Quan điểm của Đảng, chính sách nhà nước và những yêu cầu cơ bản trong thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực 26 Chương 2 THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở THỰC THI C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HIỆN ĐẠI HÓA Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thái Sơn
Đồng Tháp, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp, tôi nhận được sựđộng viên giúp đỡ của nhiều người thân, thầy cô, anh chị, bạn bè Tôi xin chânthành cảm ơn quí thầy cô của trường Đại học Vinh và Đại học Đồng Tháp đã tạođiều kiện thuận lợi trong quá trình học tập tại trường Đặc biệt, tôi xin tỏ lòngbiết ơn chân thành và sâu sắc đối với thầy PGS TS Nguyễn Thái Sơn – phótrưởng khoa Giáo dục Chính trị trường Đại học Vinh đã hướng dẫn nhiệt tìnhgiúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình viết luận văn tốt nghiệp Trong quá trìnhlàm vệc với thầy, tôi học được rất nhiều điều, từ sự gần gũi, thân thiện đếnphong cách làm việc khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm, hết lòng vì công việc
Tôi cũng chân thành cảm ơn quí thầy cô giáo khoa Giáo dục Chính trịtrường Đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi cũng như anh chị emhọc viên lớp cao học khóa 21 hoàn thành chương trình học
Tôi bài tỏ lòng biết ơn đối với tập thể anh chị em lớp Cao học Chính trịkhóa 21 đã thê hiện tinh thần đoàn kết và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trìnhsinh hoạt và học tập với tập thể lớp Tôi cảm ơn gia đình và cơ quan đã rất nhiệttình, ủng hộ, động viên, tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành chương trình khóahọc Xin cảm ơn tất cả mọi người, sau khi tốt nghiệp tôi sẽ vận dụng kiến thức
đã học vào thực tiễn công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Đồng Tháp, tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Trang 4Ngô Hồng Phong
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
GD - ĐT : Giáo dục đào tạo
Trang 5VỊ TRÍ, TẦM QUAN TRỌNG CỦA THỰC THI CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG
1.1 Chính sách phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp
1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách nhà nước và những yêu cầu cơ bản
trong thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực 26
Chương 2 THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở
THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
3.1 Quan điểm chủ yếu trong thực thi chính phát triển nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa 763.2 Những giải pháp chủ yếu trong thực thi chính sách phát triển nguồn
nhân lực ở thành phố Cần Thơ trong thời gian tới 80
Trang 6C KẾT LUẬN 92
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa, kinh tế - xã hội phát triển chủ yếu dựa vào trithức, chính vì thế sự phát triển của một quốc gia cũng chủ yếu dựa vào nguồnnhân lực (NNL) Do đó, Việt Nam sau khi chính thức trở thành thành viên thứ
150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO), NNL là vấn đề quan tâm hàng đầucủa Đảng và Nhà nước ta NNL sẽ là nhân tố quyết định thúc đẩy sự phát triển
xã hội, sự tăng trưởng kinh tế đặc biệt là tiến trình CNH, HĐH đất nước
Trong xu thế hiện nay, trong quá trình hoạch định chính sách, để đáp ứngyêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu tối quan trọng và bức bách đối với mọinhà nước là đổi mới cách thức hoạch định, thực thi các quyết sách chính trị trênmọi lĩnh vực Ở Việt Nam, quá trình đổi mới kinh tế - chính trị - xã hội diễn ra từĐại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam Công cuộc đổi mới đặt ra nhiều vấn đề,trên nhiều lĩnh vực: Xây dựng Nhà nước pháp quyền gắn với đẩy mạnh cải cáchnền hành chính, phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần gắn với đẩymạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và thực hiện côngbằng, bình đẳng xã hội, đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa xã hội… Để thực hiệnđược những mục tiêu của đổi mới, vấn đề đặt ra rất quan trọng lúc này là hoànthiện chính sách và quá trình thực thi các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nóichung và chính sách phát triển NNL nói riêng
Sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam chỉ có thể thành công khi chúng ta đã cómột NNL có chất lượng Vì vậy, phát triển NNL được coi là mục tiêu cuối cùng,động lực của sự phát triển xã hội Nhận thức rõ điều này, văn kiện Đại hội lần VIIIcủa Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Nguồn lực con người Việt Nam là vốnquý nhất trong điều kiện các nguồn lực khác của chúng ta còn hạn chế, do đó phảilấy việc phát triển nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh vàbền vững [6, tr 85] Vì thế trong suốt thời kỳ quá độ, Đảng và Nhà nước ta rất quan
Trang 8tâm và đã thu được những kết quả nhất định trong hoạch định và thực thi các chínhsách nói chung và chính sách phát triển NNL nói riêng, đáp ứng ở mức độ nhấtđịnh NNL cho CNH, HĐH Tuy nhiên, so với các nước trên thế giới, NNL nước taxét cả về số lượng và chất lượng còn nhiều vấn đề bất cập Theo đánh giá của cácnhà kinh tế và hoạch định chính sách trong nước và quốc tế thì chính sách pháttriển NNL nước ta còn thiếu, chưa đồng bộ, một số chưa phù hợp với yêu cầu sựnghiệp CNH, HĐH, việc tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế, yếu kém, dẫn đếnnhững hạn chế hiệu quả thực thi chính sách
Cần Thơ là một thành phố trực thuộc trung ương của vùng đồng bằngsông Cửu Long, theo Nghị quyết 45-NQ/TW ngày 17/2/2005 của Bộ Chính trị(khóa IX) về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ CNH, HĐHđất nước, nhằm xây dựng thành phố Cần Thơ thành trung tâm công nghiệp, trungtâm giáo dục đào tạo và khoa học… của vùng ĐBSCL Cần Thơ có nhiều tiềmnăng, thế mạnh thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội, nhưng nhìn chung chưađược khai thác hết và chưa sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có Những tiềmnăng, thế mạnh đó chỉ có thể phát huy được khi Cần Thơ có NNL tương xứng đểkhai thác nhanh chóng đưa thành phố Cần Thơ trở thành thành phố công nghiệpphát triển, là vùng kinh tế trọng điểm của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
Thời gian qua, các cấp chính quyền ở Thành phố Cần Thơ rất quan tâmtrong thực hiện các chính sách phát triển NNL và việc thực hiện những chính sáchnày cũng mang lại kết quả hết sức khả quan Tuy nhiên, NNL với tư cách là độnglực của sự phát triển đang trong tình trạng thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, bấtcập về cơ cấu, chưa đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH của thành phố Do vậy các
cơ quan nhà nước, các cấp chính quyền địa phương cần quan tâm chỉ đạo sát saohơn công tác tổ chức triển khai thực hiện chính sách phát triển NNL một cách cóhiệu quả
Trang 9Với tất cả những lí do do trên, tôi chọn vấn đề “Thực thi chính sách phát
triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Cần Thơ hiện nay” làm luận văn thạc sĩ chính trị học.
Trong những năm gần đây, vấn đề con người và phát triển nguồn lực conngười trong tình hình mới hiện nay đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứumột cách có hệ thống, đáng chú ý là những công trình sau:
- “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước” của PTS Mai Quốc Chánh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1999 Cuốn sách đã phân tích vai trò của nhân lực và sự cần thiết phải nâng caochất lượng NNL, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượngNNL nước ta đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước
- “Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” củaPGS Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (Viện Kinh tế thế giới), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1996 Tác phẩm này đã giới thiệu khái quát về vai trò của NNL ở một sốnước trên thế giới dưới tác động của GD - ĐT, đồng thời nêu bật vai trò của GD -
ĐT trong việc phát triển NNL ở Việt Nam
- “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiệnđại hóa” do GS,TS Phạm Minh Hạc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001 Cuốn sách là công trình nghiên cứu tâm huyết và công phu về con người.Nội dung sách tập trung trình bày khái quát lịch sử hình thành và phát triển củangành khoa học xã hội nghiên cứu con người trên thế giới và ở Việt Nam một sốkết quả bước đầu trong chương trình nghiên cứu con người và NNL; một số đềxuất và kiến nghị về chiến lược và chính sách nhằm phát triển toàn diện con người
và NNL Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay
- “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trongđiều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế” của GS,TSKH Nguyễn MinhĐường và PGS,TS Phan Văn Kha (đồng chủ biên), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,
2006 Cuốn sách đã phân tích, hệ thống hóa cơ sở lý luận, chỉ ra thực trạng của lực
Trang 10lượng lao động và đào tạo nhân lực các trình độ; từ đó đề xuất các giải pháp nhằmphát triển nhân lực, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước trong điều kiện kinh tếthị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
- “Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng - kinh nghiệm củathế giới”, Trần Văn Tùng, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2005 Cuốn sách đã trình bàynhững kinh nghiệm trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng tài năng khoa họccông nghệ, sản xuất kinh doanh, quản lý của Mỹ và một số nước châu Âu, châu Á.Trên cơ sở đó đề cập đến Việt Nam cần đổi mới các chính sách đào tạo, bồi dưỡng
và sử dụng nguồn tài năng hiện có
- “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước” của TS Nguyễn Thanh (chủ biên), Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả
đã khẳng định phát triển NNL là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệpCNH, HĐH ở nước ta hiện nay Từ đó, nêu thực trạng, một số định hướng chủ yếuphát triển NNL có chất lượng ở nước ta
Vấn đề con người phát triển nguồn lực con người cũng là đề tài nghiên cứucủa một số luận văn, luận án, đáng chú ý như: “Nguồn lực con người trong quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Văn Khái(2000); “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay”, luận án thạc sĩ của tác giả Vũ ThịPhương Mai (2004)… Nhìn chung, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu làm rõ các vấn
đề về nguồn lực con người, NNL chất lượng cao và vai trò của những nguồn lựcnày trong sự nghiệp CNH, HĐH Qua phân tích thực trạng các tác giả đã đề xuấtnhiều giải pháp để phát huy, phát triển những nguồn lực này trong thời gian tới
Ngoài ra, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã có những công trình, bài viết
về vấn đề nguồn lực con người và đã được đăng tải trên các tạp chí, các kỷ yếu khoa học, trên mạng internet… Tuy nhiên, dưới góc độ thực thi chính sách phát
triển NNL nói chung và ở TP Cần Thơ nói riêng, cho đến nay, vẫn chưa có công
trình nào nghiên cứu
Trang 112 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở lý luận về chính sách và hệ thống các chính sách phát triển NNL
và thực trạng thực thi chính sách phát triển NNL ở Cần Thơ Trên cơ sở đó đề xuấtnhững giải pháp cơ bản nhằm nâng cao việc thực thi chính sách phát triển NNL đốivới các lĩnh vực trên ở Cần Thơ trong thời gian tới
3 Nhiệm vụ của đề tài
- Làm rõ cơ sở lý luận, vị trí, vai trò của chính sách và thực thi chính sáchphát triển NNL trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta
- Phân tích quá trình thực thi chính sách phát triển NNL trên địa bàn thànhphố Cần Thơ
- Đưa ra những giải pháp có tính định hướng nhằm nâng cao việc thực thichính sách phát triển NNL, đáp ứng nhu cầu cho quá trình CNH, HĐH ở Cần Thơ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Chính sách phát triển NNL là một hệ thống nhiều chính sách Trong luậnvăn này chỉ tập trung nghiên cứu thực thi các chính sách: Phát triển GD - ĐT; thựcthi chính sách dạy nghề; thực thi chính sách xây dựng cơ cấu, phân bố và sử dụnglao động; thực thi chính sách đầu tư phát triển NNL
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản
Trang 12Việt Nam về NNL và chính sách phát triển NNL, đồng thời kế thừa kết quả nhữngcông trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước có liên quan đếnvấn đề thực thi chính sách phát triển NNL
* Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: Phân tích và tổnghợp, lịch sử và lôgíc, kết hợp phân tích lý luận với tổng kết thực tiễn, sử dụng cácphương pháp thống kê, so sánh, phương pháp chuyên gia…
6 Những đóng góp mới của đề tài
Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm về lý luận chính sách
và thực hiện chính sách công về phát triển NNL trong sự nghiệp CNH, HĐH ởnước ta
Luận văn làm rõ thực trạng thực thi chính sách phát triển NNL ở Cần Thơtrong những năm đổi mới
Những đề xuất giải pháp tiếp tục đổi mới việc thực thi chính sách phát triểnNNL ở Cần Thơ trong thời gian tới
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa và hoàn thiện vềmặt lý luận vấn đề chính sách và thực thi chính sách phát triển NNL
Luận văn sau khi hoàn thành có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơquan hoạch định chính sách phát triển NNL ở Cần Thơ và cũng có thể nghiên cứu,dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy và học tập trong hệ thống cáctrường chính trị
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu thành 3 chương, 8 tiết
Trang 13B NỘI DUNG Chương 1
VỊ TRÍ, TẦM QUAN TRỌNG CỦA THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1.1 Chính sách phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.1 Chính sách công
Có nhiều quan niệm khác nhau, cách nhìn khác nhau về chính sách công
Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ “Chínhsách công” được sử dụng rất phổ biến Có thể nêu ra một số quan niệm sau:
Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chínhphủ/chính quyền và những ý định quyết định hành động này; hoặc chính sáchcông là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai giành được cái gì(Clarke E Cochran, et al, 1999)
Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặcmột nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (JamesAnderson, 2003)
Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động củachính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kết hợp với các cáchthức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng nhưcác quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chươngtrình (Kraft and Furlong, 2004) Từ các quan niệm trên, chính sách công có thểđược nhìn nhận như sau:
Trước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước,
do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nóichung của mỗi nước
Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt động
Trang 14cũng như quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch
vụ công cộng cho nền kinh tế
Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng để:Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế,khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tư; Quản lý nguồn lựccông một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội,môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn Nói cách khác chính sách công
là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác địnhmục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụngnguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước
Có thể hiểu chính sách công theo một quan niệm chung nhất: Chính sáchcông là tổng thể những chủ trương của nhà nước đối với xã hội trong việc quy địnhcác hoạt động của những đối tượng nào đó theo một phương thức nhất định, nhằmthực thi quyền lực chính trị [4, tr 19]
Chính sách công thể hiện những vấn đề cơ bản sau đây:
Thứ nhất, trước hết, chính sách công là sản phẩm của các cơ quan nhà
nước, là sự thể hiện quyền lực của giai cấp thống trị trong sự thống trị xã hội,giai cấp thống trị được tổ chức thành nhà nước, đồng thời là kết quả (đầu ra)trong hoạt động của cả hệ thống chính trị, thể hiện tập trung nhất ở nhà nước(hay nói chung là của các cơ quan công quyền) Chính vì vậy, theo Frank Ellis,Chính sách (Politique) là các chủ trương, biện pháp, là sách lược, kế hoạch cụthể của chính phủ (cơ quan công quyền, của cơ quan nhà nước) đối với các lĩnhvực đời sống xã hội Như vậy, có thể nói tất cả các quyết định đưa ra từ cơ quancông quyền đều được coi là chính sách công [4, tr.121] Nói cách khác, chínhsách công là đường lối hành động mà chính phủ lựa chọn để thực hiện các mụctiêu nhất định của nhà nước đối với những vấn đề xã hội nhất định
Chính sách công là sản phẩm của nhà nước nên tất yếu là nó mang thể chế,tính hợp pháp và tính cưỡng chế Đó là một hệ thống các quyết định và những tác
Trang 15động có ý thức (tự giác) của nhà nước đến đời sống xã hội, nhằm đạt được các mụctiêu do nhà nước đã đặt ra trong quá trình thực thi quyền lực.
Thứ hai, chính sách công là thể hiện ý chí nhà nước trong giải quyết các
quan hệ xã hội được thể hiện thông qua tất cả những tác động, các chủ trương của
cơ quan công quyền Trên ý nghĩa đó, E Anlerson coi chính sách công là nhữnghoạt động mà chính quyền chọn làm hoặc không làm, cái gì cấm làm hoặc chophép làm đối với mỗi tổ chức kinh tế - xã hội và công dân [4, tr.122] Thông quachính sách công, nhà nước thực hiện các lợi ích của giai cấp cầm quyền cũng nhưnhững lợi ích nhất định của cộng đồng xã hội Và như vậy, chính sách công là sựthể hiện uy lực, quyền lực công
Thứ ba, chính sách công là chiến lược sử dụng các nguồn lực của nhà nướcthông qua việc phân bổ các giá trị xã hội, nhằm thực hiện lợi ích nào đó cho giaicấp cầm quyền, cộng đồng xã hội, hoặc mang lại hiệu quả trong quản lý xã hội củamột quốc gia
Trong xã hội dân chủ, quyền lực nhà nước là của dân, do dân ủy quyền,thông qua phân bổ các giá trị xã hội cho phép chính phủ đảm nhiệm vai trò côngbộc đối với nhân dân, nhà nước vì dân, nhà nước tạo thời cơ điều kiện để phát huytốt nhất các nguồn lực trong dân, gìn giữ hạnh phúc, an toàn cho mọi người dân.Với ý nghĩa đó, chính sách công là cái thể hiện khả năng thực thi quyền lực nhànước, là công cụ để thực hiện ý chí nhà nước (hay ý chí của nhân dân)
Thứ tư, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nên đời sống xã hộiluôn có những biến đổi Trong mỗi thời kỳ khác nhau, điều kiện khác nhau, vớinhững quan hệ lợi ích khác nhau, đặt ra những yêu cầu khách quan trong sự pháttriển khác nhau Do đó, trong các chủ trương chính sách nhà nước, bên cạnh nhữngyếu tố, những mặt ổn định, bất biến, cũng xuất hiện những mặt, những yếu tố khảbiến, đòi hỏi nhà nước phải ứng phó hiệu quả, phải có những chủ trương, biệnpháp, sách lược, kế hoạch thích hợp ở từng thời kỳ Do đó, chính sách công còn lànghệ thuật để can thiệp cần thiết vào đời sống xã hội của chính phủ
Trang 16Thứ năm, coi chính sách công là các quyết định, các chương trình hành độngcủa nhà nước và cũng có thể coi chính sách công là một chuỗi các hoạt động cótính hệ thống của cơ quan nhà nước, được sắp xếp theo một trật tự nhất định Hệthống này có mục tiêu dài hạn hoặc ngắn hạn và được tính toán, cân nhắc cẩn thận.
Đó là một chuỗi những hoạt động như: Xác định chương trình chính sách; xâydựng và lựa chọn chính sách; tổ chức thực hiện chính sách; tổng kết, bổ sung,
Tóm lại, chính sách công là chương trình hành động của nhà nước, là ý chínhà nước mang tính cưỡng chế, nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể trong những giaiđoạn dài hạn, trung hạn hay ngắn hạn cụ thể Chính sách công là chuỗi các quyếtđịnh và hành vi nhất định của các chủ thể nắm quyền lực nhà nước ở mọi cấp độ,nhằm quy định mục đích và cách thức, hành động của những đối tượng liên quan,
để giải quyết những vấn đề mà xã hội quan tâm, nhằm thực thi quyền lực công
Vai trò của chính sách công:
Chính sách công liên quan mật thiết đến giành, giữ, thực thi quyền lực nhànước nên chính sách công có vai trò rất quan trọng:
Thông qua chính sách công để thực hiện ý chí nhà nước, ý chí chung của
Trang 17xã hội thông qua việc thực hiện phân bổ các giá trị có lợi cho giai cấp cầmquyền và đảm bảo nhất định công bằng xã hội Qua đó củng cố địa vị kinh tế củagiai cấp nắm quyền thống trị, củng cố quyền lực của giai cấp cầm quyền
Thông qua một hệ thống các chính sách đúng, đáp ứng các yêu cầu khách
quan của sự phát triển, chính sách công tạo sự ổn định chính trị - xã hội để pháttriển Chính sách đúng hay không đúng liên quan mật thiết tới phương thức caitrị (hòa bình, mềm dẻo hay bạo lực cứng rắn) Tính ổn định có quan hệ mật thiếtvới phát triển Do đó, muốn có ổn định chính trị - xã hội, nhà nước phải cónhững chính sách đúng, đáp ứng các yêu cầu khách quan trong phát triển kinh tế
- xã hội ở từng thời kỳ, ở mỗi giai đoạn phát triển, chính sách phải hợp lòng dân,phải hướng đến lợi ích của đại đa số nhân dân, tất nhiên là không tuyệt đối
Do chính sách liên quan đến phân bổ hợp lý các nguồn lực, giá trị xã hộinên việc ban hành và thực hiện chính sách có tác động đến khai thác hiệu quảcác nguồn lực xã hội (trong khi trên thực tế, không có một quốc gia nào có dồidào các nguồn lực vật chất và tinh thần)
Cuối cùng, việc xây dựng chính sách một cách dân chủ, thông qua việcban hành và thực hiện hệ thống chính sách đúng, không ngừng đổi mới, xâydựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách của nhà nước sẽ góp phần củng cố hệ thốngchính trị, trong đó phải nói đến củng cố các mối quan hệ trong hệ thống, nhưquan hệ giữa đảng cầm quyền với nhà nước, giữa đảng với dân và quan hệ giữanhà nước với dân, củng cố các nguyên tắc dân chủ - pháp quyền, xây dựng nhànước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân
1.1.2 Chính sách phát triển nguồn nhân lực
1.1.2.1 Nguồn nhân lực và chính sách phát triển nguồn nhân lực
* Nguồn nhân lực
Khi nói đến con người với tư cách là động lực thúc đẩy sự phát triển thìngười ta xem con người như một nguồn lực Như chúng ta đã biết, sự nghiệp CNH,HĐH ở nước ta phải dựa trên tổng thể các nguồn lực Dưới dạng tổng quát, hiệnnay chúng ta có các dạng nguồn lực khác nhau tham gia thúc đẩy quá trình CNH,
Trang 18HĐH như: nguồn vốn, tài nguyên, vị trí địa lý, khoa học - công nghệ, nguồn lựccon người
Cho dù có tên gọi khác nhau, nguồn lực con người hay nguồn nhân lực thìgiữa chúng vẫn có cùng một nghĩa Hiện nay, khi nói về khái niệm nguồn nhânlực (nguồn lực con người) thì có nhiều quan niệm khác nhau:
Theo định nghĩa của Liên hợp quốc, NNL là: Trình độ lành nghề, là kiến
thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng
để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng
Tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank) cho rằng: “Nguồn nhân lựcđược hiểu là toàn bộ tiềm năng về vốn người bao gồm: thể lực, trí lực, tâm lực
mà mỗi cá nhân sở hữu” [43, tr.07].Tổ chức Liên hiệp quốc (UNESCO) thì chorằng: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, nănglực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân
và đất nước” [43, tr.08]
GS Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn lực con người được hiểu
là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe vàtrí tuệ, năng lực và phẩm chất” [18, tr 10]
Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa VIII cũng khẳng định: “Nguồn lực con người là người lao động có trí tuệcao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo, bồi dưỡng và pháthuy bởi một nền giáo dục tiên tiến, gắn liền với nền khoa học, công nghệ hiệnđại” [11, tr.09]
Như vậy ta thấy, do nhiều cách tiếp cận khác nhau nên đã có nhiều quanniệm khác nhau về NNL Tuy nhiên, cho dù có quan niệm khác nhau, song giữacác quan niệm này cũng có điểm chung thống nhất đó là: hầu hết các tác giả đềuxem NNL là tổng thể những tiềm năng và năng lực của con người được huyđộng vào trong quá trình lao động sản xuất và phát triển của một quốc gia haymột địa phương
Trang 19Dựa trên những quan niệm nêu trên và gắn với góc độ nghiên cứu của đềtài, có thể hiểu: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động xã hội của mộtquốc gia, một địa phương với những năng lực thể chất, tinh thần, trình độ trithức, năng lực thực tế, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tác phong laođộng đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất và tinhthần thúc đẩy sự phát triển của một quốc gia.
Với quan niệm như vậy, nguồn nhân lực được đặc trưng bởi hai yếu tố cơbản: số lượng và chất lượng NNL
Về số lượng: NNL là toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia,địa phương Số lượng nguồn nhân lực ở nước ta là bao gồm những người trong
độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến tình trạng có việc làmhoặc không có việc làm Theo khoản 1, điều 3 của Bộ luật Lao động Việt Namnăm 2012 thì Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng laođộng, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điềuhành của người sử dụng lao động Như vậy, NNL bao gồm số người đang làmviệc trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế - xã hội; số người thất nghiệp;
số người làm công việc nội trợ và số người là học sinh, sinh viên trong độ tuổilao động
Về chất lượng: NNL được biểu hiện ở năng lực thể chất, tinh thần, trình
độ tri thức, năng lực thực tế, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tácphong lao động đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vậtchất và tinh thần thúc đẩy sự phát triển của quá trình CNH, HĐH Chất lượngnguồn nhân lực được biểu hiện ở trạng thái thể lực và trí lực, cụ thể: trạng tháisức khỏe, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu ngành nghề, phẩm chấtđạo đức, nhân cách, lối sống Trong đó, thể lực là yếu tố quan trọng, là nềntảng để trên cơ sở đó phát triển trí tuệ, vận dụng trí tuệ vào công việc thực tiễn;trình độ học vấn là yếu tố quan trọng nhất, nó không chỉ là cơ sở để đào tạo kỹ
Trang 20năng nghề nghiệp mà còn là yếu tố hình thành nhân cách và lối sống của mỗi cánhân người
Như vậy, khi đề cập đến chất lượng NNL nó liên quan đến nhiều lĩnhvực: chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục - đào tạo, lao động và việc làm gắnvới tiến bộ khoa học - kỹ thuật, trả công lao động và các phúc lợi xã hộikhác Do đó, khi đề cập đến chất lượng nguồn nhân lực, không thể khôngxem xét những điều kiện phát triển con người của quốc gia, hoặc có thể củamột địa phương Trên thế giới ngày nay người ta lấy chỉ số phát triển conngười HDI (Human Deverlopman Ider) để đánh giá trình độ phát triển củamột đất nước
Chất lượng NNL cao có tác dụng làm tăng năng suất lao động Trong thờiđại tiến bộ kỹ thuật, một nước cần và có thể đưa chất lượng NNL vượt trướctrình độ phát triển của cơ sở vật chất trong nước để sẵn sàng đón nhận tiến bộ kỹthuật - công nghệ, hòa nhập với trình độ phát triển của nhân loại
* Chính sách phát triển NNL:
Từ quan điểm coi con người là trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội,phát triển NNL là quá trình gia tăng về kiến thức, kỹ năng và năng lực củacon người trong xã hội Dưới góc độ kinh tế, quá trình này được mô tả như sựtích lũy vốn con người và sự đầu tư vốn đó một cách hiệu quả vào sự pháttriển của nền kinh tế Dưới góc độ của chính trị, chính sách phát triển NNL làviệc nhà nước chuẩn bị cho con người tham gia tích cực, hiệu quả vào cáchoạt động của đời sống xã hội, từ hoạt động kinh tế, văn hóa đến hoạt độngchính trị Bởi phát triển NNL được hiểu là cả một quá trình, qua đó sự lớnmạnh của cá nhân hay tổ chức có thể đạt được những tiềm năng đầy đủ nhất
của họ theo thời gian Bởi vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các
quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm đến chính sách phát triển NNL, nhằmtạo ra đội ngũ nhân lực có chất lượng, có trình độ, có khả năng nắm bắt KH -
CN mới và ứng dụng vào sản xuất, đời sống
Trang 21Có quan niệm cho rằng: Chính sách phát triển NNL là hệ thống các quyếtđịnh của nhà nước nhằm làm gia tăng giá trị cho con người trên các mặt như đạođức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực làm cho con người trở thành những ngườilao động có những năng lực phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu cầu tolớn của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Một quan niệm khác, chính sách phát triển NNL là tổng thể những biện pháp,
kế hoạch của nhà nước nhằm làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu NNLngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội
Mặc dù với nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về chính sách pháttriển NNL, nhưng có thể hiểu chính sách phát triển NNL như sau: Chính sách pháttriển NNL là hệ thống những chủ trương, chính sách, biện pháp mà nhà nước tiếnhành nhằm phát triển NNL xã hội về số lượng và chất lượng đáp ứng các yêu cầuphát triển của mỗi cá nhân và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [38, tr 9]
1.1.2.2 Thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực
* Thực thi chính sách phát triển NNL là toàn bộ những hoạt động nhằm triển
khai tổ chức, phối hợp các lực lượng và huy động các nguồn lực vào việc thực hiệncác mục tiêu của chính sách phát triển NNL đã được ban hành
Đây là toàn bộ quá trình chuyển hóa chính sách từ mục tiêu, các điều quyđịnh được làm và không được làm cho mỗi cá nhân và mỗi tổ chức trong phát triểnNNL đã được xác định trên văn bản thành hiện thực trên thực tế
* Các bước thực thi chính sách phát triển NNL:
Do tầm quan trọng của giai đoạn hiện thực hóa chính sách nên các cơ quannhà nước, các cấp chính quyền địa phương cần đặc biệt quan tâm chỉ đạo sát saocông tác tổ chức triển khai thực hiện này Để tổ chức điều hành có hiệu quả côngtác thực thi chính sách, các cơ quan thực thi chính sách phải tổ chức thực hiện cáccông việc chủ yếu sau đây:
Xây dựng kế hoạch triển khai thực thi chính sách:
Kế hoạch triển khai thực thi chính sách được xây dựng trước khi đưa chính
Trang 22sách vào cuộc sống Các cơ quan triển khai thực thi chính sách từ trung ương đếnđịa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Kế hoạch triểnkhai thực thi chính sách bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Xây dựng kế hoạch về tổ chức, điều hành: Gồm những việc tuyên truyềnchính sách trong xã hội, tuyên truyền đến các đối tượng liên quan (các đối tượngđóng vai trò tổ chức, quản lý, các tổ chức và cá nhân liên quan, các tổ chức đảng,các đoàn thể nhân dân liên quan), tổ chức nhân sự, hệ thống các cơ quan chủ trì vàphối hợp triển khai thực hiện chính sách; xây dựng cơ chế phối hợp, chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tham gia thực hiện chính sách
Lên kế hoạch huy động các nguồn vật lực: Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹthuật, các nguồn lực tài chính phục vụ cho tổ chức thực thi chính sách
Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện chính sách
Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách - những dự kiến về tiến độ,hình thức, phương pháp kiểm tra giám sát tổ chức thực thi chính sách
Phổ biến, tuyên truyền chính sách:
Cùng với quá trình lập kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện chính sách,một việc rất quan trọng trong quá trình này là tuyên truyền vận động thực thi chínhsách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách vàngười tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúngđắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chínhsách để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Đồng thời còngiúp cho mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức đượcđầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ độngtích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách
và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao
Tuyên truyền, vận động thực thi chính sách được thực hiện thường xuyên,liên tục, kể cả khi chính sách đang được thi hành, để mọi đối tượng cần tuyêntruyền luôn được củng cố lòng tin vào chính sách và tích cực thực thi chính sách
Trang 23Tổ chức phân công, phối hợp thực hiện chính sách:
Muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả phải tiến hành phân công, phốihợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tốtham gia chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách.Trong thực tế thường hay phân công cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp thựchiện một chính sách cụ thể nào đó
Duy trì chính sách:
Duy trì chính sách là làm cho chính sách tồn tại được và phát huy tác dụngtrong môi trường thực tế Muốn cho chính sách được duy trì, đòi hỏi phải có sự đồngtâm, hợp lực của cả người tổ chức, người thực thi và môi trường tồn tại
Đối với cơ quan nhà nước phải thường xuyên quan tâm, tuyên truyền, vậnđộng các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách;
sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi choviệc thực thi chính sách Đồng thời chủ động kiểm tra, điều chỉnh chính sách chophù hợp với hoàn cảnh mới Trong một chừng mực nào đó, để đảm bảo lợi íchchung của xã hội, các cơ quan nhà nước có thể kết hợp sử dụng biện pháp hànhchính để duy trì chính sách
Đối với người chấp hành chính sách (các đối tượng chính sách và toàn xãhội) có trách nhiệm tham gia thực hiện theo yêu cầu của nhà nước và vận động lẫnnhau tích cực chấp hành chính sách nhà nước Tăng cường thực hiện dân chủ đểngười dân mạnh dạn tham gia quản lý xã hội, tự giác chấp hành chính sách, tìmkiếm, đề xuất các biện pháp thực hiện mục tiêu với các cơ quan nhà nước để điềuchỉnh bổ sung cho chính sách ngày càng hoàn chỉnh
Điều chỉnh chính sách:
Điều chỉnh chính sách là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trongtiến trình tổ chức thực thi chính sách Nó được thực hiện bởi cơ quan nhà nước cóthẩm quyền để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hìnhthực tế
Trang 24Một nguyên tắc cần phải chấp hành khi điều chỉnh chính sách là: Để chínhsách tiếp tục tồn tại chỉ được điều chỉnh các biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu,hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu điều chỉnh làm thayđổi mục tiêu nghĩa là làm thay đổi chính sách, thì coi như chính sách không tồn tại.
Hoạt động điều chỉnh chính sách đòi hỏi phải chính xác, hợp lý nếu không sẽlàm sai lệch, biến dạng chính sách, làm cho chính sách trở nên kém hiệu quả, thậmchí không tồn tại được Muốn thế, các cơ quan nhà nước các ngành, các cấp phảithường xuyên theo dõi, kiểm tra đôn đốc thực thi mới kịp thời phát hiện những sailệch, thiếu sót để điều chỉnh, bổ sung
Theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách:
Theo dõi kiểm tra, đôn đốc là một bước rất quan trọng trong quá trình thựcthi chính sách phát triển NNL Qua kiểm tra, đôn đốc, các mục tiêu và biện phápchủ yếu của chính sách lại được khẳng định để nhắc nhở mỗi cán bộ, công chức,mỗi đối tượng thực thi chính sách tập trung chú ý những nội dung ưu tiên trong quátrình thực thi chính sách Căn cứ kế hoạch kiểm tra, đôn đốc đã được phê duyệt các
tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện hoạt động kiểm tra có hiệu quả Ngoài
ra, thường xuyên theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực thi chính sách kịp thời bổsung, hoàn thiện chính sách, giúp cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiệnmục tiêu chính sách
1.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực
Quá trình tổ chức thực thi chính sách phát triển NNL có rất nhiều yếu tốảnh hưởng:
* Các yếu tố khách quan trong thực thi chính sách phát triển NNL:
Tính chất phức tạp của chính sách, là yếu tố gắn liền với mỗi vấn đề chính
sách Có tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn đề bằng chính sách và tổ chứcthực thi chính sách
Môi trường thực thi chính sách, là yếu tố liên quan đến các hoạt động kinh
Trang 25tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, môi trường tự nhiên và quốc tế
Mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách, thể hiện sự đồng thuận
hay không đồng thuận của xã hội đối với chủ trương phân bổ các giá trị trong chínhsách Sự đồng tình của xã hội với các quy định được làm và không được làm củanhà nước đối với các tổ chức và công dân Ảnh hưởng rất nhiều đến công tác tổchức thực hiện chính sách
Tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách, được hiểu là thực lực và tiềm
năng mà mỗi nhóm có được trong mối quan hệ so sánh với các nhóm đối tượngkhác Tiềm lực của nhóm lợi ích được thể hiện trên các phương diện chính trị, kinh
tế, xã hội… về cả quy mô và trình độ Như vậy có thể thấy tiềm lực của các nhómlợi ích có ảnh hưởng trực tiếp đến thực thi chính sách
Đặc tính của đối tượng chính sách, là những tính chất đặc trưng mà các đối
tượng có được từ bản tính cố hữu hoặc do môi trường sống tạo nên qua quá trìnhvận động mang tính lịch sử Những đặc tính này thường có liên quan đến tính tựgiác, tính kỷ luật, tính sáng tạo, lòng quyết tâm… Đặc tính gắn liền với mỗi đốitượng thực thi chính sách, nên các chủ thể tổ chức điều hành cần biết cách khơi gợihay kiềm chế nó để có được kết quả tốt nhất cho quá trình tổ chức thực thi chính sách
Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực thi chính sách, là yếu tố ngày
càng có vị trí quan trọng để cùng nhân sự và các yếu tố khác thực hiện thắng lợichính sách của nhà nước
Sự đồng tình ủng hộ của dân chúng là nhân tố có vai trò đặc biệt quan trọng,
quyết định sự thành bại của một chính sách Việc thực hiện các mục tiêu chính sáchkhông thể chỉ do các cơ quan quản lý nhà nước, mà phải có sự tham gia của mọitầng lớp nhân dân trong xã hội Trên thực tế, các cơ quan nhà nước chịu tráchnhiệm chỉ đạo, điều hành công tác tổ chức thực thi chính sách, còn các tầng lớpnhân dân là những đối tượng thực hiện chính sách Các chính sách đều hướng đếnphục vụ con người, cho nên con người (dân) vừa là mục tiêu, vừa là động lực trongthực thi chính sách
Trang 26* Các yếu tố chủ quan trong thực thi chính sách phát triển NNL:
Các yếu tố chủ quan thuộc về cơ quan công quyền, cán bộ - công chức cóliên quan đến quá trình thực thi chính sách:
Thực hiện đúng, đầy đủ các bước trong quy trình tổ chức thực thi chính sách,quy trình thực thi chính sách được coi là những nguyên lý khoa học được đúc kết
từ thực tiễn cuộc sống Việc tuân thủ quy trình cũng là một nguyên tắc hành độngcủa các nhà quản lý Mỗi bước trong quy trình đều có vị trí, ý nghĩa to lớn đối vớiquá trình thực thi chính sách
Năng lực thực thi chính sách của tổ chức, của cán bộ, là yếu tố chủ quan
có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực thi chính sách công Nhưng yếu tốnày đòi hỏi việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển NNL vừa phải đảm bảotính khoa học, nhưng cũng đòi hỏi triển khai sáng tạo, cụ thể trong những điềukiện cụ thể
1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách Nhà nước và những yêu cầu cơ bản trong thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực
1.2.1 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước
Trong cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, muốn xây dựngchủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa Phát huy yếu tố con người,phát triển vì con người, hướng tới phục vụ con người đã trở thành mục tiêu cao cảcủa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Qua các kỳ Đại hội của Đảng, phát triển con người luôn được xác định làmục tiêu, động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Tuy ở mỗigiai đoạn, các mục tiêu cụ thể về xây dựng NNL có sự khác nhau
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa được Đại hội VIII của Đảngkhẳng định với tính chất là chiến lược thì vấn đề phát triển nguồn nhân lực càngđược chú trọng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp phát triển mang tínhcách mạng sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nó không phải
Trang 27do bất kỳ lực lượng siêu nhiên nào mang lại mà là sự nghiệp của quảng đại quầnchúng với tư cách là nguồn lực quyết định Nguồn lực cơ bản, to lớn, quyết địnhnày phải có hàm lượng trí tuệ, phẩm chất ngày một cao mới có thể đáp ứng được
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa to lớn này Cương lĩnh xây dựng đấtnưởc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội khẳng định: “Nâng cao dân trí,bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tốquyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [7,tr 13]
Nhân lực lại càng là yếu tố số một, là nguồn cội, động lực chính tạo nênlực lượng sản xuất - nhân tố quyết định tốc độ và sự phát triển bền vững củaphương thức sản xuất mới ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế Vì thế,muốn đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa một cách bền vữngkhông thể không chăm lo phát triển con người Đảng ta xác định rất rõ rằng, conngười vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển
Phát triển trí tuệ của người Việt Nam được thể hiện qua các chiến lượcphát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, nhằm nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Giáo dục đào tạo được xác định là “quốcsách” hàng đầu với nhiều hình thức đa dạng để mọi người được học, nhất làngười nghèo, con em diện chính sách Ngành giáo dục đào tạo, nơi trực tiếp đàotạo nguồn nhân lực từng bước khắc phục những yếu kém để chất lượng nguồnnhân lực ngày một nâng lên Cùng với đổi mới về nội dung giáo dục theo hướng
cơ bản, hiện đại, ngành giáo dục và đào tạo đã tăng cường giáo dục công dân,giáo dục thế giới quan khoa học, lòng yêu nước, ý chí vươn lên của người học.Bên cạnh đó việc chăm lo cho con người về thể chất cũng được quan tâm và xácđịnh là trách nhiệm của toàn xã hội, đồng thời chỉ đạo các ngành y tế, thể dục,thể thao, dân số và kế hoạch hóa gia đình làm tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏenhân dân
Trang 28Đại hội IX (2001) của Đảng nêu rõ nhận thức đáp ứng yêu cầu về conngười và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời khẳng định phương hướng: “Tiếp tụcđổi mới, tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về phát triển giáo dục và đào tạo,khoa học và công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý;triển khai thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở; ứng dụng nhanh cáccông nghệ tiên tiến, hiện đại; từng bước phát triển kinh tế tri thức” [12, tr 201].Phương hướng này đã được cụ thể hóa bằng một hệ thống giải pháp khả thi đivào công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chăm lo phát triển nguồn lực con người là một định hướng lớn trongchiến lược phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đại hội Xthể hiện rõ quyết tâm phấn đấu để giáo dục và đào tạo cùng với khoa học vàcông nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu Tập trung đổi mới toàn diện giáo dục
và đào tạo, chấn hưng giáo dục Việt Nam để phát triển nguồn nhân lực có chấtlượng cao Các giải pháp thực thi được tập trung hơn khá cụ thể: Quản lý quátrình phát triển dân số và nguồn nhân lực trong mối quan hệ với phát triển kinh
tế - xã hội; đổi mới phương thức đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; phát triểnnguồn nhân lực gắn với tạo việc làm, tạo việc làm tại chỗ thông qua phát triểnsản xuất, tập trung vào các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, xuất khẩu
Đại hội XI (2011) kế thừa và phát triển quan điểm phát triển nguồn nhânlực từ các đại hội trước, đã nêu rõ mục tiêu tổng quát là: “đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [14, tr 31] Để đạtđược mục tiêu đó Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong đó “Pháttriển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” được khẳngđịnh là khâu đột phá thứ hai Đây được xem là khâu đột phá đúng và trúng vớihoàn cảnh nguồn nhân lực nước ta hiện nay khi hội nhập quốc tế, cạnh tranhquyết liệt và đòi hỏi của thời đại khoa học, công nghệ Khâu đột phá trúng và
Trang 29đúng này đã và đang tập trung nâng cao sức mạnh nội sinh - nguồn nhân lực, đểtồn tại và phát triển trong một thế giới năng động, thế giới của khoa học và côngnghệ Vì thế, Đại hội XI của Đảng đồng thời cũng xác định rõ phải gắn kết chặtchẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, côngnghệ Đây chính là nội dung quan trọng thể hiện tính thực tế của chiến lược pháttriển nhanh và bền vững của nước ta trong điều kiện hiện nay Để thực hiệnchiến lược này, Đại hội XI cũng nêu rõ những giải pháp trực tiếp cho chiến lượcphát triển nguồn nhân lực, đó là: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhânlực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định
sự phát triển nhanh và bền vững đất nước Đổi mới căn bản và toàn diện nềngiáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; đổi mớichương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáodục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo Tậptrung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lốisống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứngnhu cầu phát triển của đất nước Xây dựng môi trường giáo lành mạnh, kết hợpchặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo cơhội cho mọi công dân được học tập suốt đời” [14, tr 41]
Có thể thấy rõ những định hướng chiến lược của Đảng về phát triểnnguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Trước hết, gắn phát triển nguồn nhân lực với việc đẩy nhanh tốc độ pháttriển kinh tế - xã hội
Chúng ta nhận thức rõ rằng, để có được những con người phát triển toàndiện, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước thì việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội
để ngày càng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động phảiđược coi là nhiệm vụ cấp bách và mang tính quyết định Vì thế, để có nguồn
Trang 30nhân lực có chất lượng Đảng và Nhà nước ta đã và đang quan tâm đồng bộ tớinhững vấn đề sau:
- Chăm lo đời sống vật chất đi đôi với đời sống tinh thần của người laođộng “Đối với con người hưởng thụ không thể tách rời với cống hiến, phầncống hiến phải nhiều hơn phần hưởng thụ, bên cạnh nhu cầu vật chất còn có nhucầu tinh thần” Nâng cao đời sống vật chất cho người lao động trước hết thôngqua đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước.Điều này được thể hiện rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991): “Chính sách xây dựng đúng đắn
vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo củanhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” [7, tr 13]
- Giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với công bằng xã hôi.Tình trạng phân hóa giàu nghèo nhanh chóng cùng với việc phát triển kinh tế thịtrường những năm đổi mới đã tạo ra những hệ lụy về mặt xã hội sâu sắc Giảiquyết tình trạng này phải giữ vững nguyên tắc vừa bảo đảm kích thích sản xuấtphát triển vừa có chính sách xã hội để tạo nên sự công bằng trong xã hội ở thời
kỳ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Phát triển kinh tế thị trường với đặc trưng là cạnh tranh sẽ tạo được độnglực to lớn thúc đẩy sự vươn lên của nguồn nhân lực Không vươn lên sẽ không
có khả năng cạnh tranh, sẽ bị chính đòi hỏi của nền kinh tế đào thải Định hướng
xã hội chủ nghĩa là thể hiện tính nhân văn đối với nguồn nhân lực Đây là quátrình đào tạo nên những con người Việt Nam mới thời kỳ hội nhập để phát triển
- Phải giữ vững tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế trong hội nhập quốc
tế Điều này giúp người lao động nước ta một mặt phát huy được tính tự tôn dântộc, quyết tâm phấn đấu cho nền kinh tế nước nhà phát triển sánh vai với cáccường quốc năm châu, mặt khác cũng tạo cơ hội để người lao động Việt Nam có
Trang 31thể tiếp thu công nghệ tiên tiến của thế giới, bồi bổ nguồn nhân lực trong nước,đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
- Tạo thêm việc làm là trực tiếp phát triển nguồn nhân lực Vấn đề hết sức
áp lực này phải được giải quyết theo “Phương hướng quan trọng nhất là Nhànước cùng toàn dân ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và cácchương trình kinh tế - xã hội Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi ngườidân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động…Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn”
- Tăng cường công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể chấtcho người lao động và mọi người dân, đẩy mạnh kế hoạch dân số - kế hoạch hóagia đình là bảo đảm thể chất và tính ổn định của nguồn nhân lực Vấn đề nàyđược Đảng xác định: “Sự nghiệp chăm sóc sức khỏe là trách nhiệm của cộngđồng và mỗi người dân, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, cácđoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòngcốt” đồng thời đã có chương trình về kế hoạch hóa gia đình, ổn định tỷ lệ tăngdân số [10, tr 67]
- Ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn xã hội vừa trực tiếp bảo đảm thể chất cho nguồnnhân lực của đất nước, vừa hướng tới mục tiêu phát triển con người Việt Nam
Thứ hai, gắn việc phát triển nguồn nhân lực với quá trình dân chủ hóa,nhân văn hóa đời sống xã hội, khai thác có hiệu quả các giá trị văn hóa truyền
thống và hiện đại Đó là quan điểm tạo môi trường lành mạnh cho các giá trị
sống của nguồn nhân lực phát triển Để có được môi trường đó, trước hết phảicoi trọng giáo dục đạo lý làm người, ý thức, trách nhiệm công dân, tinh thần yêunước, yêu chủ nghĩa xã hội, đạo đức, lối sống văn hóa, lịch sử dân tộc và bản sắcdân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của mỗi người và tiền đồ của đất nước
Trang 32Thứ ba, nâng cao chất lượng sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học, công
nghệ Giải quyết tốt vấn đề này là tạo được yếu tố nội sinh của nguồn nhân lực,
cơ sở bền vững cho phát triển và hội nhập
Thứ tư, để có nguồn nhân lực tốt trước hết phải có chiến lược phát triểncon người trên cơ sở một hệ thống chính sách đồng bộ hướng tới con người vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển
Sự nghiệp đổi mới càng đi vào chiều sâu, thành tựu thu được ngày càng tolớn và được khẳng định Quan điểm về xây dựng nguồn nhân lực, nhất là nguồnnhân lực của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhậpquốc tế được Đảng thể hiện sâu sắc với quyết tâm chính trị cao và sự đồng thuậnrộng lớn của toàn xã hội Đó là những định hướng để nguồn nhân lực của đấtnước phát triển nhanh, lành mạnh, đúng hướng
Như vậy, trên cơ sở khẳng định con người là yếu tố trung tâm của quá trình
phát triển xã hội nên Đảng ta luôn khẳng định con người là nguồn động lực chủyếu, có ý nghĩa quyết định để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Quán triệt những quan điểm trên, đã có rất nhiều văn bản của Nhà nước vềchính sách phát triển NNL trong phạm vi cả nước nói chung và riêng đối với vùngĐồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định 579/QĐ-TTg gày 19 tháng 4năm 2011 phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 –
2020 Mục tiêu tổng quát Mục tiêu tổng quát phát triển nhân lực Việt Nam thời
kỳ 2011 - 2020 là đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quantrọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội,nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đươngcác nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nướcphát triển trên thế giới Nhân lực Việt Nam có thể lực tốt, tầm vóc cường tráng,phát triển toàn diện về trí tuệ, ý chí, năng lực và đạo đức, có năng lực tự học, tự
Trang 33đào tạo, năng động, chủ động, tự lực, sáng tạo, có tri thức và kỹ năng nghềnghiệp cao, có khả năng thích ứng và nhanh chóng tạo được thế chủ động trongmôi trường sống và làm việc; - Nhân lực quản lý hành chính nhà nước chuyênnghiệp đáp ứng những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN trong thế giớihội nhập và biến đổi nhanh; Xây dựng được đội ngũ nhân lực khoa học và côngnghệ, đặc biệt là nhóm chuyên gia đầu ngành có trình độ chuyên môn - kỹ thuậttương đương các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ năng lực nghiên cứu, tiếpnhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học, công nghệ, giải quyết
về cơ bản những vấn đề phát triển của đất nước và hội nhập với các xu hướngphát triển khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và công nghệ trên thế giới; Xâydựng được đội ngũ doanh nhân, chuyên gia quản trị doanh nghiệp chuyênnghiệp, có bản lĩnh, thông thạo kinh doanh trong nước và quốc tế, đảm bảo cácdoanh nghiệp Việt Nam và nền kinh tế Việt Nam có năng lực cạnh tranh caotrong nền kinh tế thế giới; Nhân lực Việt Nam hội đủ các yếu tố cần thiết vềthái độ nghề nghiệp, có năng lực ứng xử (đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tácphong làm việc, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác, tinh thần trách nhiệm, ýthức công dân…) và tính năng động, tự lực cao, đáp ứng những yêu cầu đặt rađối với người lao động trong xã hội công nghiệp; Thông qua Quy hoạch pháttriển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020, xây dựng nhân lực Việt Nam có
cơ cấu trình độ, ngành nghề và vùng miền hợp lý Cùng với việc tập trung pháttriển nhân lực trình độ cao đạt trình độ quốc tế, tăng cường phát triển nhân lựccác cấp trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển của các vùng, miền, địa phương;Xây dựng được xã hội học tập, đảm bảo cho tất cả các công dân Việt Nam có cơhội bình đẳng trong học tập, đào tạo, thực hiện mục tiêu: Học để làm người ViệtNam trong thời kỳ hội nhập; học để có nghề, có việc làm hiệu quả; học để làmcho mình và người khác hạnh phúc; học để góp phần phát triển đất nước và nhânloại; Xây dựng được hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực tiên tiến, hiện đại, đadạng, cơ cấu ngành nghề đồng bộ, đa cấp, năng động, liên thông giữa các cấp và
Trang 34các ngành đào tạo trong nước và quốc tế, phân bố rộng khắp trên cả nước, gópphần hình thành xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân.
Quyết định 67/QĐ-TTg (ngày 26 tháng 3 năm 1998) và Nghị định
33/NĐ-CP (ngày 23 tháng 5 năm 1998) quy định tất cả các trường, trung tâm và cơ sở hoạtđộng có đào tạo nghề đều chịu sự quản lý nhà nước của Bộ LĐ - TB - XH về đào tạonghề và lập lại Tổng cục dạy nghề trực thuộc Bộ LĐ - TB - XH Đây là cơ sở pháp
lý để thống nhất về mặt quản lý nhà nước về đào tạo nghề trong phạm vi cả nước,nhằm đáp ứng nhu cầu về lao động cho từng ngành, từng địa phương trong sựnghiệp CNH, HĐH
Nghị định số 02/2001/NĐ-CP (Ngày 9 tháng 1 năm 2001) quy định chi tiếtthi hành bộ luật Lao động và luật Giáo dục và dạy nghề Nghị định này đã quy địnhnhững hình thức hoạt động dạy nghề và hoạt động dịch vụ tư vấn về dạy nghề, cácloại hình tổ chức cơ sở dạy nghề; quyền, lợi ích, trách nhiệm của cơ sở dạy nghề,người dạy nghề, người học nghề; chính sách đầu tư ưu đãi cho dạy nghề; quản lýnhà nước về dạy nghề; loại hình trường lớp dạy nghề; hình thức sở hữu của các cơ sởdạy nghề theo hướng đa dạng hóa các thành phần kinh tế…
Hệ thống chính sách của Nhà nước về phát triển NNL là một hệ thống cácchính sách được áp dụng chung cho cả nước và được vận dụng vào vùng ĐBSCL
Có những chính sách đề ra mang tính đặc thù nhằm thúc đẩy nhanh việc phát triểnNNL ở vùng này Hệ thống các chính sách trên đây được phân thành hai lĩnh vực,lĩnh vực ưu tiên cho giáo dục và lĩnh vực ưu tiên cho đào tạo nghề để mở rộng quy
mô, nâng cao chất lượng đào tạo nhằm cung cấp NNL về quy mô và chất lượngphục vụ CNH, HĐH ở vùng ĐBSCL
1.2.2 Những yêu cầu cơ bản trong thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực
NNL là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.Trình độ phát triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ yếu sự phát triểncủa các quốc gia Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng phát triển
Trang 35nguồn nhân lực Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định quan điểm coicon người là trung tâm của sự phát triển, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổquốc Hiện nay, trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá và hội nhập quốc tế,phát triển nhân lực được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược chuyểnđổi mô hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời, phát triển nhânlực trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia.Việc phát triển nhân lực, một mặt, cần phải có tầm nhìn chiến lược phát triểntổng thể và dài hạn, nhưng đồng thời, trong mỗi thời kỳ nhất định, cần xây dựngnhững định hướng cụ thể, để từ đó đánh giá thời cơ, thách thức, những khókhăn, hạn chế và nguyên nhân… để đề ra mục tiêu và giải pháp phát triển thíchhợp cho giai đoạn đó phù hợp với bối cảnh kinh tế-xã hội trong nước và quốc tế.Việc thực thi chính sách phát triển NNL một cách hiệu quả là việc rất quan trọng
để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển Các yêu cầu cơ bản trong thực thi chínhsách phát triển NLL:
Thứ nhất, yêu cầu phát triển NNL mạnh về số lượng và chất lượng, đẩynhanh quá trình CNH, HĐH
NNL nước ta phải được đào tạo để có khả năng tham gia lao động ở nướcngoài do tình trạng thiếu lao động ở nhiều quốc gia phát triển để phát huy lợi thếcủa thời kỳ dân số vàng; đồng thời có đủ năng lực để tham gia với cộng đồngquốc tế giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu và khu vực Nhu cầu đàotạo nghề nghiệp của người lao động ngày càng cao hơn cả về số lượng và chấtlượng do mức thu nhập ngày càng cao, do chuyển dịch cơ cấu kinh tế, do quátrình đô thị hoá ngày càng mạnh mẽ, do sự xuất hiện của những ngành, nghềmới,…Bảo đảm nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá cho công nghiệphóa, hiện đại hóa, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã được đề ra trong Chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020: chuyển đổi mô hình tăng trưởng từchủ yếu theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu;tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực
Trang 36hiện tái cấu trúc nền kinh tế; tăng nhanh hàm lượng nội địa hóa, giá trị gia tăng
và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của nền kinh tế; tăng năngsuất lao động, tiết kiệm trong sử dụng mọi nguồn lực;…
Thứ hai, yêu cầu thực thi chính sách chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợpvới chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH:
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội , phải phát triển kinh tế nhanh, cóhiệu quả và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướngCNH, HĐH” Hiện nay, nước ta đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng CNH, HĐH Đó là quá trình tăng dần tỷ trọng của các ngành côngnghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế Sự pháttriển nguồn nhân lực cần đáp ứng yêu cầu phát triển cân bằng hơn giữa các vùngmiền, xuất phát từ yêu cầu giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốcphòng để phát triển đất nước
Thứ ba, quá trình CNH, HĐH đặt ra yêu cầu phải tập trung thực thi chínhsách phát triển NNL chất lượng cao
NNL chất lượng cao là khái niệm để chỉ một lực lượng lao động có học vấn,
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động và nhất là có khả năngthích ứng với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất
Hiện nay, phát triển NNL chất lượng cao thông qua con đường phát triển
GD - ĐT, KH - CN được xem là khâu then chốt để đưa nước ta vượt qua tìnhtrạng nước nghèo kém phát triển, đạt mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thànhnước công nghiệp theo hướng hiện đại Điều này được khẳng định bởi vai trò tolớn của NNL này đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Trước yêu cầu phải
“rút ngắn thời gian” tiến hành CNH, HĐH so với các nước đi trước, NNL chấtlượng cao ở nước ta có vai trò xung kích đi đầu trong việc tiếp nhận, chuyểngiao công nghệ tiên tiến; lựa chọn hướng đi cho những lĩnh vực KH - CN thenchốt; đặc biệt họ là hạt nhân trong việc ứng dụng các thành tựu KH - CN hiệnđại vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội… Có thể nói, NNL chất lượng cao ở nước
Trang 37ta là lực lượng trực tiếp thực hiện “đi tắt” “đón đầu” trong quá trình CNH, HĐH,rút ngắn dần khoảng cách tụt hậu của nước ta so với các nước tiên tiến Hơn nữa,chính NNL tinh hoa này góp phần cực kỳ quan trọng vào quá trình đào tạo, bồidưỡng, thu hút các tài năng khoa học trẻ, tạo ra lực lượng chuyên gia, các nhà khoahọc giỏi, bổ sung cho đội ngũ kế cận, cung cấp cho yêu cầu CNH, HĐH.
tổ chức, thực thi chính sách
Phát triển NNL trong quá trình CNH, HĐH ở Cần Thơ là yêu cầu khách quan.Tuy nhiên, quá trình phát triển này vừa phải đáp ứng những đòi hỏi của sự nghiệpCNH, HĐH, vừa phải bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu phát triểnkinh tế - xã hội của tỉnh Sự nghiệp CNH, HĐH ở Cần Thơ đang tiến hành với nhiềukhó khăn, thách thức, đang rất cần tài năng, trí tuệ và sức lực của con người CầnThơ , trước hết là lực lượng lao động - lực lượng đã và đang đóng góp to lớn vào sựphát triển của thành phố Có thể nói, sự nghiệp CNH, HĐH ở Cần Thơ tiến hànhnhanh hay chậm, thu được thắng lợi hay không, phần lớn phụ thuộc vào sức mạnhcủa NNL
Trang 38Chương 2 THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở
THÀNH PHỐ CẦN THƠ 2.1 Vài nét điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Cần Thơ 2.1.1 Điều kiện tự nhiên ở thành phố Cần Thơ
Thành phố Cần Thơ nằm giữa đồng bằng sông Cửu Long bên bờ Tây sôngHậu, ở vùng hạ lưu của sông Mê Kông chảy qua 6 quốc gia, trên trục giao thôngthuỷ - bộ quan trọng nối Cần Thơ với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, ĐôngNam bộ và các vùng của cả nước Cần Thơ cách biển Đông 75 km, cách thủ đô HàNội 1.877 km và cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km về phía Bắc (theo đườngbộ) Phía Bắc giáp tỉnh An Giang và Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang,phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Long
Thành phố Cần Thơ có tổng diện tích tự nhiên là 1.389,59 km², diện tíchnội thành là 53 km², dân số vào khoảng 1.209.192 người trong đó nông thônchiếm 50,14%, thành thị 49,86%, mật độ dân số là 870 người/km2, là thành phốđông dân thứ 4 tại Việt Nam Trên địa bàn thành phố Cần Thơ có các dân tộc:Kinh, Hoa, Chăm, Khmer đang sinh sống [3, tr 5]
Từ năm 1976 - 1991 Cần Thơ là thành phố trực thuộc tỉnh và là tỉnh lỵ củatỉnh Hậu Giang (cũ) Cuối năm 1991 tỉnh Hậu Giang cũ được chia thành hai tỉnh:Cần Thơ và Sóc Trăng; thành phố Cần Thơ trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Cần Thơ
Ngày 26/11/2003, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11 vềviệc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh; trong đó có chia tỉnh Cần Thơthành thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương và tỉnh Hậu Giang Hiện nay,đơn vị hành chính của thành phố Cần Thơ gồm 5 quận ( Ninh Kiều, Cái Răng,Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt) và 4 huyện (Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh,
Trang 39Thới Lai) với 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn ( 5 thị trấn, 36 xã,
44 phường) [3, tr 7]
Được ưu đãi của thiên nhiên nên khí hậu Cần Thơ tương đối ôn hoà Đồngthời, được phù sa bồi đắp thường xuyên của sông Hậu nên đất đai Cần Thơtương đối màu mỡ Diện tích đất phù sa có trên 14,6 vạn ha, chiếm 49,6% diệntích tự nhiên, hình thành một vùng rộng lớn, trải dài từ Thốt Nốt qua Ô Môn đếntrung tâm thành phố Cần Thơ Do đó, Cần Thơ rất thuận lợi cho việc phát triểnmột nền nông nghiệp đa ngành với nhiều loại cây trồng và vật nuôi
Địa danh Cần Thơ có xuất xứ từ tên “Cầm Thi Giang” cho thấy đây làvùng văn hoá sông nước Con sông gắn liền với mọi hoạt động kinh tế, văn hoá
cư dân Nét độc đáo tự nhiên và kiến trúc đô thị của Cần Thơ là mạng lưới kênhrạch Kênh rạch cũng là "đường phố", nó mang vẻ đẹp cho một đô thị lớn, một thờirất xa Cần Thơ từng được mệnh danh là Tây Đô Cần Thơ có vẻ đẹp bình dị nênthơ của làng quê sông nước, dân cư tập trung đông đúc, làng xóm trù phú núp dướibóng dừa Cần Thơ nổi tiếng với bến Ninh Kiều, vườn cò Bằng Lăng, chợ nổi CáiRăng, làng cổ miệt vườn…là những nét văn hóa đặc trưng của vùng miền Tây sôngnước thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước chọn Cần Thơ là điểm đến vàtham quan du lịch
Sau hơn 120 năm phát triển, thành phố đang là trung tâm quan trọng nhấtcủa vùng đồng bằng sông Cửu Long về kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật.Với những thành tựu đó, Cần Thơ đã thu hút được nguồn lao động ở nhiều nơi tậptrung về góp phần tăng cường thêm nguồn lực lao động cho thành phố, đặc biệt lànguồn lao động chất lượng cao Cũng chính từ cơ sở trên giúp thành phố Cần Thơthu hút được sự quan tâm, đầu tư về kinh tế của các nước trong khu vực và trênthế giới, có lợi thế trong việc giao lưu hợp tác, học tập chuyển giao khoa học côngnghệ nhằm nâng cao hơn nữa nguồn lực về con người cho đất nước
Với điều kiện tự nhiên - kinh tế hết sức thuận lợi của Cần Thơ, là một lợi thếquan trọng tạo điều kiện cho thành phố phát huy nội lực để phát triển kinh tế, phấn
Trang 40đấu trở thành trung tâm kinh tế - xã hội của vùng trọng điểm ĐBSCL Đặc biệt,trong bối cảnh hợp tác, hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, nó giúpcho Cần Thơ mở rộng giao lưu, hợp tác phát triển kinh tế với các tỉnh, khu vực vàvùng kinh tế trong cả nước cũng như với nước ngoài
Cũng chính từ điều kiện tự nhiên - kinh tế đó đã tạo ra sự hấp dẫn đối vớingười lao động từ các nơi khác đến Cần Thơ là cơ sở, điều kiện để phát triểnNNLCLC của thành phố
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội ở thành phố Cần Thơ
2.1.2.1 Về kinh tế
Cần Thơ là thành phố giàu tiềm năng, với điều kiện tự nhiên lý tưởng cóvùng sinh thái rộng lớn, ruộng đất phì nhiêu, những dòng sông chở nặng phù sa,quanh năm nước ngọt, thành phố Cần Thơ còn là nơi hội tụ các điều kiện kinh
tế - xã hội thuận lợi, đây là những nền tảng quan trọng để Cần Thơ vươn lêntrong tiến trình phát triển và hội nhập, là động lực phát triển của cả vùng đồngbằng sông Cửu Long
Ngày 1/1/2004 thành phố Cần Thơ trở thành thành phố trực thuộc Trungương nhưng đến ngày 24/6/2009 thành phố Cần Thơ mới được Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt quyết định số 889/QĐ-TTg công nhận là đô thị loại I Qua 5 năm
nỗ lực và phấn đấu, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố bình quân 5 năm(2005-2010) đạt 15,13%, cao hơn 1,63% so với giai đoạn 2001-2005 Thu nhậpbình quân đầu người hàng năm tăng lên dẫn đến đời sống vật chất tinh thần củangười dân cũng tăng lên, điển hình năm 2008 thu nhập bình quân đầu người đạt1.444 USD, tăng hơn gần 800 USD so với năm 2004, năm 2010 đạt 1.950 USD,năm 2011 đạt 2.350 USD Mặc dù bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước cónhiều biến động, khó khăn, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã đoànkết, chủ động, sáng tạo vượt qua khó khăn, quyết tâm, phấn đấu đưa thành phố pháttriển nhanh và bền vững thực hiện tốt tinh thần nghị quyết 45 của Bộ Chính trị(khóa IX) ban hành ngày 17/2/2005 “Cần Thơ phấn đấu là một trong những địaphương đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH và cơ bản trở thành thành phố côngnghiệp trước năm 2020, là một cực phát triển, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh