1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lí nhà nước ở huyện nông cống, tỉnh thanh hóa giai hiện nay

90 1,9K 23

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 493 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là cán bộ đang công tác tại UBND huyện, trực tiếp tham gia chỉ đạo tổchức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước trên địa bàn huyện Nông Cống, nh

Trang 1

LÊ THANH TRIỀU

TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Ở HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Nghệ An, 2015

Trang 2

LÊ THANH TRIỀU

TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

Ở HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Chính trị học

Mã số: 60310201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS.GVCC ĐOÀN MINH DUỆ

Nghệ An, 2015

Trang 3

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã rất cố gắng song Luận văn khôngtránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của Quýthầy, cô giáo và đồng nghiệp để Luận văn hoàn thiện hơn.

Nghệ An, tháng 9 năm 2015

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Năm 45Bảng 2.6: Kết quả công tác Kế hoạch hóa gia đình huyện Nông Cống giai đoạn

2010 - 2014 50

Kế hoạch 50

C KẾT LUẬN 84

Trang 6

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG

Trang

Năm 45Bảng 2.6: Kết quả công tác Kế hoạch hóa gia đình huyện Nông Cống giai đoạn

2010 - 2014 50

Kế hoạch 50

C KẾT LUẬN 84

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực tiễn chứng minh rằng vấn đề nâng cao hiệu lực của công tác quản lýnhà nước ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực phải luôn đi đôi và gắn liềnvới quá trình tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Nghiên cứu, nắm vững bảnchất nền pháp chế xã hội chủ nghĩa là chìa khóa quan trọng giúp chúng ta cónhững cơ sở lý luận vững chắc, khoa học để xây dựng một nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa dân chủ, tiến bộ, thực sự của dân, do dân, vì dân Chính vì vậy,việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công tác quản lý nhà nước làmột yêu cầu hết sức quan trọng vừa mang tính lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễncấp bách, đặc biệt trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Trải qua 85 năm lãnh đạo chính quyền, xây dựng đất nước, Đảng ta luôncoi trọng việc xây dựng chính quyền nhà nước như một nhiệm vụ có ý nghĩasống còn đối với vận mệnh của dân tộc Xuyên suốt quá trình cách mạng, Nhànước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn.Ngay từ ngày đầu, nhà nước ta đã thể hiện bản chất tốt đẹp, luôn gắn bó máu thịt

và phục vụ trung thành lợi ích của dân tộc, nhân dân Dưới sự lãnh đạo củaĐảng, hoạt động của nhà nước ngày càng được xây dựng và hoàn thiện, nềnhành chính được cải cách tiến bộ hơn,… quyền làm chủ của nhân dân trên mọilĩnh vực được phát huy; một số chính sách và quy chế bảo đảm quyền làm chủcủa nhân dân, trước hết ở cơ sở, bước đầu được thực hiện

Trong giai đoạn hiện nay, công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu,đòi hỏi phải xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạtđộng có hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm cho nhà nước ta giữ vững bản chất cáchmạng, bản chất giai cấp công nhân, thực sự là công cụ chủ yếu để thực hiệnquyền làm chủ của nhân dân

Trang 8

Nhận thức sâu sắc điều đó, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IXtiếp tục khẳng định: Đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước,phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế Đồng thời, Đảng khẳng định chủ trươngxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Nhà nước là công cụ chủ yếu

để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, dodân và vì dân Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợpgiữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp

và tư pháp; Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật

Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước

và của toàn dân, là vấn đề có tính quy luật khách quan Nghiên cứu pháp chế xãhội chủ nghĩa, để từ đó tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lýNhà nước bằng pháp luật trên địa bàn huyện Nông Cống là một khâu quan trọngtrong hệ thống chính trị ở địa phương, là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn

Là cán bộ đang công tác tại UBND huyện, trực tiếp tham gia chỉ đạo tổchức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước trên địa bàn huyện Nông Cống, nhận thức được vai trò và tầm quan

trọng của vấn đề nên tôi đã chọn đề tài: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ

nghĩa trong quản lý nhà nước ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Chính trị học.

Về mảng đề tài này đã có nhiều sách, bài báo, công trình nghiên cứukhoa học, luận văn, luận án liên quan đến vấn đề bản chất pháp chế xã hội chủnghĩa và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công tác quản lý nhànước Có thể nói đây là mảng đề tài rộng lớn, thu hút sự quan tâm chú ý củanhiều nhà khoa học Đề tài được nghiên cứu trong giai đoạn các cấp, các ngànhđang thực hiện chủ trương của Đảng về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa,nâng cao hiệu lực công tác quản lý nhà nước ở tất cả các cấp, các ngành nóichung, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân với mục tiêutiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tôn trọng và chấp hành pháp

Trang 9

luật của người dân nói chung, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn địnhtình hình chính tri, xã hội.

Liên quan đến nội dung đề tài đã có một số công trình nghiên cứu như:

Những vấn đề cơ bản về pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (Bộ

Tư pháp - Vụ Phổ biến, Giáo dục pháp luật - NXB Công an Nhân dân); Bảo

đảm và tăng cường pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước (ThS Vũ Duy

Duẩn, Văn phòng Chính phủ, Tạp Chí Cộng Sản 8/2013); Bàn về pháp chế xã

hội chủ nghĩa trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (Tiến sỹ Luật học Đỗ Ngọc Hải, Học viện Chính trị -

Hành chính khu vực I); Bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của Hiến pháp trong đời

sống (Tạp chí Cộng Sản 1/1/2014); 10 năm hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hướng phát triển (Bộ Tư pháp, Cục trợ giúp pháp lý); Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (NXB Lao động - Xã hội Hà Nội

2009); Ngoài ra còn một số văn bản của Đảng và Nhà nước, như: Chỉ Thị số

32-CT/TW Ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Về tăng cường sự

lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hàng pháp luật của cán bộ, nhân dân; Quyết định số 37/2008/QĐ-

TTg ngày 12/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt chương trình

phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008-2012; Quyết định số

31/2009/QĐ-TTg ngày 24/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt Đề án tuyên

truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp từ năm 2009-2012; "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa về kinh tế trong quản lý nhà nước nền kinh tế thị trờng định hướng pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay", Luận án Phó tiến sĩ Luật học của

Quách Sĩ Hùng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1996; "Tăng cường

pháp chế trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay", Luận văn

thạc sĩ Luật học của Nguyễn Huy Bằng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh, 2001; "Tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thực hành

Trang 10

quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội"…

Dưới những giác độ khác nhau, các công trình nghiên cứu trên đã phântích bản chất pháp chế xã hội chủ nghĩa và vấn đề tăng cường pháp chế xã hộichủ nghĩa trong quản lý nhà nước nói chung ở tầm vĩ mô Tuy nhiên, cho đếnnay chúng tôi thấy vẫn chưa có những công trình nghiên cứu đi sâu phân tích,điều tra khảo sát, tìm hiểu thực trạng vấn đề tăng cường pháp chế xã hội chủnghĩa trong công tác quản lý nhà nước để nâng cao hiệu quả của công tác nàytrên địa bàn cụ thể của một địa phương từ cấp huyện trở xuống Đặc biệt, việctăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước trên địa bànhuyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa từ trước đến nay chưa có công trình nàonghiên cứu, do đó, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài đã nêu

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm đề xuất một số giải pháp tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lýnhà nước ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn hiện nay

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề pháp chế xã hội chủ nghĩa,công tác quản lý nhà nước và các giải pháp tăng cường pháp chế xã hội chủnghĩa trong công tác quản lý nhà nước

3.2 Phạm vi

Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề tăng cường pháp chế xã hội chủnghĩa trong quản lý nhà nước trên địa bàn huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóatrong bối cảnh thời gian hiện tại và trong tương lai gần, cụ thể là giai đoạn

2015 - 2020

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm đường lối, Chỉ thị, Nghị quyết củaĐảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế XHCN trong quá trìnhquản lý nhà nước

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra, khảo sát.

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản

- Phương pháp thống kê.

5 Đóng góp mới của luận văn

Đề tài góp phần làm rõ lý luận về công tác tăng cường pháp chế xã hộichủ nghĩa trong quản lý nhà nước, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nướctrong giai đoạn hiện nay

Thông qua khảo sát, phân tích thực trạng tăng cường pháp chế xã hội chủnghĩa trong quản lý nhà nước tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa phát hiệnnhững ưu điểm và những vấn đề tồn tại, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước giai đoạn hiện nay

Trang 12

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý nóichung và cán bộ quản lý tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa nói riêng.

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,luận văn kết cấu thành 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận của việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩatrong quản lý Nhà nước

Chương 2 Thực trang tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản

lý Nhà nước ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa

Chương 3 Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường pháp chế xã hộichủ nghĩa trong quản lý nhà nước ở huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa giaiđoạn hiện nay

Trang 13

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm pháp chế và pháp chế xã hội chủ nghĩa

1.1.1.1 Khái niệm pháp chế

Trong lịch sử xã hội loài người, nhà nước thực hiện việc quản lý xã hộikhông thể chỉ bằng đạo đức, tập quán, tổ chức, thuyết phục, tuyên truyền… màpháp luật bao giờ cũng được xác định là công cụ cơ bản nhất Pháp luật là tổnghợp những quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ýchí của giai cấp thống trị, có tính bắt buộc chung và được đảm bảo thực hiệnbằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước

Ngay từ khi ra đời, pháp luật đã trở thành phương tiện đặc biệt quan trọngtrong việc quản lý nhà nước và xã hội Bởi vì pháp luật có 3 chức năng cơ bản

đó là: chức năng điều chỉnh; chức năng bảo vệ và chức năng giáo dục Việc thựchiện tốt ba chức năng của pháp luật nói trên tạo nên trật tự pháp luật, nhưngpháp luật chỉ có thể phát huy được hiệu lực phải dựa trên cơ sở vững chắc củapháp chế Ở nước ta, vai trò của pháp luật đã được ghi nhận tại điều 12 Hiếnpháp 1992: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng

cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Pháp chế là một chế độ trong đó đời sống vàmọi hoạt động xã hội được đảm bảo bằng pháp luật” [26, tr.453]

Như vậy, pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật tương đốihoàn thiện, đảm bảo cho việc thiết lập trật tự xã hội và quản lý nhà nước mà ở

đó đòi hỏi các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, các tổ chức tồn

Trang 14

tại trong xã hội và mọi công dân phải thực hiện pháp luật một cách thườngxuyên, nghiêm chỉnh và triệt để.

Pháp luật và pháp chế có mối quan hệ mật thiết tác động qua lại lẫn nhau.Pháp chế thể hiện những đòi hỏi đối với các chủ thể pháp luật phải triệt để tuântheo và chấp hành thường xuyên, nghiêm chỉnh pháp luật và những văn bảndưới luật Pháp luật chỉ có thể phát huy được hiệu lực, điều chỉnh có hiệu quảnhững quan hệ xã hội dựa trên cơ sở vững chắc của pháp chế Ngược lại, phápchế chỉ có thể được củng cố, tăng cường khi có một hệ thống pháp luật đầy đủ,đồng bộ, phù hợp với cơ sở kinh tế - xã hội

Pháp chế cần được đề cao thành nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộmáy nhà nước Nó đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước phảiđược tiến hành theo đúng quy định của pháp luật; mọi công chức, viên chức,người lao động và mọi công dân phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn trọng phápluật khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, mọi vi phạm pháp luật đềuphải xử lý nghiêm minh Các tổ chức, chính trị, xã hội cũng có nghĩa vụ tuân thủpháp luật của Nhà nước Thực hiện tốt nguyên tắc pháp chế là cơ sở bảo đảmcho bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, phát huy đầy đủ hiệu lựccủa mình và bảo đảm công bằng xã hội, tính thống nhất của pháp chế, tính tốithượng của Hiến pháp và luật

1.1.1.2 Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa

Khái niệm pháp chế XHCN có từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga.V.I.Lênin là người đưa ra định nghĩa pháp chế và các nguyên tắc của nó đã làmgiàu thêm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật TheoTiến sĩ Đỗ Ngọc Hải: “Pháp chế XHCN là một chế độ đặc biệt của đời sốngchính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổchức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, nhân viên nhà nước và mọi công dân đềuphải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt

Trang 15

để, chính xác Mọi hành động xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích củatập thể, của công dân đều bị xử lý theo pháp luật” [16, tr.54].

Xuất phát từ ý nghĩa, mục đích và tầm quan trọng của pháp chế XHCN,Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần đề cập trong các nghị quyết, chỉ rõphương hướng và biện pháp cần thiết để tăng cường pháp chế XHCN Nghịquyết Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh: “Phải dùng sức mạnh của pháp chếXHCN kết hợp với sức mạnh của dư luận quần chúng để đấu tranh chống nhữnghành vi phạm pháp Các cấp ủy Đảng, từ trên xuống dưới phải thường xuyênlãnh đạo công tác pháp chế kiểm tra chặt chẽ hoạt động của các cơ quan phápchế” [10, tr.121] Nghị quyết Đại hội VII của Đảng khẳng định: “Điều kiện quantrọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật

và ý thức pháp luật của nhân dân [11, tr.132] Tại Đại hội VIII của Đảng, quanđiểm này được xác định: “Tăng cường pháp chế, xây dựng nhà nước pháp quyềnXHCN Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục,nâng cao đạo đức [12, tr.45]

Như vậy, tăng cường pháp chế XHCN là một đòi hỏi khách quan của quátrình quản lý và lãnh đạo Nó trở thành nguyên tắc hiến định của xã hội ta đượcquy định tại Điều 12, Hiến pháp 1992: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật,không ngừng tăng cường pháp chế XHCN Các cơ quan nhà nước, tổ chức xãhội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải chấp hành nghiêm chỉnhHiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các viphạm Hiến pháp và pháp luật” [18, tr.8] Do đó, pháp chế XHCN là một kháiniệm rất quan trọng trong tổ chức của bộ máy nhà nước, trong hoạt động củamỗi chủ thể, công dân Kể từ Đại hội VI của Đảng đến nay, các nghị quyết củaĐảng thường xuyên, liên tục đề cập đến vấn đề này Hiến pháp với tính chất làđạo luật cao nhất của nhà nước đã thể chế hóa quan điểm nêu trên của Đảng,

Trang 16

càng chứng tỏ pháp chế XHCN rất cần thiết, không thể thiếu trong đời sống xãhội nước ta.

Như vậy, pháp chế XHCN là chế độ pháp luật, trong đó đòi hỏi mọi cơquan, tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức quần chúng, tổ chứckinh tế, các đơn vị lực lượng vũ trang, cán bộ, công chức, viên chức và mọicông dân phải chấp hành Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, thườngxuyên, liên tục, không có ngoại lệ

- Một số nguyên tắc của pháp chế XHCN

Một là, pháp chế XHCN đảm bảo tính thống nhất Nguyên tắc này gồmhai nội dung: Thứ nhất là, tính thống nhất của pháp luật trên toàn bộ lãnh thổchủ nhà nước; thứ hai là, áp dụng thống nhất pháp luật, mặc dù tại mỗi địaphương có sự khác nhau về trình độ phát triển nhưng việc áp dụng pháp luậtphải thống nhất trong phạm vi cả nước V.I.Lênin viết: “Pháp chế không thể làpháp chế của tỉnh Caluga hoặc tỉnh Ca-dan được mà phải là pháp chế duy nhấtcho toàn nước Nga và cho cả toàn thể Liên bang các nước cộng hòa Xô-viếtnữa" [28, tr.232] Nguyên tắc pháp chế nhằm xóa bỏ tư tưởng cục bộ, địaphương, làm cho các địa phương liên hệ, phát triển, hồi sinh, hợp tác Quanniệm thống nhất về các mệnh lệnh và đòi hỏi của pháp luật đóng vai trò quantrọng trong việc đạt được tính thống nhất của pháp chế V.I.Lênin đã chỉ ra sựcần thiết phải áp dụng các biện pháp để thiết lập quan điểm thống nhất về phápchế Tính thống nhất của pháp chế được thể hiện trong sự bình đẳng của tất cảmọi người trước pháp luật Trước pháp luật mọi người đều bình đẳng và đềuphải tuân theo Bất kỳ sự vi phạm pháp luật nào đều không thoát khỏi tráchnhiệm pháp lý

Hai là, pháp chế XHCN đảm bảo tính hợp lý Trong môi trường pháp luật,tính hợp lý được biểu hiện là sự phù hợp với luật, đối với các mục đích đặt ra,các chủ thể lựa chọn phương án tối ưu về việc thực hiện pháp luật Cơ sở củatính hợp lý của pháp luật là sự phản ánh đúng đắn trong pháp luật các đòi hỏi

Trang 17

của sự phát triển xã hội Nếu pháp luật quy định đúng đắn ý chí của đông đảoquần chúng nhân dân lao động, các giá trị xã hội, thì chắc chắn pháp luật là hợp

lý Khi nhấn mạnh giá trị của pháp luật cần phải chú ý đến việc tính toán nhân tốhợp lý trong hoạt động áp dụng pháp luật Pháp chế xã hội chủ nghĩa không phủnhận mà cho phép tính toán đến điều đó Tính hợp lý trong khi áp dụng một quyphạm pháp luật trong hệ thống pháp luật chính là hành vi hướng đến để đạt mụcđích của quy phạm pháp luật đó trong một hoàn cảnh cụ thể Giữa pháp chế vàtính hợp lý có mối liên hệ chặt chẽ vì pháp luật XHCN thể chế hóa đường lốicủa Đảng và ý chí của đại đa số nhân dân lao động Bởi vậy, các quy phạm phápluật mang tính công bằng và hợp lý Chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyềnmới có quyền sửa đổi các quy phạm pháp luật đó

Ba là, pháp chế XHCN không có ngoại lệ Nội dung của nguyên tắc này làkhi pháp luật đã ban hành, ai cũng phải thực hiện, nếu vi phạm pháp luật đềuphải bị xử lý theo pháp luật V.I.Lênin viết: “Tính nghiêm minh của pháp luậthoàn toàn không phải ở chỗ hình phạt đó phải nặng, mà ở chỗ phạm tội thìkhông thoát khỏi bị trừng phạt” [28, tr.233] Tính tối cao của luật trong hệ thốngcác văn bản quy phạm pháp luật bắt nguồn từ chỗ các đạo luật phản ánh ý chí vàchủ quyền của toàn thể nhân dân, điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, quantrọng và ổn định của Nhà nước Tất cả các văn bản khác đều được xây dựng vàthi hành trên cơ sở các đạo luật Do đòi hỏi này, các đạo luật, trước hết là Hiếnpháp trở thành cơ sở pháp lý mà nhờ đó hình thành hệ thống thống nhất các vănbản quy phạm pháp luật trong cả nước Tính thứ bậc của các văn bản quy phạmpháp luật và hiệu lực pháp lý của nó trước các văn bản khác của cơ quan nhànước khác nhau, đảm bảo cho tính thống nhất của pháp chế trong việc xây dựng

Trang 18

nhau Bản chất của chủ nghĩa xã hội là dân chủ, tính ưu việt của chủ nghĩa xãhội là ở đó Chủ nghĩa xã hội không thể tồn tại và phát triển được nếu thiếu dânchủ và dân chủ không thể thực hiện được đầy đủ, mở rộng nếu không thể hiệnbằng hệ thống pháp luật XHCN V.I.Lênin viết: “phát triển dân chủ đến cùng,tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thử nghiệm những hình thức ấytrong thực tiễn" [29, tr.97] Dân chủ là chế độ chính trị của nhà nước XHCN với

sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân lao động vào công việc nhànước Dân chủ có mối quan hệ không tách rời với pháp chế XHCN Không thể

có dân chủ chân chính bên ngoài pháp chế XHCN Ngược lại, trạng thái phápchế lại phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện dân chủ XHCN trong đời sống nhànước và xã hội Dân chủ là một trong những tiền đề bảo đảm của pháp chế xãhội chủ nghĩa

Năm là, pháp chế XHCN đảm bảo mối quan hệ với văn hoá V.I.Lênin coiđây là điều kiện quan trọng để thực hiện pháp chế XHCN Người viết: “Nếuchúng ta không áp dụng cho bằng được điều kiện cơ bản ấy để thiết lập pháp chếthống nhất trong toàn Liên bang, thì không thể nào nói đến vấn đề bảo vệ và xâydựng bất cứ một nền văn hoá nào được” [29, tr.233] Trình độ văn hoá của nhândân lao động và những cá nhân có trách nhiệm càng cao thì việc thực hiện phápluật càng tự giác và thống nhất, ngược lại, sự tăng cường pháp chế lại mở ra khảnăng lớn để phát triển văn hoá XHCN

1.1.2 Khái niệm quản lý và quản lý nhà nước

1.1.2.1 Khái niệm quản lý

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin “Bất kỳ lao động xã hội trực

tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tươngđối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạtđộng cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động củatoàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quanđộc lập của cơ thể đó Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc

phải có nhạc trưởng” [5, tr.23].

Trang 19

Có thể hiểu quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý, để chỉhuy điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của conngười nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với qui luậtkhách quan

Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung làkhách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [23, tr.63]

Nhìn chung, nói đến quản lý là nói đến các hoạt động được thực hiệnnhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác, làcông tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khácnhau cùng chung một tổ chức Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạchcủa chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đề ra

Chức năng quản lý:

Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý đặc biệt, thông qua đóchủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêunhất định Chức năng quản lý gắn liền với sự phân công và hợp tác lao độngtrong quá trình lao động Quản lý có 4 chức năng chủ yếu, cơ bản có liên quanmật thiết với nhau: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Cụ thể như sau:

- Trong quá trình quản lý, chức năng kế hoạch là chức năng đầu tiên, nó

có vai trò định hướng cho toàn bộ các hoạt động, là cơ sở để huy động tối đa cácnguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu và là căn cứ cho việc kiểm tra quá

Trang 20

trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức đơn vị và từng cá nhân của quátrình quản lý.

có khả năng tạo ra sức mạnh mới của tổ chức, cơ quan, đơn vị, thậm chí của cả

hệ thống nếu việc phân phối sắp xếp nguồn nhân lực khoa học hợp lý Sức mạnhmới của tổ chức có thể mạnh hơn nhiều lần so với khả năng vốn có của nó nênngười ta còn nhấn mạnh vai trò này bằng tên gọi “hiệu ứng tổ chức”

có chất lượng và hiệu quả Do vậy, chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy cácđộng lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý và góp phần tạo nên chấtlượng và hiệu quả cao của các hoạt động

Chức năng kiểm tra:

- Là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt độngđạt tới mục tiêu của tổ chức

- Là chức năng cuối cùng của một chu trình quản lý, có vai trò giúp chochủ thể quản lý biết được mọi người thực hiện các nhiệm vụ ở mức độ như thếnào, tốt, vừa, xấu, đồng thời cũng biết được những quyết định quản lý ban hành

có phù hợp với thực tế hay không, trên cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động, giúp

đỡ hay thúc đẩy các cá nhân, tập thể đạt được các mục tiêu đề ra

Trang 21

Như vậy, chức năng kiểm tra thể hiện rõ vai trò cung cấp thông tin và trợgiúp các cá nhân và đơn vị hoàn thành nhiệm vụ theo mục tiêu và kế hoạch đãxác định.

Do đó, hoạt động quản lý là quá trình hoạt động để đạt được mục tiêu của

tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo

và kiểm tra Quá trình này diễn ra trình tự theo một vòng khép kín được gọi làchu trình quản lý Để thực hiện có hiệu quả chu trình quản lý thì vai trò củathông tin chiếm một vị trí rất quan trọng, bởi quản lý gắn liền với thông tin vàthực chất của quản lý là quá trình thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin, nó làphương tiện không thể thiếu trong quá trình hoạt động của quản lý Mối quan hệgiữa các chức năng quản lý và vai trò của thông tin trong hoạt động quản lý thểhiện bằng sơ đồ 1.1

Sơ đồ 1.1 Chu trình quản lý

1.1.2.2 Khái niệm quản lý nhà nước

Nói đến quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằngquyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của conngười để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằmthực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng

Kế hoạch

Thông tin

Chỉ đạo Kiểm tra,

Trang 22

chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa Quản lý nhà nước đượchiểu theo hai nghĩa.

Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhànước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp

Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp.Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhànước, được sửa dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội.Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trongquản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt

Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhànước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ banhành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếphoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lýcần thiết của Nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết đượcthực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị -

xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhànước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy địnhcủa pháp luật

* Đặc điểm quản lý nhà nước

Từ khái niệm trên về quản lý nhà nước ta rút ra các đặc điểm của quản lýnhà nước như sau:

Quản lý nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tínhmệnh lệnh đơn phương của nhà nước Quản lý nhà nước được thiết lập trên cơ

sở mối quan hệ “quyền uy” và “sự phục tùng”.

Quản lý nhà nước mang tính tổ chức và điều chỉnh Tổ chức ở đây đượchiểu như một khoa học về việc thiết lập những mối quan hệ giữa con người vớicon người nhằm thực hiện quá trình quản lý xã hội Tính điều chỉnh được hiểu là

Trang 23

nhà nước dựa vào các công cụ pháp luật để buộc đối tượng bị quản lý phải thựchiện theo quy luật xã hội khách quan nhằm đạt được sự cân bằng trong xã hội.

Quản lý nhà nước mang tính khoa học, tính kế hoạch Đặc trưng này đỏihỏi nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối tượng quản lýphải có một chương trình nhất quán, cụ thể và theo những kế hoạch được vạch

ra từ trước trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học

Quản lý nhà nước là những tác động mang tính liên tục và ổn định lên cácquá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội Cùng với sự vận động biến đổicủa đối tượng quản lý, hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên,liên tục, không bị gián đoạn Các quyết định của nhà nước phải có tính ổn định,không được thay đổi quá nhanh Việc ổn định của các quyết định của nhà nướcgiúp cho các chủ thể quản lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệthống hành vi xã hội được ổn định

1.2 Vai trò của pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công tác quản lý nhà nước

1.2.1 Pháp chế xã hội chủ nghĩa đảm bảo tính ổn định và minh bạch của pháp luật

Hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, pháp luật về mỗi ngành, lĩnh vực là

cơ sở thiết lập môi trường pháp luật, tạo ra vùng tự do cho các hành vi pháp lý.Mỗi hệ thống pháp luật, mỗi đạo luật là sự thiết lập các giá trị xã hội, các chuẩnmực ứng xử chung áp dụng cho các chủ thể khi tham gia vào quan hệ xã hộiđược pháp luật điều chỉnh Môi trường pháp lý, các giá trị xã hội, các chuẩn mựcứng xử tạo ra những giới hạn hành động cho các chủ thể

Tính ổn định của pháp luật với nghĩa là các quy định của nó được kháiquát đủ thiết lập một không gian và thời gian hành động cho các chủ thể Theo

đó, mỗi chủ thể được định hướng hành vi, định hướng và nhận dạng các giá trị

xã hội, các chuẩn mực ứng xử khi tham gia vào quan hệ pháp luật cụ thể Tínhminh bạch của pháp luật với nghĩa nó phải được tuyên ngôn chính thức, rõ ràng

Trang 24

và đến với xã hội; phải là sự quy định phân minh, rõ ràng, công khai về quyền,nghĩa vụ của các chủ thể; là sự xác định rõ, dứt khoát về các chế tài bảo đảmthực thi pháp luật.

Tính ổn định và minh bạch của pháp luật là sự bảo đảm cho công dân cóthể chủ động, tính cực tham gia vào các quan hệ pháp luật và kiểm soát đượchoạt động của bộ máy công quyền thông qua những quy trình, thủ tục xác định;

là sự bảo đảm cho các chủ thể dự báo trước các hành vi pháp lý, có thể tránhđược những tranh chấp, xung đột, tạo nên niềm tin đối với quản lý nhà nước.Trong nhà nước pháp quyền, minh bạch và ổn định pháp luật phải được thể hiệntrong cả quá trình lập pháp và hành pháp

1.2.2 Pháp chế xã hội chủ nghĩa đảm bảo yếu tố kỹ thuật pháp lý

Bảo đảm kỹ thuật pháp lý là một trong những yếu tố quan trọng trong xâydựng, hoàn thiện pháp luật Chất lượng và hiệu quả pháp luật phụ thuộc rấtnhiều vào kỹ thuật pháp lý Hơn nữa, trong điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay,yêu cầu về kỹ thuật pháp lý cần phải được coi trọng và xác định được nội dung

cụ thể để vận dụng vào quá trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật vàtừng bước hoàn thiện, nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật Để bảo đảm kỹthuật pháp lý trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật, cần chú trọng các nộidung sau:

- Xác định quy trình chuẩn mực, tối ưu, là cơ sở cho quá trình xây dựngpháp luật Chẳng hạn, việc soạn thảo dự án luật phải bắt đầu từ việc khảo sát,điều tra ban đầu đến đánh giá, tổng kết, phân tích kết quả; từ dự thảo đến hoànchỉnh, thẩm tra và thông qua

- Lựa chọn cơ cấu thể hiện quy phạm và khả năng sử dụng đúng, chínhxác quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ xã hội Để điều chỉnh các quan hệ

xã hội mạng lại hiệu quả, đảm bảo đúng định hướng của giai cấp, thì việc soạnthảo văn bản luật cần phải lựa chọn cơ cấu thể hiện quy phạm cho phù hợp, sửdụng đúng, chính xác các quy phạm luật dảm bảo tính khả thi của văn bản luật

Trang 25

- Bảo đảm tính cân đối, thống nhất và xác lập mối liên hệ giữa các vănbản pháp luật trong cùng một hệ thống; giữa các chế định trong cùng một đạoluật hoặc giữa các quy phạm trong mỗi chế định Diễn đạt rõ ràng, dễ hiểu vàđơn nghĩa là những yêu cầu có tính nguyên tắc trong kỹ thuật pháp lý.

- Bảo đảm tính cụ thể, giảm tối đa việc diễn đạt qua yếu tố trung gianhoặc qua nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Để văn bản luật áp dụng khả thihiệu quả, thì văn bản luật phải cụ thể, không đa nghĩa, nghĩa cần phải rõ ràng, cụthể, dễ hiểu Việc diễn đạt văn bản luật phải qua nhiều văn bản trung gian, quahiều loại văn bản hướng dẫn sẽ rất khó khăn cho người áp dụng; có thể dẫn đếnviệc áp dụng văn bản luật không chuẩn, không chính xác vì không tìm, khôngbiết hết, không thực hiện đủ các hướng dẫn trung gian

- Bảo đảm tính ổn định, hệ thống các khái niệm rõ ràng, chính xác, phùhợp với phạm vi điều chỉnh Tính ổn định của văn bản luật và hệ thống kháiniệm cơ bản phải trên nền tảng cơ sở lý luận của giai cấp cầm quyền và cần phải

rõ ràng, chính xác phù hợp với đối tượng, phạm vi tác động của văn bản luật

1.2.3 Pháp chế xã hội chủ nghĩa góp phần đảm bảo ý thức chấp hành pháp luật

Pháp luật là cơ sở của pháp chế, để có pháp chế đòi hỏi phải có một hệthống pháp luật hoàn chỉnh, đồng thời phải có sự tự giác thực hiện pháp luật củacác chủ thể pháp luật, một bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả trong việcbảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm minh Pháp chế đòihỏi các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhândân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấutranh phòng ngừa và chống các hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật Ý thứcpháp luật bao hàm nhận thức pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của cácchủ thể trong xã hội Vì vậy, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trongcán bộ, nhân dân có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao ý thức pháp luật

Trang 26

1.3 Mục tiêu, yêu cầu về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước

1.3.1 Mục tiêu của việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước

Sự xuất hiện của pháp luật trong lịch sử phát triển của xã hội loài người làmột tất yếu khách quan không thể phủ nhận Kể từ khi ra đời với tư cách là công

cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội, một giá trị xã hội của nhân loại, pháp luật đã,đang và sẽ còn phát huy vai trò to lớn không thể thay thế của mình trong tổchức, quản lý đời sống xã hội của xã hội có giai cấp Vì vậy, tư tưởng về sự cầnthiết phải tôn trọng và thực hiện pháp luật nghiêm minh của các tổ chức và các

cá nhân, đặc biệt là của nhà nước đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử tồn tại

và phát triển của nhà nước và pháp luật Rất nhiều nhà tư tưởng đã nghiên cứu

và đề cập tới vấn đề này, chẳng hạn như Platon đã từng khẳng định: “Ta nhìnthấy sự diệt vong của nhà nước, mà trong đó pháp luật không có sức mạnh và ởdưới quyền lực của ai đấy Còn ở đâu mà pháp luật đứng trên nhà cầm quyền, họchỉ là nô lệ của luật thì ở đó tôi nhìn thấy sự cứu thoát của nhà nước ” Đến xãhội tư sản thì nhu cầu tôn trọng và thực hiện pháp luật nghiêm minh đã đượcnâng lên thành nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của nhà nước và

Như vậy, nói đến pháp chế là nói tới một xã hội có pháp luật, nếu không

có pháp luật thì không thể có pháp chế Trong xã hội đó, các quan hệ xã hội

Trang 27

quan trọng, đặc biệt là các quan hệ có liên quan tới việc thực hiện quyền lực nhànước, tới quyền và lợi ích của nhân dân cần phải được điều chỉnh bằng phápluật Nhưng nếu chỉ có pháp luật thôi thì vẫn chưa có pháp chế vì tư tưởng chỉđạo khi nói tới pháp chế là nhu cầu thực hiện pháp luật nghiêm minh Do vậy,nói tới pháp chế, ngoài pháp luật còn đòi hỏi các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh

tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnhchấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm,các vi phạm Hiến pháp và pháp luật Cụ thể hơn thì mục tiêu pháp chế được thểhiện ở những đòi hỏi sau:

- Bộ máy nhà nước phải được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật

Ở phương diện này pháp chế được coi là một trong những nguyên tắc tổchức và hoạt động của bộ máy nhà nước Điều này đòi hỏi cả bộ máy nhà nướcnói chung, từng cơ quan nhà nước nói riêng phải được tổ chức theo đúng quyđịnh của pháp luật và hoạt động phù hợp với pháp luật; mọi cán bộ, công chứcnhà nước phải tôn trọng và thực hiện nghiêm minh pháp luật, thực hiện chínhxác, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình trước nhà nước, trước nhân dân;các mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa nhà nước với các tổchức xã hội, giữa nhà nước với nhân dân phải dựa trên cơ sở pháp luật; nhànước phải quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội bằng pháp luật, xử

lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật theo pháp luật Tránh mọi hiện tượngchủ quan, tùy tiện của những người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động công

vụ, xóa bỏ được tình trạng quản lý tùy thuộc vào các tình tiết ngẫu nhiên, vàotâm trạng và tính cách của người quản lý, qua đó, bảo đảm cho hoạt động của bộmáy nhà nước được thống nhất, nhịp nhàng, đồng bộ, phát huy hiệu lực của nhànước và bảo đảm công bằng xã hội

- Các tổ chức xã hội, các đoàn thể quần chúng phải được thành lập hợppháp và phải hoạt động phù hợp với pháp luật

Trang 28

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, pháp chế và trật tự pháp luật là cơ sở củađời sống xã hội có tổ chức; cho nên củng cố pháp chế không chỉ là nhiệm vụ củaNhà nước mà còn là nhiệm vụ chung của Đảng, của các tổ chức xã hội như côngđoàn, đoàn thanh niên và các đoàn thể quần chúng khác Mỗi tổ chức, đoàn thể

đó có những phương pháp, hình thức và nguyên tắc tổ chức, hoạt động riêng phùhợp với mục đích thành lập và tồn tại của tổ chức mình Nhưng các tổ chức xãhội và đoàn thể quần chúng lại được thành lập và hoạt động trên phạm vi lãnhthổ của nhà nước có chủ quyền nên họ phải có trách nhiệm tôn trọng và thựchiện pháp luật của nhà nước Các tổ chức xã hội và các đoàn thể quần chúngphải được thành lập hợp pháp, phải hoạt động theo điều lệ, theo các quy địnhcủa tổ chức mình nhưng phải phù hợp với pháp luật của nhà nước, nằm trongphạm vi mà pháp luật cho phép Ngoài ra các tổ chức, đoàn thể xã hội có tráchnhiệm động viên giáo dục các hội viên và những người thuộc giới mình tôntrọng và triệt để thực hiện pháp luật của nhà nước Điều lệ, nghị quyết và cácvăn bản của các tổ chức xã hội không được trái với pháp luật Trong trường hợp

có mâu thuẫn giữa văn bản của các tổ chức, đoàn thể xã hội với pháp luật thìphải thực hiện theo pháp luật Pháp chế đòi hỏi phải phân biệt rõ chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức đảng với chính quyền để tránh hiện tượngbao biện làm thay Các tổ chức đảng cần gương mẫu, tiên phong trong cuộc đấutranh nhằm bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của mỗi bộphận cấu thành hệ thống chính trị xã hội

- Mọi công dân phải xử sự hợp pháp

Pháp luật XHCN bảo đảm cho công dân tự do, bình đẳng, công bằng,hạnh phúc; do vậy, tuân theo hiến pháp và pháp luật là nghĩa vụ của mỗi côngdân Công dân phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách chính xác, triệt để,phải xử sự theo đúng yêu cầu của pháp luật Trong chủ nghĩa xã hội, nhân dânlao động là người chủ đất nước, cho nên nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩacòn đòi hỏi công dân có trách nhiệm tham gia quản lý các công việc nhà nước

Trang 29

dưới các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp Công dân tham gia kiểm tra, giámsát hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, đấu tranh phòng,chống vi phạm pháp luật Để bảo đảm sự an toàn về mặt pháp lý cho mỗi côngdân, nguyên tắc pháp chế cho phép công dân được làm tất cả những gì mà pháp

luật không cấm Tuy nhiên, mọi công dân khi sử dụng các quyền, tự do dân chủ

của mình không được gây thiệt hại đến lợi ích, tự do của công dân khác và của

xã hội Ngoài việc đòi hỏi đối với công dân, pháp chế còn đòi hỏi mọi cá nhânkhác như người nước ngoài và người không có quốc tịch cũng phải tôn trọng vàthực hiện pháp luật nghiêm chỉnh

Như vậy, mục tiêu cuối cùng của pháp chế là xây dựng và hoàn thiện dânchủ XHCN Pháp chế là nền tảng vững chắc nhất để duy trì và thực hiện nhữngnguyên tắc của dân chủ XHCN, tạo ra tính tổ chức kỷ luật, thiết lập kỷ cươngcủa xã hội, bảo đảm công bằng xã hội Sự nghiệp đổi mới ở đất nước ta hiện nayđòi hỏi phải không ngừng củng cố và mở rộng dân chủ XHCN, nhưng việc mởrộng dân chủ phải đi liền với việc tăng cường pháp chế XHCN Có thể nói dânchủ XHCN càng được mở rộng thì pháp chế XHCN càng được tăng cường vàngược lại việc tăng cường pháp chế sẽ là điều kiện để củng cố, phát triển dânchủ XHCN

Những trình bày trên cho thấy, pháp chế và pháp luật không đồng nhất vớinhau mà chúng có quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau Pháp luật là cơ sởcủa pháp chế, để có pháp chế đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh,đồng thời phải có sự tự giác thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, một

bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả trong việc bảo đảm cho pháp luật đượctôn trọng và thực hiện nghiêm minh Pháp chế là môi trường làm cho pháp luậtphát huy được hiệu lực của mình, điều chỉnh một cách có hiệu quả các quan hệ

xã hội Sự phát triển của pháp chế phụ thuộc vào tình trạng của pháp luật, hiệuquả hoạt động của bộ máy nhà nước và trình độ văn hóa pháp lý của cán bộ,nhân dân

Trang 30

Do vậy, nghiêm chỉnh thực hiện các yêu cầu của pháp chế sẽ tạo cho đờisống xã hội có trật tự, kỷ cương cần thiết, bảo đảm cho hoạt động của toàn xãhội thống nhất, đồng bộ nhịp nhàng theo quy định của pháp luật để xã hội tồn tại

và phát triển vì hạnh phúc của nhân dân Có thể nói, pháp chế XHCN vừa là nhucầu, vừa là kết quả khách quan của quá trình thiết lập và xây dựng xã hộiXHCN Đồng thời pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa là điều kiệnquan trọng để củng cố, xây dựng xã hội XHCN Chính vì vậy, trong quá trìnhxây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta phải không ngừng củng cố và tăng cườngpháp chế XHCN

1.3.2 Yêu cầu của việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước

1.3.2.1 Hiến pháp và luật phải có tính tối cao so với các văn bản pháp luật khác

Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trước hết nó đòi hỏi tất cảcác quan hệ xã hội quan trọng phải được điều chỉnh bằng pháp luật Nhà nướcphải xây dựng và không ngừng hoàn thiện Hiến pháp và các văn bản pháp luậtđồng thời phải bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và luật nhằm tạo ra sự thốngnhất của hệ thống pháp luật

Ở các nước XHCN, Hiến pháp và các luật là những văn bản luật do cơquan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành, thể hiện một cách tập trung ý chí

và những lợi ích cơ bản của nhân dân lao động trên các lĩnh vực của đời sốngnhà nước và đời sống xã hội Hiến pháp và các luật là những văn bản quy phạmpháp luật có giá trị pháp lý cao, là cơ sở của hệ thống pháp luật Nhưng Hiếnpháp và các luật trong nhiều trường hợp không thể quy định một cách chi tiết

và cụ thể để áp dụng trong mọi tình huống, mà chỉ quy định những vấn đềchung, cơ bản mang tính nguyên tắc Chính vì vậy, chúng cần được chi tiết hóabằng các văn bản dưới luật Các văn bản dưới luật phải được ban hành trên cơ

Trang 31

sở những văn bản luật (Hiến pháp và các luật), phù hợp với các văn bản luật vềnội dung.

Yêu cầu về tính tối cao của Hiến pháp và luật còn đòi hỏi văn bản của các

cơ quan chấp hành và điều hành phải được ban hành phù hợp với văn bản củacác cơ quan quyền lực, cơ quan đại biểu; văn bản của các cơ quan cấp dưới phảiđược ban hành phù hợp với văn bản của cơ quan cấp trên, nhưng phải bảo đảm

sự phân định rõ ràng về thẩm quyền của các cơ quan ở mỗi cấp; mọi văn bảnpháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp Thực hiện được như vậy sẽ tránhđược tình trạng tản mạn, trùng lặp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn giữa các quyphạm pháp luật, tạo nên tính thống nhất của hệ thống pháp luật, làm cho việcnhận thức và thực hiện pháp luật chính xác, thống nhất hơn

Trong những trường hợp có sự mâu thuẫn giữa văn bản của các cơ quanhành chính, văn bản của các tổ chức, đoàn thể xã hội với các văn bản luật củanhà nước thì phải áp dụng quy định của các văn bản luật Để thực hiện tốt yêucầu này cần không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đồng thờiphải thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp đốivới các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địaphương, các văn bản của các tổ chức, đoàn thể xã hội trong nước

1.3.2.2 Pháp chế phải thống nhất

Tính thống nhất của pháp chế đòi hỏi mọi quy định của pháp luật phảiđược nhận thức và tổ chức thực hiện thống nhất trong phạm vi hiệu lực của nó.Điều này đòi hỏi các quy định của pháp luật nếu chưa bị thay đổi thì phải luônđược nhận thức thống nhất theo thời gian, theo không gian (trên phạm vi lãnhthổ mà nó có hiệu lực) và tất cả các chủ thể pháp luật đều phải nhận thức và thựchiện chúng thống nhất

Yêu cầu pháp chế thống nhất cũng có nghĩa là việc tôn trọng và thực hiệnpháp luật nghiêm minh là nghĩa vụ bắt buộc đối với tất cả mọi tổ chức và cánhân trong xã hội, không chấp nhận sự đặc quyền và những ngoại lệ vô nguyên

Trang 32

tắc nào Điều này xuất phát từ nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trướcpháp luật, do vậy: "Mọi cán bộ, bất cứ ở cương vị nào, đều phải sống và làmviệc theo pháp luật, gương mẫu trong việc tôn trọng pháp luật Không cho phépbất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái pháp luật Mọi vi phạm đều phải được xử

lý theo quy định của pháp luật Yêu cầu về tính thống nhất của pháp chế là điềukiện để xóa bỏ hiện tượng cục bộ, bản vị, địa phương chủ nghĩa, hiện tượng

"phép vua thua lệ làng", tự do vô chính phủ, bảo đảm công bằng xã hội

Tính thống nhất của pháp chế XHCN không loại trừ hoàn toàn sự cầnthiết phải tính đến những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương,từng ngành Trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật cần phảixem xét đến những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, từngngành, tìm ra những hình thức và biện pháp phù hợp để đưa pháp luật vào đờisống với hiệu quả cao nhất mà không vi phạm pháp luật, không xâm hại đến tínhthống nhất của pháp chế Do vậy, nhà nước cho phép các địa phương, ngành căn

cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, của ngành, có thể ban hành những quyđịnh, quy chế cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, củangành mình Tuy nhiên, nội dung của tất cả những quy định, quy chế đó khôngđược trái với Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và đường lối chính sách củaĐảng về vấn đề đó

1.3.2.3 Việc thực hiện và áp dụng pháp luật phải chính xác, triệt để

Pháp luật là cơ sở để củng cố và tăng cường pháp chế, pháp luật đượchình thành và phát triển theo nhu cầu khách quan cần điều chỉnh các quan hệ xãhội Nếu một văn bản pháp luật (văn bản quy phạm pháp luật cũng như văn bản

áp dụng pháp luật) được ban hành đúng thẩm quyền, đúng tên gọi, đúng trình tự,thủ tục và có nội dung hợp pháp, phù hợp điều kiện thực tế thì nó phải có hiệulực theo quy định của pháp luật Khi văn bản pháp luật đã có hiệu lực thi hànhthì nó phải được thực hiện, được áp dụng chính xác, triệt để đúng với nội dung,tinh thần của văn bản Trong quá trình thực hiện pháp luật không được coi nhẹ

Trang 33

một văn bản pháp luật hay một quy định pháp luật nào Tính triệt để trong việctôn trọng và thực hiện pháp luật là một biểu hiện hơn hẳn của pháp chế XHCN

so với pháp chế tư sản Yêu cầu về tính chính xác trong việc thực hiện và ápdụng pháp luật còn đòi hỏi bộ máy nhà nước trong mọi hoạt động quản lý, điềutra, xét xử đều phải có cơ sở pháp lý

1.3.2.4 Các quyền tự do của công dân, của các tập thể và các tổ chức trong xã hội phải được đáp ứng và bảo vệ

Một trong những mục đích của pháp luật nước ta là ghi nhận, bảo vệ cácquyền tự do dân chủ cho nhân dân, đưa lại các quyền, lợi ích và hạnh phúc chonhân dân Do vậy, nếu như một văn bản pháp luật hoặc một quy định nào đó củapháp luật nước ta đã lạc hậu hoặc không phù hợp với tình hình cụ thể của địaphương hay của ngành, không đáp ứng được các quyền, lợi ích của nhân dân thìchúng cần phải được sửa đổi hoặc hủy bỏ Cán bộ, công chức nhà nước, nhữngngười có trách nhiệm cũng như mọi công dân khi phát hiện ra những điều bấtcập của pháp luật đều phải báo cáo, kiến nghị để các cơ quan nhà nước có thẩmquyền xem xét, giải quyết Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi nhận đượcnhững thông tin về những điều bất cập của pháp luật phải nhanh chóng xem xét

và giải quyết kịp thời để đáp ứng lợi ích của nhân dân vì sự nghiệp dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

1.3.2.5 Mọi vi phạm pháp luật phải được phát hiện và xử lý kịp thời

Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều có ảnh hưởng không tốt đến quá trìnhđiều chỉnh pháp luật, làm tổn hại đến pháp chế; các hành vi vi phạm pháp luậtlàm cho các quan hệ trong xã hội bị xâm phạm, xã hội bị rối loạn, có nguy cơlàm phá vỡ trật tự xã hội Do vậy, nhà nước cần có những biện pháp nhanhchóng và hữu hiệu để xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm phápluật, đặc biệt là tội phạm Đây vừa là yêu cầu song cũng là điều kiện để đảm bảocho pháp chế được tăng cường

Trang 34

1.3.2.6 Những khiếu nại và tố cáo của công dân phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng, đúng đắn

Khiếu nại, tố cáo là những quyền cơ bản của công dân được ghi nhậntrong Hiến pháp Việc Hiến pháp ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo của công dâncho thấy vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của quyền năng pháp lý này Xét trênphương diện lý thuyết thì thực hiện khiếu nại, tố cáo chính là phương thức quantrọng để công dân, cơ quan, tổ chức bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể vàcác quyền, lợi ích hợp pháp của mình Thông qua việc sử dụng quyền khiếu nại,quyền tố cáo mà các quyền cơ bản khác như: quyền được học hành, quyền tự dotín ngưỡng, quyền bầu cử sẽ được bảo đảm và thực hiện

Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của việc khiếu nại, tố cáo và giảiquyết hiệu quả các khiếu nại, tố cáo nên Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tớicông tác này Những năm qua, nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã đề cập đếnviệc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo Trên cơ sở đó, Nhà nước

đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng quy định về giải quyết khiếunại, tố cáo, như: Pháp lệnh xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm

1981, Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo năm 1991 và Luật khiếu nại, tố cáo năm

1998 Căn cứ vào các văn bản này, Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành nhiềuquy định hướng dẫn thi hành nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc khiếu nại,

tố cáo và giải quyết có hiệu quả các khiếu nại, tố cáo của nhân dân

Công dân Việt Nam được pháp luật quy định có quyền khiếu nại, quyền tốcáo với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm sai trái phápluật của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trangnhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Do vậy, những khiếu nại, tố cáo của công dâncần phải được các cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết nhanh chóng, đúngđắn trong thời hạn pháp luật quy định

Trang 35

1.3.2.7 Thường xuyên kiểm tra và giám sát việc thực hiện pháp luật

Công tác kiểm tra, giám sát là một hoạt động phải được tiến hành thườngxuyên nhằm kiểm nghiệm, đánh giá những quy định, những biện pháp hoạt độngcủa các cấp, các ngành, các cơ quan tìm ra những giải pháp tích cực, những ưuđiểm cũng như những thiếu sót, hạn chế của các bộ phận để từng bước hoànthiện bộ máy nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải tiến các phương pháphoạt động nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong các lĩnh vực hoạt động nhà nước.Thông qua công tác kiểm tra giám sát còn cho phép phát hiện ra những thiếu sót,yếu kém về tổ chức, về hoạt động, những khó khăn vướng mắc trong việc thựchiện pháp luật từ đó kịp thời đưa ra những giải pháp khắc phục Hoạt động kiểmtra giám sát còn là phương tiện quan trọng để phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện

và xử lý những biểu hiện vi phạm pháp luật xâm hại tới trật tự quản lý nhà nước,lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội và lợi ích công dân, đảm bảo cho pháp luật đượctuân thủ chính xác triệt để, tránh được tình trạng tùy tiện, tự do vô tổ chức trongcác hoạt của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, của công dân và các chủthể pháp luật khác

1.4 Nội dung tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý nhà nước hiện nay

1.4.1 Kiện toàn các cơ quan quản lý nhà nước và tư pháp

Cải cách nền hành chính là trọng tâm nhưng không phải tách rời mà phảigắn chặt với việc đổi mới hệ thống chính trị, trước hết là đổi mới và chỉnh đốnĐảng; kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan lập phápphát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân Đổi mới tổ chức và cách làm việccủa Chính phủ, sắp xếp lại cán bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộcChính phủ một cách hợp lý gọn nhẹ Sửa đổi cơ cấu tổ chức, phương thức hoạtđộng và chế độ làm việc của UBND các cấp, sắp xếp lại các Sở, Phòng, Banchuyên môn một cáh hợp lý gọn nhẹ, có hiệu quả Việc kiện toàn các cơ quan

Trang 36

quản lý nhà nước và tư pháp phải gắn liền với việc đào tạo, bồi dưỡng, bố trí,sắp xếp cán bộ quản lý nhà nước và xét xử Cán bộ quản lý nhà nước và cán bộ

tư pháp nhất thiết phải là những người nắm vững pháp luật, để quản lý nhà nướctheo đúng pháp luật của Nhà nước, phải đấu tranh khắc phục những nhận thứckhông đúng đắn, không đầy đủ về pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa; ngườicán bộ đó phải có phẩm chất chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội; quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đấtnước; người cán bộ đó phải có đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chícông vô tư; có kiến thức, năng lực, trình độ; có ý thức tổ chức kỷ luật, giữ gìnđoàn kết thống nhất, gắn bố với quần chúng nhân dân, đó là một trong nhữngnhân nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của cách mạng

1.4.2 Đẩy mạnh xây dựng pháp luật và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật

Pháp luật xã hội chủ nghĩa là tiền đề của pháp chế xã hội chủ nghĩa Muốntăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và quản lý xã hội bằng pháp luật, phải cómột hệ thóng pháp luật tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ Hiện nay, trong xã hộicòn nhiều những quan hệ xã hội cần sự điều chỉnh của pháp luật, nhưng chưa cópháp luật để điều chỉnh; trong số những văn bản đã có, còn nhiều văn bản dướiluật hoặc chồng chéo, hoặc lỗi thời, tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải từng bước

bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, phải đẩy mạnh hơn nữa công tác hệthống hoá pháp luật, đồng thời chú trọng việc xây dựng và ban hành những đạoluật mới nhất là các đạo luật lệ về kinh tế, về an ninh xã hội; trong quá trình thựchiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật, điều hết sức quan trọng là pháp luật phảiphản ánh đúng quy luật khách quan và nhu cầu xã hội xã hội chủ nghĩa, phảnánh đúng và phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và có thể thực hiệnđược trong thực tế cuộc sống xã hội đang phát triển Xây dựng pháp luật phảitheo đúng thẩm quyền được quy định trong Hiến pháp, đồng thời phải bảo đảm

Trang 37

mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa Cần phải tránh khuynh hướng cho rằng kinh

tế - xã hội ta còn biến động, phải chăng chỉ xây dựng những văn bản pháp luậtmang tính chất định hướng chung Nhưng cũng cần phải tránh những quan điểmban hành pháp luật không thiết thực đối với cuộc sống và quan điểm lấy chủtrương, chính sách của Đảng thay cho pháp luật của Nhà nước Do đó, để mọingười thực hiện tốt pháp luật, trước hết phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền,giáo dục pháp luật nhằm mục đích hình thành cho mọi người có ý thức pháp luật

xã hội chủ nghĩa, ý thức pháp luật là tiền đề tư tưởng trực tiếp nhất cho việc xâydựng và thực hiện pháp luật Đưa việc dạy pháp luật vào hệ thống các trườngcủa Đảng, Nhà nước, kể cả trường phổ thông, trung học, đại học, các trường củađoàn thể, cán bộ quản lý các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở, đơn vịphải có kiến thức quản lý hành chính và hiểu biết về pháp luật, pháp chế Cần sửdụng nhiều hình thứ và biện pháp để giáo dục nâng cao ý thức pháp luật và làm

tư vấn pháp luật cho nhân dân Các cấp, các ngành, các đơn vị cởơ phải thườngxuyên lo củng cố, kiện toàn tổ chức pháp chế để tạo điều kiện cho việc nắmvững và chấp hành nghiêm chỉnh những chế độ quy định của Nhà nước banhành Phải bảo đảm tuân thủ, thi hành vấp dụng đúng đắn pháp luật Tuân thủ là

tự kiềm chế không vi phạm điều cấm thực hiện của pháp luật Sử dụng là thựchiện các quyền mà pháp luật cho phép Các quyết định cá biệt có tính đơnphương và chấp hành, buộc thi hành ngay, trong trường hợp cần thiết cơ quan cóthẩm quyền huy động công lực để cưỡng chế thi hành các quyết định cá biệt đo,

áp dụng pháp luật là hoạt động không thể thiếu được trong tổ chức thực hiệnpháp luật và bảo đảm pháp chế Thực hiện pháp luật phải bảo đảm nguyên tắc:công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, còn Nhà nước chỉđược làm những gì mà pháp luật cho phép

Trang 38

1.4.3 Tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật

Quan lý nhà nước là sự tác động có tổ chức, có hệ thống bằng pháp luậtnhằm điều chỉnh có hiệu lực, hiệu quả các quan hệ xã hội theo ý chí của nhànước Trong quá trình tác động điều chỉnh pháp luật phải thường xuyên tiếnhành công tác kiểm tra, giám sát loại trừ những hành vi không hợp pháp khỏiđời sống pháp chế nhà nước Có thể hiểu công tác kiểm tra, giám sát là một khâunằm trong quá trình quản lý nhà nước, thiếu khâu này bất thành quản lý Mụcđích của công tác kiểm tra, giám sát là phát hiện những sai sót trong quá trìnhthực hiện pháp luật để kịp thời uốn nắn, sửa chữa những sai sót đó Vì vậy, côngtác kiểm tra, giám sát nằm trong quá trình điều chỉnh pháp luật của nhà nước.Kiểm tra giám sát là trách nhiệm chung của các cơ quan nhà nước, các tổ chức

xã hội, các tập thể lao động và mọi công dân, nhưng trực tiếp là các cơ quan dân

cử, các cơ quan kiểm sát, thanh tra Nhà nước, thanh tra nhân dân Phải tăngcường vai trò, vị trí, chức năng và kiện toàn tổ chức và đẩy mạnh hoạt động của

cơ quan trên, nhằm phát huy vai trò của chúng trong củng cố, bảo vệ pháp chết

xã hội hủ nghĩa Trong công tác kiểm tra, giám sát chấp hành pháp luật phảiđược đặc biệt coi trọng, đảm bảo quyền khiếu nại tố cáo của công dân đối vớinhững hành vi vi phạm pháp luật, việc kiểm tra, giám sát phải quán triệt nguyêntắc dân chủ xã hội chủ nghĩa, phối hợp tốt hoạt động của các cơ quan chuyêntrách, với hoạt động của các đoàn thể xã hội và từng công dân Phải dùng sứcmạnh của pháp chế xã hội chủ nghĩa kết hợp với sức mạnh của dư luận quầnchúng để đấu tranh chống những hành vi vi phạm pháp luật

1.4.4 Mọi hành vi vi phạm pháp luật được xử lý nghiêm minh

Việc tổ chức thực hiện pháp luật giữ vị trí quan trọng; việc quan trọng màĐảng và Nhà nước quan tâm là phải giáo dục nâng cao ý thức pháp luật, nộidung này được Đảng ta nhấn mạnh trong báo cáo chính trị tại đại hội VI: “Coi

Trang 39

trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật Đưa việc dạy phápluật vào hệ thống các trường của Đảng, của nhà nước (kể cả các trường phổthông và đại học) của các đoàn thể nhân dân” Pháp chế xã hội chủ nghĩa đảmbảo kỷ cương, duy trì tật tự xã hội phải kịp thời đấu tranh kiên quyết với nhữnghành vi, vi phạm pháp luật và tội phạm Đảng cộng sản Việt Nam là người “lãnhđạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội”, nhưng sự lãnh đạo của Đảng cũng không táchrời nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Trong cương lĩnh của Đảng đã ghi:

“Đảng lãnh đạo, hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy.Đảng liên kết mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt độngtrong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” Trong báo cáo chính trị tại đại hội XIcủa Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục tiến hành cương quyết và thường xuyên cuộc đấutranh chống tham nhũng Phương hướng cơ bản để khắc phục tệ tham nhũng làphải xây dựng và hoàn chỉnh bộ máy cơ chế quản lý và pháp luật, xử lý nghiêmminh những người vi phạm” Theo Lênin: "Tính nghiêm minh của pháp luậthoàn toàn không phải ở chỗ hình phạt đó nặng, mà ở chỗ đã phạm tội thì khôngthoát khỏi bị trừng phạt" Có xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm phápluật mới phát huy được hiệu lực của pháp luật, mới giữ vững và củng cố đượcpháp chế xã hội chủ nghĩa Lênin đã nói: “Ai tưởng rằng bước chuyển từ chủnghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội có thể thực hiện được mà không cần đếncưỡng chế thì sẽ phạm một điều dại dột lớn nhất và tỏ ra không tưởng một cáchhết sức vô lý” [29, tr.568] Trong xử lý những vi phạm pháp luật phải quán triệtquan điểm của Đảng ta Mọi vi phạm đều phải được xử lý, không làm theo kiểuphong kiến, dân phải chịu hình phạt, quan thì xử theo lệ Mặt khác, phải tôntrọng nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuântheo pháp luật Nhà nước

Trang 40

1.4.5 Sự lãnh đạo của Đảng trong công tác tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

là một yêu cầu cấp thiết được Đảng đề ra để nâng cao hiệu lực quản lý của nhànước và bảo đảm quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động

Từ sau đại hội lần thứ VI của Đảng, đất nước ta có những biến đổi rõ rệt trênnhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Nhưng tình hình kinh tế xã hội cònkhó khăn, gay gắt, kỷ cương pháp luật trong quản lý nhà nước còn bị buônglỏng Việc thể chế hoá đường lối, chính sách chậm chạp, pháp luật chưa thực sựđược tuân theo và chấp hành nghiêm chỉnh Để củng cố và tăng cường pháp chế

xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng hiện nay

Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong công tác pháp chế là nhân tố quyếtđịnh việc tăng cường pháp chế XHCN ở nước ta Đảng lãnh đạo công tác phápchế nhưng không bao biện, làm thay cho cơ quan nhà nước mà sự lãnh đạo ấyđược thể hiện ở việc Đảng đề ra chủ trương, phương hướng xây dựng pháp luật,

tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật trong từng thời kỳ của sự nghiệpđổi mới Đảng chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế, giáo dụcnâng cao ý thức pháp luật cho đảng viên

Đảng kiểm tra các tổ chức Đảng và đảng viên chấp hành chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; kết hợp chặt chẽ sựkiểm tra của Đảng với công tác thanh tra nhà nước, thanh tra nhân dân nhằmphát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, kịp thời xử lý đảng viên vi phạmpháp luật Công tác tăng cường pháp chế phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng,mặt khác các cấp uỷ Đảng từ trên xuống dưới phải thường xuyên lãnh đạocông tác pháp chế, tăng cường cán bộ có phẩm chất và năng lực cho lĩnh vựcpháp chế và kiểm tra chặt chẽ cho hoạt động thực hiện pháp luật của các cơquan pháp chế

Ngày đăng: 22/01/2016, 13:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Bộ Tư pháp - Vụ Phổ biến, Giáo dục pháp luật (2007), Một số hình thức phổ biến giáo dục pháp luật, NXB Công an Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hình thứcphổ biến giáo dục pháp luật
Tác giả: Bộ Tư pháp - Vụ Phổ biến, Giáo dục pháp luật
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân
Năm: 2007
[5]. C.Mác - Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, J.Stalin (1968), Về vấn đề cán bộ, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề cán bộ
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, J.Stalin
Nhà XB: Nxb Sựthật
Năm: 1968
[6]. C.Mác - Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
[7]. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
[8]. C.Mác - Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
[10]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lầnthứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
[11]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lầnthứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1991
[12]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[13]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[14]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lầnthứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
[15]. Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
[16]. Đỗ Ngọc Hải (2007), Pháp chế XHCN trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBDN các cấp ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp chế XHCN trong hoạt động ban hành văn bảnquy phạm pháp luật của HĐND và UBDN các cấp ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đỗ Ngọc Hải
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
[17]. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa (2005), Từ điển Bách Khoa Việt Nam.[18]. Hiến pháp 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điểnBách Khoa Việt Nam
Tác giả: Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa
Năm: 2005
[20]. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[21]. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[22]. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[23]. Nguyễn Ngọc Quang (1998), Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục.Trường cán bộ QLGD TW1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1998
[28]. V.I.Lênin Toàn tập (1970), Bàn về pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập" (1970), "Bàn về pháp chế xã hội chủ nghĩa
Tác giả: V.I.Lênin Toàn tập
Nhà XB: Nxb Sựthật
Năm: 1970
[29]. V.I.Lênin Toàn tập (1977), Về pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập" (1977), "Về pháp chế xã hội chủ nghĩa
Tác giả: V.I.Lênin Toàn tập
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
[30]. V.I.Lênin Toàn tập (1980), Tập 42, Nxb Tiến Bộ, Mát xcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin Toàn tập
Nhà XB: Nxb Tiến Bộ
Năm: 1980

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Chu trình quản lý - Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lí nhà nước ở huyện nông cống, tỉnh thanh hóa giai hiện nay
Sơ đồ 1.1. Chu trình quản lý (Trang 21)
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu chủ yếu đã thực hiện năm 2014 - Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lí nhà nước ở huyện nông cống, tỉnh thanh hóa giai hiện nay
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu chủ yếu đã thực hiện năm 2014 (Trang 45)
Bảng 2.2. Tình hình thu, chi ngân sách  huyện Nông Cống (2010 - 2014) - Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lí nhà nước ở huyện nông cống, tỉnh thanh hóa giai hiện nay
Bảng 2.2. Tình hình thu, chi ngân sách huyện Nông Cống (2010 - 2014) (Trang 47)
Bảng 2.4: Tình hình lao động công ích của trên địa bàn - Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lí nhà nước ở huyện nông cống, tỉnh thanh hóa giai hiện nay
Bảng 2.4 Tình hình lao động công ích của trên địa bàn (Trang 49)
Bảng 2.5: Tình hình giảm hộ nghèo trên địa bàn huyện Nông Cống - Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lí nhà nước ở huyện nông cống, tỉnh thanh hóa giai hiện nay
Bảng 2.5 Tình hình giảm hộ nghèo trên địa bàn huyện Nông Cống (Trang 51)
Bảng 2.6: Kết quả công tác Kế hoạch hóa gia đình - Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lí nhà nước ở huyện nông cống, tỉnh thanh hóa giai hiện nay
Bảng 2.6 Kết quả công tác Kế hoạch hóa gia đình (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w