1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở tiểu học

119 2,7K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 183,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÙ THỊ HỒNG UYÊNTHIẾT KẾ TRÒ CHƠI RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯƠNG TÁC CHO TRẺ TỰ KỶ TRONG QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC HÒA NHẬP Ở TIỂU HỌC CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC BẬC TIỂU HỌC Mã số: 60.14.01.01 LUẬN

Trang 1

CÙ THỊ HỒNG UYÊN

THIẾT KẾ TRÒ CHƠI RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯƠNG TÁC CHO TRẺ TỰ KỶ

TRONG QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC HÒA NHẬP

Ở TIỂU HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Nghệ An, 2015

Trang 2

CÙ THỊ HỒNG UYÊN

THIẾT KẾ TRÒ CHƠI RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯƠNG TÁC CHO TRẺ TỰ KỶ

TRONG QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC HÒA NHẬP

Ở TIỂU HỌC

CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIỂU HỌC)

Mã số: 60.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

TS PHAN QUỐC LÂM

Nghệ An, 2015

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS.Phan Quốc Lâm đã tậntình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn

thành luận văn “Thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học”.

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo khoa Sau Đại học,Khoa Giáo dục, các phòng ban của Trường Đại học Vinh và trường Đại học SàiGòn, các thầy cô giáo trực tiếp tham gia giảng dạy lớp Cao học khóa 21 – đã tạođiều kiện và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu các trường Tiểu học:Trần Quốc Toản- Quận 5, Nguyễn Thiện Thuật- Quận 3, Phú Thọ- Quận 11,Hoàng Văn Thụ, Yên Thế- quận Tân Bình , các thầy cô giáo đã cộng tác thamgia khảo sát và thực nghiệm đề tài, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã độngviên, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn

Vì thời gian nghiên cứu có hạn, năng lực bản thân còn hạn chế nên chắcchắn luận văn sẽ còn nhiều thiếu sót.Tôi rất mong nhận được những góp ý, bổkhuyết từ quý thầy cô, bạn đồng nghiệp và những người có quan tâm để đề tàihoàn thiện hơn nữa

Cuối cùng tôi xin gửi lời chúc đến các thầy, cô giáo cùng các bạn đồngnghiệp lời chúc sức khỏe và hạnh phúc Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài……….1

2 Mục đích nghiên cứu……… 3

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu………3

4 Giả thuyết khoa học………3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 3

6 Phạm vi nghiên cứu……….3

7 Phương pháp nghiên cứu……….4

8 Cấu trúc nghiên cứu………4

Chương 1.Cơ sở lý luận về rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.2 Một số khái niệm cơ bản 9

1.2.1 Tự kỷ - Trẻ tự kỷ 9

1.2.2 Kỹ năng- Kỹ năng tương tác 12

1.2.3 Trò chơi- Trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác 13

1.2.4 Giáo dục hòa nhập 15

1.3 Một số vấn đề về trẻ tự kỷ ở Tiểu học 18

1.3.1 Nguyên nhân, biểu hiện trẻ tự kỷ 18

1.3.2 Chẩn đoán tự kỷ 21

1.3.3 Đặc điểm trẻ tự kỷ 22

1.4 Một số vấn đề về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở Tiểu học 22

1.4.1.Đặc điểm tâm lý của trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học 22

1.4.2 Đặc điểm hành vi của trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học 25

1.4.3.Một số vấn đề về tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở TH 26

Trang 5

1.5.1 Nguyên tắc thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năng 321.5.2 Yêu cầu khi thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự

kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học 331.5.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năngtương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học 35

Kết luận chương 1 38 Chương 2 Thực trạng về rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học

2.1 Khái quát về quá trình khảo sát 40 2.2 Thực trạng về rèn luyện kỹ năng tương tác của trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học 42

2.2.1 Thực trạng về kỹ năng tương tác của trẻ tự kỷ trong quá trình giáodục hòa nhập ở Tiểu học 422.2.2 Thực trạng về rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quátrình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học 452.2.3 Thực trạng nhận thức của giáo viên về ảnh hưởng của việc thiết kếtrò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòanhập ở Tiểu học 512.2.4 Thực trạng sử dụng trò chơi tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trìnhgiáo dục hòa nhập ở Tiểu học 54

2.3 Đánh giá chung về thực trạng 60 Kết luận chương 2 63 Chương 3.Thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học.

3.1 Các nguyên tắc để thiết kế 65 3.2 Một số trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học 67

3.2.1 Trò chơi vận động 68

Trang 6

3.3 Thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của trò chơi rèn luyện kỹ năng

tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học 83

Kết luận chương 3 88

Kết luận và kiến nghị 89

Tài liệu tham khảo 93

Phụ lục 96

Trang 8

Bảng 2.1 Thống kê về các học sinh được khảo sát.

Bảng 2.2.Đánh giá của giáo viên về một số vấn đề liên quan đến kỹ năng

tương tác của trẻ tự kỷ học hòa nhập

Bảng 2.3 Thống kê về các giáo viên được khảo sát

Bảng 2.4.Nhận thức của giáo viên về khả năng học tập vui chơi của các

nhóm trẻ tự kỷ

Bảng 2.5.Khó khăn của giáo viên trong việc rèn kỹ năng tương tác cho trẻ

tự kỷ

Bảng 2.6.Ý kiến của giáo viên về các biện pháp đã sử dụng hỗ trợ rèn kỹ

năng tương tác cho trẻ tự kỷ tại lớp học

Bảng 2.7.Đánh giá của giáo viên về sự cần thiết của việc thiết kế và tổ chức

trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ

Bảng 2.8.Nhận thức của giáo viên về vai trò của trò chơi đối với việc kỹ

năng tương tác cho trẻ tự kỷ

Bảng 2.9.Quan điểm của giáo viên về ảnh hưởng của trò chơi đối với việc

rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ

Bảng 2.10.Mục tiêu rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ học hòa nhập

ở tiểu học

Bảng 2.11.Khả năng tương tác của trẻ tự kỷkhi tham gia trò chơi

Bảng 2.12.Đánh giá mức độ sử dụng các loại trò chơi trong việc rèn kỹ

năng tương tác cho trẻ tự kỷ

Bảng 2.13.Hình thức tổ chức các trò chơi

Trang 9

Bảng 3.1 Thăm dò tính cấp thiết và khả thi của trò chơi thiết kế

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Những năm gần đây, trẻ mắc bệnh tự kỷ (Autism ) tăng nhanh, nhất là các

đô thị mới, các thành phố lớn và đang là vấn đề toàn xã hội quan tâm Trên thếgiới, lĩnh vực tự kỷ được phát hiện và nghiên cứu rất sớm nhưng cho đến nayvẫn được coi là điều mới mẻ với nhiều người … Theo nghiên cứu gần đây với

khái niệm “Chứng tự kỷ mới” cho thấy tỉ lệ đáng lo ngại, cứ 150 trẻ em được

sinh ra có một trẻ em bị tự kỉ Ở Nước Anh, thì cứ 58 trẻ thì có 1 trẻ tự kỷ.ỞViệt Nam cho đến nay chưa có số liệu về tỉ lệ mắc bệnh tự kỷ Theo thống kê tạiBệnh viện Nhi đồng I – TP.HCM nếu năm 2010 chỉ điều trị cho 2 trẻ tự kỷ thìđến năm 2004 con số này là 170 em Năm 2008 tăng gấp 2 lần, đó chỉ là số trẻđến can thiệp Riêng ở một số huyện của Hà Nội, trong dự án chăm sóc gia đìnhtrẻ khuyết tật có 512 em khuyết tật thì trẻ tự kỷ chiếm 10%

Ở Việt Nam vấn đề tự kỷ dường như còn rất mới mẻ, chỉ thật sự được biếtđến vào những năm đầu thế kỉ XXI Tự kỷ là một dạng bệnh trong nhóm rốiloạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển, ảnh hưởngđến trẻ em và người lớn Đặc điểm của tự kỷ là sự khiếm khuyết, khó khăntrong tương tác xã hội, các vấn đề về giao tiếp ngôn ngữ và các hành vi lặp đilặp lại Điều này gây trở ngại lớn trong việc kết bạn, quan hệ xã hội, vui chơi,học tập của trẻ khiến trẻ không hòa nhập nhóm với bạn cùng lứa tuổi, khó tiếpxúc với người thân, không hòa nhập cộng đồng

Hiện nay trẻ mắc bệnh tự kỷ tăng nhanh chóng do hai nhóm nguyên nhânchính Thứ nhất là nhóm nguyên nhân sinh học, thứ hai là nhóm liên quan đếnmôi trường xã hội.Tự kỷ không còn xa lạ với nhiều người nhưng tài liệu vànhững nhận thức của mọi người về dạng rối loạn này cũng chưa nhiều Chính vìvậy không phải trẻ tự kỷ nào cũng được đến trường hay đến các trung tâm trị

Trang 11

liệu để được giúp đỡ, trẻ đang gặp nhiều khó khăn thách thức khi tham gia vàohọc hòa nhập tại các trường Tiểu học Hơn thế nữa, chúng ta chưa chủ động vàcòn thiếu những công trình nghiên cứu sao cho có tính hệ thống để giúp trẻ hòanhập, tương tác xã hội tốt hơn.

Trẻ tự kỷ thích ở một mình, cư xử vụng về trong các tình huống xã hội, gặpkhó khăn trong việc tương tác với bạn đồng lứa, không có khả năng tham giahoạt động với người khác Ta có thể nhận thấy trong lớp học hòa nhập ở trườngTiểu học vài em có biểu hiện như vậy Kết quả là trẻ tự cô lập mình, không họcnhóm được và hạn chế trong giao tiếp với mọi người xung quanh Những biểuhiện này là do rối loạn khiến các em như vậy Vì vậy trẻ tự kỷ cần được giúp đỡcủa giáo viên, người thân để trẻ khắc phục khiếm khuyết và cải thiện việc họctập của mình

- Năm 1990, Bộ giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo nghiên cứu và đưa mô hìnhgiáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở cấp Tiểu học để trẻ khuyết tật được đi họcdưới mọi hình thức Bộ Giáo dục cũng ra quyết định số 23 (ngày 22/5/2006) quyđịnh về giáo dục hòa nhập và chiến lược giáo dục đến năm 2010, tầm nhìn năm2015.Đây là sự quan tâm cần thiết và cấp bách.Một trong những phương pháp trịliệu hiệu quả là giúp trẻ tương tác xã hội thông qua hoạt động vui chơi cụ thể làcác trò chơi tương tác Đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy có vai trò quantrọng để giúp trẻ hòa nhập tốt và tạo niềm tin cho các bậc cha mẹ có con mắchội chứng tự kỷ tin tưởng vào các biện pháp mà giáo viên sử dụng Thực tế, cáctrường Tiểu học số lượng trẻ tự kỷ ngày càng đông, kỹ năng hòa nhập nhóm,tương tác nhóm còn khiếm khuyết, giáo viên chưa có biện pháp để giúp trẻ vuichơi học tập

Xuất phát từ những nhận định trên, với vai trò là một giáo viên dạy Tiểu

học, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học” với

Trang 12

hy vọng sẽ hỗ trợ giáo viên trong việc giúp trẻ tự kỷ học hòa nhập ở Tiểu họctương tác xã hội hiệu quả hơn.

Quá trình giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở Tiểu học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trìnhgiáo dục hòa nhập ở Tiểu học

4 Giả thuyết khoa học

Nếu thiết kế và sử dụng được các trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cótính khoa học và khả thi trong quá trình giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở Tiểuhọc thì có thể giúp trẻ hình thành tốt hơn kỹ năng tương tác và hòa nhập tốt hơnvào môi trường nhà trường

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về trò chơi và rèn luyện kỹ năng tương tác cho

trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học

5.2 Nghiên cứu thực trạng kỹ năng tương tác và việc sử dụng trò chơi tương

tác của trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học

5.3 Thiết kế và tổ chức thăm dò tính cần thiết, khả thi và tính hiệu quả của

một số trò chơi tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập

ở Tiểu học

6 Phạm vi nghiên cứu

Tổ chức nghiên cứu thực trạng sử dụng những trò chơi tương tác của trẻ tự

kỷ học hòa nhập tại các trường Tiểu học Trần Quốc Toản Quận 5; Nguyễn

Trang 13

Thiện Thuật Quận 3; Phú Thọ Quận 11; Hoàng Văn Thụ, Yên Thế quận TânBình Thời gian từ tháng 12/2014 đến tháng 5/2015.

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.

Sử dụng các phương pháp phân tích – tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa, cụthể hóa các tài liệu lý luận có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

Tìm hiểu thực trạng về kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáodục hòa nhập ở Tiểu học; Tổ chức thăm dò, tìm hiểu tính cần thiết, khả thi vàhiệu quả của trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ được thiết kế và

đề xuất Bao gồm: Phương pháp quan sát; điều tra; phỏng vấn chuyên gia, tổngkết kinh nghiệm giáo dục, thực nghiệm sư phạm

7.3 Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý kết quả điều tra thực trạng và

kết quả thực nghiệm sư phạm về mặt định lượng

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯƠNG TÁC CHO TRẺ

TỰ KỶ TRONG QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC HÒA NHẬP ỞTIỂU HỌC

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1.Trên thế giới

Tự kỷ xuất phát từ chữ Hy Lạp Autism (TK) nghĩa là tự động,tự thân trongtâm thần học, được Bleuler sử dụng lần đầu tiên để chỉ 1 triệu chứng tự kỷ, lànét cơ bản của triệu chứng âm tính trongtâm thần phân liệt Người bệnh mất điphần lớn các chức năng giao tiếp và tương tác với môi trường xã hội Biểu hiệnnhư là thu mình, khó giao tiếp và tương tác [12,22]

Những thay đổi về thuật ngữ, khái niệm, tiêu chí chẩn đoán TK có thể đượctìm thấy rõ nhất trong lịch sử phát triển của 2 hệ thống phân loại quốc tế Đó làbảng thống kê, phân loại Quốc tế về các bệnh và những vấn đề liên quan đến sứckhỏe (International Statistical Classification of Diseases and Related HealthProblems – ICD) của tổ chức y tế thế giới (World Health Organisation – WHO)

và sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối loạn nhiễu tinh thần (Diagnostic andStatistical Manual of Mental Disorders – DSM) của Hội tâm thần Mỹ (AmericanPsychiatric Association) Trong bản thứ 8 (1967), ICD chỉ đề cập đến TK nhưmột dạng “Thần kinh phân liệt”, lần thứ 9 (1977) TK được gọi tên “Rối loạn tâmthần tuổi ấu thơ”.Thuật ngữ rối loạn phổ TK (Autism Spectrum Disorders –ASDS) bắt đầu được xem xét vào những năm 70 và 80 của thế kỷ XX [7,22]

Về cơ bản quá trình xuất hiện và nhận biết về rối loạn phổ TK có thể chialàm 3 giai đoạn chính: giai đoạn trước khi rối loạn phổ TK được chính thức gọitên, giai đoạn rối loạn phổ TK được chính thức gọi tên và giai đoạn sau khichính thức gọi tên đến nay Ở mỗi giai đoạn nó được gọi bởi những cái tên khácnhau nhưng về bản chất của rối loạn thì thay đổi rất ít

Trang 15

Vào tháng 1 năm 1801, bác sĩ người Pháp tên Jean – Marc – Gaspard Itard

đã công bố về trường hợp cậu bé 12 tuổi tên Victor, cậu bị câm và có nhữnghành vi xa lạ được viết trong cuốn sách “Cậu bé hoang dã vùng Aveyron”.Những gì được viết trong cuốn sách khi đối chiếu với quan điểm hiện nay củachúng ta cho thấy Victor có những hành vi giống những trẻ mắc rối loạn TK.Vài năm sau, nghiên cứu của John Haslam đã đưa ra trường hợp cậu bé bịsởi Những hành vi của cậu cũng gần giống như một trẻ mắc rối loạn TK: nhạilời và thiếu kiên nhẫn, có hành vi chống đối

Cuối thế kỷ XIX, thuật ngữ“Rối loạn tâm thần” lần đầu được sử dụng đểchỉ 1 số trẻ em có những hành vi kỳ quái và xa lạ bởi nhà tâm lý học HenryMaudslay Những hành vi đó có những điểm giống với rối loạn phổ TK

Năm 1919, Lighner Witmer, nhà tâm lý học người Mỹ, viết về cậu bé Don

có những hành vi mắc rối loạn TK Đến những năm đầu thế kỷ XX, nhữngnghiên cứu về rối loạn TK mới được phát triển 1 cách rõ nét Nhà khoa học, bác

sỹ tâm lý Leo Kanner (1943) đã đóng góp lớn lao, mở ra một trang mới, đặt nềntảng cơ bản cho việc nghiên cứu về rối loạn TK Ông công bố những nghiên cứucủa mình vào năm 1943 và lựa chọn những dấu hiệu chính của TK để lập ra tiêuchí chẩn đoán Kanner cho rằng TK là một dạng rối nhiễu về tinh thần khôngphải là dạng rối nhiễu về thể chất

Năm 1944, Hans Asperger, bác sĩ người Áo công bố những nghiên cứu củaông trên nhóm trẻ có hành vi mà hiện nay chúng ta gọi là hội chứng Asperger

“Bệnh thái nhân cách TK” , kiểu nhân cách này gồm “Sự thiếu hụt về cảm xúc,

ít khả năng thiết lập tình bạn, đối thoại một chiều, có sở thích về 1 lĩnh vực đặcbiệt nào đó và di chuyển vụng về”

Giai đoạn từ khi TK chính thức được gọi tên đã trải qua hơn 60 năm.Trongsuốt thời gian đó, nhiều công trình nghiên cứu về TK được tiến hành.Từ thậpniên 60 đến thập niên 70 của thế kỷ XX, người ta cho rằng TK không chỉ

Trang 16

làkhuyết tật thần kinh mà còn là khuyết tật về não, dẫn đến các khiếm khuyết vềngôn ngữ và nhận thức.

Đến thập niên 80 của thế kỷ XX, người ta không chỉ nghĩ đến khuyết tật vềnão là nguyên nhân dẫn đến các khiếm khuyết về ngôn ngữ - nhận thức mà cònnghĩ đến các khiếm khuyết trong mối quan hệ tương tác với con người

Từ thập niên 90 của thế kỷ XX cho đến những năm 2000, có rất nhiềunghiên cứu liên quan đến rối loạn TK Theo kết quả đó, TK được phân biệt rõràng so với các hội chứng khác nằm trong phổ TK như hội chúng Asperger, hộichứng Rett, rối loạn bất hòa nhập tuổi ấu thơ Nghiên cứu cũng cho thấy rằngsốlượng trẻ mắc rối loạn TK có xu hướng ngày càng tăng lên

Các nghiên cứu về phát hiện sớm TK có 1 vai trò và ý nghĩa quan trọng đốivới hiệu quả can thiệp Do vậy cũng có nhiều công trình nghiên cứu để phát hiệnsớm TK Gracomo và Fornbonne (1998) khảo sát 87 trẻ TK cho thấy 17,1% trẻbất thường trong tương tác xã hội Năm 2004 Conrod và cộng sự chỉ ra 23% cha

mẹ lo lắng về bất thường trong quan hệ xã hội

Một nhóm phương pháp khác xuất phát từ quan điểm hành vi là phươngpháp phân tích hành vi ứng dụng ABA (Applied Behavior Analysis) do tác giảIvan Lovaas và các đồng nghiệp nghiên cứu năm 1990 Đây là phương phápquan tâm nhiều nhất trong trị liệu trẻ TK Nó cải thiện nhiều mặt của trẻ TK nhưquan hệ xã hội, ngôn ngữ, tự phục vụ [21] Với phương pháp này cho thấy sựthành công trong môi trường giáo dục hòa nhập đối với trẻ TK được can thiệpsớm bằng ABA [121,22]

Tác giả Carol Gray sử dụng phương pháp (Social Story), những câu chuyện

xã hội làm công cụ để dạy kỹ năng xã hội cho trẻ mắc hội chứng TK và trẻkhuyết tật.[21]

Le Couteur và cộng sự đã thiết kế “Bảng phỏng vấn chẩn đoán TK” (ADI)năm 1989 Đến năm 1994, Lord và cộng sự đã thay đổi thành ADI – R, chủ yếu

Trang 17

là lấy thông tin từ cha mẹ với 3 điểm chủ chốt để đánh giá TK là tương tác xãhội, giao tiếp và ngôn ngữ hành vi định hình lặp lại.

Des Lauries (1978) đã phát triển hướng trị liệu đối với trẻ tự kỷ thông quatrò chơi Các liệu pháp trò chơi ở đây được sử dụng đối với trẻ không nhằm pháttriển kỹ năng chơi ở trẻ mà tập trung tăng cường kích thích tương tác liên cánhân đối với trẻ

Theo Goldbart (1988) thì trẻ TK gặp rất nhiều khó khăn trong kỹ năng giaotiếp, việc sử dụng trò chơi sẽ tạo sự khởi đầu tốt đẹp để chặn được bộ ba khiếmkhuyết là khó khăn trong giao tiếp, sự tương tác xã hội và sự cứng nhắc trongsuy nghĩ

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu về trẻ TK chưa được các nhà khoa họcquan tâm chú ý Các nghiên cứu về trẻ TK chưa nhiều mặc dù những năm quavấn đề này đã được đề cập đến Các nghiên cứu về trẻ TK hay trẻ TK học hòanhập chủ yếu là cung cấp kiến thức cơ bản về hội chứng TK, phát hiện và canthiệp sớm, hỗ trợ kỹ năng tự chăm sóc cho trẻ (dành cho nhà chuyên môn, giáoviên và cha mẹ) chủ yếu là cung cấp thông tin, thông điệp Hoặc đã có vài hộithảo về bệnh TK ở trẻ em được tổ chức, vài khóa luận đề cập đến vấn đề này.Đáng chú ý là các nghiên cứu khoa học:

- Tự kỷ phát hiện sớm và can thiệp sớm (dành cho nhà chuyên môn và chamẹ) của tác giả Vũ Thị Bích Hạnh và Đặng Thái Thu Hương

-Hỗ trợ kiến thức về chăm sóc và giáo dục trẻ mắc hội chứng TK củanhóm biên soạn đứng đầu là Ths Nguyễn Văn Thủy – Giám đốc Trung tâmNghiên cứu Giáo dục và Chăm sóc trẻ em

-Hội thảo: “Bước đầu thực hiện Giáo dục Hòa nhập cho trẻ có rối loạnphổ tự kỷ” của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến – Trường ĐHSP Hà Nội năm2002

Trang 18

-Cuốn sách “Trẻ tự kỷ – Những thiên thần bất hạnh” của tác giả Lê Khanh

là cẩm nang của các nhà tâm lý học, giáo dục học và phụ huynh học sinh

-Trong khoảng năm năm trở lại đây tại Việt Nam chúng ta có haicôngtrình nghiên cứu luận án Tiến sĩ về bệnh TK ở trẻ là: “Nghiên cứu của trẻ

tự kỷ tại TP.HCM của tác giả Ngô Xuân Điệp và “Những khoảnh khắc lóe sángtrong tương tác mẹ con của trẻ tự kỷ ở Việt Nam” của Nguyễn Minh Đức đã gópphần rất lớn về mặt lý luận cũng như đề xuất các phương pháp trị liệu đối với trẻ

TK ở nước ta Luận án được ứng dụng vào các trường chuyên biệt dành cho trẻ

TK trên địa bàn TPHCM

Ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào liên quan đến thiết kế tròchơi để rèn kỹ năng tương tác cho trẻ TK, chỉ có vài bài viết ngắn như bài viếtcủa bác sĩ Phạm Ngọc Thanh- Khoa tâm lý bệnh viện Nhi đồng 1” Phát triển kỹnăng tương tác của trẻ tự kỷ qua trò chơi”, hoặc bài viết của bác sĩ Nguyễn ThịHồng Thúy- Khoa tâm thần –Bệnh viện Nhi trung ương “Chơi và đồ chơi dànhcho trẻ tự kỷ” Tác giả Võ Thị Mỹ Dung đã nghiên cứu “ Phần mềm trò chơi họctập hỗ trợ trẻ tự kỷ học chữ cái tiếng việt” đang ở Tạp chí khoa học Đại học sưphạm TPHCM số 48 năm 2013

Ngoài ra, tại các khoa tâm thần của các bệnh viện trên cả nước cũng đã bắtđầu đi sâu nghiên cứu về trẻ TK một cách có hệ thống để giúp cho chúng ta cócách nhìn mới và phương pháp trị liệu mớitrong việc nuôi dưỡng, chăm sóc vàgiáo dụccác trẻ bị TK có được cuộc sống tốt hơn, đầy ý nghĩa hơn

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1.Tự kỷ - trẻ tự kỷ

1.2.1.1 Khái niệm tự kỷ

Trên thế giới đã có rất nhiều các khái niệm về TK rất đa dạng và đã trải quanhiều thay đổi theo thời gian Xin được trích dẫn một số khái niệm phổ biến, đólà:

Trang 19

Theo quan niệm của Bleuler (1911): “TK là khái niệm chung để chỉ nhữngngười bệnh tâm thần phân liệt không còn liên hệ với thế giới bên ngoài nữa màsống với thế giới của riêng mình, bệnh nhân chia cắt với thực tế bên ngoài và lui

về thế giới bên trong, khép mình trong ham muốn riêng và tự mãn.” [25]

Quan niệm của Kanner (1943): “TK là một dạng rối nhiễu về tinh thầnkhông phải là dạng rối nhiễu về thể chất TK là sự rút lui cực đoan của một sốtrẻ em lúc mới bắt đầu cuộc sống, triệu chứng đặc biệt của bệnh là một sự hiếmthấy, là sự rối loạn về cội rễ, là sự không có khả năng của những trẻ này trongcông việc thiết lập các mối quan hệ bình thường với các tình huống từ lúc chúngbắt đầu cuộc sống” [25]

Theo Từ điển bách khoa Colombia (1996): TK là một khuyết tật pháttriểncó nguyên nhân từ những rối loạn thần kinh làm ảnh hưởng đến chức năng

cơ bản của não bộ TK được xác định bởi sự phát triển không bình thường về kỹnăng giao tiếp, KNTT xã hội và suy luận [11,22]

Năm 1999, tại hội nghị toàn quốc về TK ở Mỹ, các chuyên gia cho rằng,nên xếp TK vào nhóm các rối loạn lan tỏa và đã thống nhất đưa ra định nghĩacuối cùng về TK như sau: TK là một dạng bệnh trong nhóm rối loạn phát triểnlan tỏa, ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhấtđến kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội

Hiện nay, khái niệm tương đối đầy đủ và được sử dụng phổ biến nhất làkhái niệm của tổ chức Liên hợp quốc, đưa ra vào năm 2008, như sau: “TK làmột loại khuyết tật phát triển tồn tại suốt đời, thường được thể hiện ra ngoàitrong 3 năm đầu đời TK là do một rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức nănghoạt động của não bộ gây nên, chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em và người lớn ởnhiều quốc gia, không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế - xãhội Đặc điểm của nó là sự khó khăn trong tương tác xã hội, các vấn đề giao tiếpbằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, và có các hành vi, sở thích và hoạt động lặp đi

Trang 20

lặp lại và hạn hẹp” Trong phạm vi nghiên cứu chúng tôi thống nhất sử dụngkhái niệm này xuyên suốt các nội dung của luận văn.

Như vậy, mặc dù hiện nay còn nhiều ý kiến chưa thống nhất về khái niệm

TK nhưng hầu hết các khái niệm của các nhà nghiên cứu và các nhà giáo dụchọc đưa ra về TK đều thống nhất rằng: TK là một khuyết tật phát triển kéo dàisuốt cuộc đời làm ảnh hưởng trầm trọng tới quan hệ giao tiếp xã hội, khả năngtưởng tượng và hành vi của trẻ Tùy vào mức độ TK mà ảnh hưởng của tật tớicác lĩnh vực là khác nhau và có những biểu hiện khác nhau

1.2.1.2.Trẻ tự kỷ

Trẻ TK là trẻ bị chứng rối loạn trong quá trình phát triển của trẻ Một trẻ

TK điển hình có thể bị rối loạn nhiều kỹ năng phát triển như: tự chăm sóc, ngônngữ, giao tiếp ứng xử, quan hệ xã hội, hành vi, cảm xúc, trí tuệ, … Trẻ TKkhiếm khuyết về quan hệ tương tác xã hội, trẻ TK có khó khăn lớn trong việc kếtbạn, duy trì tình bạn và tiếp thu các luật lệ xã hội Trẻ không biết khởi xướng,bắt đầu làm quen, hoặc khó tiếp nhận một người bạn mới Trẻ ít quan tâm vàkhông có nhu cầu chia sẻ, nhu cầu hoạt động với bạn bè và mọi người xungquanh Ngược lại khi được chia sẻ, trẻ không biết đáp ứng, thể hiện tình cảmhoặc sự quan tâm với đối tác [12,10]

Trẻ TK khiếm khuyết về khả năng ngôn ngữ và giao tiếp: trẻ không nhìnmặt người đối thoại khi giao tiếp, trẻ nói muộn hơn trẻ bình thường, dùng phátngôn không phù hợp với mục đích Nếu trẻ có ngôn ngữ khá hơn, có thể thấychậm phát triển ngôn ngữ so với trẻ cùng độ tuổi, trẻ thường không hiểu câu hỏi.Trẻ TK có các hành vi và các mối quan tâm bất thường: các hành vi hoặc

cử động định hình, lặp đi lặp lại, trẻ như bị cuốn hút vào một cử chỉ, hành độnghoặc trò chơi nào đó hàng giờ hoặc cả buổi

Có thể thấy rằng trẻ TK có các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xã hội hoặc hành

vi lệch lạc Những biểu hiện của trẻ TK thường rất đa dạng và chỉ bộc lộ rõ nétkhi trẻ được 2 tuổi.Đối với trẻ nhỏ hơn 3 tuổi thì các biểu hiện của TK có thể

Trang 21

chưa bộc lộ rõ.Những trẻ TK ở mức độ nhẹ, có vẻ ngoài bình thường nên phầnlớn cha mẹ rất khó phát hiện ra hoặc dễ nhầm với việc chậm nói của trẻ Tuynhiên, ở một số trẻ TK, một số biểu hiện đã được thể hiện sớm như ít hoặckhông cười, hay bỏ bữa, hay khóc, không quấn mẹ,…

1.2.2 Kỹ năng – kỹ năng tương tác

1.2.2.1.Kỹ năng

Có nhiều cách định nghĩa về kỹ năng khác nhau Những định nghĩa nàythường bắt nguồn từ góc nhìnchuyên môn và quan niệm cá nhân

Trên thế giới, họ xem xét kỹ năng theo 2 khuynh hướng:

- Xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động, nắm vững cáchthức của hành động là có kỹ năng Đại diện cho nhóm này là V X Cudin, A G.Covaliop, …

- Xem xét kỹ năng nghiêng về năng lực của con người trong quá trình giaotiếp Đại diện cho nhóm này là N D Levitop, K K Platonop,…

Kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục mộthay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm)nhằm tạo ra kết quả mong đợi

Các nhà giáo dục Việt Nam cho rằng kỹ năng là khả năng vận dụng nhữngkiến thức thu được của con người để thực hiện có kết quả ứng với mục đích vàđiều kiện đã đề ra một cách hiệu quả nhất Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng “Kỹnăng là năng lực vận dụng những tri thức đã được lĩnh hội để thực hiện có hiệuquả một hoạt động tương ứng trong những điều kiện cụ thể [9]

Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thànhkhi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp

đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủđích và định hướng rõ ràng

Trang 22

Bất cứ một kỹ năng nào được hình thành nhanh hay chậm, bền vững haylỏng lẻo đều phụ thuộc vào quyết tâm, năng lực tiếp nhận của chủ thể, cáchluyện tập, tính phức tạp của chính kỹ năng đó.

KNTT bao giờ cũng có mối liên hệ mật thiết với các khuôn mẫu, tác phongtồn tại trong xã hội.Chúng luôn hiện hữu, có thể nhận biết được, lặp đi lặp lại và

+ Một là kiểu loại phổ biến của chơi Nó chính là chơi có luật (tập hợp quy tắcđịnh rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tínhthách thức đối với người tham gia

Trang 23

+ Hai là những thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi,như chơi bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyệnthân thể dưới hình thức chơi Các trò chơi đều có luật lệ, quy tắc, nhiệm vụ,yêu cầu tức là có tổ chức và thiết kế, nếu không có những thứ đó thì không cótrò chơi mà chỉ có sự chơi đơn giản Như vậy, trò chơi là tập hợp các yếu tốchơi, có hệ thống và có tổ chức, vì thế luật hay quy tắc chính là phương tiện tổchức tập hợp đó Tóm lại, trò chơi chính là sự chơi có luật, những hành vi chơitùy tiện, bất giác không gọi là trò chơi [14]

Trong từ điển Tiếng việt xuất bản năm 1992, chữ “trò” được hiểu là mộthình thức mua vui bày ra trước mặt mọi người Chữ “chơi” là một từ chung đểchỉ các hoạt động lúc nhàn rỗi, nhằm mục đích giải trí là chính Từ đó, trò chơiđược hiểu là những hoạt động làm thỏa mãn những nhu cầu của con người,trước hết là vui chơi, giải trí

         Theo những quan điểm giáo dục, trò chơi vừa là phương tiện phát triểntoàn diện nhân cách vừa là hình thái tổ chức cuộc sống.Đối với trẻ em, trò chơi

là hoạt động giúp trẻ tái tạo các hành động của người lớn và các quan hệ giữa

họ, định hướng nhận thức đồ vật và nhận thức xã hội.Trong trò chơi, nhu cầu vàcác phẩm chất của trẻ về thể lực, trí tuệ, đạo đức và ý chí được hình thành, thỏamãn, thể hiện và phát triển Trẻ em do được chơi nên phát triển Do vậy, chơi làhoạt động chủ đạo trong giáo dục trẻ em

1.2.3.2.Trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác

*Tương tác là sự tác động qua lại chi phối phụ thuộc lẫn nhau giữa các chủthể hành động trong việc thỏa mãn vì nhu cầu căn bản của con người

*Tương tác xã hội là sự tác động qua lại giữa các chủ thể xã hội với nhau

mà chủ thể đó là cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội Không đơn giản chỉ là hànhđộng và phản ứng mà là quá trình tương tác gián tiếp của ít nhất hai chủ thểhành động có sự thích ứng lẫn nhau của các chủ thể

Trang 24

*Trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác là tất cả những trò chơi mà trong đó

có ít nhất 2 hoặc nhiều người tham gia chơi cùng với nhau và phát triển nhữnghành động trong mối quan hệ với nhau Điều này sẽ giúp sớm phát triển những

sự tương tác xã hội và những kỹ năng chơi đùa đồng thời cũng giúp rèn luyện kỹnăng giao tiếp khi mỗi thành viên tham gia trong trò chơi cũng góp phần trongviệc xây dựng, mở rộng, thay đổi tiếp tục, tăng tốc hay giảm tốc độ của tròchơi[23]

Trong trò chơi rèn luyện KNTT giúp cho những trẻ TK thừa nhận sự cómặt của người khác là quan trọng và thông qua các trò chơi tương tác rèn luyện

và phát triển kỹ năng xã hội, biết chơi đùa cùng bạn, cùng người khác là điềuquan trọng Trò chơi tương tác rất có ích trong việc giúp những đứa trẻ TK cảithiện khó khăn trong giao tiếp với mọi người và bạn bè cùng lứa tuổi

Theo UNESCO, GD phải hướng vào mục tiêu đào tạo ra những con người

có đủ tri thức, kỹ năng, năng lực và phẩm chất với tinh thần, trách nhiệm đầy đủcủa người công dân tham gia vào cuộc sống lao động

1.2.4.2.Giáo dục hòa nhập

Thuật ngữ “Giáo dục hòa nhập” (GDHN) xuất phát từ Canada và được hiểu

là những trẻ ngoại lệ được hòa nhập

Trang 25

Ý tưởng hòa nhập phát sinh vào những năm 60.Hòa nhập là một phong tràođổi mới trong GD, đặc biệt xu hướng này đòi hỏi nhiều sự thay đổi trong nhàtrường Một số nước chấp nhận GDHN theo nhiều phương thức khác nhau bởi lẽ

nó phụ thuộc vào văn hóa, nhận thức của người dân, hệ thống GD và điều kiệnkinh tế

Reynolds (1962) đã nhấn mạnh tới việc duy trì hệ thống GD chuyên biệtbằng cách đưa ra hàng loạt những tài liệu về môi trường GD chuyên biệt ở cácmức độ từ chuyên biệt nhất đến hòa nhập nhất.Từ những đánh giá này, người ta

đi đến thống nhất về nguyên tắc gọi là môi trường GDHN trong bộ luật đã đượcsửa đổi của Mỹ về Quyền công dân số 94 – 142.Hơn nữa, hòa nhập dần dần trởthành mô hình phổ biến trong giáo dục đặc biệt nhằm giảm tối đa sự hạn chế củamôi trường đến người tàn tật và tạo những điều kiện thuận lợi nhất để HS khuyếttật tiếp cận được với nền giáo GD bình thường

Gottlieb, Agard và Kukic (1975) cho rằng hòa nhập là để hội nhập HSkhuyết tật và bình thường lại với nhau trong một khoảng thời gian nhấtđịnh.Dựa trên nghiên cứu về thực trạng nhu cầu GD cá nhân của trẻ khuyết tật,

họ cho rằng GDHN đòi hỏi mọi người tham gia phải có trách nhiệm rất cao Đếntận những năm 1980, trong lĩnh vực GD đặc biệt ,có một số mô hình mới đượcđưa ra Những mô hình GD mới này có xu hướng tiến gần đến GD bìnhthường.Đây cũng là thời điểm mà GDHN ra đời.Những định hướng mới vềGDHN được đề xuất trong bối cảnh này

Reynold (1981) phủ nhận hệ thống GD chuyên biệt mà ông theo đuổi vàkhẳng định rằng các lớp học chính quy là môi trường GD phong phú hơn nhiều

so với GD tại các lớp chuyên biệt và sẽ đem lại hiệu quả cao hơn nếu có sự điềuchỉnh thích hợp về trang thiết bị, tài liệu, nguồn nhân lực và việc tổ chức cáckhóa đào tạo Năm 1986, mọi người ủng hộ cho 1 khẩu hiệu khá tiến bộ vàmạnh bạo như sau: Các nhà GD chính quy và đặc biệt phải cùng có trách nhiệmđối với HS khuyết tật

Trang 26

Xu hướng gần đây lại tiến gần hơn đến GDHN toàn phần Người ta chorằng đứa trẻ khuyết tật vào các trường bình thường và hỗ trợ cho chúng theođúng nhu cầu của từng cá nhân là điều tuyệt diệu và tất cả mọi người đều mongmuốn làm được vậy Với nghĩa như vậy, hòa nhập và hòa nhập toàn phần là một.Như vậy một lần nữa chúng ta thấy rằng hội nhập/hòa nhập của mỗi nướcđều không giống nhau vì nó còn tùy thuộc vào nền tảng văn hóa, điều kiện chínhtrị, xã hội, hoàn cảnh lịch sử và GD của mỗi nước Nhưng dù được thực hiện ởđâu thì nó cũng giống nhau ở 1 điểm là GD hội nhập/hòa nhập cố gắng đưa trẻkhuyết tật càng hòa nhập vào với xã hội càng tốt.

GDHN là một xu thế, 1 sự tất yếu của thời đại Tại hội nghị về GD cho trẻkhuyết tật tại Agra - Ấn Độ (3/1998) do UNESCO tổ chức đã khẳng định xuhướng GDHN cho trẻ em

Công ước quốc tế về quyền trẻ em (điều 18, 23): bình đẳng về cơ hội họctập cho mọi trẻ em

Trong Luật “Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” thông qua ngày12/08/1991 ghi rõ: “Trẻ em tàn tật, trẻ em có khuyết tật được nhà nước và xã hộigiúp đỡ trong việc điều trị, phục hồi chức năng để hòa nhập vào cuộc sống xãhội, được thu nhận vào các trường lớp đặc biệt” Điều 6 mục 3 nêu “Trẻ em tàntật, trẻ em khuyết tật được nhà nước và xã hội giúp đỡ trong điều trị, phục hồichức năng để hòa nhập vào cuộc sống xã hội; được thu nhận vào các trường lớpđặc biệt”

Như vậy có thể hiểu: “GDHN là phương thức GD, trong đó trẻ khuyết tậtcùng học với trẻ bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh sống.GDHN xuất phát từ quan điểm xã hội về GD, coi nhà trường như một xã hội thunhỏ và phản ảnh tính chất đa dạng của xã hội, vì vậy môi trường GD phổ thôngđược chú ý cải thiện sao cho đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi HS, kể cảnhững HS khó khăn đặc thù Đây là mô hình GD tiến bộ nhất được biết đếntrong lĩnh vực GD trẻ khuyết tật” [2]

Trang 27

GDHN ở Tiểu học là mô hình GD trẻ khuyết tật trong môi trường GD bìnhthường ở TH, trẻ sẽ được học tập, vui chơi cùng với học sinh Tiểu học.Trẻkhuyết tật được hưởng một chương trình GD phổ thông.Điều này vừa thể hiện

sự bình đẳng trong GD, vừa thể hiện sự tôn trọng

GDHN ở Tiểu học không đánh đồng mọi trẻ em như nhau Dạy hòa nhập ở

TH giúp trẻ khuyết tật tương tác với mọi người xung quanh, sẽ tạo cho trẻ cókiến thức chung, tổng thể, cân đối, đáp ứng các nhu cầu khác nhau của trẻ

1.3 Một số vấn đề về trẻ tự kỷ ở Tiểu học

1.3.1.Nguyên nhân gây tự kỷ, biểu hiện của trẻ tự kỷ

1.3.1.1.Nguyên nhân gây tự kỷ

Cho đến thời điểm hiện nay, các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra được nhữngnguyên nhân chính xác gây ra TK Tuy nhiêntheo các nhà nghiên cứu trong suốtquá trình làm việc với trẻ TK, TK có thể liên quan đến 2 nhóm nguyên nhânchính sau đây:

Thứ nhất, nhóm nguyên nhân sinh học, bao gồm 4 nguyên nhân cơ bản

như sau:

Gần đây có những nghiên cứu cho rằng gen có ảnh hưởng tới chứng TK

Cụ thể, họ cho rằng người mắc TK gặp trục trặc với các gen X, gen số 15, gen

số 11 Tuy nhiên mối liên hệ giữa các gen này với chứng TK vẫn chưa thực sự

rõ ràng

Về tính di truyền, các nghiên cứu cho thấy trẻ sinh đôi cùng trứng có nguy

cơ cùng mắc bệnh TK là 36%.Tỷ lệ này ở sinh đôi khác trứng thấp hơn nhiều, ởnhững trẻ là anh chị em ruột có nguy cơ cao hơn khoảng 50 – 100 lần so vớingười bình thường.Có khoảng 2 – 3% trẻ có anh chị em ruột mắc TK cũng mắcchứng này Một tỷ lệ rất nhỏ các trẻ khác dù không có kết luận mắc TK nhưngvẫn có một vài biểu hiện suy giảm khả năng về ngôn ngữ hay giao tiếp…

Giả thuyết về bệnh lý ở não: Các nghiên cứu cho thấy rằng chất dẫn truyềnthần kinh Serotonin rất quan trọng đối với sự vận hành của não có nhiều ở một

Trang 28

số nhóm TK hơn người bình thường Bên cạnh đó, một số trẻ mắc chứng TK vànhững rối loạn liên quancó nhiều vấn đề về hệ miễn dịch và sinh hóa.

Giả thuyết về rối loạn chức năng tâm lý: Các nghiên cứu đã tiến hành nhiềucông trình khảo sát các dạng rối loạn chức năng tâm lý để xác định các chứng tậtgây hành vi TK Các công trình này khảo sát về ngôn ngữ, tập trung, chú ý, trínhớ và kỹ năng thị giác – không gian Có những trẻ bị TK do cách chăm sóc củacha mẹ, đặc biệt là do sự thiếu quan tâm của người mẹ

Cũng có những bằng chứng cho thấy virus có thể gây TK Nguy cơ trẻ mắcchứng TK sẽ tăng cao nếu người mẹ bị bệnh trong 3 tháng đầu tiên của thời kỳmang thai Virus Cytolomegalo cũng có liên quan đến TK Ngoài ra hiện naymột số quan niệm tin rằng virus liên quan đến các loại vaccin như vaccin MMRdành cho bệnh sởi cũng có thể gây ra chứng TK

Nguyên nhân có liên quan đến tuổi của bố và mẹ Việc bà mẹ mang thai khi

ở độ tuổi trên 35 tuổi luôn được cảnh báo về nguy cơ cao sinh ra các trẻ cónhững rối loạn về thần kinh, trong đó không loại trừ TK Nguy cơ này sẽ tăngdần trong khoảng 5 năm, tức là cứ 5 năm tiếp theo thì mức dộ nguy cơ cũng như

tỷ lệ các bà mẹ này sinh ra những đứa con có những rối loạn về thần kinh càngtăng và điều này sẽ được thể hiện rõ rệt nhất ở độ tuổi 40 – 45 tuổi

Thứ hai, nhóm nguyên nhân có liên quan đến môi trường xã hội Những

nhà nghiên cứu theo nhóm nguyên nhân này chú trọng nhiều đến những tácđộng của các yếu tố trong môi trường GD ở gia đình, nhà trường và xã hội dẫnđến việc trẻ mắc TK Ngay trong các nghiên cứu mô tả của Leo Kanner vềtrường hợp trẻ TK đầu tiên vào năm 1943 hay của bác sĩ Hans Asperger vàonăm 1944, nguyên nhân có liên quan đến sự chăm sóc, giáo dục của cha mẹcũng được nhắc tới trong việc gây ra các hội chứng này ở trẻ Hiện nay, theochẩn đoán của nhiều bác sĩ và nhà tâm lý trong quá trình tiếp xúc với trẻ TK,việc cho trẻ xem tivi quá nhiều trong một ngày cũng là một trong những ảnhhưởng và nguyên nhân gây nên hội chứng TK ở trẻ

Trang 29

Sự ô nhiễm và chất độc trong môi trường cũng được coi là nguyên nhân cóthể gây ra TK Năm 2001, các nhà nghiên cứu bang Texas – Mỹ phát hiện rarằng số trẻ mắc bệnh TK tỷ lệ thuận với lượng thủy ngân được thải ra môitrường Một ví dụ khác là thị trấn nhỏ Leomenster, Massachusetts với tỷ lệ TKcao.Nơi đây đã từng có một nhà máy sản xuất kính mát.Điều đặc biệt là tỷ lệ TKcao nhất ở những hộ nằm dưới hướng gió từ các cột khói của nhà máy.

Với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội như hiện nay, sự ô nhiễm không khí,nguồn nước, hóa chất, màu thực phẩm không an toàn… có thể tác động khôngtốt đến hệ thần kinh của trẻ và làm cho trẻ có thể có những biểu hiện bất thườngnhư chứng TK

Như vậy, mặc dù có nhiều nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên TK

mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhưng chưa có một nguyên nhân nào thuyếtphục tuyệt đối.Bản chất về những thay đổi có tính thần kinh sinh học của TK làkhá thống nhất nhưng cho tới nay nguyên nhân thực thể của bệnh lý này chưađược rõ

1.3.1.2.Những biểu hiện của trẻ mắc hội chứng tự kỷ

Kỹ năng xã hội: Trẻ thường tỏ thái độ thờ ơ, không quan tâm đến nhữngngười xung quanh kể cả bố mẹ Không thích ôm ấp, hứng thú với đồ chơi,không thích chơi với những trẻ cùng lứa tuổi,không sử dụng mắt để giao tiếp vàcảm thấy thoải mái khi ở một mình

Ngôn ngữ nói, viết, và giao tiếp: Khiếm khuyết trong giao tiếp là mộttrong những dấu hiệu cơ bản của trẻ tự kỷ, chúng giao tiếp rất hạn chế trong vàichủ đề hoặc chỉ sử dụng một vài từ ngữ quen thuộc Một số trẻ xuất hiện hành vinhại lời một cách vô thức

Chúng gặp khó khăn khi hội thoại với người khác: không biết bắt đầu câuchuyện thế nào, không biết duy trì cuộc hội thoại Một số trẻ tự kỷ nói liên tục

về một chủ đề nhưng lại không hiểu mình đang nói gì cả Trẻ không biết sửdụng cử chỉ như bắt tay, giơ tay chào, biểu cảm trên khuôn mặt để giao tiếp

Trang 30

Hành vi lặp đi lặp lại: Trẻ có những hành vi rập khuôn như đung đưa, đinhón chân, vỗ tay Trẻ thích làm việc theo lịch trình có sẵn, bất kì sự thay đổinào trong lịch trình cũng khiến trẻ lo lắng và sợ hãi.

1.3.2 Chẩn đoán tự kỷ ở trẻ em

Chẩn đoán là việc nhận ra một khuyết tật về phát triển cùng với nhữngnguyên nhân được đặt ra Không có trắc nghiệm y tế nào để chẩn đoán TK Tuynhiên do có nhiều vấn đề về hành vi của trẻ TK giống triệu chứng của một sốhội chứng khác nên cần một số xét nghiệm y tế để chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán TK một cách chính xác thường dựa vào sự quan sát về mức độgiao tiếp, hành vi và phát triển của từng trẻ Những nguồn thông tin này do cha

mẹ hoặc người chăm sóc cung cấp rất quan trọng cho chẩn đoán đúng Chẩnđoán sớm TK là bước tiếp theo tiên quyết sau sàng lọc Mọi trẻ nghi ngờ mắc

TK sau sàng lọc thường được gửi đi bác sĩ chuyên khoa để chẩn đoán TK Trongquá trình chẩn đoán sử dụng nhiều bộ công cụ khác nhau và phối hợp nhiềuchuyên gia để có thể đưa ra một chẩn đoán sớm và chính xác nhất

Các nghiên cứu cho thấy việc chẩn đoán sớm liên quan chặt chẽ với sự tiến

bộ tuyệt vời của trẻ TK Trẻ TK càng được chẩn đoán sớm bao nhiêu, càng đượccan thiệp sớm bằng nhiều hướng khác nhau mang lại hiệu quả càng tốt Gần đâynghiên cứu thấy rằng trẻ TK thường không được chẩn đoán cho đến tuổi mẫugiáo hoặc TH

Trong thập kỷ vừa qua, chẩn đoán TK chủ yếu ở lứa tuổi 4 tuổi (Sirgel,Pliner và cộng sự 1988).Hiện nay chẩn đoán TK được chú ý ở tuổi thứ 2 (Lorrd

1955, Moore và Goodson 2003), hoặc nhỏ hơn (Klin và cộng sự 2004)

Xác định tiêu chuẩn chẩn đoán TK ở trẻ ấu nhi và trẻ nhỏ là một nhiệm vụkhó khăn (Lord và Risi 2000) vì ở thời kỳ này trẻ tăng trưởng, thay đổi liên tục

và những hành vi lặp lại điển hình ở trẻ lớn nhưng lại ít phổ biến ở trẻ nhỏ.Fombone và cộng sự (2001) cho thấy 20 đến 40% trẻ TK được chẩn đoán lúc 2tuổi

Trang 31

1.3.3 Đặc điểm của trẻ tự kỷ

Trẻ TK có đặc điểm là chậm nói, thờ ơ, không biết “tương tác” với mọingười, chỉ mải mê, thích thú tới một số đồ vật hoặc hoạt động, có những hành virập khuôn và có những động tác cơ thể lặp đi lặp lại Bên cạnh đó, cũng cónhiều trẻ TK chậm phát triển về trí tuệ và rất hiếu động Nếu chúng ta không dạytrẻ thì các dấu hiệu TK sẽ ngày càng nặng hơn, trẻ sẽ thu mình vào thế giới riênghoặc có những hành vi kích động không thể kiểm soát được

Tuy nhiên nhiều trẻ TK lại có khả năng đặc biệt về trí nhớ và thị giác rấttốt, nhạy cảm với âm thanh, nhạc điệu và thích hoạt động Trẻ có thể hiểu nhiềuhơn là nói và do không thể nói ra nên trẻ dễ cáu gắt, ăn vạ, la hét… Trẻ chỉ cảmthấy an toàn trong môi trường quen thuộc và ít biến đổi

Trẻ TK có khó khăn trong giao tiếp với người khác, trẻ không cười, khôngnhìn vào mắt người đối diện, không tương tác với người chăm sóc Trẻ TKkhông phát triển được hoạt động chơi mang tính sáng tạo, việc chơi thường cứngnhắc, rập khuôn, không chơi với bạn, thường ngồi ở một góc hoặc một mình khicác bạn chơi

Phương châm quan trọng nhất trong hướng dẫn trẻ TK là tạo cho trẻ môhình cuộc sống quen thuộc là cơ sở an toàn cho trẻ TK Khi nhu cầu dự đoántrước mô hình này bị phá vỡ, trẻ TK thường rơi vào tình trạng lo lắng cao độ

Do vậy trong giai đoạn đặc biệt cho các trẻ này thông thường phải xây dựng mộtchương trình mang tính cấu trúc hóa cao thể hiện ở các mặt không gian, thờigian, hoạt động và con người Các hoạt động cần được diễn ra một cách trình tự,tránh thay đổi thường xuyên

1.4 Một số vấn đề về giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở Tiểu học.

1.4.1.Đặc điểm tâm lý của trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học

1.4.1.1.Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học

 Đặc diểm của quá trình nhận thức

Trang 32

- Tri giác của HSTH mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết Khi HS tri giácthì cảm xúc của các em thể hiện rất rõ Tri giác của HSTH không tự nó pháttriển Trong quá trình học tập, nó trở thành hoạt động có phân tích mang tínhchất của sự quan sát có tổ chức.

- HSTH có trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trínhớ từ ngữ - logic HS lớp có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đilặp lại nhiều lần

- Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng củaHSTH Nếu tưởng tượng của học sinh phát triển yếu, không đầy đủ thì sẽ gặpkhó khăn trong hành động, trong học tập Càng gần những năm cuối bậc TH,tưởng tượng của HS càng gần hiện thực hơn

- Tư duy của các em là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quancủa đối tượng và hiện trạng cụ thể Tư duy của HSTH có tính trực quan thể hiệnrõ

 Đặc điểm nhân cách của HSTH

- Tính cách: hành vi HSTH dễ có tính tự phát, tính bắt chước còn đậm nét.Các em bắt chước hành vi, cử chỉ của giáo viên, của những người các em coinhư “thần tượng”

- Nhu cầu nhận thức của các em phát triển và thể hiện rõ nét, có nhu cầu tìmhiểu những sinh vật, hiện tượng, các mối quan hệ giữa các sinh vật, hiện tượng

- Đối với HSTH tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn nhậnthức với hoạt động của các em.Các em rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìmhãm cảm xúc của mình.Tình cảm của các em mỏng manh, chưa bền vững, chưasâu sắc

Trang 33

1.4.1.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ tự kỷ học hòa nhập ở Tiểu học

Trong quá trình GDHN ở TH dành cho trẻ TK chúng ta phải chú ý đến đặcđiểm tâm lý của trẻ Những dấu hiệu tâm lý đặc trưng mới có thể là căn cứ đểxây dựng kế hoạch giáo dục cho trẻ TK

Các công trình nghiên cứu về TK thay đổi trong 20 năm gần đây Người ta

mô tả người TK là người có hành vi bất thường và rối loạn Nhưng dần dần cácnhà tâm lý cho rằng người TK có một số rối loạn đặc trưng, nhưng phần lớnhành vi của họ vẫn nằm trong tuyến phát triển bình thường Các nhà tâm lý xem

TK là dạng tổn thương phát triển, và khẳng định trẻ TK không hiểu ký hiệu ởmức độ tương đối với tuổi trí tuệ của mình.Người TK đặc trưng bởi sự phát triểnphiến diện.Giao tiếp, tương tác xã hội, tưởng tượng là các bình diện tâm lý rốiloạn nhiều nhất.Đây là nhận định của K Gilbert và T Piters – nhà tâm lý học Bỉ

đã đưa ra thuật ngữ “Hội chứng quá thực”

Người TK đối chiếu từng dạng hành vi của con người với từng tình huống,

cố gắng hiểu các chi tiết trong từng tình huống đó, điều khiển hành vi của mìnhcho dễ hiểu đối với mọi người trong xã hội Nhưng tính đa dạng và không thuầnnhất trong hành vi con người trở nên quá khó hiểu đối với họ Người TK phụthuộc vào hình ảnh thị giác, họ suy nghĩ bằng hình ảnh, không bằng từ vựngnghĩa là không suy đoán

Ngôn ngữ là một quá trình trừu tượng và phức tạp Phân nữa trẻ TK có thểnói được nhưng chúng sử dụng chức năng của não phải trong việc thu thậpthông tin thính giác Ở trẻ TK ngôn ngữ riêng xuất hiện rất trễ so với trẻ bìnhthường.Sau một thời gian dài trẻ TK có thể nói được câu dài và liên kết các câunhư trẻ bình thường.Tóm lại người TK phát âm máy móc các từ mà không chú ýđến nghĩa của từ.Việc sử dụng từ ngữ của người TK vẫn nằm trong quy luật pháttriển ngôn ngữ bình thường, nhưng người TK không vượt xa ở mức độ ngôn ngữtiếng vọng

Trang 34

Trẻ TK khám phá hiện thực khách quan ở mức độ thấp, gặp khó khăn ở cáctrò chơi tưởng tượng.Tư duy của trẻ TK bị giới hạn bởi tri giác chi tiết, sự khiếmkhuyết về tưởng tượng thật sự có ảnh hưởng lớn.Người TK là người quá thựctrong thế giới những người siêu thực.

Với những đặc điểm về tâm lý trên, những khiếm khuyết về tư duy, tưởngtượng, ngôn ngữ, hành vi, tương tác,… thì việc GD trẻ TK là một quá trình rấtđặc thù, không giống với việc GD các dạng tật khác hay GD học sinh bìnhthường mà chúng ta cần phải đòi hỏi sự phối hợp của các chuyên gia tâm lý về

TK và giáo viên để có hướng GD phù hợp và hiệu quả

1.4.2 Đặc điểm hành vi của trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở Tiểu học

Hành vi TK thường có 3 đặc điểm chính: kém phát triển các kỹ năng xã hội(quan hệ, tương tác…);hạn chế phát triển ngôn ngữ và ít giao tiếp; trẻ có hành vihoặc sở thích hạn hẹp và định hình lặp đi lặp lại

Trẻ TK có bề ngoài giống như các trẻ khác và đa số hành vi của trẻ TK cónhiều nét giống hành vi của trẻ bình thường nhưng cũng có rất nhiều nét đặc thùriêng Khi trẻ bị TK, các vấn đề về hành vi có thể liên quan trực tiếp hay giántiếp tới rối loạn TK Ngược lại, có nhiều trẻ không mắc hội chứng TK nhưng đôilúc có hành vi giống trẻ TK Trẻ TK thường có những kiểu hành vi bất thườngnhư:

- Hành vi rập khuôn: có nhiều dạng khác nhau: hành vi tự hại, hành vi tựkích thích Trẻ thể hiện hành vi này với mục đích thu hút sự chú ý hoặc trốntránh các nhiệm vụ khó khăn Có thể có cả nguyên nhân sinh học như đau ở đâu

đó trong cơ thể Trẻ thường chơi những trò chơi đơn điệu, lặp đi lặp lại

- Hành vi chống đối, bùng nổ: trẻ thể hiện hành vi chống đối với mục đíchđạt được sự chú ý tích cực hoặc tiêu cực để tự thỏa mãn mong muốn Hành vinày rất phong phú với nhiều hình thức khác nhau, hướng tới các đối tượng khácnhau (làm ồn trong lớp, ném đồ vật, không thực hiện nhiệm vụ cô đưa ra) Trẻ

Trang 35

thường xuất hiện hành vi này là do khả năng ngôn ngữ, khả năng giao tiếp xãhội có nhiều hạn chế.

- Hành vi tăng động hoặc ù lỳ: trẻ TK có 2 thái cực khác nhau, có trẻ hoạtđộng quá ít hoặc có trẻ lại hoạt động quá nhiều Trẻ có hành vi tăng độngthường đi kèm với thiếu tập trung chú ý, trẻ thường gây rối, ra khỏi chỗ liên tục,không ngồi yên, hay leo trèo Trẻ ù lỳ lại lười hoạt động, chúng thường ngồi yênhoặc nằm một chỗ, thờ ơ với các kích thích xung quanh

- Hành vi thu mình: đây là hành vi hướng nội điển hình ở trẻ TK Trẻ ngạigiao tiếp với người khác, cô lập trong thế giới riêng của mình Trẻ ít giao tiếpmắt, có thể không phát triển các kỹ năng luân phiên, chờ đợi, ngôn ngữ nói, cửchỉ, nét mặt, không thích tương tác với người khác Những trẻ này thường thiếtlập một loạt trật tự Muốn thay đổi thói quen này cần nói cho trẻ hành vi nàochấm dứt và cho trẻ thời gian để điều chỉnh

- Hành vi lo lắng thái quá: trẻ tỏ ra sợ hãi trước những vật vô hại, trẻ có thể

sợ sệt khi học với thầy cô lạ hoặc khi có khách vào thăm lớp, nhưng cũng cónhững trẻ thiếu cảm giác sợ hãi khi bị nguy hiểm (lao ra giữa đường xe cộ…)

- Thiếu sáng tạo tự nhiên: ở trẻ TK có xu hướng học 1 cặp: cách giải quyếttình huống cho sẵn rồi áp dụng cặp này một cách cứng nhắc Để cải thiện cầntạo nhiều bài học tình huống để trẻ tập suy nghĩ, lựa chọn cách giải quyết

Ngoài ra còn có những hành vi khác thường gặp ở trẻ TK là ăn không bìnhthường (chỉ ăn 1 loại thức ăn…), hoặc những vấn đề về giấc ngủ (thức lúc mọingười ngủ hoặc ngủ lúc mọi người thức), tâm trạng chúng không ổn định (cườikhúc khích 1 mình mà không có lý do)

1.4.3 Một số vấn đề về tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở Tiểu học

1.4.3.1 Mục tiêu của giáo dục hòa nhập cho tẻ tự kỷ

Trang 36

GDHN dựa trên quan điểm tích cực, đánh giá đúng trẻ TK và các em đượcnhìn nhận như mọi trẻ em khác Theo quan điểm này thì mọi trẻ em đều cónhững năng lực nhất định Chính sự nhìn nhận này mà trẻ TK được coi như làchủ thể chứ không phải đối tượng thụ động của các tác động giáo dục Từ đó,người ta quan tâm tập trung tìm kiếm những cái mà trẻ có thể làm được Các em

sẽ làm tốt khi những việc đó phù hợp với năng lực và nhu cầu của các em Xuấtphát từ mục tiêu giáo dục cho trẻ có nhu cầu đặc biệt, mục tiêu cụ thể của côngtác giáo dục trẻ TK lứa tuổi tiểu học là: Giúp trẻ có thể thích ứng với các môitrường khác nhau (gia đình, nhà trường, trung tâm và xã hội), trẻ có thể hòanhập cộng đồng, trẻ chấp nhận được người khác và được người khác chấp nhận,phát triển hết khả năng của trẻ, giúp trẻ giải tỏa những cảm xúc ức chế Trên cơ

sở đó, giúp trẻ có thể sống độc lập và hòa nhập xã hội

1.4.3.2 Nội dung giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ

- Rèn luyện kỹ năng thích ứng

Một trong những mục tiêu dạy học hòa nhập cho trẻ TK là là hướng trẻđến cuộc sống độc lập Vì vậy, rèn luyện kỹ năng thích ứng cho trẻ là rất cầnthiết Các kỹ năng tự chăm sóc cơ bản bao gồm những nhiệm vụ hàng ngày đểtrẻ giữ gìn vệ sinh cá nhân (đi vệ sinh, đánh răng, rửa mặt, tắm,…), ăn uống,mặc quần áo,….Chúng có ảnh hưởng quan trọng và lâu dài đến tình trạng sứckhỏe, quan hệ xã hội, cũng như quan hệ với chính bản thân trẻ

Khi được hướng dẫn trẻ TK có thể đạt được những tiến bộ trong việc thựchiện các kỹ năng tự chăm sóc và thể hiện một mức độ độc lập nhất định ở tại giađình và lớp học Trong môi trường xa lạ, trẻ khó có thể hòa nhập Nguyên nhân

là do trẻ không có khả năng thích nghi với sự thay đổi của môi trường Trẻ TKquen sự rập khuôn máy móc, những thói quen định hình lặp đi lặp lại Vì vậy,một sự thay đổi nhỏ cũng làm trẻ khó chịu Ví dụ ngày đầu tiên đến lớp, trẻbỗng dưng xô đẩy, cào cấu các bạn khác chỉ vì trẻ không quen ở chỗ đông người

Trang 37

như thế Điều này khiến trẻ bị lạc lõng, bạn bè xa lánh Do đó vai trò của các

GV và gia đình là giúp trẻ có khả năng thích ứng để thích nghi với môi trường,hòa nhập xã hội

- Hình thành kỹ năng xã hội

Một trong những khiếm khuyết của trẻ TK là không biết tạo lập mối quan

hệ xã hội Trẻ gặp khó khăn trong mối quan hệ ứng xử với mọi người xungquanh Việc hình thành kỹ năng xã hội sẽ giúp trẻ được mọi người chấp nhận vàtôn trọng

Trẻ TK không nhìn nhận và đón nhận người khác như một chủ thể giốngnhư mình, có khả năng chia sẻ niềm vui và nỗi buồn, cùng bao nhiêu kinhnghiệm và cảm nghiệm trong đời sống thường ngày Trái lại, trẻ TK dùng nhữngngười khác như là một công cụ, một phương tiện được các em dùng để đạt đượcmục đích Ví dụ, trẻ chỉ cầm tay người khác, dẫn người khác đi lấy nước chomình thay vì dùng lời nói hay cử chỉ, để diễn tả nhu cầu và nguyện vọng Trongthực tế, với những trẻ có khả năng nói, phát âm và đọc chữ,…ngôn ngữ vẫnkhông phải là một công cụ để tạo mối quan hệ Vì vậy, cần phải hình thành chotrẻ TK những kỹ năng xã hội

- Phát triển kỹ năng giao tiếp

Khó khăn trong giao tiếp và sử dụng lời nói là nét đặc trưng của trẻ TK.Mối quan hệ xã hội giúp trẻ phát triển về ngôn ngữ rất nhiều Môi trường xã hội

là môi trường quan trọng để trẻ có thể hiểu được ý nghĩa của việc giao tiếp Dothiếu hụt về mối quan hệ xã hội nên giao tiếp trở thành một vấn đề đối với trẻ

TK Sự thiếu hụt này khiến trẻ TK gặp khó khăn trong việc phát triển vốn từ, sửdụng cấu trúc câu và đặc biệt là mẫu câu đã được đặt vào các ngữ cảnh khácnhau Vì việc giao tiếp gặp rất nhiều khó khăn nên trẻ TK thường cố gắng tìmmọi cách để thể hiện nhu cầu của bản thân mình mà không cần sử dụng lời nói

Trang 38

(ví dụ như: khóc, ăn vạ,…) Trẻ TK cần phải được dạy để hiểu các thông điệptrong giao tiếp, sự cần thiết phải giao tiếp

Trị liệu hỗ trợ phát triển các kỹ năng giao tiếp cho trẻ TK phải được thiết

kế và lên kế hoạch dựa vào sự hiểu biết về mức độ ảnh hưởng của chứng tự kỷđến khả năng giao tiếp và cách mà đứa trẻ TK có thể học được

- Giảm thiểu hành vi không mong muốn

Trẻ TK có những hành vi tự xâm hại bản thân, như: tự gây hại, thịnh nộ,hành hung người khác, những hành vi lặp lại như xoay tròn, Những hành vinày rất nguy hiểm cho trẻ và đôi khi ảnh hưởng đến những người xung quanhtrẻ Mặt khác, trong quá trình giáo dục, trẻ có thể chống đối lại GV hoặc cha mẹtrẻ, trẻ không hợp tác như quấy khóc, la hét Điều này gây bất lợi đến quá trìnhdạy học Do đó, để việc GDHN chotrẻ TK có hiệu quả, điều trước hết phải làm

để giảm thiểu hành vi tiêu cực là từng bước hình thành các hành vi tích cực đểthay thế dần các hành vi tiêu cực của trẻ

- Phát triển thể chất

Đối với những trẻ TK khi đến trường TH, mục đích chính không phải là

ép trẻ học để lấy kiến thức Mà trong những nội dung dạy học cho trẻ, GV cầnphải chú ý quan tâm tới việc giáo dục thể chất cho trẻ Điều này có thể thực hiệnđược thông qua hoạt động vui chơi Trò chơi vận động là yếu tố vô cùng quantrọng trong chương trình luyện tập cho trẻ tổn thương não Thông qua đó, pháttriển vận động tinh, vận động thô Với những trẻ có quá trình phát triển tâm vậnđộng bình thường thì vận động được coi là nền tảng của cuộc sống Một trò chơivận động được GV đưa ra cùng chơi với các bạn phải đảm bảo thực hiện đượcnhững mục đích: Thiết lập mối quan hệ, phát triển nhận thức, điều chỉnh hànhvi

- Dạy các môn học đường chức năng

Trang 39

Mặc dù 75% trẻ TK bị chậm phát triển tâm thần, nhưng không có nghĩa làtrẻ không thể học được Trẻ TK vẫn có thể học các kỹ năng như đọc, viết, làmtoán, nhận biết môi trường xung quanh, phục vụ bản thân, để có thể sử dụngtrong cuộc sống hàng ngày Tuy vậy, một số trẻ TK chỉ có thể học được mộtphần nào đó của các kỹ năng này hoặc thậm chí hoàn toàn không có khả nănghọc các kỹ năng đó Có thể với một số trẻ, cái các em cần học là một số kỹ năngnhất định, ví dụ việc đọc chữ qua nhận dạng, các kỹ năng về đọc số, đếm, sửdụng tiền, xem thời gian,…Với một số khác thì việc học các kỹ năng tự chămsóc cơ bản lại quan trọng hơn.

Dựa trên những thông tin về mức độ chức năng hiện tại của trẻ, GV có thểcùng gia đình thảo luận để quyết định các mục tiêu GDHN phù hợp cho trẻ Tuynhiên, để xác định được cái gì là quan trọng với mỗi trẻ, GV phải thường xuyênnghiên cứu kỹ năng hoạt động hàng ngày của trẻ, dự đoán những nhu cầu trongtương lai của trẻ để lập một thứ tự ưu tiên Việc học các môn học đường chứcnăng sẽ giúp trẻ trở nên độc lập và tự chủ hơn khi ở nhà cũng như khi ở trường

và ở cả trong cộng đồng xã hội

1.4.3.3 Phương tiện đặc thù trong giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ

Phương tiện là thiết bị không thể thiếu trong quá trình giáo dục trẻ TK.Ngoài những thiết bị GV dùng để dạy cho HS cả lớp, cần phải có những thiết bịdạy học đặc thù cho trẻ TK Những thiết bị đó có thể chỉ là những vật quenthuộc xung quanh môi trường lớp hoc Nhưng đối với trẻ TK, đó lại là nhữngthứ xa lạ Chúng tôi xin đưa ra một số phương tiện có thể sử dụng trong 4 lĩnhvực sau:

- Các phương tiện hỗ trợ nghe/nhìn/nhận thức

Hầu hết trẻ TK tiếp nhận thông tin từ môi trường xung quanh qua kênh thịgiác và thính giác Trên cơ sở đó, trẻ sẽ phát triển nhận thức, hiểu được những

gì xảy ra xung quanh mình

Trang 40

Với những công cụ hỗ trợ nhìn, GV có thể giúp trẻ hiểu quá khứ, hiện tại

và tương lai, có thể cho trẻ thực hiện công việc một cách độc lập, nhắc trẻ điềutrẻ làm và nói, giúp trẻ bày tỏ bản thân, cho trẻ nhiều sự lựa chọn, giúp trẻ hiểucảm xúc của người khác,…

Công cụ hỗ trợ nghe là những vật phát ra âm thanh như đàn, lục lạc,trống,…Với những dụng cụ này, ta có thể giúp trẻ xác định nguồn gốc, vị trí âmthanh,…Đây là cơ sở để ta có thể dạy trẻ phản ứng khi gọi tên

GV có thể giáo dục cho HS hoạt động tương tác với những dụng cụ đó,đây chính là liệu pháp giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh và phát triển tríthông minh và sáng tạo

- Các phương tiện hỗ trợ hòa nhập cảm giác

Đa số trẻ TK gặp khó khăn trong việc hiểu bản thân cơ thể Vì vậy trẻthường có những hành động không bình thường để cảm nhận cơ thể như cào cấubản thân, xoay tròn,…Hòa nhập cảm giác giúp trẻ cân bằng hệ thống các giácquan, hiểu rõ cơ thể

Các phương tiện thường dùng để giúp trẻ hòa nhập cảm giác có thể là:bảng trắng đen, gương, thiết bị âm nhạc nhẹ,…

- Các phương tiện hỗ trợ phát triển thể chất

Phát triển thể chất giúp trẻ hình thành kỹ năng vận động, giáo dục các tốchất thể lực Đối với trẻ TK việc phát triển thể chất là điều hết sức quan trọng.Các phương tiện dùng để phát triển thể chất của trẻ là: Xe đạp, xích đu,…

- Các phương tiện hình thành kỹ năng thích ứng

Phương tiện được sử dụng để hình thành kỹ năng thích ứng là những vậtdụng quen thuộc trong sinh hoạt hằng ngày như các vật dụng trong phòng học,phòng vệ sinh, phòng học âm nhạc,

Ngày đăng: 22/01/2016, 13:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Hoàng Anh ( chủ biên) Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc, Hoạt động giao tiếp nhân cách, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giao tiếp nhân cách
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006),Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Tiểu học, Dự án phát triển GVTH, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005),Giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật(Tài liệu tập huấn giáo viên Tiểu học-tổ chức CRS và USAID tài trợ tại Việt Nam), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2005
[5] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Quy định về Giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, Chuyên đề Giáo dục Tiểu học tập 46/2010, Nxb Giáo dục,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về Giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
[6] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007),Tâm lý học, Dự án phát triển GVTH, Nxb Giáo dục,Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[7] Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn (2009), Một số kỹ năng dạy trẻ có hành vi tự kỷ trong lớp học hòa nhập,Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kỹ năng dạy trẻ có hành vi tự kỷ trong lớp học hòa nhập
Tác giả: Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2009
[8] Nghiêm Chưởng Châu, Nguyễn Thị Nhất và BS Nguyễn Khắc Viện (2007), Tâm lý học Tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Tiểu học
Tác giả: Nghiêm Chưởng Châu, Nguyễn Thị Nhất và BS Nguyễn Khắc Viện
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[9] Nguyễn Văn Đồng (2009), Tâm lý học giao tiếp, Nxb Chính trị- Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học giao tiếp
Tác giả: Nguyễn Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị- Hành chính
Năm: 2009
[10] Vũ Thị Bích Hạnh (2007), Tự kỷ phát hiện sớm và can thiệp sớm, Nxb Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự kỷ phát hiện sớm và can thiệp sớm
Tác giả: Vũ Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2007
[11] Nguyễn Thị Hòa (2007), Phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trò chơi học tập, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trò chơi học tập
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2007
[12] Thanh Huyền (2010), Các trò chơi trong gia đình, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trò chơi trong gia đình
Tác giả: Thanh Huyền
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2010
[13] Trần Lan Hương (2002), Trò chơi toán học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi toán học
Tác giả: Trần Lan Hương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
[14] Đặng Thành Hưng (2002), Dạy học hiện đại-Lý luận,biện pháp, kỹ thuật, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại-Lý luận,biện pháp, kỹ thuật
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2002
[15] KIRSTIN LEE BOSTELMANN VIVIEN HELLER(2009), Tăng cường và hỗ trợ việc học cho tất cả học sinh ở các trường Tiểu học và chuyên biệt, Người dịch Nguyễn Thị Thu Hiền,Nxb Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường và hỗ trợ việc học cho tất cả học sinh ở các trường Tiểu học và chuyên biệt
Tác giả: KIRSTIN LEE BOSTELMANN VIVIEN HELLER
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
Năm: 2009
[16] Nicode Malenfan (2005), Những trò chơi thư giãn cho trẻ thoải mái và chú ý, Người dịch Trần Văn Công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trò chơi thư giãn cho trẻ thoải mái và chú ý
Tác giả: Nicode Malenfan
Năm: 2005
[17] Đặng Thu Quỳnh (2001), Trò chơi với chữ cái và phát triển ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi với chữ cái và phát triển ngôn ngữ
Tác giả: Đặng Thu Quỳnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
[18] Lê Tiến Thành (2011), Chính sách phát triển giáo dục hòa nhập ở Việt Nam, chuyên đề Giáo dục Tiểu học tập 53/2011, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển giáo dục hòa nhập ở Việt Nam
Tác giả: Lê Tiến Thành
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
[19] The Vietnamese parents with disabled children support group in NSW Australia (2002), Để hiểu chứng tự kỷ, Võ Nguyên Tinh Vân tổng hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hiểu chứng tự kỷ
Tác giả: The Vietnamese parents with disabled children support group in NSW Australia
Năm: 2002
[20] Trần Đình Thuận (2009), Nhìn lại công tác giáo dục học sinh khuyết tật cấp Tiểu học trong những năm qua, Chuyên đề GDTH tập 39/2009, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại công tác giáo dục học sinh khuyết tật cấp Tiểu học trong những năm qua
Tác giả: Trần Đình Thuận
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
[21] Trung tâm nghiên cứu giáo dục và chăm sóc trẻ em (2011) – Nhóm biên soạn, Hỗ trợ kiến thức về chăm sóc và giáo dục trẻ mắc hội chứng tự kỷ, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ kiến thức về chăm sóc và giáo dục trẻ mắc hội chứng tự kỷ
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.6.Ý kiến của giáo viên về các biện pháp đã sử dụng hỗ trợ rèn - Thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở tiểu học
Bảng 2.6. Ý kiến của giáo viên về các biện pháp đã sử dụng hỗ trợ rèn (Trang 55)
Bảng ý kiến cho thấy sử dụng các biện pháp hỗ trợ KNTT cho trẻ tự kỷTK  học hòa nhập tại lớp cụ thể: - Thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở tiểu học
ng ý kiến cho thấy sử dụng các biện pháp hỗ trợ KNTT cho trẻ tự kỷTK học hòa nhập tại lớp cụ thể: (Trang 57)
Bảng 2.8. Nhận thức của giáo viên về vai trò của trò chơi đối với việc rèn - Thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở tiểu học
Bảng 2.8. Nhận thức của giáo viên về vai trò của trò chơi đối với việc rèn (Trang 58)
Bảng 2.9.Quan điểm của giáo viên về ảnh hưởng của trò chơi đối với   việc rèn luyện KNTT cho trẻ TK. - Thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở tiểu học
Bảng 2.9. Quan điểm của giáo viên về ảnh hưởng của trò chơi đối với việc rèn luyện KNTT cho trẻ TK (Trang 59)
2.2.4.2. Hình thức thời gian tổ chức trò chơi - Thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở tiểu học
2.2.4.2. Hình thức thời gian tổ chức trò chơi (Trang 62)
Bảng 2.15. Những khó khăn trong việc sử dụng trò chơi - Thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở tiểu học
Bảng 2.15. Những khó khăn trong việc sử dụng trò chơi (Trang 63)
Bảng 2.14. Thời gian tổ chức trò chơi cho trẻ TK - Thiết kế trò chơi rèn luyện kỹ năng tương tác cho trẻ tự kỷ trong quá trình giáo dục hòa nhập ở tiểu học
Bảng 2.14. Thời gian tổ chức trò chơi cho trẻ TK (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w