1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Qúa trình đàm phán những khó khăn và thách thức của việt nam khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới – WTO

35 378 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 408,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy sự cần thiết tham gia tổ chức WTO, ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ độn

Trang 3

Đối với với chúng ta, việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới là một xu thế tất yếu bởi nó phù hợp với “xu thế toàn cầu hoá” và là xu thế hội nhập của sự phát triển. Trong nhiều năm qua Việt Nam đã  nổ  lực  thực  hiện  “cải  cách  kinh  tế”,  mở  cửa  thị  trường…  nhằm thúc  đẩy  sự  phát  triển  của  nền  kinh  tế,  nâng  cao  mức  sống  của người  dân.  Chúng  ta  đã  đạt  được  những  kết  quả  nhất  định  khi  là thành viên của các tổ chức: ASEAN, UNO, APEC… Và hiện Việt Nam đang gấp rút hoàn thành các thủ tục để trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới ­ WTO

Là thành viên của WTO, cũng sẽ như các thành viên khác, Việt Nam sẽ có được nhiều thuận lợi, nhiều cơ hội để phát triển nền kinh tế  nói  riêng,  đặc  biệt  là  đối  với  các  ngành  kinh  tế  có  thế  mạnh. Tuy  nhiên  đi  kèm  theo  đó  sẽ  là  những  khó  khăn,  thách  thức  không nhỏ.  Vậy  những  thuận  lợi,  cơ  hội  cũng  như  những  khó  khăn,  thách thức mà WTO mang lại đó là gì? Việt Nam đã mất đến 11 năm đàm phán về gia nhập WTO, mặc dù đã thu được nhiều kết quả khả quan nhưng chúng ta vẫn chưa chính thức trở thành thành viên của tổ chức này. Trên thực tế, quá trình đàm phán diễn ra rất căng thẳng cả ở các  phiên  đa  phương  và  song  phương  do  nhiều  nguyên  nhân  chủ  quan và  khách  quan.  Tuy  nhiên  cho  đến  nay  Việt  Nam  đã  gần  như  hoàn thành chặng đường tiến tới WTO của mình. Vậy con đường dẫn đến WTO của Việt Nam đã diễn ra như thế nào?

Đó  là  lí  do  mà  chúng  tôi  muốn  tìm  hiểu  nhằm  phần  nào  giúp các  bạn  có  thể  biết  thêm  về  quá  trình  đàm  phán,  những  thuận  lợi 

Trang 4

Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh

cũng  như  khó  khăn,  thách  thức  của  Việt  Nam  sau  khi  là  thành  viên của  WTO.  Trong  quá  trình  tìm  hiểu,  thu  thập  tài  liệu  để  viết  bài,  tất nhiên sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong bạn đọc bỏ qua và đóng góp ý kiến để vấn đề của chúng ta được rõ ràng và đầy đủ hơn

I. VÀI NÉT VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI – WTO

Tổ  chức  thương  mại  thế  giới  (WTO)  được  thành  lập  ngày 01/01/1995, trụ sở tại Geneva, Thuỵ Sỹ. Ban đầu có 130 nước thành viên, đến nay tổng số thành viên WTO đã lên 150, trong đó có 2/3 là nước đang  và  kém  phát  triển.  Ngoài  các  thành  viên  chính  thức,  hiện  nay còn có nhiều nước đang trong quá trình đàm phán gia nhập WTO ­ trong đó có Việt Nam

­ Dân số: 3,557 tỷ người (chiếm 64% dân số thế giới)

­ Tổng sản phẩm quốc dân: 23,682 tỷ USD (chiếm 93% sản lượng thế giới)

­ Kim ngạch thương mại: 7.908,9 tỷ USD (thương mại mội khối chiếm 91%)

Tổ  chức  thương  mại  thế  giới  với  tư  cách  là  thể  chế  pháp  lý điều tiết các mối quan hệ kinh tế ­ thương mại quốc tế mang tính toàn cầu. WTO ra đời trên cơ sở kế thừa tất cả các nguyên tắc, luật lệ của tổ chức tiền thân đã tồn tại gần 50 năm trước đó là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT)

Hoạt  động  của  tổ  chức  này  được  điều  tiết  bởi  16  Hiệp  định chính:

­  Hiệp  định  về  trợ  cấp  và  các  biện  pháp  đối  kháng  và  Điều XVI của GATT

­ Hiệp định về các biện pháp tự vệ và Điều 19 của GATT

­ Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan thương mại (TRIMS)

Trang 5

b. Đại Hội đồng WTO (General­Council)

Trang 6

Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh

Hoạt động trên cơ sở thường trực tại trụ sở của WTO ở Geneve­Thuỵ Sỹ, thành viên của Đại hội đồng là đại diện ở cấp đại sứ của chính phủ tất cả các thành viên

c.  Cơ  quan  giải  quyết  tranh  chấp  và  cơ  quan  kiểm  điểm  chính  sách thương mại

Do đại hội đồng WTO thực hiện, là “cơ quan giải quyết tranh chấp” khi thực hiện các chức năng giải quyết tranh chấp và là cơ uan kiểm định  chính  sách  thương  mại  khi  thực  hiện  chức  năng  kiểm  định  chính sách thương mại

2.2 Cơ quan thừa hành giám sát việc thực hiện các hiệp định  thương mại đa phương

Có 3 hội đồng: Hội đồng GATT, Hội đồng GATS và Hội đồng 

TRIPS. Tất cả các nước đều có quyền tham gia vào hoạt động của 3 hội đồng này

2.3. Cơ quan thực hiện chức năng hành chính: Tổng giám đốc  và Ban thư ký

WTO  có  Ban  thư  ký  rất  quy  mô,  khoảng  50  viên  chức  và  nhân viên  thuộc  biên  chế  chính  thức  của  WTO.  Đứng  đầu  là  Tổng  giám đốc

Tổng giám đốc WTO do Hội nghị Bộ trưởng bổ nhiệm với nhiệm kỳ  4  năm.  Quyền  hạn  và  trách  nhiệm  của  Tổng  giám  đốc  do  Hội nghị  Bộ  trưởng  quyết  định.  Biên  chế  Ban  thư  ký  WTO  do  Tổng  giám đốc quyết định

3. Các nguyên tắc pháp lý

a Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)

Tối huệ quốc (Most Favoured Nation ­ MFN) là nguyên tắc pháp lý quan  trọng  nhất  của  WTO.  Nguyên  tắc  Tối  huệ  quốc  được  hiểu  là nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử ưu đãi nào  đó  thì  nước  này  cũng  sẽ  phải  dành  sự  ưu  đãi  đó  cho  tất  cả các  nước  thành  viên  khác.  Thông  thường  nguyên  tắc  MFN  được  quy định  trong  các  Hiệp  định  thương  mại  song  phương.  Khi  nguyên  tắc  MFN được áp dụng đa phương đối với tất cả các nước thành viên WTO thì cũng đồng nghĩa với nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử vì tất cả các nước sẽ dành cho nhau sự “đối xử ưu đãi nhất”. Tuy nhiên,  nguyên  tắc  MFN  trong  WTO  không  có  tính  áp  dụng  tuyệt  đối. Hiệp định GATT 1947 quy định mỗi nước có quyền tuyên bố không áp dụng tất cả các điều khoản trong Hiệp định đối với một nước thành viên khác

Trang 7

Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh

Mặc  dù  được  các  nước  trong  GATT/  WTO  công  nhận  là  nguyên tắc  nền  tảng,  nhưng  thực  tế  cho  thấy  các  nước  phát  triển  cũng  như đang  phát  triển  không  phải  lúc  nào  cũng  tuân  thủ  nghiêm  túc nguyên  tắc  MFN  và  đã  có  rất  nhiều  tranh  chấp  trong  lịch  sử  của GATT liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc này. Thông thường thì vi phạm của các nước đang phát triển dễ bị phát hiện và bị kiện nhiều hơn các nước phát triển

b. Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT)

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (Nation Trearment ­ NT) được hiểu là hàng  hoá  nhập  khẩu,  dịch  vụ  và  quyền  sở  hữu  trí  tuệ  nước  ngoài phải đựơc đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá cùng loại trong nước. Trong khuôn khổ WTO, nguyên tắc NT chỉ áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ, các quyền sở hữu trí tuệ, chưa áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân. Phạm vi áp dụng của nguyên tắc NT đối với hàng  hoá,  dịch  vụ  và  sở  hữu  trí  tuệ  có  khác  nhau.  Đối  với  hàng hoá và sở hữu trí tuệ, việc áp dụng nguyên tắc NT là một nghĩa vụ chung, có nghĩa là hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ có khác nhau. Đối với hàng hoá và sở hữu trí tuệ, việc áp dụng nguyên tắc NT là một nghĩa vụ chung, có nghĩa là hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ nước  ngoài  sau  khi  đã  đóng  thuế  quan  hoặc  được  đăng  ký  bảo  vệ hợp pháp được đối xử  bình đẳng như hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ trong nước đối với thuế và lệ phí nội địa, các quy định về mua, bán, phân phối vận chuyển. Đối với dịch vụ, nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với những lĩnh vực, ngành nghề đã được mỗi nước đưa vào danh mục cam kết cụ thể của mình và mỗi nước có quyền đàm phán đưa ra những ngoại lệ

Các nước, về nguyên tắc không được áp dụng những hạn chế số  lượng  nhập  khẩu  và  xuất  khẩu,  trừ  những  trường  hợp  ngoại  lệ được  quy  định  rõ  ràng  trong  các  Hiệp  định  của  WTO,  cụ  thể  đó  là các trường hợp: mất cân đối cán cân thanh toán, nhằm mục đích bảo vệ  ngành  công  nghiệp  non  trẻ  trong  nước,  bảo  vệ  ngành  sản  xuất trong nước chống lại sự gia tăng đột ngột về nhập khẩu hoặc để đối phó với sự khan hiếm một mặt hàng trên thị trường quốc gia do xuất khẩu quá nhiều, vì lý do sức khoẻ và vệ sinh, vì lý do an ninh quốc gia

Nguyên  tắc  đãi  ngộ  quốc  gia  cùng  với  MFN  là  hai  nguyên  tắc nền  tảng  quan  trọng  nhất  của  hệ  thống  thương  mại  đa  phương  mà  ý nghĩa thực sự là bảo đảm việc tuân thủ một cách nghiêm túc những cam kết về mở cửa thị trường mà tất cả các nước thành viên đã chấp nhận khi chính thức trở thành thành viên của WTO

c. Nguyên tắc mở cửa thị trường

Trang 8

Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh

Nguyên  tắc  “mở  cửa  thị  trường”  hay  còn  gọi  một  cách  hoa  mỹ là  “tiếp  cận”  thị  trường,  thực  chất  là  mở  cửa  thị  trường  cho  hàng hoá, dịch vụ và đầu tư nước ngoài. Trong một hệ thống thương mại đa phương, khi tất cả các bên tham gia đều chấp nhận mở cửa thị trường của mình thì điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu mở cửa

Về mặt chính trị, “tiếp cận thị trường” thể hiện nguyên tắc tự do hoá thương mại của WTO. Về mặt pháp lý, “tiếp cận thị trường” thể hiện nghĩa vụ có tính chất ràng buộc thực hiện những cam kết về mở cửa  thị  trường  mà  nước  này  đã  chấp  nhận  khi  đàm  phán  gia  nhập WTO

d. Nguyên tắc cạnh tranh công bằng

Cạnh tranh công bằng thể hiện nguyên tắc “tự do cạnh tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau” và được công nhận trong án lệ của  vụ  Uruguay  kiện  15  nước  phát  triển  (1962)  về  việc  áp  dụng  các mức  thuế  nhập  khẩu  khác  nhau  đối  với  cùng  một  mặt  hàng  nhập khẩu.  Do  tính  chất  nghiêm  trọng  của  vụ  kiện,  Đại  hội  đồng  GATT  đã phải thành lập một nhóm công tác để xem xét vụ này. Nhóm công tác  đã  cho  kết  luận  rằng,  về  mặt  pháp  lý  việc  áp  dụng  các  mức thuế  nhập  khẩu  khác  nhau  đối  với  cùng  một  mặt  hàng  không  trái với  các  quy  định  của  GATT,  nhưng  việc  áp  đặt  các  mứcthuế  khác nhau này đã làm đảo lộn những điều kiện cạnh tranh công bằng mà Uruguay có quyền mong đợi từ phía những nước phát triển và đã gây thiệt  hại  cho  lợi  ích  thương  mại  của  Uruguay.  Trên  cơ  sở  kết  luận  của Nhóm  công  tác  Đại  hội  đồng  GATT  đã  thông  qua  khuyến  nghị  các nước phát triển có liên quan đàm phán với Uruguay để thay đổi các cam kết và nhân nhượng thuế quan trước đó. Vụ kiện của Uruguay đã tạo ra một tiền lệ mới, nhìn chung có lợi cho các nước đang phát triển. Từ nay các nước phát triển có thể bị kiện ngay và khi về mặt pháp lý  không  vi  phạm  bất  kỳ  điều  khoản  nào  trong  hiệp  định  GATT  nếu những  nước  này  có  những  hành  vi  trái  với  nguyên  tắc  cạnh  tranh công bằng

II. QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM

WTO là tổ chức thương mại lớn nhất thế giới với 150 nước thành viên  và  hiện  đang  có  29  nước  là  quan  sát  viên  (trong  đó  có  Việt Nam). Con số này gần ngang bằng với số thành viên các nước tham gia vào tổ chức Liên Hiệp Quốc (191 nước). “Tổ chức thương mại thế giới (WTO)hiện chiếm khoảng 85% thương mại toàn cầu và chiếm tới 90%  thương  mại  dịch  vụ  toàn  thế  giới”11.  Do  vậy,  mục  tiêu  của  Việt 

Trang 9

Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh

Nam  trong  gia  nhập  WTO  nhằm  tạo  môi  trường  cho  các  doanh  nghiệp Việt Nam phát triển chứ không phải gia nhập  cho chúng ta giàu lên hay  nghèo  đi.  Chúng  ta  tranh  thủ  như  thế  nào  từ  WTO,  điều  này  còn phụ thuộc vào chính sách và sự hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào tiến trình ấy

Nhìn  chung,  gia  nhập  WTO  chúng  ta  sẽ  có  nhiều  cơ  hội  để  phát triển  kinh  tế  nói  riêng  và  đất  nước  nói  chung,  Bởi  WTO  là  nơi  mà chúng ta có cơ hội mở rộng thâm nhập thị trường các nước, tranh thủ vốn đầu tư, công nghệ và kỹ năng quản lý của nước ngoài, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng

Nhận thấy sự cần thiết tham gia tổ chức WTO, ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế  đối  ngoại  theo  hướng  đa  phương  hoá,  đa  dạng  hoá,  chủ  động  hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta và bảo đảm thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương… tiến tới gia nhập WTO…”21

Với  chủ  trương  đó  trong  nhiều  năm  qua,  Việt  Nam  đã  đẩy  nhanh việc đàm phán gia nhập WTO với các nước có yêu cầu đàm phán. Đây  quả  là  một  thách  thức  rất  lớn,  các  phiên  đàm  phán  của chúng ta với các nước diễn ra rất căng thẳng và đầy khó khăn, đặc biệt là đối với Hoa Kỳ, Mexico…

Nếu như “Trung Quốc phải mất đến 14 năm mới có thể gia nhập WTO thì cho đến nay Việt Nam chúng ta đã mất đến 11 năm đàm phán liên tiếp, chúng ta đã trải qua 12 phiên đàm phán với hơn 4000 cuộc họp, cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với các nước”32

Cho  đến  nay,  mặt  dù  rất  khó  khăn  nhưng  chúng  ta  đã  và  đang đứng trước cánh cửa WTO. Có thể nói chúng ta đã đi được 5/6 quãng đường  và  tất  cả  đang  diễn  tiến  thuận  lợi,  rất  có  thể  Việt  Nam  sẽ chính thức gia nhập WTO vào cuối năm nay (nếu như phiên đàm phán thứ 13 diễn ra vào tháng 10 tới thành công tốt đẹp)

Nhìn lại quá trình đàm phán của Việt Nam để gia nhập vào WTO chúng ta có thể tóm lược như sau:

Trang 10

  Từ  phiên  họp  thứ  nhất  đến  phiên  họp  thứ  4,  tập  trung  trả  lời các  câu  hỏi  của  các  thành  viên  Ban  công  tác  về  minh  bạch  hoá chính sách kinh tế thương mại. Kết thúc phiên thứ 4, Ban công tác của WTO đã công nhận Việt Nam cơ bản đã kết thúc quá trình minh bạch hoá chính sách kinh tế thương mại và chuyển sang giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường.

Phiên đàm phán thứ 5 và thứ 6 chúng ta đàm phán về vấn đề mở cửa thị trường. Việt Nam đã cung cấp cho Ban thư ký WTO một loạt các tài liệu như: Bản tóm tắt hiện trạng về chính sách kinh tế ­ thương mại,  về  chính  sách  hỗ  trợ  trong  nước  và  trợ  cấp  xuất  khẩu  nông nghiệp,  về  chính  sách  hỗ  trợ  công  nghiệp,  về  hoạt  động  của  các doanh nghiệp Nhà nước, 7 chương trình hành động thực hiện Hiệp định về sở hữu trí tuệ liên quan thương mại (TRIMS), thực hiện Hiệp định về xác định trị giá hải quan (CVA)

Riêng trong phiên đàm phán thứ 6 (được tiến hành tại trụ sở của WTO ở Geneva từ ngày 16/05/2003 đến ngày 20/05/2003, do Thứ trưởng Lương Văn Tự làm trưởng đoàn). Trước đó, “trong ngày làm việc đầu tiên  (12/05/2003),  đại  diện  14  thành  viên  WTO  đã  tham  gia  phát  biểu, trong đó có Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU), Trung Quốc, Nhật Bản, 

Trang 11

Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh

Ấn  Độ,  Malaixia,  Hàn  Quốc  và  các  nước  khác”41.  Trong  buổi  làm việc đầu tiên này, các bên đã ủng hộ quan điểm Việt Nam là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi đã có nỗ lực đáng ghi nhận và rất tích cực trong quá trình hội  nhập  kinh  tế  quốc  tế.  “Trong  buổi  tiếp  xúc  này,  một  số  thành viên đồng ý lấy mức cam kết trong Bản chào của Việt Nam về dịch vụ là cơ sở cho đàm phán song phương, riêng Bản chào về hàng hoá, một số thành viên đã yêu cầu cần sửa đổi

Sau phiên họp toàn thể, ngày 16/05, Việt Nam đã tổ chức phiên đàm  phán  đa  phương  chính  thức  về  lĩnh  vực  nông  nghiệp  với  sự  tham dự của 10 nước. Các nước yêu cầu Việt Nam làm rõ các chính sách về nông nghiệp trong bản thông báo hỗ trợ trong nước đối với nông nghiệp và trợ cấp xuất khẩu nông sản (ACC4)”52 

Nhìn  chung,  kết  thúc  phiên  đàm  phán  đa  phương  thứ  6,  Việt  Nam đã đạt được những kết quả nhất định, tạo điều kiện để chúng ta tiến thêm bước nữa trên con đường gia nhập WTO

“Trong phiên đàm phán lần thứ 7 và 8, chúng ta chuyển sang giai đoạn  bàn  thảo  tài  liệu  “Một  số  yếu  tố  của  dự  thảo  báo  cáo  gia nhập”

Tại phiên đàm phán thứ 8 (diễn ra từ ngày 09/06/2004 đến ngày 18/06/2004  tại  Geneva,  do  Thứ  trưởng  Thương  mại  Lương  Văn  Tự  làm trưởng  đoàn)  chúng  ta  “tiếp  tục  xoay  quanh  các  vấn  đề  mở  cửa  thị trường hàng hoá và dịch vụ, trong đó tập trung chủ yếu vào nội dung Bản chào mà Việt Nam đã gửi tới Geneva từ tháng 02/2004 (như mở cửa lĩnh vực ngân hàng, viễn thông và lộ trình cắt giảm thuế quan… )”63

Trong  phiên  đàm  phán  đa  phương  thứ  8  này,  “có  19  thành  viên WTO đã tham gia phát biểu và đều khẳng định ủng hộ Việt Nam sớm gia nhập WTO”4. Các nước đã đánh giá cao khối lượng và chất lượng công  việc  mà  Việt  Nam  đã  thực  hiện  nhằm  phục  vụ  cho  phiên  đàm phán. Đáng chú ý là “các đối tác đều ủng hộ quan điểm Việt Nam là  nước  đang  phát  triển  ở  trình  độ  thấp,  nền  kinh  tế  đang  trong  quá trình chuyển đổi, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, 

vì vậy cam kết dành cho Việt Nam một số ưu đãi phù hợp với quy định của WTO”4 . Ngoài ra, “trong ngày 15/06/2004, các thành viên WTO cũng tập trung góp ý cho Bản “Các yếu tố của dự thảo báo cáo của Ban 

1 www.VNExpress.net (28/ 05/ 2003)

2 www.VNExpress.net (28/ 05/ 2003).

3 , 4  Nguồn www.VNExpress.net (21/ 06/ 2004), Tạp chí Kinh tế Sài Gòn số 26/ 2004, Báo thương mại  (25/ 10/ 2004).

Trang 12

Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh

công tác về Việt Nam gia nhập WTO” (Elements of the Draftworking Report ­ EDR)  và  ủng  hộ  phiên  đàm  phán  kế  tiếp  có  thể  chuyển  từ  thảo luận bản EDR sang thảo luận bản DR (dự thảo báo cáo của Ban công tác  về  việc  Việt  Nam  gia  nhập  WTO)  nhằm  đẩy  nhanh  tiến  trình  đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam”5

Trong phiên đàm phán đa phương này chúng ta đã cam kết tuân thủ  một  loạt  các  quy  định,  nghĩa  vụ  của  WTO.  Đầu  tiên  là  nghĩa  vụ MFN  (nguyên  tắc  Tối  huệ  quốc,  không  phân  biệt  đối  xử),  theo  đó Việt Nam xác nhận sẽ tuân thủ nguyên tắc MFN sau khi gia nhập đối với cả thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ. Cam kết thực hiện nguyên  tắc  không  phân  biệt  đối  giữa  trong  nước  và  ngoài  nước. Trong phiên đàm phán này, chúng ta đã đưa ra Bản chào có bước đi đột phá., chỉ riêng ở nhóm dịch vụ, Việt Nam đã cho phép “mở cửa 

10 nhóm và gần 100 mặt hàng. Ngoài ra thuế quan đối với hàng hoá cũng có bước nhảy vọt như bỏ trợ cấp xuất khẩu đối với càfê, hạ mức  thuế  quan  nói  chung  tới  mức  các  đối  tác  có  thể  chấp  nhận được. Chính vì vậy, các nước tham gia đàm phán rất hoan nghênh Việt Nam  về  các  bước  tiến  này”71.  Bên  cạnh  đó,  về  chương  trình  hành động lập pháp chúng ta đã đưa ra “Danh mục sửa đổi bổ sung và ban hành với 36 văn bản, bao gồm luật và pháp lệnh có liên quan đến quá trình gia nhập WTO như: luật Thương mại, luật Cạnh tranh, luật Đầu 

tư  nước  ngoài  tại  Việt  Nam,  pháp  lệnh  chống  bán  phá  giá…  Các thành viên WTO cũng yêu cầu Việt Nam tiếp tục tăng cường lộ trình xây dựng luật để thông qua các văn bản luật và pháp lệnh có liên quan đến nghĩa vụ thành viên WTO”2

“Cùng  với  đàm  phán  đa  phương,  chúng  ta  đã  tiến  hành  khoảng 

20  phiên  đàm  phán  song  phương  với  17  thành  viên  trong  thời  gian  từ ngày  09/06  đến  18/06  bao  gồm:  EU,  Hoa  Kỳ,  Canada,  Hàn  Quốc, Oxtrâya,  Nauy,  Cuba,  Uruguay,  Argentina,  Braxin,  Nhật  Bản,  Thuỵ  Sĩ,  Niu Dilân,  Aán  Độ,  Đài  Loan,  Chi  Lê,  Paraguay.  Các  thành  viên  đã  tiến hành  đàm  phán  mở  cửa  thị  trường  với  Việt  Nam,  trong  đó  tập  trung vào lĩnh vực hàng hoá và dịch vụ. Việt Nam cũng đã tiến hành thủ tục  kí  tắt  văn  bản  “thoả  thuận  kết  thúc  đàm  phán  song  phương”  với CuBa  và  gần  kết  thúc  đàm  phán  song  phương  với  một  số  đối  tác khác”3

Nhìn  chung,  kết  thúc  phiên  đàm  phán  đa  phương  thứ  8,  chúng  ta đã có những bước đi đột phá và đã đạt được một số kết quả khả quan. Theo lời ông chủ tịch Ban công tác về Việt Nam gia nhập WTO – Hô Xeung đánh giá: Phiên đàm phán đã đạt được kết quả đáng khích 

1 , 2, 3  Nguồn www.VNExpress.net (21/ 06/ 2004).

Trang 13

Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh

lệ và từ phiên 9 bắt đầu chuyển sang thảo luận nội dung của bản dự thảo báo cáo về các cam kết đa phương”84

Phiên đàm phán đa phương thứ 9 diễn ra từ ngày 15/12/2004 đến ngày 19/12/2004 tại Geneva, do Thứ trưởng thương mại Lương Văn Tự làm trưởng  đoàn,  chúng  ta  tiếp  tục  “đàm  phán  về  vấn  đế  mở  cửa  thị trường  và  tập  trung  thảo  luận  bản  “Dự  thảo  báo  cáo  lần  đầu  của Ban công tác về Việt Nam gia nhập WTO”. Tại phiên đàm phán, Việt Nam  đã  nêu  rõ  quyết  tâm  của  Việt  Nam  trong  việc  đẩy  mạnh  đàm phán gia nhập WTO thông qua cam kết tuân thủ nguyên tắc MFN (quy chế thương mại bình thường) và một loạt các hiệp định của WTO ngay khi gia nhập cũng như việc Chính phủ và Quốc hội Việt Nam đẩy nhanh chương trình xây dựng pháp luật và sớm thông qua các luật nhằm thực hiện các cam kết”5

Trong  phiên  đàm  phán  này,  “các  trưởng  đoàn  đàm  phán  của liên minh Châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Cacada, Cuba, Ôxtrâylia, Côlômbia… đã phát biểu chúc mừng Việt Nam có những bước tiến đáng kể và đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam là một nước đang phát triển 

ở  trình  độ  thấp,  nền  kinh  tế  đang  trong  quá  trình  chuyển  đổi,  nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, vì thế các thành viên WTO  cần  dành  cho  Việt  Nam  một  số  ưu  đãi  phù  hợp  với  quy  định WTO”91

Ngoài  các  phiên  đàm  phán  đa  phương,  chúng  ta  đã  tiến  hành đàm phán song phương với 10 đối tác gồm: Hoa Kỳ, Nauy, Aixơlen, Niu Dilan, Thuỵ Sĩ, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, Paraguay, Colombia, Canada về vấn đề mở cửa thị trường với Việt Nam, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực hàng  hoá  và  dịch  vụ  trên  cơ  sở  bản  chào  của  Việt  Nam  và  Bản yêu  cầu  của  từng  đối  tác.  Kết  thúc  phiên  đàm  phán  thứ  9,  “chủ tịch  Ban  công  tác  về  việc  Việt  Nam  gia  nhập  WTO  ­  ông  Hô  Xeung  ­ đánh giá phiên đàm phán đã diễn ra trên tinh thần xây dựng và đạt được  kết  quả  đáng  khích  lệ,  đồng  thời  tuyên  bố  ủng  hộ  Việt  Nam sớm gia nhập WTO”2

Theo  đánh  giá  chung,  phiên  đàm  phán  thứ  9  về  gia  nhập  WTO của Việt Nam đã đạt được những mục tiêu đề ra nhờ có sự chuẩn bị tốt về mọi mặt, tạo tiền đề thuận lợi cho các phiên đàm phán tiếp theo. Đồng thời, các phiên đàm phán song phương đã thu hẹp khoảng cách đáng kể giữa 2 bên và ấn định được lịch đàm phán cho phiên kế tiếp

4 , 5  Nguồn www.dddn.com.vn (19/ 12/ 2004).

1 , 2, 3  Nguồn www.dddn.com.vn (19/ 12/ 2004).

Trang 14

Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh

Như  vậy  tính  đến  cuối  năm  2004,  chúng  ta  đã  tiến  hành  được  9 phiên đàm phán đa phương, “kết thúc đàm phán song phương với 6 đối tác (trong tổng số đối tác có yêu cầu) trong khuôn khổ “nhóm công tác  về  gia  nhập  WTO  của  Việt  Nam”  là  Singapore,  Chile,  Cuba,  Braxin, Argentia và EU (đại diện cho 25 nước thành viên)”3

Phiên  đàm  phán  thứ  10  diễn  ra  từ  ngày  15/05/2005  đến  ngày 18/09/2005 tại trụ sở của WTO ở Geneva ­ Thuỵ Sĩ, do Thứ trưởng Thương mại Lương Văn Tự dẫn đầu. Có thể nói đây là phiên đàm phán khó khăn  nhất  kể  từ  khi  nộp  đơn  xin  gia  nhập  WTO  của  Việt  Nam,  bởi ngoài  phiên  đa  phương  chúng  ta  còn  phải  đàm  phán  song  phương  với các  đối  tác  quan  trọng  như  Hoa  Kỳ,  Mexico,  Hondurat,  Domonica…  Các đối  tác  này  có  ảnh  hưởng  rất  lớn  đến  tiến  trình  đàm  phán  của chúng ta, đặc biệt là phía Hoa Kỳ, đối tác này đã đặt ra nhiều câu hỏi  và  vẫn  chứng  tỏ  là  đối  tác  khó  khăn  nhất  của  Việt  Nam  tính đến thời điểm này

Tuy nhiên về đàm phán đa phương, theo như ghi nhận thì chúng ta đã  có  những  nỗ  lực  lớn  trong  cải  tổ  hệ  thống  pháp  luật  để  phù hợp với quy định của WTO, đặc biệt là “chúng ta đã cam kết thực hiện một loạt các hiệp định trong khuôn khổ WTO ngay kể từ thời điểm gia nhập (khác với các nước khác là đề nghị có thời gian quá độ), như hiệp  định  về  quyền  sở  hữu  trí  tuệ  liên  quan  đến  thương  mại(TRIPS), Hiệp định về các hiến pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIPS), Hiệp định về định giá hải quan (CVA), Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật  đối  với  thương  mại  (TBT),  Hiệp  định  về  các  biện  pháp  vệ  sinh dịch tể (SPS), Hiệp định về cấp phép nhập khẩu, Hiệp định về các biện  pháp  chống  bán  phá  giá  và  các  biện  pháp  đối  kháng,  Hiệp định về quy tắc xuất xứ…”101

Bên cạnh đó, “Bản chào mới của ta về hàng hoá đã cam kết sửa đổi tới 99,9% số dòng thuế (hơn 10.000 dòng thuế) theo danh mục chuẩn  “HS”  8  số  của  thế  giới  với  mức  thuế  bình  quân  là  18%  (trong đó  thuế  hàng  công  nghiệp  và  hàng  nông  nghiệp  trung  bình  là  15%, đối với khối EU hàng công nghiệp là 16% và nông nghiệp là 20%). Phí lệ phí giảm xuống gần như bằng 0%. Bản chào về dịch vụ cam kết mở cửa thị trường 11 ngành và khoảng 110 phân ngành cụ thể trong đó có cả lĩnh vực như ngân hàng ­ tài chính, viễn thông, dịch vụ kinh doanh…”2

Ngoài ra trong một số vấn đề nhạy cảm như quyền kinh doanh, trợ cấp, doanh nghiệp Nhà nước, chính sách thuế, cơ chế đầu tư… , “Việt Nam  đã  có  những  đề  xuất,  nhân  nhượng  nhất  định  để  rút  ngắn 

1 , 2, 3   Nguồn www.VNExpress.net, www.dantri.con.vn (20/09/2005).

Trang 15

Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh

khoảng  cách  với  một  số  đối  tác  song  phương.  Đồng  thời  cũng  có những giải thích xác đáng có lý có tình để các đối tác trong nhóm công  tác  hiểu  rõ  hơn  tình  hình  thực  tế,  những  khó  khăn  trở  ngại  và đề nghị dành cho ta một số điều kiện thuận lợi như được hưởng các 

ưu  đãi  đặc  biệt  và  khác  biệt  dành  cho  các  nước  đang  phát  triển, được  hưởng  thời  gian  chuyển  đổi…”3.  Kết  quả  của  phiên  đàm  phán này đã đưa Việt Nam đến một vị trí rất gần mục tiêu gia nhập WTO

Nhìn  lại  trong  năm  2005  này,  Việt  Nam  đã  tiến  hành  được  một phiên  “không  chính  thức”  và  một  phiên  chính  thức  về  đàm  phán  đa phương và đã kết thúc đàm phán song phương với 16 đối tác: Uruguay, Paraguay,  Canada,  Colombia,  Thổ  Nhĩ  Kỳ,  Kyrgyzstan,  Trung  Quốc,  Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Aixơlen, Thuỵ Sĩ, Nauy, Đài Loan, Elsalvado và Philippin.  Nhưng  khi  đàm  phán  với  một  số  đối  tác  quan  trọng  có  tính chất  quyết  định  để  Việt  Nam  gia  nhập  WTO  như  Hoa  Kỳ,  Mexico,  Niu Dilan…  thì  lại  chưa  kết  thúc  được.  Nguyên  nhân  chính  là  một  số  yêu cầu của các đối tác đưa ra tương đối cao nên chúng ta buộc phải kiên trì thuyết phục họ. Trong số đó cuộc đàm phán song phương Việt ­ Mỹ được coi là khó khăn, gay go nhất bởi phía Hoa Kỳ luôn yêu cầu phải đàm  phán  một  cách  toàn  diện  chứ  không  đặt  nặng  một  vấn  đề nào cả, trong khi chúng ta chưa lường trước được những yếu tố hành chính, pháp luật của đối tác. Có thể nói Hoa Kỳ là đối tác nặng ký nhất trong quá trình đàm phán nhưng đây lại là một đối tác rất quan trọng mang tính quyết định trong quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam, việc kết thúc đàm phán song phương với Hoa Kỳ sẽ mở ra nhiều cơ hội rõ nét để Việt Nam tiếp tục đàm phán với các đối tác còn lại

Trong phiên đàm phán đa phương lần thứ 10, chúng ta đã đạt được những  tiến  bộ  có  tính  chất  nhảy  vọt,  đáng  chú  ý  là  việc  cam  kết thực hiện hầu hết các hiệp định của WTO ở thời điểm gia nhập trong đó có những hiệp định được các thành viên WTO hết sức quan tâm như hiệp định về sở hữu trí tuệ, về đầu tư, về thuế suất nhập khẩu, về trợ giá hải quan, về kiểm tra động thực vật và về chống trợ cấp. Chính phủ Việt Nam cũng đã cam kết đến cuối năm 2005 sẽ áp dụng hoàn  toàn  cơ  chế  một  giá  dịch  vụ  đối  với  các  doanh  nghiệp  trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trong  2  tháng  đầu  năm  2006,  Việt  Nam  đã  kết  thúc  đàm  phán song phương với ba đối tác là Niu Dilan, Oâxtrâylia và Canada. Như vậy cho đến trước phiên thứ 11, Việt Nam đã ký được thoả thuận với 24 đối tác (chỉ còn lại 4 đối tác ở Châu Mỹ là Hoa Kỳ, Mexico, Hondurat và Cộng hoà Dominic). Ngoài ra, trong thời gian này, Việt Nam cũng đã xây  dựng  và  hoàn  thiện  hệ  thống  Pháp  luật  phù  hợp  với  những 

Trang 16

Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh

Hiệp định của WTO. Quốc hội Việt Nam đã thông qua 29 văn bản luật quan trọng như luật Thương mại, luật Đầu tư, luật Doanh nghiệp, luật Đất đai, luật Hải quan, luật Ngân hàng, luật Bảo hiểm, luật Lao động,luật Hàng  không  dân  dụng,  luật  Dầu  khí,  luật  về  thuế…  chuẩn  bị  cho phiên đàm phán đa phương thứ 11 tiếp theo

Phiên  đàm  phán  đa  phương  thứ  11,  diễn  ra  từ  ngày  20/03/2006 đến ngày 28/03/2006 tại Geneva do Thứ trưởng Thương mại Lương Văn Tự dẫn đầu. “Tại phiên đàm phán này, Việt Nam cùng Ban công tác rà soát  và  hoàn  chỉnh  dự  thảo  Báo  cáo  gia  nhập  WTO  của  Việt  Nam và  bàn  về  một  số  hiệp  định  và  các  vấn  đề  trợ  cấp.  Theo  như  ghi nhận  thì  đây  là  phiên  đàm  phán  quan  trọng  nhất  trong  quá  trình  Việt Nam  gia  nhập  WTO”111.  Kết  thúc  phiên  đàm  phán  chúng  ta  đã  đạt được  những  kết  quả  rất  khả  quan.  Về  đàm  phán  song  phương,  “Việt Nam đã tiến hành đàm phán với 4 đối tác còn lại là Hoa Kỳ, Mexico, Hondurat  và  Cộng  hoà  Dominic.  Kết  quả  chúng  ta  đã  kết  thúc  được với 2 đối tác là Hondurat và Cộng hoà Dominic, còn các cuộc đàm phán đa phương, tại phiên 11, Việt Nam đã cùng với các đối tác thành viên “Nhóm công tác WTO”, rà soát lại toàn bộ các điểm của Bản dự  thảo  “Báo  cáo  của  nhóm  công  tác  WTO  về  gia  nhập  WTO  của Việt  Nam”.  Các  thành  viên  của  Ban  công  tác  đã  đánh  giá  cao  việc Việt  Nam  đã  thông  qua  một  loạt  các  bộ  luật  và  pháp  lệnh  trong 

“Chương trình luật hoá” trong năm 2005, liên quan đến các lĩnh vực như Điều  ước  quốc  tế,  doanh  nghiệp,  thuế,  ngoại  hối,  đầu  tư,  thương  mại, đấu  thầu,  du  lịch,  hàng  hải,  hàng  không,  đường  sắt,  giao  dịch  điện tử,  dịch  vụ  giáo  dục,  y  tế  ­  dược  phẩm,  thuế  xuất  nhập  khẩu,  hải quan, luật dân sự, sở hữu trí tuệ… Đồng thời Ban công tác đã nêu nhiều  câu  hỏi  thực  thi  các  văn  bản  luật,  nhất  là  các  vấn  đề  trợ cấp, ngân hàng, xuất nhập khẩu của các nhà đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ”121

Nhìn chung, kết thúc phiên đàm phán đa phương 11 này, Việt Nam đã đạt được những thuận lợi nhất định, tạo một động lực mới để tiến đến  “cánh  cửa”  WTO.  Mặc  dù  ở  phiên  đàm  phán  này  ta  vẫn  chưa kết thúc được với các đối tác Hoa Kỳ và Mexicô nhưng chúng ta đã đạt được những kết quả khá khả quan, thu hẹp dần khoảng cách với 2 đối tác này, tạo bước ngoặt để kết thúc đàm phán song phương đặc biệt là đối tác Hoa Kỳ ở phiên đàm phán tiếp theo

Phiên  đàm  phán  đa  phương  thứ  12  của  Ban  công  tác  về  việc Việt  Nam  gia  nhập  Tổ  chức  thương    mại  thế  giới  (WTO)  đã  được  tiến 

1 Nguồn www.VNExpress.net, www.dantri.con.vn (03/2006).

1 Nguồn www.VNExpress.net, www.dantri.con.vn (03/2006), Tạp chí Thương mại số 14, Tạp chí thông tin  đối ngoại, Báo Thương mại, Báo Đầu tư (4/2006).

Trang 17

Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh

hành  tại  Geneva,  Thuỵ  Sĩ  từ  ngày  19/07/2006  đến  26/07/2006.  Tham  dự phiên  họp  về  phía  Việt  Nam  có  Bộ  trưởng  Thương  mại  Trương  Đình Tuyển và đoàn đàm phán Chính phủ do Thứ trưởng thương mại Lương Văn  Tự  làm  trưởng  đoàn.  Trước  đó,  trong  các  ngày  17/07/2006  và 18/07/2006, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Thương mại Trương Đình  Tuyển,  đoàn  đàm  phán  Việt  Nam  đã  có  các  phiên  tham  vấn không chính thức với nhiều thành viên WTO, trong đó có Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu (EU)

Trong  kỳ  đàm  phán  này,  “các  bên  đã  tập  trung  làm  rõ  quan điểm về một số vấn đề còn tồn tại như quyền kinh doanh xuất nhập khẩu,chế độ đầu tư, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với đồ uống có cồn và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ…; tập trung tổng kết các quá trình đàm phán song phương của Việt Nam, thảo luận dự thảo Báo cáo của Ban công tác, xem xét lại tiến bộ trong công tác xây  dựng  luật,  đặc  biệt  là  việc  ban  hành  các  văn  bản  hướng  dẫn thực thi các luật thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ…

Các bên cũng đã dành nhiều thời gian để tổng hợp các thoả thuận  song  phương  về  mở  cửa  thị  trường  hàng  hoá  và  dịch  vụ,  tạo điều kiện cho Ban thư ký lưu hành sớm tài liệu này”132

Được  sự  chỉ  đạo  sát  sao  của  Thứ  trưởng  chính  phủ,  Bộ  trưởng thương mại, đoàn đàm phán Việt Nam đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho phiên  đàm  phán  này,  và  trên  thực  tế  chúng  ta  đã  tiến  hành  đàm phán  một  cách  chủ  động,  linh  hoạt  với  quyết  tâm  cao.  Kết  hợp  với thiện chí của các đối tác, nhiều lĩnh vực đàm phán đã đạt được tiến bộ đáng khích lệ, một số lĩnh vực có đột phá

Chủ tịch Ban công tác, Ban thư ký WTO và các thành viên của Ban công tác đều đánh giá rất tích cực về kết quả của phiên 12. Tuy vẫn còn một số tồn tại chưa thể giải quyết nhưng các bên đều cho rằng quan điểm đàm phán đã khá gần nhau và nếu tích cực xử lý, các  bên  đều  cho  rằng  quan  điểm  đàm  phán  đã  khá  gần  nhau  và nếu tích cực xử lý, các bên hoàn toàn có thể hoàn tất đàm phán 

đa  phương  tại  phiên  họp  tiếp  theo  của  Ban  công  tác,  dự  kiến  sẽ  tổ chức vào tháng 10/2006 tới

“Ông Hô Xeung ­ Chủ tịch Ban công tác và nhiều đối tác khác bày  tỏ  sự  tin  tưởng  rằng,  với  những  gì  đã  đạt  được  tại  phiên  đàm phán 12, nếu Việt Nam và các thành viên phối hợp chặt chẽ, khẩn trương xử lý, Việt Nam hoàn toàn có thể gia nhập WTO trước Hội nghị APEC tại Hà Nội vào 11/06”141

2  Nguồn www.tuoitre.com.vn, www.thanhnien.com.vn, www.dddn.com.vn (19/07/2006).

Ngày đăng: 22/01/2016, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w