1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố tân an, tỉnh long an

91 959 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 568 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở đã góp phần đổi mới phươngthức, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước;đổi mới nội dung, phương thức hoạt động c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THANH HẢI

NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

Chuyên ngành: Chính trị học

Mã số: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Trung Thành

Long An - 2015

Trang 2

CHƯƠNG 1 Cơ sở lý luận về dân chủ trong trường học 10

1.1 Dân chủ, dân chủ cơ sở, dân chủ trường học 101.2 Nội dung, yêu cầu và hình thức thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở 23trong trường THPT

1.3 Tầm quan trọng của việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở 35 trong trường học

CHƯƠNG 2 Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong trường THPT 39 trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An

2.1 Khái quát về các trường THPT trên địa bàn thành phố Tân An, 39 tỉnh Long An

2.2 Thực trạng thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong trường THPT 41trên địa bàn Thành phố Tân An,

2.3 Những khó khăn, hạn chế trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ 52

cơ sở trong trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tân An,

tỉnh Long An

CHƯƠNG 3 Quan điểm và một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu 61 quả Quy chế dân chủ cơ sở trong trường THPT trên địa bàn

thành phố Tân An, tỉnh Long An hiện nay

3.1 Quan điểm thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong trường THPT trên 61địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An

3.2 Một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ cơ 66

Trang 3

sở trong trường THPT trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Cán bộ, giáo viên, nhân viên CB-GV-NV

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH

Giáo dục và Đào tạo GD&ĐT

Trung học phổ thông THPT

Trang 4

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới, đòi hỏi phải phát huy đượcquyền làm chủ của nhân dân, người dân tham gia quản lý nhà nước, khắc phụctình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng Ngày 04-03-

2010, Kết luận số 65-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ

30-cơ sở nêu rõ: “Thực hiện Quy chế dân chủ ở 30-cơ sở được gắn với phát triển kinh

tế- xã hội, cải cách thủ thục hành chính, cuộc vận động "Học tập và làm theotấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các phong trào, các hoạt động văn hóa, xãhội, giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở”

Đại hội XI của Đảng xác định lại một lần nữa vị trí, tầm quan trọng lâu dài

và bức thiết của vấn đề dân chủ Đại hội đã xác định mục tiêu chiến lược củacách mạng nước ta trong thời kỳ mới là thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hộidân chủ, công bằng, văn minh, “thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ cơ sở vàPháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Phát huy dân chủ, đề caotrách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội …” [6,tr 239]

Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở đã góp phần đổi mới phươngthức, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước;đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của mặt trận, các đoàn thể nhân dân;phát huy tính tiên phong, gương mẫu, chấn chỉnh phong cách, lề lối làm việc củacán bộ, công chức theo hướng sát dân, trọng dân và phát huy quyền làm chủ củanhân dân, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân; góp phầnquan trọng trong phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãngphí; tăng cường đoàn kết, đồng thuận xã hội, củng cố mối quan hệ máu thịt giữa

Trang 5

Đảng, Nhà nước với nhân dân; chống lại các âm mưu lợi dụng dân chủ, dân tộc,tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Trong nhiều trường THPT ở Long An, việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ

sở theo Chỉ thị 30-CT/TW và Nghị định 71/1998 của Chính phủ, Nghị định04/2015/NĐ-CP (thay thế Nghị định 71/1998 từ ngày 25/2/2015), Quyết định 04 của

Bộ GD&ĐT đã tạo ra bầu không khí dân chủ trong các trường học, góp phầnvào việc dạy tốt, học tốt Tuy nhiên cũng giống như nhiều cơ quan, đơn vị thuộcnhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác, vẫn còn có trường học triển khai chậm hoặctriển khai hình thức Có trường do thiếu dân chủ dẫn đến gây mất đoàn kết,khiếu kiện Điều đó ảnh hưởng không tốt tới chất lượng dạy và học, đến uy tíncủa ngành giáo dục đối với xã hội, đối với nhân dân

Thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ cơ sở, phát huy được quyền làmchủ của cán bộ, giáo viên, nhân viên trong các trường THPT vẫn là một đòi hỏi,một yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới trong ngành GD&ĐT ở Long Annói chung, ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Tân An nói riêng Vì vậy

đề tài “Nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong trường

trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An” nhằm góp

phần nghiên cứu vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết đó

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Dân chủ, dân chủ cơ sở, Quy chế dân chủ cơ sở là vấn đề được nhiều nhàkhoa học, những người làm công tác lý luận quan tâm ở những góc độ, khíacạnh khác nhau Đã có nhiều văn bản, chỉ thị về vấn đề dân chủ, Quy chế dânchủ cơ sở và ý thức, trách nhiệm thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở được triểnkhai

Ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị ra “Chỉ thị 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ

Trang 6

sở”, Chỉ thị đã khẳng định: “Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới” Thực hiện Chỉ thị

30-CT/TW và các quy định, hướng dẫn của Trung ương,trong những năm qua, các địa phương trong cả nước đãtích cực đưa Quy chế dân chủ cơ sở vào cuộc sống, gópphần tạo nên những bước chuyển biến mạnh mẽ trên tất

cả các lĩnh vực

Ngày 04-3-2010, thay mặt Ban Bí thư Trung ương

Đảng, đồng chí Trương Tấn Sang đã ký ban hành “Kết luận số 65-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở”.

Do tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn của thực hiện Quy chế dân chủ

cơ sở, đã có nhiều công trình nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí của Trungương và địa phương, đề cập đến vấn đề này ở những góc độ khác nhau Tiêubiểu cho các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, sách, bài viết trên các tạpchí khoa học có thể kể đến:

- "Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay" Sách do PGS, TS Lê Minh Quân,

Viện Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chínhquốc gia Hồ Chí Minh biên soạn Ngoài lời mở đầu vàkết luận, cuốn sách gồm 9 chương Trên cơ sở tìm hiểucác quan niệm và khái niệm lý thuyết và mô hình dânchủ hóa, những yếu tố tác động và quá trình dân chủhóa trên thế giới, cuốn sách phân tích nhiều vấn đề

Trang 7

lý luận và thực tiễn của quá trình dân chủ hóa XHCN ởnước ta hiện nay Tác giả đã phân tích làm rõ dân chủluôn là ước vọng của con người trong mọi thời đại Nócần như cơm ăn, áo mặc, nước uống hằng ngày Dân chủ

là thước đo chất lượng cuộc sống văn minh xã hội vànăng lực quản lý của một nhà nước Dân chủ không phải

tự nhiên mà có Nhận thức về vấn đề dân chủ đã khókhăn và phức tạp, nhưng nhận thức về dân chủ hóa hayquá trình hiện thực hóa những mơ ước, những giá trịdân chủ trong đời sống còn khó khăn và phức tạp hơn.Những vấn đề về mục tiêu, động lực, nội dung, hìnhthức và phương pháp; nguyên nhân, kinh nghiệm, nguyêntắc, phương châm và bước đi của dân chủ hóa luôn lànhững vấn đề khó khăn và mới mẻ đòi hỏi phải giảiquyết

- “Dân chủ - một giá trị văn hoá”, Tác giả Hồ Sĩ Vịnh, Tạp chí Tuyên giáo,

Thứ Sáu 25/11/2011 khẳng định, ở nước ta không có chuyện nhân quyền, dânchủ cao hơn chủ quyền quốc gia như một số kẻ xấu thường rao giảng Truyềnthống cộng đồng nhà, làng, nước là một cấu trúc bền vững có quan hệ hữu cơvới nhau Nước mất thì nhà tan, dân khổ; nước thịnh thì nhà yên, dân cường.Truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông cho chúng ta bài học vềquyền dân chủ, quyền con người…

- “Dân chủ XHCN là mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới đất nước”, GS, TS Phạm Ngọc Quang, Tạp

chí Quốc phòng toàn dân, số 4 năm 2010 Bài viết nêu

rõ, dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta; vừa làmục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước,

Trang 8

thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước vànhân dân Quan điểm đó là sự kế thừa, bổ sung, pháttriển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ XHCN và là kết quảphù hợp với lôgíc phát triển tư duy lý luận của Đảng

ta về dân chủ trong quá trình đổi mới đất nước

- “Dân chủ XHCN – Bản chất của chế độ, mục tiêu và động lực phát triển đất nước”, GS TS Hoàng Chí Bảo, báo Nhân Dân số ra ngày 29 tháng 2 năm

2010 Bài viết khẳng định, qua thực tiễn đổi mới, tư duy lý luận của Đảng cũng

đã vươn tới những quan điểm mới, mở ra một khả năng và triển vọng tốt đẹp đểxây dựng xã hội ta thành một xã hội dân chủ, trong đó nhân dân là người chủchân chính của Nhà nước và xã hội, là chủ thể quyền lực Vấn đề đặt ra là cầnphải thực hành dân chủ rộng rãi và nghiêm túc, trước hết là dân chủ trong Đảng

Sự phát triển lành mạnh dân chủ trong Đảng chẳng những làm tăng sức mạnhcủa Đảng, mà còn nêu gương, thúc đẩy dân chủ trong xã hội

- “Tìm hiểu việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở tại TP.

Hồ Chí Minh”, Tác giả Nguyễn Thanh Minh, Tạp chí Khoa

học Pháp luật số 6/2002, trường Đại học Luật TP HồChí Minh đánh giá, không ít người dân tại TP.HCM mới

chỉ biết khẩu hiệu mang nội dung dân chủ “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; còn nội hàm của từng

khái niệm thì họ chưa hiểu tường tận Vì vậy, phảitiếp tục tuyên truyền, phổ biến nội dung Quy chế dân chủ

cơ sở, làm cho nhân dân ý thức được việc thực hiện quychế là vì mình, vì một xã hội tốt đẹp; hạn chế tớimức tối đa việc hiểu và vận dụng sai tinh thần quy

Trang 9

chế, huy động quá khả năng đóng góp về vật chất vàtinh thần của nhân dân

- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong chính trị”, Tác giả Nguyễn Văn

Quang, Khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại học Sư phạm Huế, Tạp chí

Xây dựng Đảng số ra ngày 01 tháng 3 năm 2011 Tác giả bài viết nhấn mạnh,trong suốt quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn chỉ đạo cách mạng Việt Nam,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập và hiện thực hóa hệ thống quan điểm về dânchủ trong tổ chức xây dựng xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực Tư tưởng củaNgười về dân chủ trong chính trị đã trở thành một bộ phận văn hóa của dân tộcViệt Nam

- “Nhìn lại 10 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn”,

Huỳnh Đảm, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 9/7/2008, đã làm rõ thực trạng 10

năm thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn, quyền làm chủ của nhân

dân ở các địa phương trong cả nước được phát huy mạnh mẽ

Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu nghiên cứu về việc thực hiện Quychế dân chủ gắn với tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung, ở cấp xãnói riêng chỉ ra phương hướng và giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện Quy chếdân chủ ở xã, phường Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiêncứu một cách hệ thống, toàn diện về thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong cáctrường THPT

Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm cả về lý luận và thực tiễnvấn đề thực hiện Quy chế dân chủ ở trường THPT trên địa bàn thành phố Tân

An, tỉnh Long An trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ

Mục đích

Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở

Trang 10

các trường THPT trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An, luận văn xácđịnh một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ trong trường họcđáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đổi mới của ngành GD&ĐT tỉnh Long An hiện nay.

Nhiệm vụ

- Phân tích lý luận về dân chủ ở cơ sở và dân chủ trong trường học

- Phân tích thực trạng, nguyên nhân và những kinh nghiệm thực hiện Quychế dân chủ cơ sở các trường THPT trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long

An

- Đề xuất một số giải pháp để thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ cơ sởcác trường THPT trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An, đáp ứng yêucầu đổi mới giáo dục hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong cáctrường THPT công lập trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An qua khảosát thực tế tại các trường trong thành phố Tân An từ khi có Quy chế dân chủ cơ

Trang 11

sự nghiệp công lập; Quyết định 04/2000/QĐ-BGDĐT của Bộ GD&ĐT về việcthực hiện Quy chế dân chủ trong các nhà trường và các công trình nghiên cứu cóliên quan.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luậnmácxít; kết hợp lý luận với thực tiễn, sử dụng các phương pháp thống kê, điềutra xã hội học, so sánh v.v

6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

- Góp phần luận chứng căn cứ khoa học của việc thực hiện Quy chế dânchủ cơ sở trong các trường THPT

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể cung cấp thêm những cơ sở khoahọc nhằm thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ cơ sở trong các trường THPT trênđịa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An nói riêng, ở các trường THPT và ngànhgiáo dục tỉnh Long An nói chung trong giai đoạn hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luậnvăn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về dân chủ trong trường học.

Chương 2: Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong các trường THPT công

lập trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An

Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả Quy

chế dân chủ cơ sở trong các trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Tân

An, tỉnh Long An hiện nay

Trang 12

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN CHỦ TRONG TRƯỜNG HỌC

1.1 Dân chủ, dân chủ cơ sở, dân chủ trường học

1.1.1 Dân chủ

Thuật ngữ dân chủ xuất hiện từ thời cổ đại Người đầu tiên đưa ra khái

niệm dân chủ là nhà sử học, nhà chính trị học người Hy Lạp tên Hêrôđốt (484

-425 trước Công nguyên) khi ông xem xét các thể chế chính trị trong lịch sử

Trang 13

Theo ông, lịch sử đã xuất hiện ba kiểu thể chế chính trị: quân chủ, quý tộc vàdân chủ; trong đó dân chủ là thể chế chính trị do nhân dân nắm quyền lực thôngqua con đường bầu cử Để chỉ một hiện thực dân chủ đã được thiết lập trên thực

tế, trong ngôn ngữ đã xuất hiện thuật ngữ democratia, nghĩa là quyền lực thuộc

về nhân dân (democratia là từ ghép của hai từ demos là nhân dân, cratos làquyền lực) Như vậy, với nguyên nghĩa của từ, dân chủ là quyền lực thuộc vềnhân dân Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực để tổ chức,quản lý xã hội, phát triển xã hội, phát triển con người Với ý nghĩa đó, dân chủvừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội - nhất là xã hội có giaicấp Ngay từ xã hội cộng sản nguyên thủy, con người đã biết sống gắn bó vớinhau thành cộng đồng để tồn tại và phát triển Họ biết sử dụng sức mạnh củacộng đồng để thực hiện quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.Một hình thức đặc biệt của dân chủ đã xuất hiện mà Ăngghen gọi là dân chủquân sự hay dân chủ nguyên thủy Thông qua Đại hội nhân dân, nhân dân đã bầu

ra Hội đồng thị tộc và Thủ lĩnh quân sự, đồng thời quyết định những vấn đềquan trọng của thị tộc Trong “nền dân chủ quân sự”, quyền lực của nhân dân

“thiêng liêng và bất khả xâm phạm, đều là một quyền lực tối cao do tự nhiên bancho, quyền lực mà mỗi người phải phục tùng một cách vô điều kiện, trong tìnhcảm, tư tưởng, và hành động của mình” [15, tr 149-150]

Sự phát triển của sản xuất và phân công lao động xã hội, phân hóa giaicấp và đấu tranh giai cấp đã làm cho xã hội cộng sản nguyên thủy tan rã, hìnhthành nên Nhà nước chiếm hữu nô lệ Giai cấp chủ nô đã biến Nhà nước thànhcông cụ thực hiện quyền lực chính trị, phục vụ lợi ích của mình Nhà nước chủ

nô dân chủ là hình thức đầu tiên của chế độ dân chủ trong xã hội có giai cấp dân chủ của giai cấp chủ nô Theo C.Mác, trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnhGôta” (1875), dân chủ tức là chính quyền của nhân dân Trong tác phẩm “Nhànước và cách mạng”, Lênin cũng cho rằng chế độ dân chủ là một hình thức nhà

Trang 14

-nước, một trong những hình thái của Nhà nước Nhà nước chủ nô là hình tháidân chủ đầu tiên trong lịch sử nhưng không phải giành cho nhân dân với tư cách

là số đông mà là cho giai cấp chủ nô Tuyệt đại bộ phận con người đã bị đẩyxuống hàng nô lệ, trở thành “con vật biết nói” Đây chính là một trong nhữngnguyên nhân khiến cho cuộc đấu tranh giành quyền dân chủ trở thành một trongnhững nội dung của cuộc đấu tranh giai cấp

Nền dân chủ sơ khai của xã hội loài người không được tiếp tục phát triển

ở thời kỳ lịch sử tiếp theo mà lại bị thủ tiêu bởi chế độ chuyên chế phong kiến.Nhà nước phong kiến, độc đoán chuyên quyền câu kết với các thế lực của thầnquyền đã gạt nhân dân lao động ra khỏi cơ chế quyền lực Cuộc đấu tranh giànhquyền lực - giành quyền làm chủ lại tiếp tục diễn ra gay gắt Kết quả là chế độchuyên chế phong kiến lại bị một trật tự dân chủ mới mạnh mẽ hơn phủ định -

đó là chế độ dân chủ tư sản Nền dân chủ tư sản mạnh mẽ vì nó dựa trên một nềnkinh tế - xã hội phát triển hơn so với các chế độ trước đó

So với chế độ dân chủ sơ khai thời kỳ cổ đại, nền dân chủ tư sản đạt tớitrình độ phát triển cao hơn Theo đó, các quan niệm về dân chủ được bắt đầu từkhái niệm nhân dân là người chủ của quyền lực, có quyền và nghĩa vụ công dânđược pháp luật quy định và bảo vệ Dưới chế độ dân chủ tư sản, địa vị xã hộicủa công dân được pháp luật thành văn và không thành văn quy định Nhưngnền dân chủ tư sản trong thực chất còn rất nhiều hạn chế và không thoát khỏi sự

mị dân nhằm bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tư sản cầm quyền “Trong Nhà nước

tư sản dân chủ nhất, quần chúng bị áp bức đều luôn vấp phải các mâu thuẫn hiểnnhiên giữa quyền bình đẳng hình thức do “chế độ dân chủ” của bọn tư bản ban

bố với hàng nghìn hạn chế và mánh khóe dối trá thực sự, đang biến những người

vô sản thành nô lệ làm thuê” [ 9, tr 36] Sự hạn chế và tính chất mị dân của dânchủ tư sản thể hiện như thế nào? Dưới chế độ dân chủ tư sản cùng với sự tha hóacủa con người là sự tha hóa về quyền lực, đặc biệt là quyền lực chính trị Đúng

Trang 15

như nhận xét của C.Mác về chế độ dân chủ tư sản rằng bầu cử trong chủ nghĩa

tư bản là sự “tự do” của nhân dân lựa chọn những người thống trị mình Trongtác phẩm Nhà nước và cách mạng, Lênin có nhận xét tinh tế về bản chất chế độdân chủ tư sản: “Chế độ đại nghị tư sản là chế độ kết hợp chế độ dân chủ (khôngphải cho nhân dân) với chế độ quan liêu (chống nhân dân)” [8, tr.135]

Cơ sở bảo vệ lợi ích của nền dân chủ tư sản là bảo vệ, bênh vực và tạomọi cơ hội cho giai cấp tư sản ngày càng giàu có Điều đó được thể hiện tậptrung trong các quy định pháp luật của Nhà nước tư sản Chẳng hạn, các quyđịnh về kiểm soát tài sản, nơi cư trú, quy định về vận động tài chính cho cáccuộc bầu cử v.v Nhà nước tư sản luôn luôn đề cao chức năng chính trị (thốngtrị giai cấp) khi hình thành bất kỳ một quy định pháp luật nào để thực thi trong

xã hội Trong xã hội tư bản, mâu thuẫn giữa tính chất giai cấp của giai cấp tưsản cầm quyền với tính nhân dân (tính vô sản) của dân chủ càng trở nên gay gắt

Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến cách mạng vô sản để giải quyếtmâu thuẫn trên bằng việc thiết lập chế độ dân chủ XHCN Trong tác phẩm

“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Giai cấp

vô sản mỗi nước trước hết phải tự giành lấy chính quyền, phải tự mình vươn lênthành giai cấp dân tộc” [14, tr 623-624], phải giành lấy dân chủ với ý nghĩa trựctiếp là giành lấy quyền lực Nhà nước (quyền làm chủ về chính trị), thiết lập Nhànước dân chủ vô sản, chế độ dân chủ vô sản Đó là “chế độ sẽ thi hành ngay lậptức những biện pháp để chặt tận gốc chế độ quan liêu và sẽ có thể thi hànhnhững biện pháp ấy tới cùng, tới chỗ hoàn toàn phá hủy chế độ quan liêu, tớichỗ hoàn toàn xây dựng một chế độ dân chủ cho nhân dân” [8, tr 135] Với ýnghĩa đó, chế độ dân chủ vô sản, chế độ dân chủ XHCN đóng vai trò to lớntrong các cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người, trởthành mục tiêu và động lực của cuộc cách mạng vô sản

Chế độ dân chủ XHCN là chế độ chính trị mà ở đó những giá trị dân

Trang 16

chủ, quyền lực của nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật, thành nhữngnguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, thành nguyên tắc mụctiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội, các giá trị và chuẩn mực dân chủ chi phốihoạt động của mọi lĩnh vực xã hội Sự thống nhất giữa dân chủ về chính trị -pháp lý và dân chủ với tư cách là khát vọng, là quyền tự nhiên của con người,trong đó có quyền sử dụng tất cả sức mạnh để thực hiện vai trò của người chủ vàquyền làm chủ đã lần lượt được nhiều giai cấp thống trị trong lịch sử nhận thức

và thể chế hóa thành nguyên tắc tổ chức và vận hành của Nhà nước cùng cácthiết chế chính trị khác nhau Tuy nhiên, trong các chế độ dân chủ đã từng tồntại cho đến nay thì chỉ có chế độ dân chủ XHCN mới thực sự là chế độ dân chủcủa đa số nhân dân trong xã hội, là chế độ dân chủ của dân, do dân và vì dân

1.1.2 Dân chủ cơ sở

Chủ nghĩa xã hội xác định mục tiêu xây dựng một nền dân chủ XHCN

“cao gấp triệu lần dân chủ tư sản” (V.I Lênin) Đó là một nền dân chủ toàn diện

và triệt để trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội; tạo điềukiện cho mọi thành viên trong xã hội làm chủ bản thân, làm chủ xã hội và làmchủ tự nhiên Đó là nhiệm vụ mà CNXH phải phấn đấu lâu dài mới thực hiệnđược Trong chế độ dân chủ XHCN, nhân dân thực hiện quyền làm chủ củamình vừa bằng hình thức gián tiếp thông qua bầu cử các cơ quan, tổ chức đạidiện thực hiện quyền tổ chức và quản lý xã hội; vừa bằng hình thức trực tiếp,bảo đảm cho nhân dân có quyền tham gia quản lý xã hội một cách thiết thực vàhiệu quả, trước hết là ở cơ sở theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dânkiểm tra Sức sống của nền dân chủ XHCN do Đảng cộng sản lãnh đạo dựa trên

cơ sở thực hiện tốt và kết hợp chặt chẽ hai hình thức dân chủ nói trên, từ đóđộng viên sức mạnh của toàn dân tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế - xãhội và bảo vệ tổ quốc Theo Lênin: “Không phải chỉ tuyên truyền về dân chủ,tuyên bố sắc lệnh về dân chủ là đủ, không phải chỉ giao trách nhiệm thực hiện

Trang 17

chế độ dân chủ cho “những người đại diện” nhân dân trong những cơ quan đại

diện là đủ Cần xây dựng ngay chế độ dân chủ bắt đầu từ cơ sở, dựa vào sáng

kiến của bản thân quần chúng, với sự tham gia thật sự của quần chúng vào tất cảđời sống của nhà nước, không có “sự giám sát” từ trên, không có quan lại” [ 10,

sự phát triển ấy, đem thử nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn v.v , đó làmột trong những nhiệm vụ cấu thành của cuộc đấu tranh cách mạng xã hội” [8,tr.97] và thể hiện một cách ưu việt nhất quyền lực của nhân dân trong việc quản

Trang 18

lực lượng của mỗi một người dân phải làm cho dân hiểu được quyền lợi vànghĩa vụ của mình trong vị thế của người làm chủ Theo Hồ Chí Minh, “chế độ

ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do Tự do là thế nào? Đối với mọivấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý Đó làmột quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người” [20, tr 216] Vì vậy,Người yêu cầu: “Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinhnghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địaphương” [17, tr 698-699]

Khi dân được biết, được hiểu, được bàn bạc xây dựng kế hoạch của địaphương, cơ sở mình, họ sẽ dùng chính sức lao động của họ và những việc làm

cụ thể một cách tự giác Khi thi hành một công việc xong, theo Hồ Chí Minh,việc kiểm tra rút kinh nghiệm là vô cùng quan trọng và cần thiết giúp chúng tathực hiện tốt những công việc khác Dân kiểm tra cán bộ, cán bộ kiểm tra dân,dân và cán bộ cùng kiểm tra mọi hoạt động “Lề lối làm việc phải dân chủ Cấptrên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới Cấp dưới phải phê bình cấp trên” [19,

tr 9]; “nhất là phê bình từ dưới lên” [20, tr 157] Dân kiểm tra là một nội dungquyền dân chủ của nhân dân về xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các đoànthể nhân dân thật sự vững mạnh, trong sạch; bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp phápcủa nhân dân Việc đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu, cậy thế tráiphép v.v chỉ có thể thực hiện có hiệu quả nếu thật sự dựa vào sự kiểm tra,giám sát của quần chúng nhân dân

Nền dân chủ XHCN ở nước ta được khẳng định trong đường lối củaĐảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Hệ thống chính quyền ở nước ta gồm

4 cấp: trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc), huyện (thị, quận) và xã (phường)đều vận hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc cơ bản của nền dânchủ XHCN Hiệu quả của dân chủ thể hiện trực tiếp đến nhân dân là ở cấp cơ sở,

là cấp chính quyền cuối cùng trong hệ thống chính quyền nhà nước, các pháp

Trang 19

nhân công quyền, các pháp nhân kinh tế, bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu

… Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước có đi vào cuộc sống haykhông tùy thuộc chủ yếu vào sự quán triệt và thực hiện như thế nào ở cấp cơ sở

Cơ sở xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp v.v là nơi trực tiếp thực hiện đườnglối chính sách của Đảng và Nhà nước; là địa bàn nhân dân sinh sống, lao động,sản xuất, học tập và công tác; là nơi diễn ra các mối quan hệ nhiều mặt giữa cáctầng lớp nhân dân với các cấp ủy Đảng và chính quyền, cán bộ, đảng viên, côngchức điều hành và xử lý công việc hàng ngày Nhân dân đòi hỏi được biết, đượcbàn và được tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra ở cơ sở, đồng thời có yêucầu kiểm tra, giám sát hoạt động hàng ngày của cấp ủy, chính quyền và cán bộlãnh đạo Điều đó có nghĩa là nhân dân có quyền làm chủ từ cơ sở và ở cơ sở

Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là thể hiện tưtưởng về dân chủ cơ sở của Chủ tịch Hồ Chí Minh Từ Đại hội VI, Đảng ta đãchủ trương thực hiện có nề nếp phương châm này và chủ trương đó ngày càngđược thực tế kiểm nghiệm tính cần thiết khách quan của nó Để quá trình dânchủ hóa thực sự đi vào cuộc sống cần cụ thể hóa phương châm này, Nghị quyếtHội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (tháng 6/1997)khẳng định khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủcủa nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cáchtrực tiếp và rộng rãi nhất Theo tinh thần Nghị quyết đó, Bộ Chính trị đã ra Chỉthị 30-CT/TW tháng 2/1998 và Chính phủ đã ban hành Quy chế dân chủ ở xã,phường, thị trấn, cơ quan và doanh nghiệp nhà nước Đó là những văn bản cótính chính trị và pháp lý làm cơ sở để mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở xây dựng

và thực hành dân chủ - làm chủ

Dân chủ ở cơ sở là quyền dân chủ trực tiếp của người dân, được tiến hành từ cấp xã, phường trở xuống (đến cấp thôn xóm, đơn vị, cơ quan, nhà máy,

Trang 20

xí nghiệp) theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra Dân chủ

ở cơ sở, trước hết là dân chủ trực tiếp, là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách trực tiếp thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền ở cơ sở Có nhiều cách thức

để thực hiện dân chủ trực tiếp ở cơ sở như: trưng cầu dân ý; bầu và bãi miễn đại biểu cơ quan dân cử; bàn bạc, thảo luận, tham gia quyết định, Giám sát, kiểm tra việc thực hiện các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội, trật tự an ninh ở

cơ sở; tố cáo, khiếu nại; xây dựng quy định, quy chế tự quản v.v và cơ sở ở đây là xã, phường; là cơ quan, đơn vị, trong đó có trường học, trường THPT.

Nội dung Quy chế dân chủ cơ sở của Đảng, Chính phủ:

Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: Nội dung Quy chế dân chủ ở cơ sở cần

chú trọng làm rõ những vấn đề sau:

+ Quy định quyền của mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và lợi ích hàng ngày của nhân dân tại cơ sở; có chế độ và hình thức báo cáo công khai trước dân công việc của chính quyền, cơ quan, đơn

vị về sản xuất và phân phối, về việc sử dụng công quỹ, tài sản công, về thu, chi tài chính, các khoản đóng góp của dân, quyết toán các công trình xây dựng cơ bản, chế độ thu và sử dụng học phí, viện phí

+ Có quy chế và các hình thức để nhân dân, cán bộ, công chức ở cơ sở được bàn bạc và tham gia ý kiến vào các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ công tác chuyên môn, công tác cán bộ của chính quyền, cơ quan, đơn vị; kết quả ý

kiến đóng góp phải được xem xét, cân nhắc khi chính quyền hoặc thủ trưởng raquyết định

+ Có quy định về việc để nhân dân bàn và quyết định dân chủ đối với những loại việc liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân trên địa bàn (như

Trang 21

chủ trương huy động sức dân để xây dựng kết cấu hạ tầng và các công trình phúc lợi, các khoản đóng góp và lập các loại quỹ trong khuôn khổ pháp luật ); chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện theo ý kiến của đa số nhân dân, có sự giám sát, kiểm tra của nhân dân.

+ Hoàn thiện cơ chế để nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức ở cơ sởtrực tiếp và thông qua Mặt trận, các đoàn thể, Ban thanh tra nhân dân kiểm tra,giám sát hoạt động của chính quyền, thủ trưởng cơ quan, đơn vị; kết quả thanhtra, kiểm tra, giám sát của nhân dân phải được tiếp thu nghiêm túc

+ Mở rộng các hình thức tổ chức tự quản để nhân dân, công nhân, cán

bộ, công chức tự bàn bạc và thực hiện trong khuôn khổ pháp luật những côngviệc mang tính xã hội hoá, có sự hỗ trợ của chính quyền, cơ quan, đơn vị (nhưviệc xây dựng hương ước, quy ước làng văn hoá, xây dựng tổ hòa giải, tổ anninh, phong trào vệ sinh - môi trường, đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ người nghèo,v.v.)

+ Xác định rõ trách nhiệm và tổ chức tốt việc tiếp dân, giải quyết khiếunại tố cáo và trả lời thắc mắc của nhân dân, công nhân, công chức ở cơ sở, chínhquyền, cơ quan, đơn vị mình, nghiêm cấm mọi hành vi trù dập người khiếu nại,

tố cáo

+ Xác định trách nhiệm của tổ chức chính quyền, thủ trưởng cơ quan,đơn vị cơ sở định kỳ (ba tháng, sáu tháng, một năm) báo cáo công việc trước dân,phải tự phê bình và tổ chức để nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức ở cơ sởgóp ý kiến, đánh giá, phê bình; nghiêm túc tiếp thu những ý kiến đóng góp đó

Ngày 09 tháng 01 năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định04/2015/NĐ-CP về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chínhnhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, thay thế Nghị định số 71/1998/NĐ-CPngày 08 tháng 9 năm 1998 Nghị định quy định thực hiện dân chủ trong hoạt

Trang 22

động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:dân chủ trong nội bộ cơ quan, đơn vị; dân chủ trong quan hệ và giải quyết côngviệc với công dân, cơ quan, tổ chức có liên quan Dân chủ trong nội bộ cơ quan,đơn vị bao gồm: trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và của cán bộ,công chức, viên chức trong việc thực hiện dân chủ trong hoạt động nội bộ của cơquan, đơn vị; những việc phải công khai để cán bộ, công chức, viên chức biết;những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến, người đứng đầu cơquan quyết định; những việc cán bộ, công chức, viên chức giám sát, kiểm tra.Dân chủ trong quan hệ và giải quyết công việc với công dân, cơ quan tổ chức cóliên quan bao gồm: trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan đơn vị và của cán

bộ, công chức, viên chức trong quan hệ và giải quyết công việc với công dân, cơquan, tổ chức có liên quan; quan hệ giữa người đứng đầu cơ quan, đơn vị với cơquan cấp trên và với cơ quan cấp dưới

1.1.3 Dân chủ trường học

Tiếp thu và vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh

ý thức rằng, “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và “Dốt nát cũng là kẻ địch”.Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Người đã lo ngay đến việc “giáo dụclại nhân dân”, nhiệm vụ diệt giặc đói và giặc dốt gắn liền với nhau Vì vậy, “vìlợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”[21, tr 222] Người xác định trường học là nơi đào tạo những người chủ tươnglai của đất nước, những công dân có ích cho nước Việt Nam Do đó, trường họccủa chúng ta khác hẳn với trường học của thực dân và phong kiến Người nói:

“Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm

mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốtcủa nước nhà Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường họccủa thực dân và phong kiến” [20, tr 80]

Chính vì trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân

Trang 23

dân nên cần phải thực hiện dân chủ, bình đẳng trong giáo dục Chủ tịch Hồ ChíMinh dạy: “Trong trường học cần phải có dân chủ Đối với mọi vấn đề, thầy vàtrò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu Điều gì chưathông suốt, thì hỏi, thì bàn cho thông suốt Dân chủ nhưng trò phải kính thầy,thầy phải quý trò, chứ không phải là “cá đối bằng đầu” Đồng thời, thầy và tròcần giúp đỡ những anh em phục vụ cho nhà trường Các anh chị em nhân viênthì nên thi đua để cho cơm lành canh ngọt, để học sinh ăn no, học tốt” ” [19, tr.456] Quan điểm về dân chủ trong trường học của Chủ tịch Hồ Chí Minh đượcthể hiện đầy đủ qua các mối quan hệ trong nhà trường, mối quan hệ giữa nhàtrường với nhân dân ,“Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Cần phải phát huyđầy đủ dân chủ XHCN, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữathầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữanhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó” [22, tr 403] Báckhẳng định, để thực hiện dân chủ cần quan niệm giáo dục không bó hẹp trongnhà trường mà giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, ngoài ra cần có sựgiáo dục trong gia đình, ngoài xã hội để giúp cho việc giáo dục trong nhà trườngđược tốt hơn Ngày 31/10/1955, khi miền Bắc mới được giải phóng, Hồ ChíMinh viết: “Tôi cũng mong các gia đình liên lạc chặt chẽ với nhà trường, giúpnhà trường giáo dục và khuyến khích con em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lànhmạnh và hăng hái giúp ích nhân dân” [20, tr 81].

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp giáo dục mà chúng ta xây dựng làmột bộ phận cấu thành quan trọng của công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta Sựnghiệp giáo dục này có nhiệm vụ đào tạo ra các thế hệ công dân trung thành với

sự nghiệp cách mạng, có đầy đủ năng lực và bản lĩnh vượt qua mọi thách thứccủa thời đại, đưa đất nước tiến lên đuổi kịp trào lưu phát triển tiến bộ chung củakhu vực và quốc tế Bản chất của nền giáo dục nước ta từ sau Cách mạng thángTám năm 1945 đến nay là nền giáo dục XHCN Nền giáo dục này luôn gắn bó

Trang 24

với những nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn lịch

sử nhất định Mục đích chung của nền giáo dục ở nước ta là phấn đấu xây dựngnền giáo dục thực sự của dân, do dân và vì dân Nền giáo dục này hướng tới xóa

bỏ mọi sự bất bình đẳng về giai cấp, dân tộc và xã hội, phát huy mọi tiềm năngvăn hóa của nhân dân Đảng và Nhà nước ta xây dựng và phát triển hệ thốnggiáo dục quốc dân theo hướng mục tiêu của từng cấp học gắn với quá trình dânchủ hóa giáo dục, tạo cơ hội để các cá nhân và cộng đồng có điều kiện học tập

và phát triển năng lực của mình

Quá trình dân chủ hóa giáo dục được thể hiện trong toàn bộ hệ thốnggiáo dục, cho đến từng cơ sở trường học Trong trường học, dân chủ được thểhiện ở quyền và nghĩa vụ của CB-GV-NV đối với việc thực hiện nhiệm vụ chínhtrị của nhà trường CB-GV-NV trong nhà trường phát huy quyền làm chủ củamình theo phương châm: được biết, được bàn, được tham gia ý kiến, được giámsát kiểm tra mọi mặt hoạt động của nhà trường Dân chủ gắn với kỷ cương, việcthực hiện dân chủ nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc, sự lãnh đạo và quản lýcủa Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển giáo dục Trong trường học,việc thực hiện dân chủ của CB-GV-NV, của người học trên cơ sở sự lãnh đạocủa chi bộ, sự quản lý của BGH Các đoàn thể, tổ chức trong nhà trường có vaitrò to lớn trong việc tham gia, việc thực hiện dân chủ ở trường học

Cũng như các Quy chế dân chủ ở các cơ sở khác, Quy chế thực hiện dânchủ trong hoạt động của nhà trường là loại văn bản quy phạm pháp luật do cơquan nhà nước ban hành, có hiệu lực bắt buộc ở cơ sở các nhà trường, là công cụchỉ dẫn, đồng thời là cơ sở pháp lý để giám sát, kiểm tra đối với những ngườithuộc quyền Thực hiện dân chủ chính là sự tập hợp trí tuệ của đội ngũ cán bộ,giáo viên, người học để thống nhất trong hoạt động, nâng cao chất lượng giáodục

Thực hiện dân chủ trong nhà trường nhằm thực hiện tốt nhất, có hiệu quả

Trang 25

nhất những điều Luật Giáo dục quy định theo phương châm “dân biết, dân bàn,dân làm, dân kiểm tra" trong các hoạt động của nhà trường thông qua các hìnhthức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện; đảm bảo cho công dân, cơ quan, tổ chứcđược quyền giám sát, kiểm tra, đóng góp ý kiến tham gia xây dựng sự nghiệpgiáo dục, làm cho sự nghiệp giáo dục thực sự là của dân, do dân và vì dân

Thực hiện dân chủ trong nhà trường còn nhằm phát huy quyền làm chủ

và huy động tiềm năng trí tuệ của hiệu trưởng, nhà giáo, người học, đội ngũ cán

bộ, công chức trong nhà trường nhà trường theo luật định, góp phần xây dựng nềnếp, trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động của nhà trường, ngăn chặn các hiệntượng tiêu cực và tệ nạn xã hội, thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phù hợpvới đường lối, chủ trương của Đảng và luật pháp của Nhà nước

Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trường học luôn có nhiều thuận lợi.Đội ngũ cán bộ, giáo viên hầu hết đều là những người luôn tận tâm với côngviệc, có ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức và đạo đức nghề nghiệp tốt, có tinhthần trách nhiệm, sáng tạo trong công tác quản lý và giảng dạy, luôn chấp hànhnghiêm túc đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước

Như vậy, dân chủ ở cơ sở trong trường học là việc thực hiện một cách trực tiếp quyền làm chủ của CB-GV-NV, thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của học sinh và phụ huynh học sinh trong việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục Dân chủ, thực hành dân chủ cụ thể ở cơ sở trong trường học là yêu cầu khách quan và ngày càng bức thiết đối với các tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể trong nhà trường nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy và học, xây dựng nền giáo dục thực sự của dân, do dân và vì dân.

1.2 Nội dung, yêu cầu và hình thức thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong trường trung học phổ thông

1.2.1 Nội dung

Trang 26

Quy chế dân chủ trong trường THPT thường bao gồm những nội dung sau:

- Những quy định chung

- Mục đích việc thực hiện dân chủ trong nhà trường:

+ Thực hiện dân chủ trong nhà trường nhằm phát huy tốt nhất, có hiệu quảnhất quyền làm chủ của cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, các tổ chức, đoànthể trong nhà trường, Ban đại diện cha mẹ học sinh thông qua các hình thức dânchủ trực tiếp, dân chủ đại diện, theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm,dân kiểm tra”, đảm bảo quyền giám sát, đóng góp ý kiến xây dựng và thực hiệntrách nhiệm đối với sự nghiệp giáo dục của nhà trường

+ Thực hiện dân chủ trong nhà trường nhằm phát huy quyền làm chủ vàhuy động trí tuệ của hiệu trưởng, nhà giáo, học sinh trong việc thực hiện Điều lệnhà trường, xây dựng kỷ cương, nền nếp trong mọi hoạt động của nhà trường;phòng, chống, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội; thực hiệnnhiệm vụ phát triển giáo dục phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng vàpháp luật của Nhà nước

+ Phát huy tinh thần phê bình, tự phê bình thẳng thắn, chân tình, xây dựnghướng tới một tập thể sư phạm trong sạch vững mạnh

- Nguyên tắc thực hiện dân chủ trong nhà trường:

+ Phát huy dân chủ phải đảm bảo có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam, theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện đúng trách nhiệm của hiệutrưởng và phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể: Công đoàn, Đoàn thanhniên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên Hiệp thanh niên Việt Nam, Ban đại diệncha mẹ học sinh trong nhà trường

+ Thực hiện dân chủ trong nhà trường phải phù hợp với Hiến pháp và phápluật; quyền phải đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm; dân chủ phải tôn trọng kỷluật, kỷ cương, nền nếp trong nhà trường, không đựơc có những hành vi lợi

Trang 27

dụng dân chủ, xâm phạm quyền tự do dân chủ làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạtđộng của nhà trường.

- Quy chế dân chủ được thực hiện trong các hoạt động của một nhà trường

cụ thể

Thực hiện dân chủ trong nội bộ nhà trường gồm:

- Trách nhiệm của hiệu trưởng:

+ Quản lý, điều hành mọi hoạt động của nhà trường, chịu trách nhiệm trướcpháp luật và cấp trên về toàn bộ hoạt động của nhà trường

+ Tổ chức thực hiện những quy định về trách nhiệm của cán bộ, nhà giáo,nhân viên, học sinh trong quy chế

+ Triển khai đầy đủ, kịp thời những chủ trương, chính sách, luật pháp củaĐảng và Nhà nước, quy chế, quy định của ngành, kế hoạch thực hiện nhiệm vụchính trị của đơn vị, tiêu chuẩn thi đua, phong trào thi đua để đội ngũ trong đơn

vị quán triệt, chấp hành, thực hiện tốt

+ Lắng nghe và tiếp thu ý kiến của cá nhân, tổ chức đoàn thể trong nhàtrường để có quyết định quản lý phù hợp Giải quyết đúng các chế độ, chínhsách hiện hành của Nhà nước, quy chế, nội quy, điều lệ nhà trường và phù hợpvới thẩm quyền, trách nhiệm đựơc giao của hiệu trưởng

+ Thực hiện chế độ hội họp theo đúng định kì Các cuộc họp, hội nghị phải

có kết luận hoặc nghị quyết để làm cơ sở chỉ đạo thực hiện

+ Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về: kế hoạch năm học, kế hoạchhoạt động chuyên môn, nội quy nhà trường; sử dụng tài chính, tài sản; xây dựng

cơ bản; chế độ, chính sách; về đào tạo, bồi dưỡng; đánh giá cán bộ, giáo viên,nhân viên hàng năm

+ Gương mẫu, tạo sự đồng thuận đoàn kết nội bộ, đấu tranh chống những

Trang 28

biểu hiện cửa quyền, sách nhiễu, thành kiến, trù dập, báo cáo sai sự thật, thamnhũng, lãng phí.

+ Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lí nhà trường;phối hợp chặt chẽ với các tổ chức, đoàn thể, các cá nhân, phát huy dân chủ trong

tổ chức và hoạt động của nhà trường; bảo vệ và giữ gìn uy tín của nhà trường.+ Hướng dẫn, đôn đốc, tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của cấpdưới trong việc thực hiện dân chủ

+ Thực hiện kiểm tra, giám sát định kì, sơ kết, tổng kết kịp thời; chấn chỉnhnhững tồn tại, thiếu sót; đồng thời biểu dương những cá nhân, tập thể thực hiệntốt

+ Phát huy vai trò giám sát của các tổ chức đoàn thể, ban thanh tra nhândân

+ Kết hợp với chi ủy thực hiện nghị quyết của chi bộ và kết hợp chặt chẽvới các tổ chức, đoàn thể của nhà trường trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyênmôn; đồng thời tạo điều kiện cho giáo viên, học sinh tham gia đối thoại với nhàtrường định kì 6 tháng/lần

- Những việc hiệu trưởng phải lấy ý kiến tham gia đóng góp xây dựng củacác cá nhân, các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường trước khi quyết định:

+ Kế hoạch phát triển của nhà trường, kế hoạch năm học, tuyển sinh, dạyhọc, nghiên cứu khoa học

+ Kế hoạch đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, tăng cường, tuyển dụng; đàotạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, giáo viên, nhân viên.+ Biện pháp tổ chức phong trào thi đua, khen thưởng hằng năm, lề lối làmviệc, nội quy nhà trường

+ Kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường, các hoạt động dịch vụ

Trang 29

của nhà trường (nếu có).

+ Báo cáo sơ kết, tổng kết năm học hàng năm

- Trách nhiệm của giáo viên, nhân viên:

+ Thực hiện đầy đủ trách nhiệm và quyền hạn của nhà giáo theo quy địnhcủa Luật Giáo dục và Điều lệ nhà trường

+ Tham dự hội họp đầy đủ, tích cực đóng góp ý kiến xây dựng nhà trường+ Kiên quyết đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực trong thi cử, bèphái, mất đoàn kết, cửa quyền, sách nhiễu; vi phạm quy định về dạy thêm;những hành vi trái pháp luật Thực hiện phòng, chống tham nhũng, thực hànhtiết kiệm, chống lãng phí

+ Rèn luyện đạo đức, lối sống của nhà giáo theo tiêu chí đạo đức, lối sốngcủa ngành GD&ĐT quy định; tích cực hưởng ứng, thực hiện việc “Học tập vàlàm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, các phong trào và các cuộc vậnđộng của ngành

+ Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng đồng nghiệp,học sinh, bảo vệ uy tín của nhà trường

- Những việc giáo viên, nhân viên đựơc biết, tham gia ý kiến, giám sátthông qua hình thức dân chủ trực tiếp, hoặc thông qua các tổ chức, đoàn thểtrong nhà trường:

+ Chủ trương, chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với cán bộ,công chức, viên chức, việc sử dụng tài sản, xây dựng cơ sở vật chất của nhàtrường

+ Việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của hiệu trưởng;việc công khai các khoản đóng góp của học sinh, việc sử dụng kinh phí và chấphành thực hiện việc thu, chi, quyết toán theo quy định hiện hành, giải quyết các

Trang 30

chế độ, chính sách, quyền lợi vật chất và tinh thần cho cán bộ, giáo viên, nhânviên, và học sinh.

+ Thi nâng ngạch công chức, nâng bậc lương, thuyên chuyển, đề bạt, bổnhiệm, luân chuyển, điều động tăng cường, tinh giản biên chế, khen thưởng, kỷluật trong nhà trường

+ Việc xét tuyển sinh vào lớp 10, thực hiện quy chế thi, giải quyết cho họcsinh chuyển trường, điều chỉnh hồ sơ học tập của học sinh

+ Báo cáo sơ kết, tổng kết năm học, nhận xét, đánh giá cán bộ, giáo viên,nhân viên hàng năm

- Những việc học sinh được biết và tham gia ý kiến:

+ Chủ trương, chế độ, chính sách của nhà nước, của ngành và những nộiquy, quy định của nhà trường đối với học sinh

+ Kế hoạch tuyển sinh của nhà trường

+ Những thông tin có liên quan đến học tập, rèn luyện, sinh hoạt và cáckhoản đóng góp theo quy định

+ Kế hoạch phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

- Những việc học sinh đựơc tham gia ý kiến:

+ Nội quy, quy định của nhà trường có liên quan đến học sinh

+ Các phong trào thi đua và các hoạt động khác có liên quan đến học sinh.+ Việc tổ chức giảng dạy, học tập trong nhà trường có liên quan đến quyềnlợi học tập của học sinh, việc xử lý, giải quyết thắc mắc của học sinh

- Trách nhiệm của học sinh:

+ Chấp hành điều lệ, nội quy, thực hiện những quy định của nhà trườngnghiêm túc, tôn trọng thầy cô giáo, có ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết giúp đỡ

Trang 31

lẫn nhau Không vi phạm pháp luật.

+ Tích cực tham gia phong trào thi đua, các hoạt động của nhà trường vàcác tổ chức đoàn thể phát động; đồng thời tham gia đóng góp ý kiến xây dựngcho nhà trường ngày càng phát triển

- Trách nhiệm của Ban đại diện cha mẹ học sinh và của cha mẹ, người giám

hộ học sinh trong nhà trường:

+ Tổ chức thu thập ý kiến đóng góp của các bậc cha mẹ học sinh, ngườigiám hộ của học sinh để cùng nhà trường giải quyết các vấn đề có liên quan đếnhọc sinh

+ Triển khai đến các bậc cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ của học sinhcác chủ trương, chế độ, chính sách mà học sinh được hưởng hoặc nghĩa vụ phảiđóng góp theo quy định

+ Vận động các bậc cha mẹ học sinh thực hiện các hoạt động xã hội hoágiáo dục của nhà trường

+ Đóng góp ý kiến về tính mô phạm của nhà giáo; biện pháp giáo dục củanhà trường; việc dạy thêm học thêm; nội quy học sinh; thời lượng học tập, sinhhoạt của học sinh

+ Ký thỏa ước với nhà trường trong việc giáo dục con em mình; quan tâmtác động tích cực nhằm hỗ trợ nhà trường trong công tác giáo dục học sinh

- Trách nhiệm của nhà trường:

+ Phổ biến ngay từ đầu năm học các kế hoạch và những nội dung liên quanđến trách nhiệm của cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh trong nhà trường.+ Thông báo công khai những quy định về tuyển sinh, nội quy, quy chế họctập, kết quả kiểm tra, đánh giá xếp loại, khen thưởng kỷ luật

+ Định kì tổ chức hội nghị cha mẹ học sinh tối thiểu 3 lần trong năm học

Trang 32

+ Giáo viên chủ nhiệm lớp là người đại diện cho nhà trường tổ chức cáchoạt động thực hiện dân chủ ở lớp mình phụ trách, thường xuyên tiếp thu, tổnghợp ý kiến cha mẹ học sinh phản ánh cho hiệu trưởng để xử lý và giải quyết kịpthời những vấn đề vượt thẩm quyền giải quyết của giáo viên.

+ Kịp thời thông báo những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhànước đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh trong nhà trường

+ Mời thường trực Ban đại diện cha mẹ học sinh, phụ huynh học sinh tham

dự khi xử lý kỉ luật sai phạm của học sinh

+ Đặt hòm thư góp ý hoặc các hình thức góp ý khác để cá nhân, tổ chức,đoàn thể trong nhà trường có điều kiện thuận lợi trong việc đóng góp ý kiến.Ban thanh tra nhân dân trường học hàng tuần tổng hợp ý kiến, báo cáo với BGH

- Trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường:

+ Thực hiện Nghị quyết của chi bộ nhà trường và kế hoạch của hiệu trưởng.+ Phối hợp chặt chẽ với hiệu trưởng nhà trường trong việc tổ chức, thựchiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường

+ Nâng cao chất lượng sinh hoạt của đoàn thể, các tổ chức, dân chủ bàn bạccác chủ trương, biện pháp thực hiện các nhiệm vụ của nhà trường

+ Ban thanh tra nhân dân của nhà trường có trách nhiệm thực hiện chứcnăng giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ, lắng nghe ý kiến của quần chúng,phát hiện những vi phạm quy chế dân chủ trong nhà trường để đề nghị hiệutrưởng giải quyết

- Quan hệ giữa nhà trường với các cơ quan quản lý cấp trên, chính quyền,các ban, ngành, đoàn thể địa phương

+ Phục tùng sự chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên, thực hiện chế độ báocáo định kì đúng quy định, kịp thời và nghiêm túc

Trang 33

+ Kịp thời phản ánh những vướng mắc, khó khăn của nhà trường và kiếnnghị những biện pháp khắc phục để cấp trên xem xét giải quyết.

+ Phản ánh những vấn đề chưa rõ trong việc quản lý chỉ đạo của cấp trên,góp ý phê bình đối với cơ quan quản lý cấp trên bằng văn bản hoặc thông quađại diện Trong khi ý kiến phản ánh lên cấp trên chưa đựơc giải quyết thì nhàtrường phải nghiêm túc chấp hành và thực hiện sự chỉ đạo của cấp trên

+ Tham mưu, đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ với cơ quan, chính quyền địaphương để phối hợp giải quyết những công việc có liên quan đến công tác giáodục trong nhà trường và chăm lo quyền lợi học tập của học sinh

+ Thường xuyên quan hệ chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể tại địaphương để hỗ trợ nhà trường trong công tác bảo vệ an ninh trật tự trong trườnghọc, giáo dục sức khoẻ, giới tính, chăm lo giáo dục đạo đức, chất lượng học tậpcủa học sinh và trợ giúp cho những học sinh nghèo, hiếu học vượt qua khó khăn

có điều kiện học tập, góp phần đưa sự nghiệp giáo dục của nhà trường phát triển

1.2.2 Yêu cầu

Các văn bản thực hiện Quy chế dân chủ đã quy định rất cụ thể những điềudân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra để phát huy quyền làm chủ của nhândân Chính vì vậy Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ các trường THPTtrong quá trình thực hiện cần đảm bảo yêu cầu sau:

Thứ nhất, tổ chức tuyên truyền, phổ biến, học tập quán triệt đến cán bộđảng viên và toàn thể CB-GV-NV trong các cơ sở trường học các chỉ thị, nghị

quyết, quy chế, quy định của Đảng và Nhà nước về dân chủ ở cơ sở Trên cơ sở

nắm chắc những văn bản về thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở, mỗi CB-GV-NVtrong các nhà trường phát huy quyền làm chủ của mình

Thứ hai, BGH các trường học cần bảo đảm cho CB-GV-NV biết đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết để CB-GV-NV tham gia xây dựng, phát triển

Trang 34

nhà trường.

Bằng nhiều hình thức, BGH các cơ sở trường học mở rộng thông tin đểngười dạy và người học trong nhà trường biết đầy đủ, chính xác các vấn đềchính trong Quy chế Đây là những vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích vànghĩa vụ của người dạy và người học Nó phải được thông tin công khai, kịpthời để người dạy và người học biết và tự giải quyết Có như vậy, nhà trườngmới thực sự phát huy hết tài năng, trí sáng tạo của mọi thành viên trong nhàtrường

Thứ ba, CB-GV-NV và học sinh được công khai, dân chủ bàn bạc, quyết định trực tiếp những việc cần làm để thúc đẩy nhà trường phát triển.

Trên cơ sở hiểu biết các chủ trương, chính sách, pháp luật, CB-GV-NV

và học sinh nhà trường có quyền dân chủ bàn bạc quyết định những công việcthiết thực trong nhà trường như thực hiện chương trình đào tạo, cách quản lý củaBGH, sử dụng tài sản, tài chính; tuyển sinh, thi cử, đánh giá; cách đánh giá, thiđua, khen thưởng; việc dạy thêm học thêm; nếp sống văn hóa trong nhà trườngv.v

Huy động CB-GV-NV, học sinh trong nhà trường tham gia ý kiến xâydựng quy chế, nội quy, quy định trong nhà trường và cần theo những nguyên tắcsau:

Nguyên tắc 1: Không trái với chủ trương, chính sách có liên quan củaĐảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của Chính phủ

Nguyên tắc 2: Chọn chủ đề, xác định nội dung xây dựng quy chế, quyđịnh (những vấn đề chung mà nhà trường nào cũng phải có và những vấn đềriêng trong hoạt động của nội bộ nhà trường và trong quan hệ với phụ huynh,với địa phương)

Nguyên tắc 3: Đảm bảo đúng quy trình dân chủ, công khai, được

Trang 35

CB-GV-NV thảo luận, lãnh đạo nhà trường thông qua, ban hành Không cầu toàn, chờxong toàn bộ quy chế, quy định, quy ước để ban hành hàng loạt, chọn những nộidung bức xúc nhất, cần thiết nhất thì xây dựng trước và tổ chức thực hiện trước.Trong quá trình thực hiện phải điều chỉnh, bổ sung những điều chưa phù hợp.

Nguyên tắc 4: CB-GV-NV trong nhà trường trực tiếp kiểm tra, giám sát, thúc đẩy các hoạt động của nhà trường.

Không có sự kiểm tra nào hiệu quả hơn sự tự kiểm tra, giám sát củachính người dân tại cơ sở Quy chế dân chủ ở cơ sở quy định CB-GV-NV trongnhà trường được giám sát, kiểm tra những việc liên quan đến thực hiện chủtrương chính sách của Đảng, Nhà nước và kế hoạch công tác năm học, nhữngviệc liên quan đến quyền và lợi ích của CB-GV-NV Sự kiểm tra, giám sát củaCB-GV-NV trong nhà trường sẽ góp phần khắc phục các hạn chế, yếu kém, mởrộng phát huy các kinh nghiệm tốt, các việc làm hay, tạo đà cho nhà trường pháttriển

1.2.3 Hình thức thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong trường trung học phổ thông

Trên cơ sở những văn bản hướng dẫn xây dựng và thực hiện Quy chế dânchủ ở cơ sở, ngành GD&ĐT thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ từ

Sở GD&ĐT đến các cơ sở trường học Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủgồm: Đại diện cấp ủy, BGH, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Ban thanh tra nhândân, tổ trưởng chuyên môn, tổ trưởng văn phòng, do đồng chí bí thư cấp ủy hoặclãnh đạo nhà trường làm trưởng ban

Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ngành GD&ĐT xây dựng kếhoạch thực hiện Quy chế dân chủ, đồng thời hướng dẫn thực hiện đến các phònggiáo dục huyện, thành phố, thị xã và đến các cơ sở trường học

Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ tại các cơ sở trường học xây

Trang 36

dựng kế hoạch thực hiện tại cơ sở mình, triển khai qua 2 hình thức cơ bản là dânchủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp

Dân chủ trực tiếp được thực hiện bằng mối quan hệ trực tiếp giữa hiệutrưởng nhà trường và CB-GV-NV; giữa hiệu trưởng và học sinh Hiệu trưởngnhà trường có thể phổ biến đến CB-GV-NV những vấn đề cần và phải được biết,được bàn, được làm, được kiểm tra một cách trực tiếp Ngược lại CB-GV-NVtrực tiếp đề đạt nguyện vọng chính đáng liên quan tới quyền lợi của mình đếnhiệu trưởng, đóng góp ý kiến vào kế hoạch hoạt động của nhà trường, về lề lốilàm việc, về thi đua khen thưởng, … Đối với học sinh, trong trường hợp cầnthiết, có thể gặp trực tiếp hiệu trưởng nhà trường để đề xuất cách thức tổ chứccác phong trào thi đua, xây dựng nội quy học sinh, các hoạt động của nhàtrường, đáp ứng được nguyện vọng của học sinh; có ý kiến về việc tổ chức dạy

và học ở lớp, ở trường mà mình đang tham gia học tập

Dân chủ gián tiếp được thực hiện thông qua tổ chuyên môn, các đoàn thể,

tổ chức trong nhà trường Các đơn vị trong bộ máy quản lý của nhà trường như

tổ văn phòng, tài vụ, bảo vệ, thư viện, thí nghiệm thực hành, các tổ chuyên môn

và các đoàn thể, tổ chức trong nhà trường như: Chi bộ Đảng, Công đoàn, Đoànthanh niên v.v

Trong các trường THPT, số lượng trung bình CB-GV-NV trong mộttrường thường bình quân dưới 100, số lượng học sinh khoản 1.500 Vì vậy, việcthực hiện hình thức dân chủ trực tiếp rất thuận lợi Tuy nhiên, cần căn cứ vàotừng nội dung của Quy chế dân chủ trong trường học để sử dụng hình thức thựchiện dân chủ cho phù hợp

- Hình thức thông báo đối với những việc CB-GV-NV phải được biết:Niêm yết tại phòng Hội đồng trường; thông báo tại Hội nghị cán bộ, công chứcđầu năm học; thông báo bằng văn bản; thông báo cho các tổ trưởng chuyên môn

và yêu cầu họ thông báo đến CB-GV-CNV làm việc, sinh hoạt trong bộ phận đó;

Trang 37

thông báo bằng văn bản cho chi ủy, Ban chấp hành Công đoàn nhà trường.

- Hình thức lấy ý kiến đối với những việc CB-GV-NV được tham gia ýkiến: thông qua Hội nghị cán bộ, công chức nhà trường; trong các cuộc họp tổ

chuyên môn, CB-GV-NV có thể đề đạt trực tiếp ý kiến qua người đại diện của

mình Ý kiến của CB-GV-CNV được người phụ trách trực tiếp đề đạt với hiệutrưởng vào cuộc họp của BGH với các tổ trưởng chuyên môn Trong trường hợpCB-GV-NV thấy cần thiết phải đề đạt ý kiến của mình ngay thì trực tiếp gặphiệu trưởng để trình bày Đặt hòm thư góp ý để cá nhân, tổ chức, đoàn thể trongnhà trường đóng góp ý kiến

- Hình thức để thực hiện những việc CB-GV-NV được giám sát, kiểmtra: giám sát, kiểm tra thông qua Ban thanh tra nhân dân, Ban chấp hành Côngđoàn nhà trường; giám sát kiểm tra qua kiểm điểm công tác, phê bình và tự phêbình trong các cuộc sinh hoạt định kỳ của chi bộ, tổ chuyên môn

- Hình thức để học sinh thực hiện những việc học sinh được biết và đượctham gia ý kiến: Thông qua giáo viên chủ nhiệm, học sinh được biết, được thamgia ý kiến Hiệu trưởng nhà trường lấy ý kiến của học sinh thông qua đại diệnhọc sinh hoặc tất cả học sinh Khi cần thiết học sinh có thể đăng ký gặp trực tiếphiệu trưởng đề đạt ý kiến của mình Hiệu trưởng nhà trường có trách nhiệm lắngnghe và giải quyết ý kiến của học sinh bằng các hình thức khác nhau

1.3 Tầm quan trọng của việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong trường học

Việc đưa Quy chế dân chủ cơ sở vào nhà trường có vai trò rất quan trọng

Thứ nhất, thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong trường học sẽ nâng caonhận thức về quyền và nghĩa vụ của mỗi CB-GV-NV trong nhà trường

Không phải dễ dàng ai cũng hiểu rõ mình có quyền và nghĩa vụ gì đối vớitập thể Không xác định rõ quyền và nghĩa vụ của cá nhân đối với tập thể, cá

Trang 38

nhân sẽ thụ động, lệ thuộc vào tập thể; nhiều khả năng, tiềm năng của cá nhânkhông được phát huy; mỗi con người sẽ thu mình vào trong phạm vi cá nhânnhỏ hẹp Vì vậy, khi CB-GV-NV trong nhà trường ý thức được quyền làm chủcủa mình, tính tự nguyện, tự giác thực hiện nghĩa vụ được giao, ý thức vì nhàtrường, vì xã hội được nâng cao CB-GV-NV sẽ thẳng thắn phê bình, góp ý choBGH, cho chi bộ, cho đảng viên; thông cảm, thấu hiểu, chia sẽ được sự vất vảcủa lãnh đạo nhà trường và ngược lại Quy chế dân chủ cơ sở được thực hiện tốtthì không những hạn chế được tiêu cực mà còn khơi dậy được tính đoàn kết củatập thể sư phạm, tạo ra không khí phấn khởi, giúp CB-GV-NV trong nhà trườnghoàn thành tốt các nhiệm vụ năm học.

Thứ hai, thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong trường học sẽ phát huyđược quyền làm chủ của CB-GV-NV và của người học, thực hiện được quyền

làm chủ trực tiếp của người dạy và người học

Bằng những quy định cụ thể, người dạy và người học có ý thức, có khảnăng, có trách nhiệm và nhất là có điều kiện tham gia vào các công việc chungcủa nhà trường, khắc phục lối suy nghĩ và làm việc phần nhiều chỉ biết đến lợiích riêng, lợi ích cá nhân Thông qua việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sởtrong nhà trường, thầy cô giáo và học sinh được làm chủ trong thực tế, tìm thấylợi ích thiết thân của mình trong lợi ích chung của nhà trường và xã hội; gắn lợiích cá nhân với lợi ích của tập thể; biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đàotạo

Thứ ba, thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong trường học sẽ khơi dậyđược tiềm năng trí tuệ, sáng tạo, sức mạnh vật chất và tinh thần của CB-GV-NVnhà trường và toàn xã hội để phát triển giáo dục

Bác Hồ nhấn mạnh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trongthế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [20, tr.276] Bácluôn tìm mọi cách để làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng

Trang 39

quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm Tư tưởng ấy là nền tảng cho chúng

ta xây dựng và thực hiện quyền làm chủ của thầy cô giáo, của những người làmgiáo dục, của gia đình và toàn xã hội vào sự nghiệp trồng người

CB-GV-NV sinh hoạt và làm việc trong nhà trường, nếu họ tự làm chủ thìmọi công việc trong nhà trường được giải quyết đến nơi, đến chốn Ngược lại,CB-GV-NV không thông, không thấy được đó là công việc của chính mình thìmọi công việc của nhà trường sẽ trì trệ, dễ nảy sinh tâm lý “cha chung không aikhóc” Quy chế dân chủ ở trường học đưa ra cách tổ chức và cơ chế thích hợp đểphát huy mọi tiềm năng, sự suy nghĩ, óc sáng tạo, sức mạnh vật chất, tinh thầncủa CB-GV-NV trong các nhà trường và các nguồn lực khác để phát triển giáodục

Thứ tư, thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong trường học sẽ tăng cường kỷcương, nền nếp, khắc phục các hiện tượng tiêu cực, nâng cao hiệu lực quản lýtrong lĩnh vực giáo dục

Dân chủ và kỷ cương là hai mặt thống nhất biện chứng với nhau Có dânchủ, ý thức pháp luật của người dạy, người học được nâng cao thì kỷ cươngtrong nhà trường mới vững chắc Đồng thời kỷ cương pháp luật được nghiêmminh mới bảo đảm cho quyền làm chủ của người dạy, người học được thực thi

Nó hoàn toàn đối lập với những ai lợi dụng dân chủ để phá vỡ kỷ cương, đểsống theo lối tự do vô chính phủ, bất chấp pháp luật Các hiện tượng tiêu cựctrong quá trình dạy học; trong sử dụng tài sản, tài chính, trong tuyển sinh, thi cử,đánh giá v.v sẽ bị xử lý theo pháp luật Thực hành dân chủ, theo tinh thần củaQuy chế dân chủ cơ sở, là dân chủ trên cơ sở của những quy định có tính pháp lýhay là dân chủ trên cơ sở của pháp luật Mặt khác, Quy chế dân chủ cơ sở vớitính cách là những văn bản có tính pháp lý lại trở thành công cụ, phương tiện đểthực hành dân chủ Khi có sự kết hợp hài hòa giữa dân chủ và kỷ cương trongnhà trường thì các cấp chính quyền phát huy tốt vai trò quản lý của mình BGH

Trang 40

trong các cơ sở trường học xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trongquá trình điều hành mọi hoạt động của nhà trường.Trên cơ sở đó đổi mới quản

lý giáo dục, nâng cao hiệu lực quản lý giáo dục trong nhà trường

Thứ năm, thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong trường học sẽ xây dựngniềm tin và mối quan hệ chặt chẽ giữa CB-GV-NV với cấp ủy Đảng và chínhquyền, với học sinh và phụ huynh học sinh

Trong nhà trường, BGH, chi bộ Đảng, Công đoàn đại diện quyền làm chủcủa CB-GV-NV, lãnh đạo và tổ chức các hoạt động của nhà trường để thực hiệnnhiệm vụ của năm học Trong đó, Quy chế dân chủ đòi hỏi BGH, chi bộ Đảngbiết được như thế nào là thực hiện dân chủ với CB-GV-NV, với học sinh Ngườidạy và người học được biết những gì, được bàn những gì, được làm những gì vàkiểm tra những gì Điều đó buộc lãnh đạo nhà trường phải theo sát và lắng nghe

ý kiến của người dạy và học Mặt khác, lãnh đạo phải biết gương mẫu và biếtthu hút người dạy, người học tham gia vào mọi hoạt động giáo dục của nhàtrường Thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở sẽ góp phần quan trọng ngăn chặnđược những hành vi quan liêu, hách dịch, tham nhũng của cán bộ, tạo ra niềmtin của CB-GV-NV với lãnh đạo nhà trường, góp phần đổi mới phương thứclãnh đạo của chi bộ, sự điều hành của BGH

Kết luận chương 1

Dân chủ là vấn đề được nghiên cứu từ thời cổ đại Đã có nhiều nhà nghiên

cứu viết về dân chủ Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân C.Mác và Lênin

đều cho rằng dân chủ tức là chính quyền của nhân dân, chế độ dân chủ là mộthình thức nhà nước, một trong những hình thái của Nhà nước Kế thừa và pháttriển các quan điểm tiến bộ về dân chủ của nhân loại, Hồ Chí Minh lý giải kháiniệm dân chủ một cách đơn giản, cô đọng, dễ hiểu, dễ thực hiện, gắn với vấn đềnhà nước: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là dân là chủ, dân làm chủ [17tr.251] Vận dụng quan điểm về dân chủ của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng

Ngày đăng: 22/01/2016, 13:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w