1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy vai trò của mặt trận tổ quốc việt nam trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại thị xã hồng lĩnh, tỉnh hà tĩnh hiện nay

98 1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 536,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tuyên truyền, giáo dục rộng rãi hội viên, đoàn viên và Nhân dân Chỉ thị này vàcác QCDC ở cơ sở; làm cho mọi người hiểu và sử dụng đúng các quyền củamình được quy định trong QCDC cơ sở, đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN VIỆT HÙNG

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TẠI THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

NGHỆ AN - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN VIỆT HÙNG

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TẠI THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chính trị học

Mã số: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:

TS PHẠM VĂN THANH

NGHỆ AN - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tất cả tình cảm chân thành của mình, tôi xin trân trọng bày tỏ lòngbiết ơn hội đồng khoa học và đào tạo chuyên ngành Chính trị học, Trường Đạihọc Vinh đã giảng dạy, quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình họctập cũng như hoàn thành luận văn Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâusắc tới Tiến sỹ Phạm Văn Thanh, người đã hết sức quan tâm đâu tư nhiều côngsức, nhiệt tình hướng dẫn để bản thân tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này

Xin chân thành cảm ơn Thị ủy, Ủy Ban Mặt trận Tổ quốc và 6 phường, xãthuộc thị xã Hồng Lĩnh đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi thực hiện khảo sát

và cung cấp số liệu để tôi thực hiện công trình nghiên cứu của mình Cảm ơn giađình, bạn bè đã động viên và đồng hành cùng với tôi trong quá trình học tậpnghiên cứu và thực hiện Luận văn

Trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện Luận văn, bản thân tôi đã hếtsức nổ lực và cố gắng, song không thể tránh khỏi những sai sót Với tinh thầnnghiêm túc và cầu thị, rất mong nhận được sự đóng góp của quý Thầy, Cô vàđồng nghiệp để việc nghiên cứu đề tài được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Việt Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

TRANG PHỤ BÌA 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4

A MỞ ĐẦU 5

B NỘI DUNG 12

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 12

1.1 Lý luận chung về dân chủ và quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở 12

1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở 23

1.3 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở 29

Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TẠI THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH 43

2.1 Khái quát đặc điểm, tự nhiên, kinh tế - xã hội thị xã Hồng Lĩnh 43

2.2 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở 52

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TẠI THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY 71

3.1 Phương hướng phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 71

3.2 Giải pháp phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại thị xã Hồng Lĩnh, tĩnh Hà Tĩnh hiện nay 74

C KẾT LUẬN 92

Trang 5

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

3 MTTQVN Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dân chủ không chỉ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà còn làđộng lực, là mục tiêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Từ lâu, Đảng ta luôn coi trọng phát huy quyền làm chủcủa Nhân dân, dựa vào dân, nên đã đưa cách mạng nước ta vượt qua mọi giannan thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Trong công cuộc đổi mớitoàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dân chủ hóa đời sống xãhội đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một trong những nội dung cốtlõi, trọng tâm Đặc biệt là dân chủ hóa đời sống xã hội từ cơ sở

Thấm nhuần quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh

về dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đưa ra phương châm: “dân biết, dân bàn,dân làm, dân kiểm tra, giám sát” Để phương châm đó trở thành hiện thực củađời sống xã hội, ngày 18/02/1998 Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khóa VIII) đãban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở và đãxác định: “Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của Nhândân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng,của công cuộc đổi mới” Tiếp đó, ngày 15/5/1998, để cụ thể hóa Chỉ thị này,Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 29/NĐ/CP về ban hành "Quy chế thực hiệndân chủ ở xã, phường, thị trấn" nhằm phát huy sức sáng tạo của Nhân dântrong phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội, tăng cường đoàn kết toàndân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thểvững mạnh, góp phần thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, công bằng, dânchủ, văn minh"

Trong Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị Trungương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện QCDC đã quy định tráchnhiệm của UBMTTQVN và các đoàn thể Nhân dân bao gồm ba nhiệm vụ lớn đểđưa quy chế vào thực tiễn đời sống, xã hội: “MTTQ và các đoàn thể Nhân dân

Trang 7

tuyên truyền, giáo dục rộng rãi hội viên, đoàn viên và Nhân dân Chỉ thị này vàcác QCDC ở cơ sở; làm cho mọi người hiểu và sử dụng đúng các quyền củamình được quy định trong QCDC cơ sở, đồng thời chấp hành đầy đủ tráchnhiệm, nghĩa vụ của công dân; Mặt trận và các đoàn thể phối hợp với chínhquyền trong việc thực hiện và giám sát thực hiện QCDC ở cơ sở” [2, tr 4].

Trong 17 năm qua việc triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở là một thờigian cũng khá dài và thực tế đã cho thấy những kết quả đạt được rất quan trọng,

có những bước phát triển mới Tuy vậy, vẫn còn bộc lộ những thiếu sót, yếukém như: công tác chỉ đạo của MTTQ ở một số xã, phường trong thị xã HồngLĩnh chưa đều, chưa phát huy hết quyền làm chủ của Nhân dân còn bị vi phạm ởnhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; còn bị động lúng túng trong việc đề ra các biệnpháp chỉ đạo phù hợp với tình hình, đặc điểm của từng địa phương; tính hìnhthức còn khá phổ biến trong nhiệm vụ triển khai thực hiện QCDC của các cấp

ủy Đảng, chính quyền và MTTQ Việc kiện toàn, cũng cố nâng cao chất lượnghoạt động của UBMTTQ ở một số địa phương chưa được tập trung đúng mức;Một số cán bộ xã, phường chưa nắm bắt được QCDC và công tác Mặt trận thamgia thực hiện QCDC; hoạt động giám sát của Mặt trận và các đoàn thể chính trị -

xã hội ở một số xã, phường còn kém; công tác tuyên truyền vận động Nhân dânhọc tập nắm vững các quan điểm của Bộ Chính trị, nội dung quyền làm chủ trựctiếp trong quy chế còn làm lướt, hình thức; việc lồng ghép các nội dung công tácMặt trận tham gia thực hiện QCDC với ba nội dung cuộc vận động “Toàn dânđoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” chưa chặt chẽ và đồng bộ

Để không ngừng tăng cường hiệu quả của việc thực hiện QCDC ở cơ sở

và góp phần xem xét, đánh giá vấn đề một cách khách quan, khoa học, việc đisâu nghiên cứu, tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện trên phạm vi toàn quốchay từng địa phương cụ thể đều có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn

Từ lâu, vấn đề dân chủ đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà hoạtđộng chính trị cũng như các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và

Trang 8

nhân văn ở trong nước và trên thế giới Dân chủ và thực hiện QCDC ở cơ sở, vaitrò của MTTQ trong hệ thống chính trị đã được đề cập trong nhiều nghị quyết củaĐảng, văn bản, quyết định của Chính phủ và đã có nhiều công trình nghiện cứu (ởcấp độ luận văn, luận án, bài viết trên các tạp chí, các cuốn sách…) để bàn về đềtài này ở những góc độ, khía cạnh khác nhau và được chia nhiều nhóm vấn đề.

- Nhóm thứ nhất, những công trình đã được nghiên cứu sâu về vấn đề dânchủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã được đăng thành sách và các bài

viết trên các báo, tạp chí: Đồng chí Đỗ Mười (1998) “Phát huy quyền làm chủ

của nhân dân ở cơ sở”, Tạp chí Cộng sản số 20; PGS TS Dương Xuân Ngọc

(chủ biên) Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2000), Quy chế thựchiện dân chủ ở cấp xã - một số vấn đề lý luận thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia

Hà Nội; Trương Quang Được (năm 2002) “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và

thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, Tạp chí Cộng sản, số 12; TS Nguyễn Văn

Sáu - GS Hồ Văn Thông (chủ biên 2002), Thực hiện quy chế dân chủ và xâydựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia HồChí Minh

Phan Xuân Sơn (Chủ biên, 2003) các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảmdân chủ ở cơ sở hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội TS Lương Gia Ban(Chủ biên, 2003) Dân chủ và thực hiện QCDC ở cơ sở, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội Bộ Nội vụ (năm 2001) hướng dẫn triển khai QCDC cơ sở, Nxb Chínhtrị Quốc gia, Hà Nội

Nhóm vần đề này các tác giả đã nghiên cứu một cách sâu sắc và làm sáng

tỏ về mặt lý luận và thực tiễn thực hiện QCDC ở cơ sở

- Nhóm thứ hai, các cuốn sách, luận văn, bài báo, bài viết trên các tạp chí

về MTTQVN, Mặt trận Tổ quốc với việc thực hiện QCDC ở cơ sở

PGS.TS Nguyễn Lương Bằng (2012) “Giám sát phản biện xã hội của

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí

Đại học Sài Gòn, số 13, T2/2013 Tr 39-45 PGS.TS Nguyễn Lương Bằng (năm

2012) Bài viết “Vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn

Trang 9

thể đối với ổn định và tăng trưởng kinh tế vĩ mô ở Việt Nam”, kỷ yếu hội thảo khoa học,Trường Đại học Vinh, tháng 4 năm 2012 Trang 16-19 Trong hai bài

này tác giả đã phân tích sâu sắc ưu điểm, nhược điểm về vai trò của tổ chức Mặttrận và các đoàn thể trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, đồng thời đềxuất những giải pháp để phát huy các tổ chức trong đó có bối cảnh của ViệtNam hiện nay

Tác giả Lê Bá Lợi (2009) “Mặt trận tổ quốc Hồng Lĩnh với việc thực hiệnQCDC ở cơ sở”, Tạp chí Mặt trận tổ quốc Việt Nam, số 71 Bài viết này tậptrung trình bày những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế trọng việcthực hiện QCDC của Mặt trận tổ quốc thị xã Hồng Lĩnh, đề ra những giải phápthực hiện tốt việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở Một số vấn đề lý luận vàthực tiễn công tác Mặt trận (2009), của Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Côngtrình tập trung nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lý luận, nội dung, đặc điểm,vai trò, hoạt động… của công tác MTTQVN Mặt trận Tổ quốc Việt Nam(2007), Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, quyển III (1974-2004),Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập trung nghiên cứu về lịch sử hình thành củaMTTQVN trong lịch sử

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2006), Sổ tay công tác

Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền (lưu hành nội bộ), xưởng in tổng hợp

cục công nghiệp quốc phòng, tập trung nêu lên những hoạt động của MTTQVN,cũng như việc thực hiện QCDC ở cơ sở, về Luật của Mặt trận Tổ quốc ViệtNam, các Nghị quyết, Thông tư Liên tịch, Thông tri, Nghị định của Ủy ban Mặttrận Tổ quốc Việt Nam

Nhóm vấn đề này các tác giả tập trung trình bày về lý luận và thực tiễncủa MTTQVN, cũng như tình hình thực hiện QCDC ở cơ sở tại các địa phương

- Nhóm thứ ba, các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Chính phủtrong việc thực hiện QCDC ở cơ sở, vừa định hướng nghiên cứu, vừa địnhhướng tổ chức thực hiện

Trang 10

Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết TW 3 (khóa VIII), nêu rõyêu cầu tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn quyền làm chủ nhân dân qua cáchình thức dân chủ đại nghị và dân chủ trực tiếp; Bộ Chính trị Trung ương Đảng

(ngày 18/02/1998) ra Chỉ thị 30 CT/TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân

chủ ở cơ sở Đã quy định Ủy ban MTTQVN và các tổ chức đoàn thể chính trị xã

hội phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục rộng rãi tới hội viên, đoàn viên

và Nhân dân, Chỉ thị này và các quy chế dân chủ ở cơ sở, sử dụng đúng quyền

và nghĩa vụ công dân đã được quy định trong quy chế dân chủ, phối hợp vớichính quyền trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Chính phủ (11/5/1998), ban hành Nghị định 29/1998/NĐ-CP (nay làNghị định số 79/2003/NĐ-CP) Ủy Ban Thường vụ Quốc hội (2007), Pháplệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn của Ủy ban Thường vụ Quốchội số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 Pháp lệnh nêu rõ nhữngquy định chung, những nội dung công khai để Nhân dân biết, những nộidung Nhân dân bàn và quyết định, những nội dung Nhân dân tham gia ý kiếntrước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định, những nội dung Nhân dângiám sát, điều khoản thi hành trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở xã,phường, thị trấn

Các công trình nghiên cứu, bài viết nói trên cung cấp những vấn đề lýluận và thực tiễn về MTTQVN, về dân chủ, thực hiện dân chủ ở cơ sở, cũng nhưtình hình thực hiện quy chế dân chủ ở địa phương Tuy nhiên việc nghiên cứu về

đề tài “ Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện quy chế dânchủ ở cơ sở tại thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay” thì vẫn chưa có công

trình nào Với tầm quan trọng trên, chúng tôi chọn vấn đề: "Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ

sở tại thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay" làm đề tài luận văn Thạc sĩ,

chuyên ngành Chính trị học góp phần thiết thực vào giải quyết một vấn đề cótính cấp thiết hiện nay

Trang 11

2 Mục đích của đề tài

Nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như làm rõ thực trạng hoạtđộng của MTTQ trong hệ thống chính trị ở Thị xã Hồng Lĩnh về việc thực hiệnquy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân

Đề xuất những giải pháp nhằm phát huy vai trò tích cực của UBMTTQVNtrong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, tăng cường khối đại đoàn kết, gópphần thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng thị xã Hồng Lĩnh ngày càng giàumạnh, dân chủ, văn minh trong giai đoạn mới

3 Nhiệm vụ

- Làm rõ cơ sở lý luận về vị trí, vai trò chức năng của MTTQVN đốivới vấn đề dân chủ, đoàn kết trong thời kỳ mới; việc tham gia thực hiện quychế dân chủ

- Phân tích thực trạng UBMTTQ thị xã Hồng Lĩnh tham gia thực hiện quychế dân chủ ở xã, phường; nguyên nhân và những kinh nghiệm thực tiễn

Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy vai trò tíchcực của MTTQVN đối với việc thực hiện QCDC ở cơ sở tại thị xã HồngLĩnh, Hà Tĩnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện quy chế dân

chủ cơ sở trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian: Trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh

+ Về thời gian: trong giai đoạn hiện nay (từ năm 2007 đến nay)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,

Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốcViệt Nam về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Trang 12

6 Ý nghĩa của đề tài

- Qua việc điều tra, nghiên cứu, phân tích quá trình thực hiện quy chế dânchủ ở cơ sở; những đóng góp của ủy ban MTTQVN trên địa bàn thị xã HồngLĩnh, Luận văn khái quát một số kết quả, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhâncủa nó; đồng thời đề xuất những phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm phát huyvai trò của MTTQVN trong việc tăng cường thực hiện quy chế dân chủ phù hợpvới điều kiện của địa bàn, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảngdạy chuyên đề, đồng thời cũng là tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năngtrong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị cơ

sở vững mạnh ở một số huyện, thị, thành phố trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, các phụ lục, nộidung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 13

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI VIỆC

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ

1.1 Lý luận chung về dân chủ và quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm dân chủ và dân chủ ở cơ sở

Dân chủ là một khái niệm đa nghĩa, phức tạp, thuộc phạm trù chính trị cónguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Dân chủ” là một từ ghép gồm 2 chữ: “demos” (cónghĩa là người bình dân, dân chúng) và “kratia” (chữ gốc là “kratos” - có nghĩa

là quyền cai trị, là sức mạnh) Do vậy, từ “Demoskratia” có nghĩa là quyền lựccủa Nhân dân, chính quyền của Nhân dân Dân chủ là một chính quyền “củadân, do dân và vì dân” Như vậy, dân chủ là một thể chế do dân làm chủ và dânchủ trước hết là chế độ chính trị trong đó quyền lực tối cao thuộc về Nhân dân,

do Nhân dân thực thi, tự bản thân thực thi hoặc thông qua các đại biểu mà mìnhbầu ra

Bản chất của Nhà nước ta được khẳng định trong Hiến pháp, là Nhà nướccủa dân, do dân, vì dân Tuy vậy, trong thực tế, một số bộ phận cán bộ, côngchức Nhà nước chưa thực sự là người công bộc của dân như Chủ tịch Hồ ChíMinh đã mong muốn Nếu không thực hiện dân chủ, Nhà nước sẽ trở nên độctài, chuyên chế, do đó dân phải học để làm chủ; Nhà nước phải bảo đảm cơ chế

để lắng nghe dân Do vậy, nói tới dân chủ có nghĩa là nói đến mối quan hệ giữadân và chính quyền mà ở đó chính quyền phải lắng nghe dân, phải tạo điều kiện

để người dân được quyết định hoặc tham gia quyết định những vấn đề liên quanđến cuốc sống và sự phát triển của mỗi người, của cả cộng đồng, điều này có ýnghĩa thực tiễn rất quan trọng ở cấp xã, phường, thị trấn

Trang 14

Cơ sở là đơn vị ở cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt độngnhư sản xuất, công tác,…của một hệ thống tổ chức, trong quan hệ với các bộphận lãnh đạo cấp trên Như vậy, cấp cơ sở là cấp xã trong quan hệ với cấp địaphương (gồm cấp tỉnh và cấp huyện) và với cấp Trung ương

Chính quyền cơ sở là chính quyền cấp xã Bởi vì, căn cứ vào việc phân bổdân cư và lãnh thổ thành đơn vị hành chính thì chính quyền cấp xã và cấp tươngđương là cấp chính quyền cơ sở Vì đây là cấp chính quyền cuối cùng gần và sátdân nhất Còn thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố và tương đương là theo đơn vị dân

cư - với tư cách là những cộng đồng người nhỏ nhất sinh sống cùng nhau Ởđây, đời sống dân cư diễn ra tự quản là chính

Dân chủ ở cơ sở là dân chủ ở cấp xã, phường, thị trấn và thôn, làng, ấp,bản, tổ dân phố (là các hình thức cộng đồng dân cư như đã nêu) Dân chủ ở cơ

sở chủ yếu là thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp và các hình thức tự quản củacộng đồng dân cư Dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa vô cùng to lớn, vì cơ sở là nơitrực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhànước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân một cách trực tiếp vàrộng rãi nhất

1.1.1.2 Khái niệm về quy chế dân chủ ở cơ

Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo củaĐảng, Nhân dân ta đã đạt được những thành quả quan trọng Đất nước đã đượcđộc lập, tự do, thống nhất và ngày nay toàn Đảng, toàn dân đang ra sức phấn đấuxây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng cũng bộc lộ những yếu kém, khuyếtđiểm, tình hình tiêu cực, suy thoái phẩm chất vẫn có chiều hướng phát triển,quyền làm chủ của Nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệquan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dânvẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa ngăn chặn, đẩy lùi được

Trước tình hình đó, Nghị quyết TW 3 khóa VIII (6/1997) nêu rõ yêu cầu:

Trang 15

Tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn quyền là chủ của dân qua các hình thứcdân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp; tiếp tục hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo trong sạch, vững mạnh và tăng cường sự lãnhđạo của Đảng đối với Nhà nước, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huyquyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng và quản lý Nhà nước.

Ngày 18/2/1998, Bộ chính trị Trung ương Đảng đã ra chỉ thị 30/ CT-TW

về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở nhằm “Giữ vững và phát huy quyềnlàm chủ của dân, thu hút Nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, tham gia kiểm

kê, kiểm soát Nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ

và nạn tham nhũng” [2, tr.1], UBTVQH (khóa X) ra Nghị quyết số 45 - 1998/

NQ - UBTVQH 26/2/1998 về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã.Nghị quyết giao Chính phủ ban hành quy chế thực hiện dân chủ với các địnhhướng nội dung cụ thể Thực hiện chủ trương của Đảng và Nghị quyết củaUBTVQH, ngày 11/5/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 29/1998/ NĐ

- CP (nay là Nghị định số 79/2003/ NĐ - CP) về việc ban hành QCDC Nghịquyết nêu rõ: Điều 1: Ban hành kèm theo Nghị định này bản Quy chế thực hiệndân chủ ở xã Điều 2 Quy chế này áp dụng với cả phường và thị trấn Ban tổchức - Cán bộ Chính phủ hướng dẫn việc áp dụng quy chế này đối với phường

và thị trấn [9, tr.1]

Quy chế dân chủ ở cơ sở bao gồm cả dân chủ trong các cơ quan hànhchính Nhà nước và các đơn vị doanh nghiệp Nhà nước với các văn bản quy địnhriêng Những văn bản trên đây từ chủ trương của Đảng đến việc thể chế hóabằng các văn bản pháp luật của Nhà nước thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhànước ta đối với việc xây dựng thể chế về dân chủ ở cơ sở Thực hiện phươngchâm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”, thể hiện bản chấtNhà nước là Nhà nước của dân, do dân và vì dân

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở gồm các văn bản quy phạm pháp luậtquy định những biện pháp làm chủ trực tiếp của Nhân dân ở cơ sở xã, phường,

Trang 16

cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị doanh nghiệp Nhà nước Đó là nhữngđiều Nhân dân phải được biết, những việc Nhân dân được làm để Nhà nướcquyết định hoặc Nhân dân được quyết định và những việc Nhân dân được giámsát, kiểm tra, nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của Nhân dân.

Quy chế thực hiện dân chủ ở xã là văn bản quy phạm pháp luật quy định

cụ thể những việc HĐND và UBND xã phải thông tin kịp thời và công khai đểdân biết; những việc dân bàn và quyết định trực tiếp, những việc dân tham gia ýkiến trước khi cơ quan Nhà nước quyết định; Những việc dân giám sát, kiểm tra

và các hình thức thực hiện quy chế dân chủ ở xã nhằm phát huy quyền làm chủ,sức sáng tạo của Nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớncủa Nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện dân sinh, nâng cao dântrí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựng Đảng bộ, chính quyền vàcác đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh, ngăn chặn và khắc phục tình trạng suythoái, quan liêu, tham nhũng của một số cán bộ, Đảng viên và các tệ nạn xã hội,góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, vì vậythực chất là một định chế pháp lý bảo đảm quyền làm chủ của dân

1.1.2 Đặc điểm, nội dung và vai trò của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

1.1.2.1 Đặc điểm của quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

Thứ nhất, khác với các quy chế thông thường, quy chế thực hiện dân chủ

là một văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể hóa và luật hóa phương châm: “Dânbiết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” bằng một nghị định của Chính phủ căn cứvào nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Nghị định số 45 - 1998/NĐ -UBTVQH 26/2/1998 về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường,thị trấn)

Thứ hai, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa dân chủ xã

hội chủ nghĩa ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân gắn liền với cơ chế

Trang 17

“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”.

Thứ ba, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở phát huy chế độ dân chủ đại

nghị, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của chính quyền địa phương, cơ

sở, quy định những nghĩa vụ cụ thể của chính quyền trong việc bảo đảm quyềndân chủ của người dân ở cơ sở

Thứ tư, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở thực hiện chế độ dân chủ trực

tiếp ở cơ sở để nhân dân bàn bạc và trực tiếp quyết định những công việc quantrọng, thiết thực, gắn với quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân

Thứ năm, Có sự tham gia của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ở mọi

khâu trong thực hiện quy chế ở cơ sở để phát huy mạnh mẽ vai trò làm chủ củanhân dân trong việc thực thi nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

Thứ sáu, Mục đích của việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã là

nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên sứcmạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội,cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết xâydựng Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh, ngănchặn và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một số cán

bộ, Đảng viên và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ bảy, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở thể hiện yêu cầu dân chủ

phải trong khuôn khổ của Hiến pháp Và Pháp luật, đi đôi với trật tự, kỷ cương,quyền đi đôi với nghĩa vụ; kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ, viphạm Hiến pháp, Pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích tập thể,quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân

1.1.2.2 Nội dung của quy chế thực hiện dân chủ cơ sở

Quy chế thực hiện dân chủ ở xã do Chính phủ ban hành ngày 15/5/1998(nay là Nghị định số 79/2003/NĐ- CP) gồm Lời nói đầu, 7 chương và 25 điều

Về nội dung, quy chế quy định những quyền của Nhân dân ở cơ sở được

Trang 18

biết và hình thức biết những thông tin liên quan đến pháp luật, chủ trương chínhsách của Nhà nước, đặc biệt là những thông tin liên quan trực tiếp đến đời sốngdân sinh Quy chế cũng quy định những việc để nhân dân bàn và quyết địnhcũng như những hình thức thực hiện; Quy định những việc nhân dân ở cấp xã cóquyền giám sát, kiểm tra và những phương thức để thực hiện giám sát, kiểm tra;Việc xây dựng cộng đồng dân cư thôn, làng, bản, ấp và những hình thức tổ chức.Đặc biệt, để thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra,giám sát”, quy chế quy định cơ chế thực hiện dưới hai hình thức dân chủ trựctiếp và dân chủ đại diện, trong đó ở cấp cơ sở, dân chủ trực tiếp là quan trọng.

QCDC cơ sở quy định cụ thể các loại công việc để: dân biết, dân bàn, dânkiểm tra, giám sát

Về dân biết, quy chế quy định quyền của mọi người dân được thông tin về

những chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước, các vấn đề liên quan trựctiếp đến đời sống hàng ngày của Nhân dân tại cơ sở…và nghĩa vụ của chínhquyền phải thông tin kịp thời và công khai cho người dân

Về dân bàn, có 2 loại gồm:

- Một loại công việc cho dân bàn và quyết định trực tiếp

- Một loại công việc do dân bàn và tham gia ý kiến, Hội đồng nhân dân và

Ủy ban nhân dân xã quyết định

Các việc dân bàn và quyết định trực tiếp là các loại việc có huy động sựđóng góp của dân để xây dựng cơ sở hạ tầng và xây dựng hương ước, quy ướcnội bộ Đây là quy định rất mới không những thực hiện quyền là chủ của Nhândân mà còn chống được tệ nạn tham nhũng, lãng phí

Về kiểm tra, giám sát, quy chế quy định dân giám sát, kiểm tra các loại

công việc từ hoạt động của HĐND, UBND đến các việc giải quyết khiếu nại, tốcáo của công dân, kết quả quyết toán công trình do dân đóng góp, việc quản lý

sử dụng đất đai, thu chi các quỹ, việc thực hiện chính sách đối với người cócông với nước…dân giám sát, kiểm tra tức là thực hiện quyền lực của mình

Trang 19

trong quá trình quản lý đất nước Lê nin đã từng nói: Nếu Nhà nước không tiếnhành kiểm kê, kiểm soát toàn dân đối với việc sản xuất và phân phối các sảnphẩm thì chính quyền của những người lao động, nền tự do của họ sẽ không thểduy trì được.

1.1.2.3 Vai trò của quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

Nước Việt Nam quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một chế độ phong kiếnnữa thuộc địa, ở đó mang nặng dấu ấn của chế độ chuyên chế quân sự mặc dùtrong xã hội lúc bấy giờ đã có yếu tố dân chủ truyền thống làng, xã và yếu tố sơkhai của dân chủ tư sản nhưng chưa đáng kể Do vậy, nền tảng dân chủ ở cơ sởcủa ta thiếu hụt truyền thống trong lịch sử Điều đó gây không ít khó khăn choviệc xây dựng một nước dân chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Quy chế ra đời là một đòi hỏi tất yếu của quá trình thực hiện dân chủ ởnước ta, quy chế không chỉ đơn thuần là một phản ứng chính trị của Đảng vàNhà nước trước những tình hình phức tạp của những điểm nóng ở cơ sở mà thểhiện cái nhìn hướng tới cơ sở, coi trọng cái gốc ở cơ sở nên mang tính chiếnlược, căn bản, lâu dài Lần đầu tiên định hướng chính trị về dân chủ, phươngchâm để thực hiện dân chủ như “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đãđược cụ thể hóa trong một văn bản quy phạm pháp luật Vì vậy, quy chế thựchiện dân chủ ở cơ sở có vai trò hết sức to lớn

Thứ nhất, thực hiện quy chế đảm bảo quyền lực chính trị của nhân dân lao

động, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, dodân, vì dân ngay ở cấp chính quyền cơ sở ở nước ta hiện nay

Trong một thời gian dài trước đây, nhiều địa phương đã không thực sựquan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trong việc giải quyết các vấn

đề của làng xã Do vậy khi QCDC được triển khai, người dân rất phấn khởi vànhiệt tình hưởng ứng Nơi nào làm tốt việc xây dựng và thực hiện quy chế, nơi

ấy sẽ xây dựng được phong trào sinh hoạt chính trị rộng lớn, có tác dụng đếnnhiều mặt đời sống xã hội Thông qua quá trình học tập, xây dựng và thực hiện

Trang 20

quy chế, cán bộ Nhân dân thấy rõ hơn quyền cũng như trách nhiệm của mìnhtrong việc xây dựng đời sống dân chủ ở cơ sở, ý thức làm chủ, ý thức công dâncủa người dân đã có sự chuyển biến khá rõ Ngay từ trong cộng đồng dân cư nhỏhẹp như xã, phường, người dân đã có thể trực tiếp bày tỏ chính kiến của mình,trực tiếp quyết định và giám sát các công việc của cộng đồng xã hội.

Với những thông tin về chính sách, pháp luật, về nội dụng các hoạt độngcủa địa phương, của cơ sở được đua ra kịp thời và công khai, với những điềungười dân được bàn bạc, thảo luận và trực tiếp quyết định hoặc tham khảo chocho sự quyết định của cấp chính quyền cơ sở, người dân đã từng bước học làmchủ, tập làm chủ và dần biết làm chủ

Thứ hai, thực hiện dân chủ ở cơ sở là một giải pháp hạn chế sự tha hóa

quyền lực của nhà nước Quyền lực chính trị của Nhân dân lao động được thểhiện tập trung thông qua quyền lực của Nhà nước Với hình thức dân chủ đạidiện, quyền lực Nhà nước sẽ được giao cho một số người đảm nhận, chịu tráchnhiệm quản lý, điều hành công việc chung Những quy luật chung là khi tậptrung quyền lực thì dễ dẫn đến lạm quyền, lộng quyền Những người đại diệncho quyền lực của Nhân dân rất dễ rơi vào sự tha hóa, độc đoán, quan liêu nếukhông có một cơ chế kiểm soát quyền lực Trong thời gian qua ở nước ta, hiệntượng người có chức có quyền đã lợi dụng quyền lực để mưu cầu lợi ích riêngcho mình không phải là ít Họ dựa vào địa vị của mình, mặc dù địa vị mà họ cóđược là do Nhân dân bầu ra để nhận hối lộ, tham nhũng, làm trái với mục tiêucủa Đảng Họ trở nên những người xa lạ với dân, với Đảng với Nhà nước Bộmáy chính quyền trở nên quan liêu, bảo thủ trì trệ nó không còn đại diện đượccho lợi ích của Nhân dân, của toàn xã hội nữa mà chính nó lại vi phạm đến lợiích của Nhân dân lao động, đến lợi ích mà nó đại diện

Để hạn chế sự tha hóa quyền lực Nhà nước, cần phải làm trọng sạch bộmáy lãnh đạo của Đảng và chính quyền ngay ở từng cơ sở Từ khi triển khaithực hiện quy chế, người dân đã biết sử dụng quyền làm chủ của mình để đấu

Trang 21

tranh với những hiện tượng tiêu cực ấy Từ những quy định rõ ràng các việc cầnthông báo cho dân biết, những việc dân được bàn, những việc dân được giámsát, kiểm tra tài chính công khai, minh bạch đã làm hạn chế rất nhiều biểu hiệntha hóa của một số cán bộ, đảng viên trong bộ máy Nhà nước.

Thực hiện dân chủ ở cơ sở không chỉ làm cho Nhân dân lao động từngbước thể hiện quyền làm chủ mà còn làm cho các cấp ủy đảng, chính quyền,đảng viên nhận thức rõ hơn về quyền làm chủ của Nhân dân cũng như ý thứcđược trách nhiệm phục vụ Nhân dân, phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương phépnước Ở những nơi làm tốt việc triển khai thực hiện quy chế dân chủ, ý thức xâydựng cộng đồng, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền được nâng lên Nókhông chỉ góp phần nâng cao ý thức cán bộ, đảng viên và nhân dân về thực hiện

và phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân mà còn làm chuyển biếnmột bước về phương thức lãnh đạo của Đảng, điều hành, quản lý của chínhquyền ở cơ sở Nhân dân đã mạnh dạn, thẳng thắn, cởi mở chân thành phê bìnhcán bộ, đảng viên, đóng góp xây dựng tổ chức Đảng giúp tổ chức Đảng loạiđược nhiều cán bộ đảng viên kém phẩm chất, năng lực, thoái hóa biến chất

Thực hiện dân chủ ở cơ sở là một cuộc cách mạng sâu sắc đến ý thức vàphong cách, phương thức lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của chính quyền cơ

sở đối với sự tôn trọng quyền làm chủ của người dân Từ đó cán bộ bớt đi thái

độ hống hách, cựa quyền, nhũng nhiễu dân; làm cho mối quan hệ giữa dân vớichính quyền cởi mở hơn, suy nghĩ của người dân về chính quyền ngày một tốtđẹp hơn, góp phần làm cho chính quyền hoạt động có hiệu quả hơn

Thứ ba, Thực hiện dân chủ ở cơ sở khơi dậy sức mạnh tiềm tang của nhân

dân lao động Phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của nhân dân lao độngtrong quá trình xây dựng Nhà nước và xã hội, giải quyết những vấn đề lớn từquốc tế dân sinh đến những việc của đời sống cộng đồng, đời sống dân cư.Thông qua các hoạt động dân chủ trực tiếp tại cơ sở, người dân có điều kiệntham gia ý kiến, có điều kiện tập duyệt và trưởng thành trong vai trò của ngườilàm chủ đích thực Khi Đảng, Nhà nước quan tâm, biết lắng nghe và học hỏi

Trang 22

dân, biết bồi dưỡng và nâng cao đời sống của dân thì nhân dân không chỉ nói lênđiều mình mong muốn mà còn gợi ý, kiến nghị và chỉ ra rằng Đảng và Nhà nướccần phải hành động như thế nào, bằng phương pháp cụ thể nào để giải quyết cácvấn đề kinh tế - xã hội Chính những những sang kiến đầy tâm huyết của dân đãtạo nên nguồn trí tuệ quý giá không gì thay thế được cho những chủ trương,đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo ra những bước phát triển vữngchắc của đất nước trên con đường phát triển và hội nhập.

Thứ tư, thực hiện dân chủ ở cơ sở gắn với phát triển xã hội Văn hóa là

nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đấtnước Văn hóa phải đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội Phát triển vănhóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triểnvăn hóa Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là xây dựng chăm lo con người cónhân cách, lối sống tốt đẹp, với đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình,trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa,trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng Phát triển hài hòa giữa kinh

tế và văn hóa; cần chú trọng đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong pháttriển kinh tế Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảnglãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ thể sáng tạo, đội ngũ tri thức giữvai trò quan trọng

Từ khi có Nghị quyết TW5 (khóa VIII) và Chỉ thị 30 của Bộ Chính trịTrung ương Đảng, các địa phương đã kết hợp chặt chẽ cả hai nội dung: Triểnkhai quy chế dân chủ với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhóa khu dân cư” nhắm khắc phục những vấn đề nhức nhối về tư tưởng đạo đức,lối sống và xây dựng môi trường văn hóa văn minh, lành mạnh trong từng giađình, làng xã, vận động nhân dân xây dựng nếp sống văn minh, lối sống lànhmạnh, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan

Bên cạnh, tổ chức công tác tuyên truyền các chủ trương chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước Tuyên truyền thực hiện cuộc vận động “Học tập

Trang 23

và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tổ chức các ngày lễ, tết Thựchiện Chỉ thị 27 của Bộ Chính trị trong việc cưới, việc tang, lễ hội Tiếp tục thựchiện công tác xã hội hóa giáo dục; đẩy mạnh công tác y tế, dân số kế hoạch hóagia đình, công tác vệ sinh môi trường.

Thứ năm, Thực hiện dân chủ ở cơ sở tạo ra pháp lý để Mặt trận tổ quốc

các cấp và các tổ chức chính trị xã hội thực hiện được vai trò cầu nối giữa Nhànước và nhân dân trong phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa

Mặt trận tổ quốc Việt Nam tuyên truyền, vận động nhân dân phát huyquyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêmchỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát các hoạt động của cơ quan Nhànước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý chí, nguyệnvọng của Nhân dân để phản ánh kiến nghị kịp thời với Đảng và Nhà nước; thamgia xây dựng củng cố chính quyền Nhân dân; cùng nhà nước chăm lo, bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của Nhân dân MTTQVN, các tổ chứcthành viên thông qua hoạt động phối hợp tuyên truyền vận động Nhân dân chỉđạo triển khai xây dựng, thực hiện và giám sát việc thực hiện QCDC, phát huytốt vai trò đại diện quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần tạo ra môi trường dânchủ lành mạnh ở cơ sở, góp phần cũng cố, kiện toàn tổ chức Đảng, chính quyềncác cấp

Do vậy, việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở là một cách thiết thựcnhất, là cơ sở cho Nhân dân lao động được làm chủ một cách thực sự trên mọiphương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Đó cũng là một cách làm hiệuquả nhất để Nhân dân lao động được đảm bảo quyền lực chính trị của mình, gópphần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam của dân, do dân, vì dân, gắn bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhândân, của dân tộc, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân Xây dựng mộtnhà nước thực sự của Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, với lý tưởng dânchủ, nhân đạo, công bằng, tất cả vì hạnh phúc của Nhân dân

Trang 24

1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về dân chủ

Dân chủ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin là một phạm trù lịch sửgắn liền với xã hội có giai cấp và được biến đổi dưới nhiều hình thức khác nhautrong điều kiện của các hình thái kinh tế - xã hội Trong xã hội xã hội chủ nghĩa

“dân chủ” có một chất lượng mới, nội dung “quyền lực thuộc về Nhân dân”được phát triển đầy đủ trên cơ sở một nền kinh tế phát triển cao, giải phóng sứcsản xuất, vượt qua lợi ích ích kỷ của giai cấp thống trị Nhờ vậy, dân chủ là yếu

tố bảo đảm cho quá trình giải phóng và phát triển toàn diện con người, đem lạicho họ quyền làm chủ cuộc sống, quyền sáng tạo và sản xuất của cải vật chất,tinh thần cho xã hội dân chủ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, trước hết

là một hình thức Nhà nước Nhà nước đó, một mặt thực hiện dân chủ và mặtkhác thực hiện trấn áp với giai cấp khác trong xã hội, V.I Lênin viết dân chủ làmột quá trình phát triển, là kết quả của các cuộc đấu tranh của Nhân dân do vậydân chủ trong xã hội xã hội chủ nghĩa là một hiện tượng hợp quy luật, là bướcphát triển cao hơn về chất so với các kiểu dân chủ trong lịch sử mà bản chất của

nó là nhằm giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột và tạo điều kiện để conngười phát triển toàn diện

Trong chế độ dân chủ, Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhànước Điều đó được thể hiện ở chỗ: Nhân dân tự tổ chức (bầu cử) quyền lực Nhànước; Nhân dân có quyền tham gia quản lý và quyết định những vấn đề quantrọng của Nhà nước (trưng cầu dân ý); Nhân dân có quyền kiểm tra, giám sáthoạt động của các cơ quan Nhà nước Tư tưởng này của C.Mác về sau được V.I.Lênin tiếp thu và phát triển trong một điều kiện mới với tư tưởng “chủ nghĩa xãhội sẽ không chiến thắng nếu không thực hiện đầy đủ chế độ dân chủ” [33,tr101] V.I Lênin đã khái quát quyền dân chủ trong lĩnh vực chính trị của Nhândân thành ba nội dung lớn đó là: Quyền bầu cử; quyền tham gia quản lý các

Trang 25

công việc của Nhà nước và quyền bãi miễn.

Chủ nghĩa Mác- Lênin đã nêu lên bản chất đặc trưng của chế độ dân chủ

là giai cấp công nhân và Nhân dân lao động làm chủ, tuyệt đại đa số thành viêntrong xã hội được hưởng dân chủ Là Nhà nước dân chủ do chính Đảng và giaicấp công nhân lãnh đạo tổ chức, giai cấp công nhân và quảng đại quần chúngnhân dân tham gia quản lý và giám sát, là nền dân chủ thực hiện công cuộc giảiphóng lao động, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa

1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ

Tiếp thu và thừa kế các quan điểm về “dân chủ” của nhân loại, Hồ ChíMinh đã tiếp cận và lý giải khái niệm “dân chủ” một cách đơn giản, nhưng hếtsức cô đọng điều quan trọng là mọi người (đặt biệt là người dân) dễ hiểu, dễthực hiện, kiểm soát Người nói “Chế độ ta là chế độ dân chủ Tức là người dânlàm chủ” [20, tr.251]

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủcộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng “Nước ta là nước dânchủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việcđổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc làcông việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử ra Đoàn thể từTrung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượngđều ở nơi dân” [18, tr.698] Như vậy “Dân chủ” và “Dân làm chủ” là cốt lõi củakhái niệm “Dân chủ” mà Người giải thích

Quan điểm trên đây của Người là sự vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vềdân chủ và thực hiện dân chủ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam là quan điểm

“dân chủ,”, “dân làm chủ” là quan điểm nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh

về xây dựng một chế độ xã hội mới, một Nhà nước kiểu mới ở nước ta, mà trong

đó địa vị của người dân từ một người dân mất nước làm kiếp nô lệ trở thành chủnhân của xã hội với tư cách là một “Công dân” và Nhà nước đó đảm bảo quyềnlàm chủ đó của công dân để họ trở thành người “làm chủ” trong việc xây dựng

Trang 26

Nhà nước và xã hội Do vậy, thực hành dân chủ (biến dân chủ thành hiện thực)được Người xem như là chiếc “chìa khóa vạn năng” để đi đến thành công.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là người giữ vai trò quyết định trêntất cả cá lĩnh vực từ kinh tế, chính trị văn hóa, xã hội Người dân có quyền làmchủ bản thân, nghĩa là quyền được bảo vệ thân thể, được tự do đi lại, tự do hànhnghề, tự do ngôn luận, tự do học tập trong khuôn khổ pháp luật cho phép Ngườidân có quyền làm chủ tập thể, làm chủ địa phương, làm chủ cơ quan nơi mìnhsống và làm việc theo quy định của pháp luật Hồ Chí Minh nói Mọi quyền hạnđều ở nơi dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân Người giải thích dân làgốc của nước, dân là người không tiếc máu xương để xây dựng và bảo vệ đấtnước, nước không có dân thì không thành nước, nước do dân xây dựng lên, dodân đem xương máu ra bảo vệ, vì vậy dân là chủ của đất nước Thực tiễn trongquá trình thực hiện cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, Nhân dân đã cungcấp cho Đảng những người con ưu tú nhất, lực lượng của Đảng lớn mạnh đượchay không là do Nhân dân là người xây dựng, đồng thời cũng là người bảo vệĐảng, bảo vệ cán bộ của Đảng, Nhân dân là lực lượng biến chủ trương đườnglối của Đảng thành hiện thực

Chế độ dân chủ mà Nhân dân xây dựng là chế độ dân chủ thực sự củaNhân dân gắn liền với công bằng xã hội, xóa bỏ áp bức bóc lột Cán bộ từ trênxuống dưới làm đầy tớ cho Nhân dân, phải xứng đáng là người công bộc trungthành của Nhân dân “Tài dân, sức dân làm lợi cho Nhân dân” Có như vậy mớiđộng viên được đông đảo Nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch ở địaphương, cơ sở mình Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại côngviệc, rút kinh nghiệm

1.2.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương và chính sách đúng đắnnhằm đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trên mọi lĩnh vực của

Trang 27

đời sống, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng của đất nước Để ngày cànghoàn thiện những nội dung cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phát huyquyền làm chủ của Nhân dân lao động trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 30/CT-TWngày 18/2/1998 về việc xây dựng và hoàn thiện QCDC ở cơ sở

Chỉ thị 30 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng được triển khai ở cơ sởnhằm phát huy tốt hơn và nhiều hơn quyền làm chủ của Nhân dân đó vừa là mụcđích, vừa là động lực cho sự phát triển Góp phần ngăn chặn tình trạng suy thoái

về đạo đức, tham nhũng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu Nhân dân trong bộmáy chính quyền các cấp, tạo điều kiện xây dựng chính quyền trong sạch, vữngmạnh, góp phần khắc phục tình trạng vừa mất dân chủ ở cơ sở vừa dân chủ cựcđoan tạo cho quyền làm chủ của Nhân dân được tôn trọng, đưa QCDC trở thành

nề nếp trong hoạt động của chính quyền các cấp QCDC còn góp phần khai thácphát huy trí tuệ và sức sáng tạo của Nhân dân, tạo sức mạnh vật chất tinh thần tolớn trong thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh” Thực chất là cụ thể hoá phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dânkiểm tra”

Để cụ thể hoá Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ngay sau đóUBTVQH ra Nghị quyết về việc thực hiện QCDC ở cơ sở, Chính phủ ban hànhcác Nghị định về thực hiện QCDC trên 3 loại hình cơ sở đó là: Nghị định29/1998/NĐ-CP (Nay là Nghị định số 79/2003/NĐ-CP) Ủy ban Thường vụQuốc hội (2007), Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn của Ủy Ban

Thường vụ Quốc hội số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 Pháp lệnh

nêu rõ những quy định chung, những nội dung công khai để nhân dân biết,những nội dung Nhân dân bàn và quy định, những nội dung Nhân dân tham gia

ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định, những nội dung nhân dângiám sát, điều khoản thi hành trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở xã,phường, thị trấn Nghị định số 07/NĐ- CP ra ngày 7/8/1998 về thực hiện QCDC

Trang 28

ở doanh nghiệp Nghị định số 71/NĐ- CP ra ngày 8/9/1998 về thực hiện quyQCDC ở cơ quan hành chính sự nghiệp

Về nội dung cơ bản của Nghị định số 79/2003/NĐ-CP bao gồm: Nhữngquy định chung ở Điều 1, Điều 2, Điều 3 và Điều 4 [9, tr.2] là:

Điều 1 “Quy chế này quy định cụ thể những việc Hội đồng nhân dân và

Uỷ ban nhân dân xã (sau đây gọi là chính quyền xã) phải thông tin kịp thời vàcông khai để dân biết; những việc dân bàn và quyết định trực tiếp; những việcdân tham gia ý kiến trước khi cơ quan Nhà nước quyết định; những việc dângiám sát, kiểm tra và các hình thức thực hiện Quy chế dân chủ ở xã”

Điều 2 “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã nhằm phát huy quyền làm chủ,sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớncủa nhân dân trong phát triển kinh tế xã hội, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí,

ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựng Đảng bộ, chính quyền và cácđoàn thể trong xã trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và khắc phục tình trạng suythoái, quan liêu, tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên và các tệ nạn xã hội,góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

Điều 3 “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với cơ chế Đảnglãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; phát huy chế độ dân chủ đạidiện, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của chính quyền địa phương,thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở để nhân dân bàn bạc và trực tiếpquyết định những công việc quan trọng, thiết thực, gắn với quyền lợi và nghĩa

vụ của nhân dân”

Điều 4 “Dân chủ phải trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật; điđôi với trật tự, kỷ cương; quyền đi đôi với nghĩa vụ; kiên quyết xử lý nhữnghành vi lợi dụng dân chủ, vi phạm Hiến pháp, pháp luật, xâm phạm lợi ích củaNhà nước; lợi ích tập thể, quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của côngdân”

Trang 29

Những việc cần thông báo để Nhân dân biết: Các nghị quyết của HĐND,

UBND phường và cấp trên với địa phương Các quy định của Nhà nước về thủtục hành chính, thu các loại thuế, lệ phí, quyền và nghĩa vụ công dân Kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm của phường Quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất đai,…Các chủ trương kế hoạch vay vốn phát triển sản xuấtxoá đói giảm nghèo Kết quả thanh tra, giải quyết các vụ việc tiêu tham nhũng…Công tác văn hoá xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh Nhữngviệc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp: Chủ trương và sức đóng góp xâydựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng (điện, đường, trườnghọc, trạm y tế, nghĩa trang, các công trình văn hoá thể thao) Xây dựng hươngước, quy ước làng văn hoá, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật tự, bài trừcác hủ tục mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội Thành lập ban giám sát các công trìnhxây dựng do phố đóng góp Tổ chức bảo vệ sản xuất kinh doanh, giữ gìn an ninhtrật tự an toàn giao thông, vệ sinh môi trường và các hoạt động khác trên địa bànphố, phường

Những việc Nhân dân bàn tham gia ý kiến chính quyền xã quyết định: Dự

thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân phường Dự thảo quy hoạch, kế hoạchkinh tế kinh tế- xã hội dài hạn và hàng năm của phường, phương án chuyển đổi

cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất và phương án phát triển ngành nghề, quy hoạchđất đai…; Phương án quy hoạch khu dân cư, đề án định canh, định cư vùng kinh

tế mới, kế hoạch dự án huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân

để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do phường quản lý…; Dự thảo đề án phânvạch, điều chỉnh địa giới hành chính, đề án chia tách thành lập phố…

Những việc Nhân dân giám sát kiểm tra: Hoạt động của chính quyền

phường, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức nghề nghiệp ởphường Kết quả thực hiện nghị quyết HĐND và quyết định, chỉ thị của UBNDphường Giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân tại địa phương Dự toán vàquyết toán ngân sách phường Các công trình của cấp trên triển khai trên địa bàn

Trang 30

xã có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, an ninh trật tự, văn hoá xã hội, vệ sinhmôi trường và đời sống của nhân dân địa phương Thu chi các loại quỹ và lệ phítheo quy định của Nhà nước và các khoản đóng góp của nhân dân Kết quảthanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực tham nhũng.

Thực hiện chế độ chính sách ưu đãi, chăm sóc giúp đỡ thương, bệnh binh,gia đình liệt sỹ, người có công với nước, bảo hiểm, bảo trợ xã hội…, các cấp,các ngành có trách nhiệm xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh,hiệu lực, hiệu quả, khắc phục biểu hiện quan liêu, thiếu trách nhiệm, mất dânchủ trong việc giải quyết các công việc

Thường xuyên quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở, có kế hoạchbồi dưỡng, đào tạo về trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị

và phương pháp công tác, có trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giaiđoạn cách mạng mới: công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hiện nay

1.3 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

1.3.1 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị nước ta

1.3.1.1 Khái niệm của về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Khái niệm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Đảng và Nhà nước ta hoànthiện trong 70 năm qua từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ đi lênchủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011 của Đảng), từ Hiến pháp năm

2013 và từ Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 9tháng 6 năm 2015 Qua nghiên cứu cho thấy các khái niệm được nêu trongCương lĩnh 2011, Hiến pháp 2013 và Luật Mặt trận tổ quốc là tương đồng

MTTQ Việt Nam là một bộ phận cấu thành HTCT của nước ta hiện nay

Sự quy định này là do yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là xuấtphát tư thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhândân Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống Vai trò của Mặt trận không phải

tự Mặt trận đặt ra mà là do chính nhân dân, chính lịch sử thừa nhận

Trang 31

Ngay sau khi nhân dân giành được chính quyền, Mặt trận đã trở thànhmột bộ phận cấu thành của HTCT Tuy vai trò, vị trí, chức năng và phương thứchoạt động của từng bộ phận cấu thành trong HTCT có khác nhau nhưng đều làcông cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhằm một mục đíchchung là: Phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất,dân chủ và giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế

Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 đã đưa ra khái niệm khái quát: “Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổchức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêubiểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định

cư ở nước ngoài”[29, tr7-8]

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền Nhân dân;đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp,phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cườngđồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhànước, hoạt động đối ngoại Nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.[29, tr.7-8] Điều đó khẳng định MTTQ Việt Nam là một bộ phận không thiếuđược của hệ thống chính trị nước ta

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX khẳng định: “Mặt trận Tổquốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò quan trọng trong sự nghiệp đạiđoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy quyền và trách nhiệmlàm chủ của nhân dân, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhànước, thực hiện giám sát của nhân dân đối với công tác lãnh đạo, đạo đức lốisống của cán bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử và cơ quan Nhà nước,giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ của nhân dân” [14, tr.47] Đó là “Xâydựng mối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thầntrong nhân dân; tuyên truyền, vận động Nhân dân phát huy quyền làm chủ, thựchiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến

Trang 32

pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử vàcán bộ, công chức Nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị với Đảng và Nhà nước;tham gia xây dựng và cũng cố chính quyền Nhân dân; cũng cố Nhà nước, chăm

lo về quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân; tham gia phát triển tình hữunghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với Nhân dân các nước trong khu vực vàtrên thế giới” [36,tr.5-6] Thắt chặt mật thiết giữa Nhân dân với Đảng và Nhànước để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới

Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, trải quanhiều chặng đường và tồn tại lâu dài nhiều thành phần kinh tế Trong quá trình

đó còn có sự khá nhau giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp xã hội, các tôngiáo Những biến đổi về cơ cấu giai cấp và thành phần xã hội đang đặt ra chocông tác vận động quần chúng nói chung và công tác Mặt trận nói riêng nhữngvấn đề mới Nhu cầu liên minh, mở rộng việc tập hợp các lực lượng yêu nướcđặt ra một cách bức bách Mặt khác các thế lực thù địch đang thực hiện chiếnlược diễn biến hoà bình và nhiều âm mưu chia rẽ khối đại đoà kết dân tộc, hòngphá hoại sự nghiệp Cách mạng của nhân dân ta

Trong bối cảnh đó, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, một

sự nghiệp đầy khó khăn gian khổ, càng đòi hỏi phải tăng cường khối đại đoànkết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Do vậy vai trò của Mặt trận

và các đoàn thể thành viên càng quan trọng Nâng cao vai trò, tác dụng của Mặttrận trong HTCT và đời sống xã hội là một yêu cầu của công cuộc đổi mới xâydựng và bảo vệ Tổ quốc

1.3.1.2 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong Hệ thống chính trị nước ta

Để hiểu rõ hơn vấn đề MTTQVN trong HTCT Nước ta cần phân tích kỷcác điều, khoản của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

MTTQVN với tư cách là bộ phận của HTCT - một trong những chủ thể tổchức thực hiện, phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân và tăng cườngkhối đoàn kết toàn dân Một trong những vấn đề bức xúc nhất từ nhiều năm nay

Trang 33

trong số các vấn đề cơ bản của HTCT ở nước ta là: Làm thế nào có những đònbẩy để thực sự phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nNhân dân Vấn đề này cóthể thấy trong vai trò của MTTQVN Luật MTTQVN ra đời là một bước tiếnquan trọng trong việc giải quyết nhiệm vụ trọng đại đó, xác định địa vị pháp lýcủa MTTQVN trong HTCT và là một công cụ pháp lý hữu hiệu tổ chức thựchiện và phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân.

Nội dung chương 1 của Luật MTTQVN được thiết kế nhằm vừa thiết lậpvừa triển khai sơ đồ HTCT ở nước ta để đi đến mục tiêu phát huy dân chủ,quyền làm chủ của nhân dân thông qua một trong những chủ thể của HTCT làMTTQVN Ở đây có ba vấn đề Luật đã giải quyết trên cơ sở Hiến pháp:MTTQVN là gì; vị trí và chức năng của MTTQVN trong HTCT; Quan hệ củaMTTQVN với Nhà Nước, với Nhân dân và với các tổ chức và cá nhân làthành viên

MTTQVN tập hợp nhân dân thông qua các đoàn thể và cá nhân rộng rãitrong toàn xã hội để trở thành một bộ phận của HTCT Việc tự nhân dân đứng ra

tổ chức thực hiện và phát huy dân chủ, quyền làm chủ của mình thông quaMTTQVN với tư cách một bộ phận của HTCT thể hiện ở bản chất và tính nhândân của MTTQVN, ở nhiệm vụ và chức năng của MTTQVN trong HTCT và ởquan hệ của MTTQVN với Nhà nước

Phạm vi thành viên tham gia của MTTQVN hết sức rộng rãi, bao gồm các

tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và cá nhân tiêu biểu trong toàn xãhội, người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của MTTQVN được dựa trên cơ sở

tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động

Quan hệ của các tổ chức thành viên trong MTTQVN dựa trên cơ sở thỏathuận hợp tác bình đẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau Tất cả nhữngđiều đó quy định bản chất và tính nhân dân của MTTQVN

Về bản chất, MTTQVN với tư cách là bộ phận của HTCT, không phải là

Trang 34

cơ quan Nhà nước, mà là nơi tập hợp tự nguyện của mọi tầng lớp xã hội không

có sự phân biệt nào về giai cấp, quá khứ, tôn giáo, thành phần xã hội Điều nàyquy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn đặc trưng của MTTQVNtrong HTCT Đồng thời chính bản chất đó khẳng định MTTQVN là bộ phậnquan trọng và không thể thiếu của HTCT, như một tổ chức để thực hiện quyềnlàm chủ của nhân dân ở nước ta Đây là một nét rất độc đáo của chế độ chính trịnước ta, thể hiện rõ nét nền dân chủ, trong đó Nhà nước ta là Nhà nước của dân,

do dân, vì dân và truyền thống Đại đoàn kết quý báu của dân tộc Việt Nam Cóthể nói MTTQVN chính là cái cốt vật chất đầy sức hút để chuyển hóa tinh thần

và truyền thống đại đoàn kết dân tộc từ sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vấtchất hiện thực của cả dân tộc thực hiện các nhiệm vụ cách mạng của dân Quyềnlực chung của Nhân dân qua kênh MTTQVN được luật MTTQVN xác định nổibật trong những nhiệm vụ của MTTQVN do MTTQVN tiến hành và tham gia,phối hợp cùng với Nhà nước tiến hành nhằm thực hiện các nhiệm vụ trọng đạicủa công cuộc đổi mới và dân chủ hóa đất nước

Với tư cách là bộ phận của HTCT, MTTQVN trong khi thực hiện cácnhiệm vụ của mình phải xác lập mối quan hệ với các cơ quan Nhà nước vàngược lại Luật MTTQVN xác định tính chất quan hệ gữa MTTQVN với Nhànước là quan hệ phối hợp và Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện đểMTTQVN hoạt động có hiệu quả Như vậy, MTTQVN là bộ phận độc lập củaHTCT, có địa vị bình đẳng với Nhà nước và quan hệ giữa MTTQVN với Nhànước là quan hệ phối hợp tôn trọng lẫn nhau Mặt trận không nằm trong hệthống bộ máy Nhà nước Đây là điểm mấu chốt để MTTQVN thực hiện chứcnăng của mình trong HTCT, phát huy dân chủ, quyền làm chủ của Nhân dântrong điều kiện cụ thể của Việt Nam

Quyền và trách nhiệm của MTTQVN với tư cách là một bộ phận củaHTCT trong thời kỳ đổi mới Cụ thể hóa chức năng và nhiệm vụ của MTTQVNvới tư cách là bộ phận trong HTCT, Luật MTTQVN quy định các “kênh” tổ

Trang 35

chức thực hiện và phát huy dân chủ quyền làm chủ của Nhân dân cả trong cơchế tham gia quản lý lẫn cơ chế tác động vào quản lý Nhà nước bằng các quyền

và trách nhiệm cụ thể của MTTQVN Các quyền và trách nhiệm này được thựchiện trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa MTTQVN với Nhân dân và Nhànước cũng như vai trò cầu nối giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước củaMTTQVN

Tham gia, phối hợp với các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện nhữngnhiệm vụ có tính xã hội và Nhân dân rộng lớn Những nhiệm vụ như tuyêntruyền, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thi hành chính sách, phápluật, tổ chức vận động nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở, hướng dẫn nhân dânxây dựng hương ước, quy ước về nếp sống tự quản ở thôn, làng, ấp, bản, tổ dânphố và cộng đồng dân cư khác ở cơ sở Một mình Nhà nước sẽ không thể đảmđương hết được các công việc trên nếu không có sự tham gia của MTTQVN cáccấp Ở đây kênh Mặt trận được đặc biệt phát huy

Tham gia xây dựng và củng cố chính quyền Nhân dân và thực hiện hoạtđộng giám sát đối với cơ quan Nhà Nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chứcNhà Nước Trong trách nhiệm và quyền tham gia vào xây dựng và cũng cốchính quyền nhân dân, MTTQVN tham gia công tác bầu cử, tham gia xây dựngpháp luật, tham gia hoạt động tố tụng, tuyển chọn thẩm phán, giới thiệu hộithẩm nhân dân, tham dự các phiên họp của ủy Ban Thường vụ Quốc hội, Chínhphủ, các kỳ họp của HĐND, hội nghị của UBND khi bàn đến các vấn đề liênquan Hoạt động giám sát của Mặt trận đối với cơ quan Nhà nước, đại biểu dân

cử và cán bộ, công chức Nhà nước đã được quy định cụ thể trong các chương 4

và chương 5 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015

Điều 19 Luật MTTQVN quy định trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của mình, theo quy định của pháp luật về bầu cử, Mặt trận Tổ quốcViệt Nam tổ chức hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểuquốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân

Trang 36

Mục tiêu của hoạt động giám sát của MTTQVN là nhằm xây dựng và bảo

vệ Nhà nước (các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp) trong sạch, vững mạnh,hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhândân MTTQVN Trong giai đoạn hiện nay, MTTQVN phát huy một cách hiệuquả quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dânkiểm tra”, góp phần quan trọng tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và pháthuy dân chủ ở nước ta và như vậy cũng góp phần vào giải quyết một trongnhững vấn đề bức xúc nhất từ nhiều năm nay trong số các vấn đề cơ bản củaHTCT nước ta là: Làm thế nào có những đòn bẩy để thực sự phát huy dân chủ,quyền làm chủ của nhân dân

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 khóa IX để cụ thểhóa Nghị quyết chuyên đề: về phát huy sức mạnh Đại đoàn kết toàn dân tộc vìdân giàu, nước mạnh, công bằng dân chủ, văn minh Hội nghị đã xác định rõnhững quan điểm lớn trong việc phát huy sức mạnh Đại đoàn kết toàn dân tộc.Đặc biệt, Hội nghị đã nhân mạnh những chủ trương, giải pháp chủ yếu nhằmcủng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó đẩy mạnh việc thựchiện dân chủ; mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, nâng caovai trò Mặt trận và các đoàn thể Nhân dân trọng việc thực hiện đại đoàn kết toàndân tộc trong tình hình mới đã được hết sức chú trọng, khẳng định ý nghĩa to lớncủa Mặt trận dân tộc thống nhất trong giai đoạn hiện nay

1.3.2 Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

1.3.2.1 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn tham gia tuyên truyền, phổ biến Quy chế dân chủ

Ủy ban MTTQVN phối hợp với chính quyền và các tổ chức thành viêncủa MTTQVN tuyên truyền phổ biến sâu rộng trong Nhân dân ở cơ sở nhữngchủ trương chính sách của Đảng, quy định của Nhà nước về xây dựng và thựchiện QCDC ở cơ sở, về quyền làm chủ của Nhân dân, nhất là quyền làm chủ

Trang 37

trực tiếp, dân chủ đại diện được quy định trong QCDC Tổ chức Nhân dân họctập quán triệt các quan điểm của Đảng trong Chỉ thị 30 để Nhân dân sử dụngđúng quyền và trách nhiệm của mình đã quy định trong quy chế.

Mặt trận chủ trì tổ chức học tập cho những người tiêu biểu như: nhân sĩ,trí thức, già làng, chức sắc, chức việc trong tôn giáo, người tiêu biểu trong cácdân tộc để học tập nắm vững nội dung QCDC, qua đó các vị sẽ giúp Mặt trậntuyên truyền, giải thích trong giới mình, tổ chức mình thực hiện

MTTQVN chủ trì tổ chức cho cán bộ chuyên trách công tác Mặt trận; cán

bộ trong Ban Thường trực Mặt trận xã, phường, trưởng ban công tác Mặt trận ởthôn, làng, ấp, bản, khu phố; trưởng ban Thanh tra Nhân dân nghiên cứu, học tập

để quán triệt Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị, Nghị định 29 và các văn bản pháp luậtliên quan để tham gia thực hiện và tổ chức thực hiện từng cấp và địa bàn dân cư.MTTQVN phối hợp với tổ chức thành viên thống nhất kế hoạch tuyên truyền,phổ biến rộng rãi trong đoàn viên, hội viên; giáo dục hội viên, đoàn viên gươngmẩu thực hiện và vận động Nhân dân thực hiện

Trong việc tuyên truyền, phổ biến QCDC ở cơ sở, Mặt trận cần quántriệt tư tưởng và là bài học mà Đảng ta đã tổng kết: phát huy quyền làm chủcủa Nhân dân vừa là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của

sự nghiệp cách mạng, nhất là trong công cuộc đổi mới của thời đại công nghiệphóa, hiện đại hóa Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, từng bước thực hiệnquyền dân chủ của Nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất là bản chất tốtđẹp của Nhà nước, nhằm thu hút mọi tầng lớp Nhân dân tham gia quản lý Nhànước, quản lý xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước, củachính quyền ở cơ sở, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu và vi phạmquyền làm chủ và tệ tham nhũng Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương, kỷ luật,chống khuynh hướng dân chủ cực đoan, quá khích Dân chủ phải trong khuônkhổ của pháp luật

Công tác tuyên truyền, phổ biến của Mặt trận phải đến địa bàn dân cư,

Trang 38

thông qua các Ban công tác Mặt trận ở thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố để từ đóphổ biến tới từng hộ gia đình Đây là thế mạnh của công tác Mặt trận và tổ chứcMặt trận, để truyền đạt chủ trương, chính sách pháp luật tới từng người dân, tổchức các hoạt động phong trào nhân dân vì lợi ích của Đảng và Nhà Nước.

1.3.2.2 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và các tổ chức thành viên thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở

Uỷ ban MTTQVN tích cực, chủ động phối hợp với HĐND, UBND và các

tổ chức hành viên chỉ đạo và tổ chức để nhân dân được quyền thông tin về phápluật, về chính sách của Nhà Nước, nhất là những vấn đề có liên quan trực tiếpđến đời sống và lợi ích hàng ngày của dân trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xãhội, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội Ví dụ như thông qua để Nhân dân được biếtcác Nghị quyết của HĐND, UBND xã và của các cấp trên liên quan đến địaphương; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của xã, kế hoạch vay vốnphát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo; dự án xây dựng đường làng, đường xã,xây dựng trường học, trạm xá, trạm bơm, trạm biến thế… Hình thức thông tin cóhiệu quả của Mặt trận là thông qua các ban công tác Mặt trận, thông qua các tổchức thành viên của Mặt trận, những người tiêu biểu trong các dân tộc và chứcsắc tôn giáo, cán bộ đã nghỉ hưu, người cao tuổi…[9, tr.1]

Tổ chức để dân thảo luận và quyết định những loại việc liên quan trực tiếpđến đời sống của dân trên địa bàn dân cư như: chủ trương huy động sức dân đểxây dựng kết cấu hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng, các khoản đónggóp tự nguyện và lập quỹ, xây dựng hương ước, quy ước, lành văn hóa, nếpsống văn minh

Tổ chức để Nhân dân thảo luận, tham gia vào các chủ trương, chính sách,nhiệm vụ chuyên môn… của chính quyền trước khi HĐND, UBND ra quyếtđịnh như: dự án quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế dài hạn, hàng năm của

xã, phường; dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, khu dân cư; định

Trang 39

canh, định cư; chủ trương, phương án đền bù giải phóng mặt bằng.

Những nội dung trên đây có những công việc liên quan đến quyền vànghĩa vụ công dân, có những loại việc liên quan mật thiết đến đời sống, tìnhcảm, đạo đức của mỗi người dân Vì vậy, Mặt trận cơ sở và phải cùng chínhquyền bàn bạc cách tổ chức để mọi công dân, hoặc chí ít thì đại diện các chủ hộgia đình đều được tham gia, đề suất sáng kiến, thống nhất ý chí, phát huy trí tuệcủa dân trong thôn, làng, khơi dậy ý chí xây dựng quê hương giàu đẹp, có nếpsống văn hóa mới Đồng thời MTTQ xã và Ban công tác Mặt trận phải tập hợpđược những thắc mắc, kiến nghị của dân để phản ánh với chính quyền xã,phường hoặc cấp trên nghiên cứu trả lời và thông tin lại cho dân biết Việc côngkhai chủ trương, kế hoạch kinh tế - xã hội của chính quyền xã được thông tinrộng rãi, đưa về để dân bàn kỹ lưỡng, dân đồng tình hưởng ứng và sẵn sàng thựchiện Đó là hiệu quả và kết quả của việc thực hiện dân chủ trực tiếp, qua đó từngbước bổ sung cách làm, bổ sung quy chế cho phù hợp với từng địa phương

Quá trình phối hợp của Mặt trận xã và Ban công tác Mặt trận với chínhquyền, với trưởng thôn, làng, ấp, bản, trưởng khu, tổ trưởng dân phố để thựchiện QCDC được lồng ghép nội dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xâydựng cuộc sống mới ở khu dân cư” nhằm xây dựng cơ chế chỉ đạo và phối hợp,thống nhất trong HTCT cơ sở Ví dụ: xây dựng cơ chế tổ chức để nhân dânthực hiện quyền được thông tin nhằm nâng cao dân trí về pháp luật; cơ chế tổchức để dân bàn và quyết định trực tiếp những loại quan hệ trực tiếp đến đờisống nhân dân nhằm nâng cao dân sinh; chế độ tự quản của dân ở khu dân cư

Từ đó hình thành các quy chế về mối quan hệ công tác giữa tổ chức củaMTTQVN với chính quyền và các chức danh ở thôn, làng Một việc quan trọngkhác là Mặt trận xã, phường và Ban công tác Mặt trận vận động dân thực hiện

và giám sát việc thực hiện quy chế tổ chức thu, quản lý và sử dụng các khoảnđóng góp của dân cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở xã, quy chế công khaitài chính đối với ngân sách Nhà nước các cấp và các quỹ có nguồn thu từ các

Trang 40

khoản đóng góp của dân.

1.3.2.3 Hoạt động giám sát của Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã, phường, thị trấn đối với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Căn cứ vào nội dung quy chế hoạt động giám sát gồm 3 phương thức: Thứnhất, hoạt động giám sát trực tiếp của dân đối với toàn bộ các hoạt động của chínhquyền nhằm đảm bảo quyền làm chủ của dân nhất là những quyền dân chủ trực tiếp.Thứ hai, hoạt động giám sát của Ban Thanh tra nhân dân theo quy định của LuậtThanh tra, và quy định của QCDC Thứ ba, hoạt động giám sát của UBMTTQVN

và các tổ chức thành viên trong quá trình xây dựng và thực hiện QCDC

Nội dung giám sát bao gồm các lĩnh vực sau: 1) Giám sát hoạt động củaHĐND, UBND; 2) Giám sát hoạt động của đại biểu HĐND, các thành viên củaUBND và cán bộ xã, phường trong quá trình thực hiện nhiệm vụ theo quy địnhcủa QCDC; 3) Giám sát việc thực hiện các văn bản pháp luật có liên quan thựchiện quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở

Các hình thức biện pháp giám sát là:

- Thông qua việc phối hợp với chính quyền trong quá trình tổ chức thựchiện QCDC

- Thông qua việc tham gia các kỳ họp HĐND, UBND

- Thông qua việc tham gia các Hội đồng, Ban chỉ đạo ở địa phương

- Thông qua việc tổ chức các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêunước của nhân dân

- Thông qua tiếp dân, thu thập ý kiến, kiến nghị của nhân dân

- Thông qua tổ chức, chỉ đạo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân.Mặt trận thực hiện quyền giám sát của mình, đồng thời chỉ đạo hoạt độnggiám sát của Ban Thanh tra nhân dân trong quá trình thực hiện quyền làm chủtrực tiếp của nhân dân ở xã, phường, thị trấn theo các nội dung trong bản QCDCcủa Chính phủ đã ban hành và theo quy định của Luật Thanh tra

Hoạt động giám sát của Mặt trận và của Ban Thanh tra nhân dân ở xã,

Ngày đăng: 22/01/2016, 13:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3]. Ban Dân vận Trung ương - Ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở (2002), Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Tác giả: Ban Dân vận Trung ương - Ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2002
[6]. C.Mác-Ph. Ăngghen (1980) toàn tập, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập, tập 1
Nhà XB: Nxb Sự thật
[12]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa (bổ sung, phát triển năm 2011)(2011) , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa (bổ sung, phát triển năm 2011)(2011)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
[13]. Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ III khóa VIII (1997), Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ III khóa VIII (1997)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ III khóa VIII
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 1997
[14]. Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2001
[16]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
[18]. Hồ Chí Minh (2000) toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập, tập 5
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
[19]. Hồ Chí Minh (2000) toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập, tập 6
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
[20]. Hồ Chí Minh (2000) toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập, tập 7
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
[23]. Lương Gia Ban (2003) Dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
[24]. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (2015), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2015
[25]. Nguyễn Cúc (2002), Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Cúc
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2002
[26]. PGS.TS Nguyễn Lương Bằng (2012) “Giám sát phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giám sát phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay
[27]. PGS.TS Nguyễn Lương Bằng (2012). Bài viết “Vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đối với ổn định và tăng trưởng kinh tế vĩ mô ở Việt Nam”, kỷ yếu hội thảo khoa học, Đại học Vinh, tháng 4 năm 2012 Trang.16-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đối với ổn định và tăng trưởng kinh tế vĩ mô ở Việt Nam”, kỷ yếu hội thảo khoa học
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Lương Bằng
Năm: 2012
[28]. Quốc Hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2013, Nxb lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2013
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Nxb lao động
Năm: 2013
[29]. Quốc hội (2015), Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (75/2015QH13), Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (75/2015QH13)
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2015
[36]. Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2006), sổ tay công tác Mặt trận tham gia xây dựng Chính quyền, Xưởng in Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: sổ tay công tác Mặt trận tham gia xây dựng Chính quyền
Tác giả: Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Năm: 2006
[1]. Ban Bí thư Trung ương khóa IX (2002), Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 28/03/2002 về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Khác
[2]. Bộ Chính trị Trung ương Đảng (1998), Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18/02/1998 về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Khác
[4]. Ban Tổ chức - cán bộ Chính phủ (1998) Thông tư số 03 về hướng dẫn áp dụng quy chế thực hiện dân chủ ở xã đối với phường và thị trấn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w