Nhận thấy sự cần thiết tham gia tổ chức WTO, ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ độn
Trang 3Đối với với chúng ta, việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới là một xu thế tất yếu bởi nó phù hợp với “xu thế toàn cầu hoá” và là xu thế hội nhập của sự phát triển. Trong nhiều năm qua Việt Nam đã nổ lực thực hiện “cải cách kinh tế”, mở cửa thị trường… nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, nâng cao mức sống của người dân. Chúng ta đã đạt được những kết quả nhất định khi là thành viên của các tổ chức: ASEAN, UNO, APEC… Và hiện Việt Nam đang gấp rút hoàn thành các thủ tục để trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO
Là thành viên của WTO, cũng sẽ như các thành viên khác, Việt Nam sẽ có được nhiều thuận lợi, nhiều cơ hội để phát triển nền kinh tế nói riêng, đặc biệt là đối với các ngành kinh tế có thế mạnh. Tuy nhiên đi kèm theo đó sẽ là những khó khăn, thách thức không nhỏ. Vậy những thuận lợi, cơ hội cũng như những khó khăn, thách thức mà WTO mang lại đó là gì? Việt Nam đã mất đến 11 năm đàm phán về gia nhập WTO, mặc dù đã thu được nhiều kết quả khả quan nhưng chúng ta vẫn chưa chính thức trở thành thành viên của tổ chức này. Trên thực tế, quá trình đàm phán diễn ra rất căng thẳng cả ở các phiên đa phương và song phương do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Tuy nhiên cho đến nay Việt Nam đã gần như hoàn thành chặng đường tiến tới WTO của mình. Vậy con đường dẫn đến WTO của Việt Nam đã diễn ra như thế nào?
Đó là lí do mà chúng tôi muốn tìm hiểu nhằm phần nào giúp các bạn có thể biết thêm về quá trình đàm phán, những thuận lợi
Trang 4Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh
cũng như khó khăn, thách thức của Việt Nam sau khi là thành viên của WTO. Trong quá trình tìm hiểu, thu thập tài liệu để viết bài, tất nhiên sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong bạn đọc bỏ qua và đóng góp ý kiến để vấn đề của chúng ta được rõ ràng và đầy đủ hơn
I. VÀI NÉT VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI – WTO
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập ngày 01/01/1995, trụ sở tại Geneva, Thuỵ Sỹ. Ban đầu có 130 nước thành viên, đến nay tổng số thành viên WTO đã lên 150, trong đó có 2/3 là nước đang và kém phát triển. Ngoài các thành viên chính thức, hiện nay còn có nhiều nước đang trong quá trình đàm phán gia nhập WTO trong đó có Việt Nam
Dân số: 3,557 tỷ người (chiếm 64% dân số thế giới)
Tổng sản phẩm quốc dân: 23,682 tỷ USD (chiếm 93% sản lượng thế giới)
Kim ngạch thương mại: 7.908,9 tỷ USD (thương mại mội khối chiếm 91%)
Tổ chức thương mại thế giới với tư cách là thể chế pháp lý điều tiết các mối quan hệ kinh tế thương mại quốc tế mang tính toàn cầu. WTO ra đời trên cơ sở kế thừa tất cả các nguyên tắc, luật lệ của tổ chức tiền thân đã tồn tại gần 50 năm trước đó là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT)
Hoạt động của tổ chức này được điều tiết bởi 16 Hiệp định chính:
Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng và Điều XVI của GATT
Hiệp định về các biện pháp tự vệ và Điều 19 của GATT
Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan thương mại (TRIMS)
Trang 5b. Đại Hội đồng WTO (GeneralCouncil)
Trang 6Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh
Hoạt động trên cơ sở thường trực tại trụ sở của WTO ở GeneveThuỵ Sỹ, thành viên của Đại hội đồng là đại diện ở cấp đại sứ của chính phủ tất cả các thành viên
c. Cơ quan giải quyết tranh chấp và cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại
Do đại hội đồng WTO thực hiện, là “cơ quan giải quyết tranh chấp” khi thực hiện các chức năng giải quyết tranh chấp và là cơ uan kiểm định chính sách thương mại khi thực hiện chức năng kiểm định chính sách thương mại
2.2 Cơ quan thừa hành giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại đa phương
Có 3 hội đồng: Hội đồng GATT, Hội đồng GATS và Hội đồng
TRIPS. Tất cả các nước đều có quyền tham gia vào hoạt động của 3 hội đồng này
2.3. Cơ quan thực hiện chức năng hành chính: Tổng giám đốc và Ban thư ký
WTO có Ban thư ký rất quy mô, khoảng 50 viên chức và nhân viên thuộc biên chế chính thức của WTO. Đứng đầu là Tổng giám đốc
Tổng giám đốc WTO do Hội nghị Bộ trưởng bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm. Quyền hạn và trách nhiệm của Tổng giám đốc do Hội nghị Bộ trưởng quyết định. Biên chế Ban thư ký WTO do Tổng giám đốc quyết định
3. Các nguyên tắc pháp lý
a Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)
Tối huệ quốc (Most Favoured Nation MFN) là nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất của WTO. Nguyên tắc Tối huệ quốc được hiểu là nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác. Thông thường nguyên tắc MFN được quy định trong các Hiệp định thương mại song phương. Khi nguyên tắc MFN được áp dụng đa phương đối với tất cả các nước thành viên WTO thì cũng đồng nghĩa với nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử vì tất cả các nước sẽ dành cho nhau sự “đối xử ưu đãi nhất”. Tuy nhiên, nguyên tắc MFN trong WTO không có tính áp dụng tuyệt đối. Hiệp định GATT 1947 quy định mỗi nước có quyền tuyên bố không áp dụng tất cả các điều khoản trong Hiệp định đối với một nước thành viên khác
Trang 7Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh
Mặc dù được các nước trong GATT/ WTO công nhận là nguyên tắc nền tảng, nhưng thực tế cho thấy các nước phát triển cũng như đang phát triển không phải lúc nào cũng tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc MFN và đã có rất nhiều tranh chấp trong lịch sử của GATT liên quan đến việc áp dụng nguyên tắc này. Thông thường thì vi phạm của các nước đang phát triển dễ bị phát hiện và bị kiện nhiều hơn các nước phát triển
b. Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT)
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (Nation Trearment NT) được hiểu là hàng hoá nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải đựơc đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hoá cùng loại trong nước. Trong khuôn khổ WTO, nguyên tắc NT chỉ áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ, các quyền sở hữu trí tuệ, chưa áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân. Phạm vi áp dụng của nguyên tắc NT đối với hàng hoá, dịch vụ và sở hữu trí tuệ có khác nhau. Đối với hàng hoá và sở hữu trí tuệ, việc áp dụng nguyên tắc NT là một nghĩa vụ chung, có nghĩa là hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ có khác nhau. Đối với hàng hoá và sở hữu trí tuệ, việc áp dụng nguyên tắc NT là một nghĩa vụ chung, có nghĩa là hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài sau khi đã đóng thuế quan hoặc được đăng ký bảo vệ hợp pháp được đối xử bình đẳng như hàng hoá và quyền sở hữu trí tuệ trong nước đối với thuế và lệ phí nội địa, các quy định về mua, bán, phân phối vận chuyển. Đối với dịch vụ, nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với những lĩnh vực, ngành nghề đã được mỗi nước đưa vào danh mục cam kết cụ thể của mình và mỗi nước có quyền đàm phán đưa ra những ngoại lệ
Các nước, về nguyên tắc không được áp dụng những hạn chế số lượng nhập khẩu và xuất khẩu, trừ những trường hợp ngoại lệ được quy định rõ ràng trong các Hiệp định của WTO, cụ thể đó là các trường hợp: mất cân đối cán cân thanh toán, nhằm mục đích bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ trong nước, bảo vệ ngành sản xuất trong nước chống lại sự gia tăng đột ngột về nhập khẩu hoặc để đối phó với sự khan hiếm một mặt hàng trên thị trường quốc gia do xuất khẩu quá nhiều, vì lý do sức khoẻ và vệ sinh, vì lý do an ninh quốc gia
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia cùng với MFN là hai nguyên tắc nền tảng quan trọng nhất của hệ thống thương mại đa phương mà ý nghĩa thực sự là bảo đảm việc tuân thủ một cách nghiêm túc những cam kết về mở cửa thị trường mà tất cả các nước thành viên đã chấp nhận khi chính thức trở thành thành viên của WTO
c. Nguyên tắc mở cửa thị trường
Trang 8Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh
Nguyên tắc “mở cửa thị trường” hay còn gọi một cách hoa mỹ là “tiếp cận” thị trường, thực chất là mở cửa thị trường cho hàng hoá, dịch vụ và đầu tư nước ngoài. Trong một hệ thống thương mại đa phương, khi tất cả các bên tham gia đều chấp nhận mở cửa thị trường của mình thì điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu mở cửa
Về mặt chính trị, “tiếp cận thị trường” thể hiện nguyên tắc tự do hoá thương mại của WTO. Về mặt pháp lý, “tiếp cận thị trường” thể hiện nghĩa vụ có tính chất ràng buộc thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường mà nước này đã chấp nhận khi đàm phán gia nhập WTO
d. Nguyên tắc cạnh tranh công bằng
Cạnh tranh công bằng thể hiện nguyên tắc “tự do cạnh tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau” và được công nhận trong án lệ của vụ Uruguay kiện 15 nước phát triển (1962) về việc áp dụng các mức thuế nhập khẩu khác nhau đối với cùng một mặt hàng nhập khẩu. Do tính chất nghiêm trọng của vụ kiện, Đại hội đồng GATT đã phải thành lập một nhóm công tác để xem xét vụ này. Nhóm công tác đã cho kết luận rằng, về mặt pháp lý việc áp dụng các mức thuế nhập khẩu khác nhau đối với cùng một mặt hàng không trái với các quy định của GATT, nhưng việc áp đặt các mứcthuế khác nhau này đã làm đảo lộn những điều kiện cạnh tranh công bằng mà Uruguay có quyền mong đợi từ phía những nước phát triển và đã gây thiệt hại cho lợi ích thương mại của Uruguay. Trên cơ sở kết luận của Nhóm công tác Đại hội đồng GATT đã thông qua khuyến nghị các nước phát triển có liên quan đàm phán với Uruguay để thay đổi các cam kết và nhân nhượng thuế quan trước đó. Vụ kiện của Uruguay đã tạo ra một tiền lệ mới, nhìn chung có lợi cho các nước đang phát triển. Từ nay các nước phát triển có thể bị kiện ngay và khi về mặt pháp lý không vi phạm bất kỳ điều khoản nào trong hiệp định GATT nếu những nước này có những hành vi trái với nguyên tắc cạnh tranh công bằng
II. QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM
WTO là tổ chức thương mại lớn nhất thế giới với 150 nước thành viên và hiện đang có 29 nước là quan sát viên (trong đó có Việt Nam). Con số này gần ngang bằng với số thành viên các nước tham gia vào tổ chức Liên Hiệp Quốc (191 nước). “Tổ chức thương mại thế giới (WTO)hiện chiếm khoảng 85% thương mại toàn cầu và chiếm tới 90% thương mại dịch vụ toàn thế giới”11. Do vậy, mục tiêu của Việt
Trang 9Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh
Nam trong gia nhập WTO nhằm tạo môi trường cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển chứ không phải gia nhập cho chúng ta giàu lên hay nghèo đi. Chúng ta tranh thủ như thế nào từ WTO, điều này còn phụ thuộc vào chính sách và sự hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào tiến trình ấy
Nhìn chung, gia nhập WTO chúng ta sẽ có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế nói riêng và đất nước nói chung, Bởi WTO là nơi mà chúng ta có cơ hội mở rộng thâm nhập thị trường các nước, tranh thủ vốn đầu tư, công nghệ và kỹ năng quản lý của nước ngoài, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng
Nhận thấy sự cần thiết tham gia tổ chức WTO, ở Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta và bảo đảm thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương… tiến tới gia nhập WTO…”21
Với chủ trương đó trong nhiều năm qua, Việt Nam đã đẩy nhanh việc đàm phán gia nhập WTO với các nước có yêu cầu đàm phán. Đây quả là một thách thức rất lớn, các phiên đàm phán của chúng ta với các nước diễn ra rất căng thẳng và đầy khó khăn, đặc biệt là đối với Hoa Kỳ, Mexico…
Nếu như “Trung Quốc phải mất đến 14 năm mới có thể gia nhập WTO thì cho đến nay Việt Nam chúng ta đã mất đến 11 năm đàm phán liên tiếp, chúng ta đã trải qua 12 phiên đàm phán với hơn 4000 cuộc họp, cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với các nước”32
Cho đến nay, mặt dù rất khó khăn nhưng chúng ta đã và đang đứng trước cánh cửa WTO. Có thể nói chúng ta đã đi được 5/6 quãng đường và tất cả đang diễn tiến thuận lợi, rất có thể Việt Nam sẽ chính thức gia nhập WTO vào cuối năm nay (nếu như phiên đàm phán thứ 13 diễn ra vào tháng 10 tới thành công tốt đẹp)
Nhìn lại quá trình đàm phán của Việt Nam để gia nhập vào WTO chúng ta có thể tóm lược như sau:
Trang 10Từ phiên họp thứ nhất đến phiên họp thứ 4, tập trung trả lời các câu hỏi của các thành viên Ban công tác về minh bạch hoá chính sách kinh tế thương mại. Kết thúc phiên thứ 4, Ban công tác của WTO đã công nhận Việt Nam cơ bản đã kết thúc quá trình minh bạch hoá chính sách kinh tế thương mại và chuyển sang giai đoạn đàm phán mở cửa thị trường.
Phiên đàm phán thứ 5 và thứ 6 chúng ta đàm phán về vấn đề mở cửa thị trường. Việt Nam đã cung cấp cho Ban thư ký WTO một loạt các tài liệu như: Bản tóm tắt hiện trạng về chính sách kinh tế thương mại, về chính sách hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu nông nghiệp, về chính sách hỗ trợ công nghiệp, về hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước, 7 chương trình hành động thực hiện Hiệp định về sở hữu trí tuệ liên quan thương mại (TRIMS), thực hiện Hiệp định về xác định trị giá hải quan (CVA)
Riêng trong phiên đàm phán thứ 6 (được tiến hành tại trụ sở của WTO ở Geneva từ ngày 16/05/2003 đến ngày 20/05/2003, do Thứ trưởng Lương Văn Tự làm trưởng đoàn). Trước đó, “trong ngày làm việc đầu tiên (12/05/2003), đại diện 14 thành viên WTO đã tham gia phát biểu, trong đó có Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU), Trung Quốc, Nhật Bản,
Trang 11Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh
Ấn Độ, Malaixia, Hàn Quốc và các nước khác”41. Trong buổi làm việc đầu tiên này, các bên đã ủng hộ quan điểm Việt Nam là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi đã có nỗ lực đáng ghi nhận và rất tích cực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. “Trong buổi tiếp xúc này, một số thành viên đồng ý lấy mức cam kết trong Bản chào của Việt Nam về dịch vụ là cơ sở cho đàm phán song phương, riêng Bản chào về hàng hoá, một số thành viên đã yêu cầu cần sửa đổi
Sau phiên họp toàn thể, ngày 16/05, Việt Nam đã tổ chức phiên đàm phán đa phương chính thức về lĩnh vực nông nghiệp với sự tham dự của 10 nước. Các nước yêu cầu Việt Nam làm rõ các chính sách về nông nghiệp trong bản thông báo hỗ trợ trong nước đối với nông nghiệp và trợ cấp xuất khẩu nông sản (ACC4)”52
Nhìn chung, kết thúc phiên đàm phán đa phương thứ 6, Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định, tạo điều kiện để chúng ta tiến thêm bước nữa trên con đường gia nhập WTO
“Trong phiên đàm phán lần thứ 7 và 8, chúng ta chuyển sang giai đoạn bàn thảo tài liệu “Một số yếu tố của dự thảo báo cáo gia nhập”
Tại phiên đàm phán thứ 8 (diễn ra từ ngày 09/06/2004 đến ngày 18/06/2004 tại Geneva, do Thứ trưởng Thương mại Lương Văn Tự làm trưởng đoàn) chúng ta “tiếp tục xoay quanh các vấn đề mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ, trong đó tập trung chủ yếu vào nội dung Bản chào mà Việt Nam đã gửi tới Geneva từ tháng 02/2004 (như mở cửa lĩnh vực ngân hàng, viễn thông và lộ trình cắt giảm thuế quan… )”63
Trong phiên đàm phán đa phương thứ 8 này, “có 19 thành viên WTO đã tham gia phát biểu và đều khẳng định ủng hộ Việt Nam sớm gia nhập WTO”4. Các nước đã đánh giá cao khối lượng và chất lượng công việc mà Việt Nam đã thực hiện nhằm phục vụ cho phiên đàm phán. Đáng chú ý là “các đối tác đều ủng hộ quan điểm Việt Nam là nước đang phát triển ở trình độ thấp, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế,
vì vậy cam kết dành cho Việt Nam một số ưu đãi phù hợp với quy định của WTO”4 . Ngoài ra, “trong ngày 15/06/2004, các thành viên WTO cũng tập trung góp ý cho Bản “Các yếu tố của dự thảo báo cáo của Ban
1 www.VNExpress.net (28/ 05/ 2003)
2 www.VNExpress.net (28/ 05/ 2003).
3 , 4 Nguồn www.VNExpress.net (21/ 06/ 2004), Tạp chí Kinh tế Sài Gòn số 26/ 2004, Báo thương mại (25/ 10/ 2004).
Trang 12Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh
công tác về Việt Nam gia nhập WTO” (Elements of the Draftworking Report EDR) và ủng hộ phiên đàm phán kế tiếp có thể chuyển từ thảo luận bản EDR sang thảo luận bản DR (dự thảo báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO) nhằm đẩy nhanh tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam”5
Trong phiên đàm phán đa phương này chúng ta đã cam kết tuân thủ một loạt các quy định, nghĩa vụ của WTO. Đầu tiên là nghĩa vụ MFN (nguyên tắc Tối huệ quốc, không phân biệt đối xử), theo đó Việt Nam xác nhận sẽ tuân thủ nguyên tắc MFN sau khi gia nhập đối với cả thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ. Cam kết thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối giữa trong nước và ngoài nước. Trong phiên đàm phán này, chúng ta đã đưa ra Bản chào có bước đi đột phá., chỉ riêng ở nhóm dịch vụ, Việt Nam đã cho phép “mở cửa
10 nhóm và gần 100 mặt hàng. Ngoài ra thuế quan đối với hàng hoá cũng có bước nhảy vọt như bỏ trợ cấp xuất khẩu đối với càfê, hạ mức thuế quan nói chung tới mức các đối tác có thể chấp nhận được. Chính vì vậy, các nước tham gia đàm phán rất hoan nghênh Việt Nam về các bước tiến này”71. Bên cạnh đó, về chương trình hành động lập pháp chúng ta đã đưa ra “Danh mục sửa đổi bổ sung và ban hành với 36 văn bản, bao gồm luật và pháp lệnh có liên quan đến quá trình gia nhập WTO như: luật Thương mại, luật Cạnh tranh, luật Đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam, pháp lệnh chống bán phá giá… Các thành viên WTO cũng yêu cầu Việt Nam tiếp tục tăng cường lộ trình xây dựng luật để thông qua các văn bản luật và pháp lệnh có liên quan đến nghĩa vụ thành viên WTO”2
“Cùng với đàm phán đa phương, chúng ta đã tiến hành khoảng
20 phiên đàm phán song phương với 17 thành viên trong thời gian từ ngày 09/06 đến 18/06 bao gồm: EU, Hoa Kỳ, Canada, Hàn Quốc, Oxtrâya, Nauy, Cuba, Uruguay, Argentina, Braxin, Nhật Bản, Thuỵ Sĩ, Niu Dilân, Aán Độ, Đài Loan, Chi Lê, Paraguay. Các thành viên đã tiến hành đàm phán mở cửa thị trường với Việt Nam, trong đó tập trung vào lĩnh vực hàng hoá và dịch vụ. Việt Nam cũng đã tiến hành thủ tục kí tắt văn bản “thoả thuận kết thúc đàm phán song phương” với CuBa và gần kết thúc đàm phán song phương với một số đối tác khác”3
Nhìn chung, kết thúc phiên đàm phán đa phương thứ 8, chúng ta đã có những bước đi đột phá và đã đạt được một số kết quả khả quan. Theo lời ông chủ tịch Ban công tác về Việt Nam gia nhập WTO – Hô Xeung đánh giá: Phiên đàm phán đã đạt được kết quả đáng khích
1 , 2, 3 Nguồn www.VNExpress.net (21/ 06/ 2004).
Trang 13Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh
lệ và từ phiên 9 bắt đầu chuyển sang thảo luận nội dung của bản dự thảo báo cáo về các cam kết đa phương”84
Phiên đàm phán đa phương thứ 9 diễn ra từ ngày 15/12/2004 đến ngày 19/12/2004 tại Geneva, do Thứ trưởng thương mại Lương Văn Tự làm trưởng đoàn, chúng ta tiếp tục “đàm phán về vấn đế mở cửa thị trường và tập trung thảo luận bản “Dự thảo báo cáo lần đầu của Ban công tác về Việt Nam gia nhập WTO”. Tại phiên đàm phán, Việt Nam đã nêu rõ quyết tâm của Việt Nam trong việc đẩy mạnh đàm phán gia nhập WTO thông qua cam kết tuân thủ nguyên tắc MFN (quy chế thương mại bình thường) và một loạt các hiệp định của WTO ngay khi gia nhập cũng như việc Chính phủ và Quốc hội Việt Nam đẩy nhanh chương trình xây dựng pháp luật và sớm thông qua các luật nhằm thực hiện các cam kết”5
Trong phiên đàm phán này, “các trưởng đoàn đàm phán của liên minh Châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Cacada, Cuba, Ôxtrâylia, Côlômbia… đã phát biểu chúc mừng Việt Nam có những bước tiến đáng kể và đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam là một nước đang phát triển
ở trình độ thấp, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, vì thế các thành viên WTO cần dành cho Việt Nam một số ưu đãi phù hợp với quy định WTO”91
Ngoài các phiên đàm phán đa phương, chúng ta đã tiến hành đàm phán song phương với 10 đối tác gồm: Hoa Kỳ, Nauy, Aixơlen, Niu Dilan, Thuỵ Sĩ, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, Paraguay, Colombia, Canada về vấn đề mở cửa thị trường với Việt Nam, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực hàng hoá và dịch vụ trên cơ sở bản chào của Việt Nam và Bản yêu cầu của từng đối tác. Kết thúc phiên đàm phán thứ 9, “chủ tịch Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO ông Hô Xeung đánh giá phiên đàm phán đã diễn ra trên tinh thần xây dựng và đạt được kết quả đáng khích lệ, đồng thời tuyên bố ủng hộ Việt Nam sớm gia nhập WTO”2
Theo đánh giá chung, phiên đàm phán thứ 9 về gia nhập WTO của Việt Nam đã đạt được những mục tiêu đề ra nhờ có sự chuẩn bị tốt về mọi mặt, tạo tiền đề thuận lợi cho các phiên đàm phán tiếp theo. Đồng thời, các phiên đàm phán song phương đã thu hẹp khoảng cách đáng kể giữa 2 bên và ấn định được lịch đàm phán cho phiên kế tiếp
4 , 5 Nguồn www.dddn.com.vn (19/ 12/ 2004).
1 , 2, 3 Nguồn www.dddn.com.vn (19/ 12/ 2004).
Trang 14Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh
Như vậy tính đến cuối năm 2004, chúng ta đã tiến hành được 9 phiên đàm phán đa phương, “kết thúc đàm phán song phương với 6 đối tác (trong tổng số đối tác có yêu cầu) trong khuôn khổ “nhóm công tác về gia nhập WTO của Việt Nam” là Singapore, Chile, Cuba, Braxin, Argentia và EU (đại diện cho 25 nước thành viên)”3
Phiên đàm phán thứ 10 diễn ra từ ngày 15/05/2005 đến ngày 18/09/2005 tại trụ sở của WTO ở Geneva Thuỵ Sĩ, do Thứ trưởng Thương mại Lương Văn Tự dẫn đầu. Có thể nói đây là phiên đàm phán khó khăn nhất kể từ khi nộp đơn xin gia nhập WTO của Việt Nam, bởi ngoài phiên đa phương chúng ta còn phải đàm phán song phương với các đối tác quan trọng như Hoa Kỳ, Mexico, Hondurat, Domonica… Các đối tác này có ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình đàm phán của chúng ta, đặc biệt là phía Hoa Kỳ, đối tác này đã đặt ra nhiều câu hỏi và vẫn chứng tỏ là đối tác khó khăn nhất của Việt Nam tính đến thời điểm này
Tuy nhiên về đàm phán đa phương, theo như ghi nhận thì chúng ta đã có những nỗ lực lớn trong cải tổ hệ thống pháp luật để phù hợp với quy định của WTO, đặc biệt là “chúng ta đã cam kết thực hiện một loạt các hiệp định trong khuôn khổ WTO ngay kể từ thời điểm gia nhập (khác với các nước khác là đề nghị có thời gian quá độ), như hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại(TRIPS), Hiệp định về các hiến pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIPS), Hiệp định về định giá hải quan (CVA), Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), Hiệp định về các biện pháp vệ sinh dịch tể (SPS), Hiệp định về cấp phép nhập khẩu, Hiệp định về các biện pháp chống bán phá giá và các biện pháp đối kháng, Hiệp định về quy tắc xuất xứ…”101
Bên cạnh đó, “Bản chào mới của ta về hàng hoá đã cam kết sửa đổi tới 99,9% số dòng thuế (hơn 10.000 dòng thuế) theo danh mục chuẩn “HS” 8 số của thế giới với mức thuế bình quân là 18% (trong đó thuế hàng công nghiệp và hàng nông nghiệp trung bình là 15%, đối với khối EU hàng công nghiệp là 16% và nông nghiệp là 20%). Phí lệ phí giảm xuống gần như bằng 0%. Bản chào về dịch vụ cam kết mở cửa thị trường 11 ngành và khoảng 110 phân ngành cụ thể trong đó có cả lĩnh vực như ngân hàng tài chính, viễn thông, dịch vụ kinh doanh…”2
Ngoài ra trong một số vấn đề nhạy cảm như quyền kinh doanh, trợ cấp, doanh nghiệp Nhà nước, chính sách thuế, cơ chế đầu tư… , “Việt Nam đã có những đề xuất, nhân nhượng nhất định để rút ngắn
1 , 2, 3 Nguồn www.VNExpress.net, www.dantri.con.vn (20/09/2005).
Trang 15Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh
khoảng cách với một số đối tác song phương. Đồng thời cũng có những giải thích xác đáng có lý có tình để các đối tác trong nhóm công tác hiểu rõ hơn tình hình thực tế, những khó khăn trở ngại và đề nghị dành cho ta một số điều kiện thuận lợi như được hưởng các
ưu đãi đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển, được hưởng thời gian chuyển đổi…”3. Kết quả của phiên đàm phán này đã đưa Việt Nam đến một vị trí rất gần mục tiêu gia nhập WTO
Nhìn lại trong năm 2005 này, Việt Nam đã tiến hành được một phiên “không chính thức” và một phiên chính thức về đàm phán đa phương và đã kết thúc đàm phán song phương với 16 đối tác: Uruguay, Paraguay, Canada, Colombia, Thổ Nhĩ Kỳ, Kyrgyzstan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Aixơlen, Thuỵ Sĩ, Nauy, Đài Loan, Elsalvado và Philippin. Nhưng khi đàm phán với một số đối tác quan trọng có tính chất quyết định để Việt Nam gia nhập WTO như Hoa Kỳ, Mexico, Niu Dilan… thì lại chưa kết thúc được. Nguyên nhân chính là một số yêu cầu của các đối tác đưa ra tương đối cao nên chúng ta buộc phải kiên trì thuyết phục họ. Trong số đó cuộc đàm phán song phương Việt Mỹ được coi là khó khăn, gay go nhất bởi phía Hoa Kỳ luôn yêu cầu phải đàm phán một cách toàn diện chứ không đặt nặng một vấn đề nào cả, trong khi chúng ta chưa lường trước được những yếu tố hành chính, pháp luật của đối tác. Có thể nói Hoa Kỳ là đối tác nặng ký nhất trong quá trình đàm phán nhưng đây lại là một đối tác rất quan trọng mang tính quyết định trong quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam, việc kết thúc đàm phán song phương với Hoa Kỳ sẽ mở ra nhiều cơ hội rõ nét để Việt Nam tiếp tục đàm phán với các đối tác còn lại
Trong phiên đàm phán đa phương lần thứ 10, chúng ta đã đạt được những tiến bộ có tính chất nhảy vọt, đáng chú ý là việc cam kết thực hiện hầu hết các hiệp định của WTO ở thời điểm gia nhập trong đó có những hiệp định được các thành viên WTO hết sức quan tâm như hiệp định về sở hữu trí tuệ, về đầu tư, về thuế suất nhập khẩu, về trợ giá hải quan, về kiểm tra động thực vật và về chống trợ cấp. Chính phủ Việt Nam cũng đã cam kết đến cuối năm 2005 sẽ áp dụng hoàn toàn cơ chế một giá dịch vụ đối với các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trong 2 tháng đầu năm 2006, Việt Nam đã kết thúc đàm phán song phương với ba đối tác là Niu Dilan, Oâxtrâylia và Canada. Như vậy cho đến trước phiên thứ 11, Việt Nam đã ký được thoả thuận với 24 đối tác (chỉ còn lại 4 đối tác ở Châu Mỹ là Hoa Kỳ, Mexico, Hondurat và Cộng hoà Dominic). Ngoài ra, trong thời gian này, Việt Nam cũng đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống Pháp luật phù hợp với những
Trang 16Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh
Hiệp định của WTO. Quốc hội Việt Nam đã thông qua 29 văn bản luật quan trọng như luật Thương mại, luật Đầu tư, luật Doanh nghiệp, luật Đất đai, luật Hải quan, luật Ngân hàng, luật Bảo hiểm, luật Lao động,luật Hàng không dân dụng, luật Dầu khí, luật về thuế… chuẩn bị cho phiên đàm phán đa phương thứ 11 tiếp theo
Phiên đàm phán đa phương thứ 11, diễn ra từ ngày 20/03/2006 đến ngày 28/03/2006 tại Geneva do Thứ trưởng Thương mại Lương Văn Tự dẫn đầu. “Tại phiên đàm phán này, Việt Nam cùng Ban công tác rà soát và hoàn chỉnh dự thảo Báo cáo gia nhập WTO của Việt Nam và bàn về một số hiệp định và các vấn đề trợ cấp. Theo như ghi nhận thì đây là phiên đàm phán quan trọng nhất trong quá trình Việt Nam gia nhập WTO”111. Kết thúc phiên đàm phán chúng ta đã đạt được những kết quả rất khả quan. Về đàm phán song phương, “Việt Nam đã tiến hành đàm phán với 4 đối tác còn lại là Hoa Kỳ, Mexico, Hondurat và Cộng hoà Dominic. Kết quả chúng ta đã kết thúc được với 2 đối tác là Hondurat và Cộng hoà Dominic, còn các cuộc đàm phán đa phương, tại phiên 11, Việt Nam đã cùng với các đối tác thành viên “Nhóm công tác WTO”, rà soát lại toàn bộ các điểm của Bản dự thảo “Báo cáo của nhóm công tác WTO về gia nhập WTO của Việt Nam”. Các thành viên của Ban công tác đã đánh giá cao việc Việt Nam đã thông qua một loạt các bộ luật và pháp lệnh trong
“Chương trình luật hoá” trong năm 2005, liên quan đến các lĩnh vực như Điều ước quốc tế, doanh nghiệp, thuế, ngoại hối, đầu tư, thương mại, đấu thầu, du lịch, hàng hải, hàng không, đường sắt, giao dịch điện tử, dịch vụ giáo dục, y tế dược phẩm, thuế xuất nhập khẩu, hải quan, luật dân sự, sở hữu trí tuệ… Đồng thời Ban công tác đã nêu nhiều câu hỏi thực thi các văn bản luật, nhất là các vấn đề trợ cấp, ngân hàng, xuất nhập khẩu của các nhà đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ”121
Nhìn chung, kết thúc phiên đàm phán đa phương 11 này, Việt Nam đã đạt được những thuận lợi nhất định, tạo một động lực mới để tiến đến “cánh cửa” WTO. Mặc dù ở phiên đàm phán này ta vẫn chưa kết thúc được với các đối tác Hoa Kỳ và Mexicô nhưng chúng ta đã đạt được những kết quả khá khả quan, thu hẹp dần khoảng cách với 2 đối tác này, tạo bước ngoặt để kết thúc đàm phán song phương đặc biệt là đối tác Hoa Kỳ ở phiên đàm phán tiếp theo
Phiên đàm phán đa phương thứ 12 của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã được tiến
1 Nguồn www.VNExpress.net, www.dantri.con.vn (03/2006).
1 Nguồn www.VNExpress.net, www.dantri.con.vn (03/2006), Tạp chí Thương mại số 14, Tạp chí thông tin đối ngoại, Báo Thương mại, Báo Đầu tư (4/2006).
Trang 17Giảng viên hướng dẫn: Trần Quang Thái Sinh viên thực hiện: Phạm Phúc Khánh
hành tại Geneva, Thuỵ Sĩ từ ngày 19/07/2006 đến 26/07/2006. Tham dự phiên họp về phía Việt Nam có Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển và đoàn đàm phán Chính phủ do Thứ trưởng thương mại Lương Văn Tự làm trưởng đoàn. Trước đó, trong các ngày 17/07/2006 và 18/07/2006, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển, đoàn đàm phán Việt Nam đã có các phiên tham vấn không chính thức với nhiều thành viên WTO, trong đó có Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu (EU)
Trong kỳ đàm phán này, “các bên đã tập trung làm rõ quan điểm về một số vấn đề còn tồn tại như quyền kinh doanh xuất nhập khẩu,chế độ đầu tư, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với đồ uống có cồn và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ…; tập trung tổng kết các quá trình đàm phán song phương của Việt Nam, thảo luận dự thảo Báo cáo của Ban công tác, xem xét lại tiến bộ trong công tác xây dựng luật, đặc biệt là việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực thi các luật thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ…
Các bên cũng đã dành nhiều thời gian để tổng hợp các thoả thuận song phương về mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ, tạo điều kiện cho Ban thư ký lưu hành sớm tài liệu này”132
Được sự chỉ đạo sát sao của Thứ trưởng chính phủ, Bộ trưởng thương mại, đoàn đàm phán Việt Nam đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho phiên đàm phán này, và trên thực tế chúng ta đã tiến hành đàm phán một cách chủ động, linh hoạt với quyết tâm cao. Kết hợp với thiện chí của các đối tác, nhiều lĩnh vực đàm phán đã đạt được tiến bộ đáng khích lệ, một số lĩnh vực có đột phá
Chủ tịch Ban công tác, Ban thư ký WTO và các thành viên của Ban công tác đều đánh giá rất tích cực về kết quả của phiên 12. Tuy vẫn còn một số tồn tại chưa thể giải quyết nhưng các bên đều cho rằng quan điểm đàm phán đã khá gần nhau và nếu tích cực xử lý, các bên đều cho rằng quan điểm đàm phán đã khá gần nhau và nếu tích cực xử lý, các bên hoàn toàn có thể hoàn tất đàm phán
đa phương tại phiên họp tiếp theo của Ban công tác, dự kiến sẽ tổ chức vào tháng 10/2006 tới
“Ông Hô Xeung Chủ tịch Ban công tác và nhiều đối tác khác bày tỏ sự tin tưởng rằng, với những gì đã đạt được tại phiên đàm phán 12, nếu Việt Nam và các thành viên phối hợp chặt chẽ, khẩn trương xử lý, Việt Nam hoàn toàn có thể gia nhập WTO trước Hội nghị APEC tại Hà Nội vào 11/06”141
2 Nguồn www.tuoitre.com.vn, www.thanhnien.com.vn, www.dddn.com.vn (19/07/2006).