục chính là phương thức để truyền lại tri thứccủa người đã biết đến người chưa biết, từ thế hệ trước cho thế hệ sau Giáo dục

là một hiện tượng xã hội phổ biến của loài người Giáo dục là một trong nhữngyếu tố quan trọng để đánh giá nền văn minh của một thời đại, của sự tiến bộ xã

Trang 31

hội Con người không có giáo dục thì không thể trở thành người theo đúng nghĩacủa nó.

"Giáo dục là một phạm trù vĩnh hằng" của xã hội loài người Mỗi xã hộiđều có một truyền thống giáo dục và những phương thức, nội dung giáo dụckhác nhau Do yêu cầu của xã hội, do mục đích chính trị đặt ra, giáo dục pháttriển theo thiên hướng đó Giáo dục liên quan chặt chẽ với chính trị Muốn nângcao trình độ lý luận chính trị cán bộ thì phải thông qua học, giáo dục Tuy nhiên,

do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong sự phản ánh hiện thực, do sự chi phốicủa hệ tư tưởng và thái độ không khoa học nên lý luận chính trị có nguy cơ xarời cuộc sống và trở nên ảo tưởng, giáo điều Trong khi nhấn mạnh vai trò quantrọng của lý luận chính trị, V.I Lênin nhắc đi nhắc lại rằng, lý luận cách mạngkhông phải là giáo điều, nó là "kim chỉ nam" cho hành động cách mạng; và lýluận không lại là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo; lý luận luôn cầnđược bổ sung bằng những kết luận mới được rút ra từ thực tiễn sinh động Chủtịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tậpkhông đúng thì sẽ không có kết quả Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng tacần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tế

1.1.5.2 Khái niệm “Cán bộ”

Tổ chức của hệ thống chính trị ở Việt Nam được chia làm 4 cấp: Trungương; tỉnh, thành phố; quận, huyện, thị xãvà cơ sở Cấp cơ sở (xã, phường, thịtrấn) gọi chung là cấp xã, là cấp cuối cùng trong sự phân cấp hành chính

Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 Luậtnày có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 Khoản 1 Điều 4 quyđịnh về cán bộ: “ Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổnhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sảnViệt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội ở Trung ương, ởtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộctỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”

Trang 32

Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phêchuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ Những người đủ cáctiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơquan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phêchuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cánbộ.

Như vậy cán bộ lãnh đạo, quản lý, chủ chốt cấp huyện hiện nay thuộc diệnBan Thường vụ Huyện ủy quản lý bao gồm nhưng người trong biên chế vàhưởng lương từ ngân sách nhà nướctrong các tổ chức ở cấp huyện như: cán bộlãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp huyện mà tác giả đề cập đến trong luận văn nàybao gồm các chức danh: Ủy viên Ban Thường vụ; Ủy viên Ban Chấp hành đảng

bộ huyện; Trưởng ban, Phó trưởng ban Đảng; Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm và Ủyviên Ủy ban kiểm tra; Chánh, Phó chánh Văn phòng Huyện ủy; Phó chủ tịch và

ủy viên trực Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện;Chánh, phó Văn phòng Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện; Trưởng,phó phòng thuộc Uỷ ban nhân dân huyện và các chức danh tương đương; Chủtịch, Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc; Cấp trưởng, cấp phó các đoàn thể chính trị -

xã hội huyện; Giám đốc, Phó giám đốc trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện; Bíthư, phó bí thư, Đảng ủy; Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, chủ tịch,phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, thị trấn.Nội dung giáo dục lý luận chính trịcho đội ngũ cán bộ

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tham ô, lãng phí và bệnh quanliêu là “kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằmtrong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta” [24,tr.490] Theo Chủtịch Hồ Chí Minh thì thực chất cán bộ là đầy tớ của nhân dân, cán bộ đóng vaitrò quan trọng họ là cái gốc của mọi công việc và công việc thành hay bại đều docán bộ tốt hay kém và cán bộ nhất là cán bộ đảng viên của Việt Nam có nhiềungười đang bị chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh, tha hóa Họ xa rời quần chúng,không muốn học hỏi quần chúng, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh Kết quả là

Trang 33

quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ Những cán bộ như vậychung quy là họ không làm nên trò trống gì Cho nên yêu cầu cấp thiết là cầnphải thường xuyên nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ.

1.1.5.3 Khái niệm Cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp huyện

Cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp huyện là những cán bộ thuộc diệnBan Thường vụ Huyện ủy quản lý bao gồm các chức danh: Ủy viên Ban Thườngvụ; Ủy viên Ban Chấp hành đảng bộ huyện; Trưởng ban, Phó trưởng ban Đảng;Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm và Ủy viên Ủy ban kiểm tra; Chánh, Phó chánh Vănphòng Huyện ủy; Phó chủ tịch và ủy viên trực Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, phóchủ tịch Ủy ban nhân dân huyện; Chánh, phó Văn phòng Hội đồng nhân dân -

Ủy ban nhân dân huyện; Trưởng, phó phòng thuộc Uỷ ban nhân dân huyện vàcác chức danh tương đương; Chủ tịch, Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc; Cấptrưởng, cấp phó các đoàn thể chính trị - xã hội huyện; Giám đốc, phó giám đốctrung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện; Bí thư, phó bí thư, Đảng ủy; Chủ tịch, Phóchủ tịch Hội đồng nhân dân, chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, thị trấn.Hiện nay số lượng cán bộ lãnh đạo quản lý, chủ chốt cấp huyện thuộc diện BanThường vụ Huyện uỷ Thủ Thừa quản lý gần 211 đồng chí (chưa trừ các đồngchí thủ trưởng các phòng, ban, ngành, đoàn thể là Ủy viên Ban Chấp hành đảng

độ lý luận chính trị ở các trình độ khác nhau

Trang 34

- Người có bằng đại học chính trị, đại học chuyên ngành Mác-Lênin (Triếthọc Mác- Lênin, Kinh tế Chính trị Mác- Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học, Xâydựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Chính trị học, Lịch sử Đảng), đại họcchuyên ngành tư tưởng- văn hóa, đại học chuyên ngành tổ chức; Những người

đã tốt nghiệp chương trình đào tạo cán bộ cấp chiến thuật- chiến dịch nhómngành Khoa học Xã hội và Nhân văn, Quản lý- Chỉ huy quân sự (Học viện Quốcphòng, Học viện Chính trị- Quân sự, Học viện Lục quân, Học viện Khoa họcquân sự); Những người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ khoa học chuyên ngành Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những đối tượng được công nhận có trình độcao cấp lý luận chính trị Chẳng hạn các chức danh như Bí thư, phó bí thư cấpủy; Chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân; Ủy viên thường trực hội đồngnhân dân cấp huyện; Chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân; Ủy viên ủy bannhân dân; Thủ trưởng, phó thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc ủyban nhân dân; Chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, Chủtịch, phó chủ tịch Hội cựu chiến binh,Chủ tịch, phó chủ tịch Hội liên hiệp phụnữ; Chủ tịch, phó chủ tịch Hội nông dân; Bí thư, phó bí thư đoàn Thanh niênCộng sản Hồ Chí Minh huyện; Bí thư, phó bí thư cấp ủy; Chủ tịch, phó chủ tịchhội đồng nhân dân; Chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân; Ủy viên ủy bannhân dân; Chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch,phó chủ tịch Hội cựu chiến binh, Chủ tịch, phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ;Chủ tịch, phó chủ tịch Hội nông dân; Bí thư, phó bí thư đoàn Thanh niên Cộngsản Hồ Chí Minh cấp xã v.v

- Những người đã tốt nghiệp ở các học viện, trường đại học, cao đẳng củacác trường thuộc chuyên ngành Kinh tế - Quản trị, kinh doanh, Khoa học Xã hội

và Nhân văn ở trong nước; Người đã tốt nghiệp hoặc đã học xong chương trìnhtrung học chính trị tại các Trường Chính trị tỉnh, thành và ở các cơ sở đào tạo,bồi dưỡng cán bộ được cấp có thẩm quyền giao trách nhiệm đào tạo trung cấp lýluận chính trị; Người đã tốt nghiệp hoặc đã học xong chương trình đào tạo cán

bộ lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân ở cơ sở tại các Trường Chính

Trang 35

trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Người tốt nghiệp hệ dài hạn (từ 2 nămtrở lên) không phải chuyên ngành Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tại cácphân hiệu Nguyễn Ái Quốc và các Trường Đảng khu vực (trước đây) và phânviện Hà Nội, phân viện Đà Nẵng, phân viện thành phố Hồ Chí Minh, phân việnBáo chí và Tuyên truyền; Người tốt nghiệp các ngành khoa học kỹ thuật, khoahọc tự nhiên đã bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ và Tiến sĩ khoa học ở trongnước và ở các nước xã hội chủ nghĩa; Người có bằng Thạc sĩ chuyên ngànhKhoa học Xã hội và Nhân văn, chuyên ngành Kinh tế - Quản trị, kinh doanh ởtrong nước; Người đã tốt nghiệp hệ dài hạn trường đào tạo Sĩ quan, Quản lý -Chỉ huy quân sự, công an, các Học viện đào tạo cán bộ cấp chiến thuật - chiếndịch ngành hậu cần, kỹ thuật là đối tượng được công nhận có trình độ trung cấpcấp lý luận chính trị.

- Những người đã tốt nghiệp các Học viện, Trường đại học, cao đẳngtrong nước (trừ những trường hợp được quy định ở Điểm 2), những người tốtnghiệp các Trường trung học chuyên nghiệp khối ngành kinh tế, những ngườitốt nghiệp các Trường trung cấp quân đội, công an; Người đã tốt nghiệp các Họcviện, Trường quân đội cấp phân đội không thuộc nhóm ngành Khoa học Xã hội

và Nhân văn, quản lý, chỉ huy quân sự, công an

Căn cứ Quy định 54-QĐ/TW, ngày 12/5/1999 của Bộ Chính trị khóa VIII

về “Chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng” và các chỉ thị, nghị quyết của

TW về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; căn cứ vào tình hình đào tạo, bồi dưỡng lýluận chính trị của các cơ sở đào tạo trong và ngoài hệ thống Trường Chính trịcủa Đảng Ban chấp hành Trung ương tiếp tục ban hành Quy định số256-QĐ/TW ngày 16/9/2009, về việc xác định trình độ ở các cơ sở đào tạongoài hệ thống trường chính trị của Đảng hoặc đã học đại học chính trị chuyênngành và sau đại học tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ ChíMinh, là đối tượng được công nhận có trình độ trung, sơ cấp lý luận chính trị

1.2 Vai trò của việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho độingũ cán bộtrong giai đoạn hiện nay

Trang 36

1.2.1 Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộtrong giai đoạn hiện nay là yêu cầu cấp bách

1 2.1.1 Quan điểm của các nhà kinh điển về bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị

Quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen

Nghị quyết đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: "Đảng vànhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủnghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh."[18,tr.83]

C Mác và Ph Ăngghen cho rằng "giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giànhlấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thànhdân tộc" [11,tr.623-624]

C.Mác khẳng định: "Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủnghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứngvới thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy khôngthể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản"[9,tr.47] Nhà nước vô sản là một kiểu nhà nước đặc biệt trong lịch sử Tính chấtđặc biệt của nó trước hết là ở chỗ nó chỉ tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa cộng sản, nó là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử của xã hội loàingười Vì vậy, để quản lý điều hành được xã hội ấy thì cán bộ phải bồi dưỡngtrình độ lý luận chính trị, với phương châm "học, học nữa, học mãi"

1.2.1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Namvề giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị cho cán bộ

Quan điểm của Hồ Chí Minh

Trước đây khi nói về Đảng, Hồ Chí Minh cho rằng Đảng ta còn có nhiềunhược điểm, mà một trong những nhược điểm lớn là trình độ lý luận còn thấpkém Đây là hạn chế lịch sử không thể tránh khỏi đối với cán bộ, đảng viên nước

ta, bởi vì trong xã hội cũ nhân dân ta không có điều kiện tiếp thu văn hóa, khoahọc và trong một thời gian dài, chúng ta phải tập trung mọi sức lực và trí tuệ chocuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập tự do cho Tổ quốc Hiện nay

Trang 37

trình độ tư duy lý luận của nhiều cán bộ, đảng viên còn thấp kém, chưa tươngxứng với những công việc được giao phó Vì vậy, nâng cao một cách căn bảntrình độ lý luận, trình độ trí tuệ của Đảng là phương hướng quan trọng và cấpbách Tuy nhiên, coi trọng thực tiễn không có nghĩa là xem thường lý luận, hạthấp vai trò của lý luận Không nên đề cao cái này, hạ thấp cái kia và ngược lại.Không thể dừng lại ở những kinh nghiệm thu nhận lại trực tiếp từ thực tiễn màphải nâng lên thành lý luận bởi lý luận là một trình độ cao hơn về chất so vớikinh nghiệm Lý luận có vai trò rất lớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thựctiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người Lýluận là “kim chỉ nam” cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn.Đánh giá vai trò và ý nghĩa lớn lao của lý luận, Lênin viết: “Không có lý luậncách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”.

Lý luận một khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành "lực lượng vậtchất" Lý luận có thể dự kiến được sự vận động trong tương lai, từ đó vạch raphương hướng cho thực tiễn, chỉ ra những phương pháp hành động có hiệu quảnhất để đạt mục đích của thực tiễn Nhờ có lý luận khoa học mà hoạt động củacon người nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát Sức mạnhcủa chủ nghĩa Mác - Lênin là ở chỗ, trong khi khái quát thực tiễn cách mạng,lịch sử xã hội, nó vạch ra quy luật khách quan của sự phát triển, dự kiến nhữngkhuynh hướng cơ bản của sự tiến hóa xã hội Điều đó làm cho các Đảng của giaicấp công nhân có thể vạch ra đường lối, phương hướng, nhiệm vụ, biện pháphành động cho phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mỗi nướcmột cách sáng tạo Chủ tịch Hồ Chí Minh ví "không có lý luận thì lúng túng nhưnhắm mắt mà đi"

Ý thức được tình trạng thiếu tri thức khoa học và yếu kém về lý luận,Đảng ta đã vạch ra phương hướng và giải pháp khắc phục hạn chế đó Việc đẩymạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh tronggiai đoạn hiện nay là một yêu cầu cấp bách, bởi vì "Tư tưởng Hồ Chí Minh làmột hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách

Trang 38

mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩaMác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trịtruyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Tư tưởng

Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, làtài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta"[18,tr.83-84]

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộinăm 1991, Đảng ta đã xác định "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động" [21,tr.21].85 nămqua, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện,

đã lãnh đạo Nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ,vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại.Công lao của Đảng là vô cùng to lớn Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới thựchiện được sự nghiệp giải phóng dân tộc Nhờ có Đảng, qua 30 năm đổi mới, đấtnước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đườngxây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đời sống của nhân dân được cảithiện rất nhiều

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Đổi mớicông tác giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng trong Đảng, trước hết cho đội ngũcán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt các cấp; đổi mới nội dung, phương pháphọc tập và giảng dạy trong hệ thống chính trị, nâng cao tính thiết thực và hiệuquả của chương trình” [15,tr.131]

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI cũng nhấn mạnh: “Cán bộ, đảngviên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng và nhân dân,hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, các tổ chức Đảng phảitạo điều kiện để đảng viên công tác, lao động có năng suất, chất lượng và hiệuquả, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước” [16,tr 258]

1.2.2 Yêu cầu nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ trong giai đoạn hiện nay

Trang 39

1.2.2.1 Sự cần thiết phải nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, trong bối cảnh hiện nay

Vai trò của lý luận khoa học ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển củathực tiễn Xu hướng đó thể hiện trong quá trình phát triển từ tri thức tiền khoađến tri thức khoa học; từ tri thức kinh nghiệm đến tri thức lý luận; từ khoa họcthực nghiệm đến khoa học lí thuyết; từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội.Ngày nay, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khoa học làm tăngthêm sức mạnh trí tuệ cho con người trong việc sáng tạo những giá trị vật chất

và tinh thần, góp phần hoàn thiện các quan hệ xã hội và nhân cách con người.Tri thức khoa học ngày càng thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội, gópphần phát triển các khoa học tương ứng với các hình thái đó

Công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội do Đảng ta khởi xướng đã thu đượcnhững thành tựu bước đầu rất quan trọng Tuy nhiên, tính chất khó khăn và phứctạp của sự nghiệp đổi mới cũng như chiều sâu và tầm cỡ của nó đang đặt ra rấtnhiều vấn đề lý luận lớn lao và gay cấn, đòi hỏi phải được giải quyết Lý luậntrở thành thiết thân đối với sự nghiệp đổi mới, với toàn bộ vận mệnh của đấtnước Trong thời gian gần đây, trên các mạng xã hội, internet, các blogs, trangweb xuất hiện nhiều thông tin vu cáo, xuyên tạc chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bôi nhọ, hạ uy tín của một số cán bộ,đưa tin kích động gây chia rẽ nội bộ, ảnh hưởng lớn đến uy tín, vai trò lãnh đạocủa Đảng Tác động đến tâm lý, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên vàquần chúng nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ, sự tác động của các luậnđiệu tuyên truyền, xuyên tạc đó diễn ra hết sức phức tạp Mục đích của hoạtđộng này là nhằm hạ uy tín chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, kích động gâymâu thuẫn trong nội bộ, gây hiểu nhầm trong dư luận Đây là chiêu thức tronghoạt động chống Đảng và Nhà nước của các thế lực thù địch nhằm thực hiệnchiến lược "diễn biến hòa bình"

Những luận điệu của các thế lực thù địch tập trung vào tuyên truyềnxuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước,

Trang 40

phủ nhận thành quả cách mạng, vu cáo, xuyên tạc, kích động gây mâu thuẫn nội

bộ, bôi nhọ cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước bằng các thủ đoạn bí mật, lặng lẽ,ngấm ngầm tạo dư luận tiêu cực trong quần chúng nhân dân bằng nhiều thể loại,hình thức báo chí, hồi ký, tùy bút, tác phẩm văn học nghệ thuật, tiểu thuyết v.v Cho nên lý luận chính trị cần chỉ rõ những tư tưởng sai trái, cực đoan muốn từ

bỏ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,thay thế vào đó là hệ tư tưởng tư sản và con đường tư bản chủ nghĩa, cũng nhưcác quan niệm sai trái như phủ định sạch trơn mọi giá trị, mọi thành tựu của chủnghĩa xã hội trong suốt mấy chục năm qua, âm mưu bóp méo, xuyên tạc lịch sửcách mạng, chia rẽ Đảng với nhân dân, kích động những người có tâm trạng bấtmãn, v.v

Giai đoạn hiện nay của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi

“Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển lý luận Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị

-và năng lực tổ chức của mình để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cáchmạng đặt ra” [13,tr.5] Vì vậy, chưa bao giờ lý luận lại cần thiết và có tầm quantrọng lớn lao như hiện nay

1.2.2.2.Lý do phải nâng cao trình độ lý luận cho đội ngũ cán bộ huyện trong giai đoạn hiện nay

Là do cách mạng là sáng tạo, không sáng tạo thì cách mạng không thểthành công Không bao giờ có một công thức duy nhất về cách tiến hành cáchmạng Điểm mấu chốt của phương pháp chính là sức sáng tạo, hay chính làphương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra.Đảng đã xác lập phương pháp cách mạng sáng tạo, đúng đắn, hiệu quả Thànhtựu đạt được trong lý luận của Đảng còn thể hiện ở chỗ xác định hệ mục tiêu chocông cuộc đổi mới, "Đó là xác định mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước; phát triển lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xâydựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giải quyết các vấn đề xã hội,

Ngày đăng: 22/01/2016, 13:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Phân bổ dân cư theo từng xã, thị trấn: - Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ huyện thủ thừa, tỉnh long an trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.1. Phân bổ dân cư theo từng xã, thị trấn: (Trang 47)
Bảng 1. Cơ cấu đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt huyện Thủ Thừa, đến tháng 5/2015. - Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ huyện thủ thừa, tỉnh long an trong giai đoạn hiện nay
Bảng 1. Cơ cấu đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt huyện Thủ Thừa, đến tháng 5/2015 (Trang 56)
Bảng 2. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, chủ chốt huyện Thủ Thừa - Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ huyện thủ thừa, tỉnh long an trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, chủ chốt huyện Thủ Thừa (Trang 58)
Bảng 3. Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, chủ chốt huyện Thủ Thừa - Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ huyện thủ thừa, tỉnh long an trong giai đoạn hiện nay
Bảng 3. Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, chủ chốt huyện Thủ Thừa (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w