Nhằm bảo đảm chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng của chúng luôn đảm bảo những quy định khắt khe về sử dụng, bảo quản tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ; cũng như đảm bảo quyền và lợi ích
Trang 1Phần mở đầu:
Trong điều kiện khoa học, kỹ thuật phát triển nhanh chóng như ngày nay; càng ngày càng có nhiều những vật có công dụng to lớn, phục vụ nhu cầu sinh hoạt, giải trí của con người Tuy nhiên, khoa học càng phát triển, những vật xung quanh ta càng ẩn chứa nhiều nguy cơ gây ra tai nạn, thiệt hại mà dù con người có cố gắng sử dụng, bảo quản đúng quy trình thế nào cũng không thể phòng ngừa hết được Càng ngày càng có nhiều tai nạn do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Nhằm bảo đảm chủ
sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng của chúng luôn đảm bảo những quy định khắt khe về sử dụng, bảo quản tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ; cũng như đảm bảo quyền và lợi ích cho những người bị thiệt hại bởi nguồn nguy hiểm cao độ; luật pháp đã quy định rõ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra Tìm hiểu lý luận và thực tiễn xung quanh vấn đề này là cơ sở để áp dụng đúng và hoàn thiện luật pháp về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Phần nội dung:
1 Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ.
1.1 Định nghĩa.
Hiện nay, pháp luật chưa có định nghĩa rõ ràng về nguồn nguy hiểm cao độ Có thể hiểu một cách chung nhất, nguồn nguy hiểm cao độ là các dạng vật chất (kể cả sống và không sống) mà tự thân nó ẩn chứa khả năng tạo ra những mối nguy hiểm
ra môi trường xung quanh Trong lĩnh vực dân sự, nguồn nguy hiểm cao độ được giới hạn lại chỉ là những đối tượng là tài sản của chủ sở hữu, được chiếm hữu, sử dụng và có những biện pháp mang tính chuẩn mực nhằm phòng ngừa và kiểm soát tính nguy hiểm của nó Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định thiệt hại có đúng là do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra hay không, từ đó mới có căn cứ để áp dụng những quy định của pháp luật về bồi
Trang 2thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong những trường hợp thực
tế, cụ thể
Trong pháp luật dân sự Việt Nam, khoản 1 điều 623 BLDS 2005 đã có quy
định: “ Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới,
hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định”.
Theo nghị quyết 03/2006 của Hội đồng thẩm phán toàn án nhân dân tối cao thì trong việc xác định nguồn nguy hiểm cao độ, ngoài những căn cứ tại điều khoản 1
623 thì còn phải căn cứ vào các văn bản pháp luật khác có liên quan hoặc các quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các lĩnh vực chuyên môn cụ thể Điều 623BLDS liệt kê những đối tượng được coi là nguồn nguy hiểm cao độ, trong
đó bao gồm:
- “Phương tiện giao thông vận tải cơ giới”: Hiện tại chưa có quy định nào của
pháp luật chỉ rõ khái niệm “phương tiện giao thông vận tải cơ giới” Tuy nhiên, có
thể tìm thấy một số những quy định về các dạng của phương tiện giao thông vận tải
cơ giới trong các văn bản pháp luật khác Chẳng hạn như khoản 18, điều 3, Luật
Giao thông đường bộ 2008 quy định “Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ( sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô, máy kéo; rơ mooc hoặc sơ mi rơ mooc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự”.
Luật giao thông đường bộ phân chia các loại phương tiện giao thông đường bộ
ra thành “phương tiện cơ giới” và “phương tiện thô sơ” Nếu áp dụng cách hiểu tương tự như vậy đối với các loại hình đường giao thông khác, ta có thể phân biệt được phương tiện giao thông nào là nguồn nguy hiểm cao độ Đối với phương tiện
giao thông trên mặt nước thì theo điều 11 Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005:“
Trang 3và khoản 7, điều 3 Luật giao thông đường thủy nội địa năm 2004 quy định:
“Phương tiện thủy nội địa (sau đây gọi là phương tiện) là tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác, có động cơ hoặc không có động cơ, chuyên hoạt động trên đường thủy nội địa” Hay đối với tàu bay là phương tiện trong hoạt động vận chuyển hàng không thì: “Tàu bay là thiết bị được nâng giữ trong khí quyển nhờ tác động tương
hỗ với không khí, bao gồm máy bay, trực thăng, tàu lượn, khí cầu và các thiệt bị bay khác, trừ thiết bị được nâng giữ trong khí quyển nhờ tác động tương hỗ với không khí phản lại từ bề mặt Trái Đất” (Khoản 1, điều 13, Luật hàng không dân
dụng Việt Nam 2006) Hoặc trong trường hợp phương tiện giao thông vận tải
đường sắt, khoản 20 điều 3 Luật đường sắt năm 2005 quy định: “Phương tiện giao thông đường sắt là đầu máy, xe toa, xe toa động lực, phương tiện chuyên dùng di chuyển trên đường sắt” Có thể hiểu phương tiện giao thông có kích cỡ lớn (ngang
với các phương tiện giao thông đường bộ cơ giới trở lên) hay hoạt động bằng động
cơ thì đều là nguồn nguy hiểm cao độ
- “Hệ thống tải điện” là hệ thống truyền điện bao lưới điện và các thiết bị đo đếm
điện Theo quy định tại Luật điện lực 2004 thì: “…3 Lưới điện là hệ thống đường dây tải điện, máy biến áp và trang thiết bị phụ trợ để truyền dẫn điện Lưới điện, theo mục đích sự dụng và quản lý vận hành, được phân biệt thành lưới điện truyền tải và lưới điện phân phối…
4 Thiết bị đo đếm điện là thiết bị đo công suốt, điện năng, dòng điện, điện áp, tần
số, hệ thống công suốt, bao gồm các loại như công tơ, các loại đồng hồ đo điện và các thiết bị, phụ kiện kèm theo.”
- “Nhà máy công nghiệp đang hoạt động” là tổ hợp công trình, cơ sở sản xuất của
nền công nghiệp; thường sử dụng máy móc với quy mô lớn; đang vận hành, thực hiện các chức năng theo quy trình hoạt động thông thường Cần phần biệt rằng nhà máy công nghiệp đang ở trạng thái không hoạt động thì không phải là nguồn nguy
Trang 4- “Vũ khí” theo quy định tại “Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ
trợ” – ban hành kèm Nghị định số 47/CP của Chính phủ ngày 12/8/1996 bao gồm:
vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, súng săn và các công cụ hễ trợ
- “Chất cháy, chất nổ” Theo khoản 2, điều 3 Luật phòng cháy, chữa cháy thì
nguy hiểm về cháy, nổ là chất lỏng, chất khí, chất rắn hoặc hàng hoá, vật tư dễ xảy
ra cháy, nổ Chất cháy có đặc tính tự bố cháy khi tiếp xúc với ôxy trong không khú, nước hoặc dưới tác động của các yếu tố khác ở nhiệt độ nhất định (diêm, phốt pho, xăng dầu v.v.) Chất nổ có khả năng gây nổ mạnh, nhanh tỏa nhiệt và ánh sáng (thuốc nổ, thuốc pháo, thuốc súng.v.v.)
- “Chất độc”: Theo quy định tại khoản 5 điều 4 Luật Hóa chất 2007 thì “Hóa chất
độc là hóa chất nguy hiểm có ít nhất một trong những đặc tính quy định từ điểm a đến n khoản 4 điều này”
- “Chất phóng xạ” theo quy định tại khoản 3 điều 3 pháp lệnh an toànvà kiểm soát
bức xạ 1996 là chất ở thể rắn, lỏng hoặc khí có hoạt độ phóng xạ riêng lớn hơn 70 kilo Beccơren trên kilogam (70 kBq/kg Nó là nhân tố sát thương của vũ khí hạt nhân gồm những đồng vị không bền của các nguyên tố hóa học, có khả năng phát
ra những chùm tia phóng xạ không nhìn thấy gây bệnh hoặc gây nhiễm xạ đối với người, động vật và môi trường sống
- “Thú dữ” theo từ điển tiếng Việt là động vật bậc cao, có lông mao, có tuyến vú,
nuôi con bằng sữa, to lớn, rất dữ, có thể làm hại người Ví dụ: hổ, báo, sư tử, gấu… Định nghĩa trên được sử dụng đối với những loại động vật thuộc Lớp thú theo phân loại sinh học Tuy nhiên cũng cần phải thấy một số loài cá, bò sát v.v cũng có khả năng gây nguy hiểm cho người và tài như thú dữ nên chúng cũng được coi là nguồn nguy hiểm cao độ
Trang 5- Ngoài ra, pháp luật còn dự liệu các nguồn nguy hiểm cao độ có thể xuất hiện trong tương lại nên đã đặt ra quy định về nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định
1.2 Đặc điểm.
Về bản chất, nguồn nguy hiểm cao độ có những đặc điểm riêng giúp phân biệt
nó với những vật khác Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể áp dụng đúng quy định của pháp luật Ta thấy, nguồn nguy hiểm cao độ có những tính chất như sau:
- Tính tự nguy hiểm: Bản thân nguồn nguy hiểm cao độ đã có những yếu tố bên trong xác định tính nguy hiểm của mình, sự nguy hiểm đó có thể bùng phát ra môi trường xung quanh, gây thiệt hại
- Tính xác định bởi quy định của pháp luật Nguồn nguy hiểm cao độ không phải là một khái niệm khoa học cụ thể mà là tập hợp các tài sản thuộc danh mục được pháp luật quy định Khi xem xét một vật có phải nguồn nguy hiểm cao độ hay không phải căn cứ vào quy định của pháp luật, tránh nhầm lẫn với các trường hợp khác Chẳng hạn cần tránh nhầm giữa thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ là thú dữ gây ra với thiệt hại do súc vật gây ra, giữa nhà máy công nghiệp đang hoạt động với nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra v.v
2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
2.1 Điều kiện phát sinh.
Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một trường hợp cá biệt của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Vì vậy, ngoài những điều kiện cơ bản, giống với điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung; điều iện phá sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm
Trang 6cao độ gây ra còn có những điểm riêng biệt, đặc thù Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra bao gồm:
2.1.1 Có thiệt hại xảy ra.
Thiệt hại là yếu tố quan trọng, mang tính tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nói riêng Khi có thiệt hại xảy ra trong thực tế thì mới đặt ra vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm đảm bảo quyền lợi cho người bị xâm hại về lợi ích Thiệt hại
là tổn thất thực tế bị mất được tính thành tiền do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức Các dạng thiệt hại bao gồm:
- Thiệt hại về tài sản (tài sản bị mất, giảm sút v.v.)
- Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe (chi phí cứu chữa, bồi dưỡng; thu nhập thực
tế bị giảm, bị mất v.v.)
- Tổn thất về tinh thần (bù đắp tổn thất của người bị hại và người thân của họ trong trường hợp họ chết hoặc bị tổn hại về sức khỏe)
Ở đây ta thấy nguồn nguy hiểm cao độ không thể gây ra thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín cho người khác nên không đặt vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại
2.1.2 Có sự kiện gây thiệt hại của chính nguồn nguy hiểm cao độ.
Trong trường hợp bồi thường thiệt hại gây ra bởi nguồn nguy hiểm cao độ, pháp luật dân sự không đặt ra yếu tố hành vi gây thiệt hại Vì bản chất, hành vi là sự hành động hoặc không hành động của con người, nguồn nguy hiểm cao độ không phải là con người nên không thể có hành vi gây thiệt hại mà phải gọi là “sự kiện gây thiệt hại” Sự kiện gây thiệt hại phải do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
mà không phải thông qua sự điều khiển có mục đích của ý thức con người Chẳng hạn xe ô tô đang di chuyển bị đứt phanh và gây thiệt hại sẽ khác với người điều khiển biết xe bị đứt phanh nhưng vẫn cho xe hoạt động với mục đích gây thiệt hại
Trang 7cho người khác Tuy không thể đánh giá một sự kiện gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ là hợp pháp hay không, nhưng có thể đánh giá được việc sử dụng, bảo quản nguồn nguy hiểm cao độ của chủ sở hữu hay người được giao chiếm hữu, sử dụng là có hay không đúng theo pháp luật Đó là cơ sở để xác định lỗi và trách nhiệm bồi thường Chẳng hạn nếu một người cho người sử dụng xe ô tô khi chưa
có bằng lái gây thiệt hại vì xe bị đứt phanh thì người đó bị coi là có lỗi trong việc
sử dụng và người giao xe cho người đó sẽ có lỗi trong việc giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật
2.1.3 Có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và sự kiện gây thiệt hại.
Trong quan hệ giữa thiệt hại và sự kiện gây thiệt hại thì thiệt hại là kết quả, sự kiện gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ là nguyên nhân Việc xác định đúng, có hay không liên hệ nhân quả là tiền đề cho việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại Theo nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về cặp phạm trù nguyên nhân kết quả, nguyên nhân là sự tác động qua lại giữa các mặt, các yêu tố bên trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây ra một sự biến đổi nhất định Kết quả là sự biến đổi đó Trong đó
- Nguyên nhân luôn là cái có trước và kết quả là cái có sau
- Một sự vật, hiện tượng không chỉ là nguyên nhân của một kết quả này mà còn
là kết quả của một nguyên nhân khác, có trước Tương tự, kết quả của một nguyên nhân còn có thể là nguyên nhân của một kết quả khác Do đó, khi xác định mối liên
hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại và thiệt hại, cần xem xét trong mối liên hệ trực tiếp, không xét đến nguyên nhân gián tiếp Chẳng hạn, ô tô đứt phanh gây tai nạn giao thông, tai nạn gây ra tắc đường làm chậm trễ công việc của nhiều người Khi đó không có mối liên hệ nhân quả trực tiếp giữa việc ô tô đứt phanh với hậu quả là nhiều người bị chậm trễ công việc Nếu có thiệt hại do chậm công việc thì không có bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Trang 8- Một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả và một kết quả có thể gây ra bởi nhiều nguyên nhân Do đó khi xác định thiệt hại cần xác định rõ thiệt hại gây ra cho những ai, mức độ của từng người và gây ra bởi những ai, mức độ từng người
ra sao Từ đó ta mới xác định được có hay không liên đới quyền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
2.1.4 Lỗi.
Khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung, nguyên tắc đảm bảo yểu tố lỗi trong bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra đã được loại trừ Theo khoản 3, điều 623 thì khi chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ không có lỗi vẫn phải bồi thường trừ trường hợp do pháp luật qui định Cụ thể, theo quy định tại khoản 3 điều 623 BLDS và nghị quyết 03/2006 thì về nguyên tắc, chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cả khi không
có lỗi, trừ những trường hợp sau:
+ Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi có ý của người bị thiệt hại Ta cần nhận rõ, lỗi trong trường hợp này là lỗi đối với hậu quả xảy ra Bởi trên thực tiễn lỗi cố ý hoàn toàn của hành vi chưa hẳn là cố ý hoàn toàn đối với hậu quả
Ví dụ: Xe ô tô đang tham gia giao thông theo đúng quy định của pháp luật, thì bất ngờ có người lao vào xe để tự tử và hậu quả là người này bị thương nặng hoặc bị chết Trong trường hợp này, chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu,
sử dụng hợp pháp xe ô tô đó không phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
+ Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Đây là quy định tại điểm b, khoản 3 điều
623 BLDS
Trang 92.2 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Nhìn chung, năng lực chủ thể trong quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra giống với năng lực chủ thể trong quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung Cụ thể, các loại chủ thể có thể tham gia vào quan hệ bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra bao gồm:
- Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ phải tự bồi thường thiệt hại khi họ là chủ sở hữu hoặc là người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại
- Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi phải dùng tài sản của mình đề bồi thường trước, cha mẹ chịu trách nhiệm bổ sung phần còn thiếu
- Người dưới 15 tuổi khi sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ mà có thiệt hại gây
ra bởi nguồn nguy hiểm cao độ đó thì cha mẹ phải lấy tài sản của mình để bồi thường, nếu không đủ sẽ lấy tài sản của con bù
2.3
Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra
.
2.3.1 Xác định thiệt hại.
Thiệt hại là điều kiện quan trọng làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường Do đó, vấn
đề đầu tiên khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra là phải tính được một cách chính xác toàn bộ thiệt hại là bao nhiêu, từ đó làm cơ sở ấn định mức bồi thường Những thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ có thể là bề tài sản, về sức khỏe, về tính mạng và tổn thất tinh thần do sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm
Trang 102.3.1.1 Thiệt hại về tài sản.
Theo điều 608 BLDS thì thiệt hại về tài sản bao gồm tài sản bị mất, bị hủy hoại,
bị hư hỏng, lợi ích gắn liền với việc sử dụng khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại Khi xác định và quy ra tiền cần chú ý:
- Tài sản bị mất sẽ được đền bù theo thời giá thị trường tại thời điểm tài sản bị mất sau khi đã xem xét đến tình trạng (cũ, mới, hao mòn)
- Tài sản bị hư hỏng là tài sản bị mất một số chức năng Khoản tiền đền bù sẽ là chi phí hợp lý để phục hồi các chức năng đó
- Tài sản bị hủy hoại là tài sản không thể phục hồi chức năng ban đầu Nếu tài sản bị hủy hoại là vật cùng loại, khoản đền bù có thể là chính vật cùng loại với tài sản đó hoặc số tiền tương ứng với giá trị của nó Nếu là vật đặc định, hai bên sẽ thỏa thuận để bồi thường
- Lợi ích gắn liền với việc khai thác tài sản
- Hoa lợi, lợi tức chắc chắn thu được nếu không có thiệt hại xảy ra và những chi phí cần thiệt khác để khắc phục thiệt hại
2.3.1.2 Thiệt hại về sức khỏe.
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng
bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người
bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có)