Với cấp độ tổng quát, sự hình thành các vấn đề xã hội, an sinh xã hội,mối liên hệ giữa an sinh xã hội và công tác xã hội…, cùng với mục đích tham khảocho chuyên ngành công tác xã hội nên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐỒNG THÁP
KHOA GIÁO DỤC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
ĐỀ TÀI
NHU CẦU CÔNG TÁC XÃ HỘI
CHÍNH SÁCH BẢO ĐẢM XÃ HỘI
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: NGÔ GIA THẾ
SINH VIÊN THỰC HIỆN: PHẠM PHÚC KHÁNH
LỚP: CÔNG TÁC XÃ HỘI 2005
ĐỒNG THÁP - 2007
Trang 2MỤC LỤC
I Dẫn nhập
1 Lí do chọn đề tài trang 02
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 03
3 Mục đích nghiên cứu 03
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 04
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 04
6 Phương pháp nghiên cứu và giả thiết đề tài 04
II Nội dung 1 Khái niệm về gia đình và giáo dục gia đình 05
2 Giáo dục con cái trong gia đình truyền thống 07
3 Giáo dục con cái trong gia đình hiện đại 12
4 Những khác biệt trong giáo dục con cái của gia đình truyền thống và gia đình hiện đại 14
5 Những vấn đề cần quan tâm khi giáo dục con cái trong xu thế mới 16
III Kết luận
Trang 3DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
Căn cứ theo tình hình của đất nước, Đảng đã đề ra quyết tâm “xây dựng đấtnước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) trên nền tảng chủ nghĩaMác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”1 với mục tiêu “độc lập dân tộc gắn liền với chủnghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”2, và đườnglối là “tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sốngvật chất, tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội bảo vệ và cảithiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng anninh”3…Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng ta cũng đã chủ trương “cùng vớiviệc đẩy mạnh phát triển kinh tế cần phải giải quyết tốt các vấn đề xã hội, coi đó làhướng chiến lược thể hiện bản chất ưu việt của chế độ ta”4
Trên thực tế, nước ta đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nướccòn đang trong tình trạng chậm phát triển, gánh nặng chiến tranh còn khá nặng nề…Đặc biệt là xã hội đang ngày càng nảy sinh nhiều vấn đề bất cập đòi hỏi Đảng và Nhànước phải gấp rút giải quyết Trong đó vấn đề bảo đảm xã hội - an sinh xã hội đang làvấn đề mà Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm Bởi việc bảo đảm xã hội không chỉthể hiện mặt bằng phát triển của xã hội mà còn thể hiện bản chất ưu việt củamột đấtnước “của dân, do dân và vì dân” Mặc dù ngay từ khi thành lập nước Việt Nam dânchủ cộng hòa cho đến nay, vấn đề thực hiện chính sách bảo đảm xã hội cũng nhưchính sách xã hội nói chung đều rất được chú trọng nhưng chúng ta còn gặp rất nhiềukhó khăn cả về lí luận và thực tiễn, bởi hoàn cảnh của đất nước nhìn chung vẫn chưathể có đủ năng lực và điều kiện để giải quyết tốt các vấn đề liên quan đế bảo đảm xãhội, nhất là trong bối cảnh đất nước như hiện nay Do đó, việc thực hiện chính sáchbảo đảm xã hội là vấn đề bất thiết của nước ta hiện nay…
Bên cạnh đó, ở góc độ chuyên môn thì việc thực hiện chính sách bảo đảm xãhội có liên quan khá chặt chẽ đến công tác xã hội (mặc dù công tác xã hội đang làmột khoa học khá mới mẽ ở nước ta), bởi nhân viên công tác xã hội là tác nhân quantrọng trong việc thực hiện chính sách bảo đảm xã hội Ở nước ta, từ khi ngành côngtác xã hội được đào tạo trở lại (vào năm 1992) đã cho thấy rằng xã hội đã và đang rấtcần những nhân viên có chuyên môn ngành này Thế nhưng, dù có mối liên hệ mắcxích với việc thực hiện chính sách bảo đảm xã hội, hoạt động công tác xã hội tronglĩnh vực này vẫn còn ở hình thức tiềm năng, dưới dạng manh nha và thậm chí cònđược xem như là “hoạt động từ thiện” Thực tế này cho thấy hoạt động công tác xãhội trong việc thực hiện chính sách bảo đảm xã hội cần phải có một cái nhìn đúnghơn, cần phải thấy được tầm quan trọng của việc ứng dụng chuyên môn về công tác
xã hội trong việc thực hiện chính sách bảo đảm xã hội
Xuất phát từ lí luận và thực tiễn đó đã giúp cho người viết mạnh dạn chọn đề
tài “nhu cầu công tác xã hội chuyên nghiệp với chính sách bảo đảm xã hội ở nước ta
1 Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu lần 9, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 20.
2 Văn kiện đại hội đại biểu lần 9, đã dẫn, tr 22.
3 Văn kiện đại hội đại biểu lần 9, đã dẫn, tr 24.
4 Văn kiện đại hội đại biểu lần 9, đã dẫn, tr 33.
Trang 4hiện nay” với một niềm tin rằng đề tài sẽ mang lại nhiều điều lí thú cho bạn đọc, và
tất nhiên trong quá trình tìm hiểu vấn đề thật khó tránh khỏi những thiếu sót, rấtmong bạn đọc đóng góp ý kiến để vấn đề của chúng ta được rõ ràng hơn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong cuốn “Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9”, Đảng cộng sản
Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 có dành một phần nhỏ đề cập đếnvấn đề xã hội, trong đó có trình bày việc thực hiện chính sách xã hội - chính sách bảođảm xã hội Tuy nhiên, vấn đề chỉ được trình bày một cách chung chung, ngắn gọn
Trong cuốn “An sinh xã hội và các vấn đề xã hội”, Nguyễn Thị Oanh (chủ biên) và
các tác giả, ĐH Mở bán công TP Hồ Chí Minh, 1997, có một phần đề cập đến vấn đề
an sinh xã hội Với cấp độ tổng quát, sự hình thành các vấn đề xã hội, an sinh xã hội,mối liên hệ giữa an sinh xã hội và công tác xã hội…, cùng với mục đích tham khảocho chuyên ngành công tác xã hội nên không thể hiện được rõ vấn đề chúng ta cầntìm hiểu (về chính sách bảo đảm xã hội, hoạt động công tác xã hội trong chính sáchđó…)
Trong cuốn “Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp”, Phạm Xuân
Nam (chủ biên), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 đã dành 18 trang trình bày vềchính sách bảo đảm xã hội ở nước ta Trong cuốn sách này đã trình bày khá rõ về vấn
đề chính sách bảo đảm xã hội, nhưng vẫn không thoát khỏi cái chung chung và đặcbiệt là không thấy nói đến hoạt động công tác xã hội trong chính sách này, cho dù đó
là công cụ quan trọng giúp thực hiện hiệu quả chính sách bảo đảm xã hội…Do vậy,
đề tài “nhu cầu công tác xã hội chuyên nghiệp với chính sách bảo đảm xã hội ở nước
ta hiện nay” trở nên khá mới mẻ, đòi hỏi cần được nghiên cứu, tìm hiểu để hiểu rõ
hơn vấn đề cũng như các vấn đề liên quan đến đề tài
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là muốn làm rõ các vấn đề liên quan đến chính sách bảođảm xã hội, giúp bạn đọc nhận thấy được tầm quan trọng cũng như sự ảnh hưởng củahoạt động công tác xã hội đối với chính sách bỏa đảm xã hội ở nước ta hiện nay
4 Nhiệm vụ đề tài
Tìm hiểu về chính sách xã hội và chính sách bảo đảm xã hội
Tìm hiểu về công tác xã hội và hoạt động công tác xã hội trong chính sách bảođảm xã hội
5 Phương pháp nghiên cứu, giả thiết đề tài
Trong khi nghiên cứu đề tài người viết chủ yếu sử dụng phương pháp phântích và tổng hợp
Trong giới hạn tìm hiểu về “nhu cầu công tác xã hội chuyên nghiệp với chính
sách bảo đảm xã hội ở nước ta hiện nay” với giả thiết đề tài thành công sẽ cung cấp
những thông tin hữu ích làm tư liệu tham khảo cho bạn đọc về vấn đề liên quan đến
đề tài
6 Cấu trúc đề tài
Trang 5Nội dung đề tài gồm có những phần cơ bản sau:
Trang 6NỘI DUNG
I Vài nét về công tác xã hội và chính sách xã hội ở nước ta hiện nay.
1 Về công tác xã hội
Theo cuốn “Nhập môn công tác xã hội” do Lê Chí An biên soạn có viết
“Công tác xã hội giúp tăng cường việc thực hiện chức năng xã hội của cá nhân riêng
lẻ hay cá nhân trong các nhóm bằng các hoạt động dựa trên mối quan hệ xã hội của
họ và sự tương tác giữa con người với môi trường, can thiệp ở những điểm tương tácgiữa con người và môi trường của họ Những hoạt động này bao gồm các chức năng:phụchội năng lực bị thương tổn, cung cấp nguồn tài nguyên và ngăn ngừa sự lệch lạcchức năng xã hội; tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sốngcủa họ ngày càng thoải mái, dễ chịu”5
Ngoài ra, “Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựatrên nền tảng khoa học chuyên ngành nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đề xã hội (cánhân, nhóm, cộng đồng) giải quyết vấn đề khó khăn gặp phải, cải thiện hoàn cảnh,vươn lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực, bền vững”6…
Như vậy, từ hai khái niệm trên chúng ta có thể hiểu rằng Công tác xã hội vừa
là một khoa học ứng dụng và vừa là một nghề nghiệp chuyên môn, được “hình thành
từ cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 ở Anh, Mỹ”7, cho đến nay đã phát triển rộng khắp vàtrở thành một ngành khoa học, một nghề chuyên môn phổ biến ở nhiều nước trên thếgiới
Công tác xã hội có một vị trí và vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại, bởicông tác xã hội có cơ sở lí luận, nội dung, phương pháp tác nghiệp không ngừng hoànthiện cả về phương diện lí thuyết và thực tiễn, với mục tiêu là giúp cá nhân, gia đình,nhóm và cộng đồng có “vấn đề xã hội”, bị yếu thế, không đảm bảo một hay một sốchức năng xã hội có thể nhận thức, giải quyết “vấn đề” của chính mình để vươn lêntrong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng góp phần ổn định và thúc đẩy xã hội phát triển.Thực tế thì công tác xã hội có đối tượng đa dạng và phạm vi tác động rộng lớn, liênquan đến mọi tầng lớp đan cư, mọi tổ chức ngành nghề trong xã hội Trong đó có một
số lĩnh vực cần sự quan tâm đặc biệt của công tác xã hội hiện nay như: Công tác xãhội gia đình và trẻ em; phát triển cộng đồng và xóa đói giảm nghèo; phòng ngừa tộiphạm và giải quyết các tệ nạn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chứcchính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân; đoàn kết dân tộc, tôn giáo; công tác xã hộitrong học đường, bệnh viện; công tác xã hội với người khuyết tật, người lang thang,trẻ mồ côi, người già cô đơn, người có vấn đề về sức khỏe tâm thần, người cóHIV/AIDS…
Hiện nay ở nước ta, mặc dù công tác xã hội là một chuyên ngành còn khá mớivới khoảng 20 trường đại học, cao đẳng trong cả nước đào tạo Tuy nhiên với vị trí vàvai trò rất quan trọng của nó trong xã hội, công tác xã hội đang ngày càng được chú
5 Lê Chí An biên soạn (2006), Công tác xã hội nhập môn, ĐH Mở bán công Tp Hồ Chí Minh, tr 56.
6 Nguồn: Giới thiệu Công tác xã hội, 30/ 08/ 2007, www.portal.hnue.edu.vn.
7 Công tác xã hội nhập môn, đã dẫn, tr 7.
Trang 7trọng phát triển hơn Đây có thể xem là một xu hướng tất yếu khi xã hội phát triển,với những mặt trái đòi hỏi sự giải quyết các vấn đề xã hội một cách triệt để, khoa học
và hiệu quả hơn
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã thu đượcnhiều thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu là cơbản, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, đặc biệt là những di chứng, hậu quảcủa chiến tranh để lại, những tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường,những rủi ro trong cuộc sống, đất nước ta đã, đang tồn tại và nảy sinh những vấn đề
xã hội như: sự nghèo đói của một bộ phận không nhỏ dân cư; sự gia tăng của tệ nạn
xã hội; tình trạng trẻ mồ côi, trẻ đường phố, trẻ bị xâm hại, những người ảnh hưởngchất độc điôxin; tình hình lây nhiễm HIV/AIDS… Việc thực hiện các chính sách xãhội trong hệ thống bảo đảm xã hội cũng có những bất cập, chưa đáp ứng nhu cầu của
xã hội…Điều này đòi hỏi cần phải có đội ngũ làm công tác xã hội chuyên nghiệp.Trên thực tế nước ta, đội ngũ này vừa thiếu cả về chất và lượng Hầu như nhữngngười đang làm công tác xã hội trong các cơ sở xã hội ở các cấp, các ngành chưađược đào tạo đúng chuyên môn, chưa phù hợp với yêu cầu tác nghiệp mà chủ yếudựa vào kinh nghiệm, lòng nhiệt huyết nên khó tránh khỏi những bất cập Điều nàychứng minh rằng nhu cầu công tác xã hội ở nước ta là rất lớn
2 Vài nét về chính sách xã hội ở nước ta hiện nay
Những vấn đề xã hội nảy sinh từ khi con người sinh sống thành cộng đồng và
xã hội loài người càng phát triển thì những vấn đề xã hội ngày càng phức tạp hơn
Hiện nay, nước ta đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề xã hội làm ảnhhưởng đến sự phát triển chung của đất nước như: nghèo đói, thất nghiệp, nhà ổchuột…, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải giải quyết để ổn định và xây dựng đất nướcbền vững theo đúng bản chất của dân, do dân và vì dân Với nhiệm vụ cơ bản như: táitạo tiềm năng nhân lực đất nước bằng các chính sách dân số, gia đình, khắc phục tệnạn xã hội, bảo đảm an toàn xã hội…; góp phần xây dựng nền tảng vững chắc của xãhội với các chính sách như nhà ở, kinh tế…; giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhântài bằng các chính sách giáo dục, việc làm…Từ đó cho thấy, ‘chính sách xã hội đượcxem là sự thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối chủ trương giải quyết các vấn đề xã hộitrên những tư tưởng quan điểm của chủ thể lãnh đạo phù hợp với bản chất chế độchính trị - xã hội, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung vàcủa từng nhóm xã hội nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con người và điều chỉnhcác mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, giữa con nguời với xã hội,hướng tới mục đích cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sốngvật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân”8
Việc thực hiện chính sách xã hội ở nước ta hiện nay dựa trên bối cảnh lịch sử,hoàn cảnh của đất nước đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiệncông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với đặc điểm từ một xã hội chậm phát triển,đất nước bị chiến tranh tàn phá…bước sang xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại;
từ một nền kinh tế quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường…Do đó, việc
8 Phạm Xuân Nam (1997), Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, HN, tr 11.
Trang 8thực hiện chính sách xã hội ở nước ta còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là tronggiai đoạn hội nhập với thế giới như hiện nay Chính điều này đòi hỏi Đảng và Nhànước phải có một chính sách xã hội hợp lí nhằm phát huy mọi tiềm lực của xã hội,đảm bảo sự phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước,hướng đến các giá trị cao hơn, giải quyết và đáp ứng các nhu cầu bức thiết của mọicông dân nhằm xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc hơn.
Trong thực tế nhiều năm qua Đảng và Nhà nước đã chú trọng vào việc pháttriển kinh tế, ổn định xã hội Từng bước đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo đóithành một nước đang phát triển vào loại mạnh trong khu vực Đông Nam Á Đời sốngnhân dân ngày càng được đảm bảo (GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 640USD), điều này một phần là nhờ vào việc giải quyết tốt các chính sách xã hội củaĐảng và Nhà nước ta Tuy nhiên, vì nước ta đang trong thời kì chuyển đổi, đang phảiđối mặt với rất nhiều vấn đề xã hội còn tồn tại cũng như mới nảy sinh nên việc thựchiện chính sách xã hội ở nước ta còn gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế do thiếu nguồnlực,tài nguyên Điều này đòi hỏi chúng ta cần phải có một tầm nhìn mới về các vấn
đề xã hội cũng như việc thực hiện chính sách xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển của
xã hội, nâng cao mức sống cho người dân
II Chính sách bảo đảm xã hội ở nước ta
1 Chính sách bảo đảm xã hội
“Bảo đảm xã hội” là thuật ngữ được dịch từ tiếng Anh - Social Security vàtiếng Pháp - Sécerité Sociale Ngoài thuật ngữ “bảo đảm xã hội” chúng ta còn dịchsang tiếng Việt bằng các thuật ngữ khác như: bảo trợ xã hội, an sinh xã hội, an ninh
xã hội…
Ở đây chung ta dùng thuật ngữ “bảo đảm xã hội”, theo tổ chức Lao động quốc
tế thì “bảo đảm xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thôngqua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xãhội do bị ngừng và giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thấtnghiệp, thương tật, tuổi già và chết, đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế, trợ cấp chongười già neo đơn, trẻ mồ côi…”9 Theo đó, bảo đảm xã hội là “bằng các biện pháp
xã hội khác nhau bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác chongười lao động và gia đình khi họ bị giảm hoặc mất đi thu nhập, do bị giảm hoặc mấtkhả năng lao động hoặc bị mất việc làm; bảo đảm cuộc sống cho những người cócông với đất nước; bảo đảm đời sống cho những người già cả cô đơn, trẻ em mồ côi,người tàn tật, những người nghèo khó và những người gặp rủi ro vì thiên tai, địchhọa”10
Như vậy, chúng ta có thể thấy chính sách bảo đảm xã hội là chính sách màĐảng và Nhà nước hoạch định và thực thi nhằm khắc phục những vấn đề khó khăncũng như đảm bảo cho nhóm đối tượng chính sách có được một cuộc sống tốt hơn,đồng thời góp phần làm ổn định và thúc đẩy sự tiến bộ, công bằng xã hội; thể hiện vaitrò, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với nhóm đối tượng chính sách, thể hiện
9 Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp, đã dẫn, tr 97.
10 Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp, đã dẫn, tr 98.
Trang 9truyền thống cũng như bản chất của một đất nước xã hội chủ nghĩa - của dân, do dân
và vì dân Hơn thế, “chính sách bảo đảm xã hội có mối quạn hệ mật thiết và có mốitương tác biện chứng với các chính sách xã hội và chính sách kinnh tế - xã hộikhác”11, bởi chính sách bảo đảm xã hội là một bộ phận của chính sách xã hội và chínhsách kinh tế - xã hội khác Trên thực tế sẽ không có chính sách bảo đảm xã hội vữngchắc khi không có chính sách kinh tế đúng đắn Một khi thực hiện tốt chính sách kinh
tế sẽ nâng cao đời sống nhân dân, tạo điều kiện về vật chất cho cá nhân tham gia hoạtđộng cộng đồng, trong đó có hoạt động bảo đảm xã hội, đồng thời, kinh tế phát triểnthì Nhà nước mới có nguồn thu để thực hiện các chương trình xã hội Ngược lại,chính sách bảo đảm xã hội (chính sách xã hội nói chung) được thực hiện tốt sẽ gópphần ổn định xã hội, tạo ra động lực mới để thực hiện thành công các chính sách kinh
tế, khuyến khích người lao động làm việc với năng suất và chất lượng cao, đồng thờiđảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước nói chung
Ở nước ta, cùng với sự phát triển của xã hội, chính sách bảo đảm xã hội ngàycàng được bổ sung và hoàn chỉnh hơn về mọi mặt Tuy nhiên, trong giai đoạn hiệnnay, chính sách bảo đảm xã hội nước ta có ba bộ phận được quan tâm hơn cả đó là:Bảo hiểm xã hội và chăm sóc y tế cho mọi người lao động trong các thành phần kinhtế; cứu trợ xã hội cho những người gặp rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống; ưu đãi xã hộiđối với những người có công lao với đất nước Ngoài ba bộ phận chính kể trên thìhiện nay trong hệ thống bảo đảm xã hội ở nước ta còn có bộ phận dịch vụ xã hội, đây
có thể xem là bước tiến mới phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện phát triển chung củađất nước
1.1 Đối với báo hiểm xã hội và chăm sóc y tế
Đây là bộ phận cơ bản nhất của hệ thống bảo đảm xã hội của mỗi quốc gia Ởnước ta, ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nhà nước đã banhành nhiều sắc lệnh nhằm thực hiện bảo hiểm xã hội: “Sắc lệnh 54/SL (1/11/1945) ấnđịnh những điều kiện cho công chức về hưu; Sắc lệnh 105/SL (14/06/1946) ấn địnhviệc cấp hưu bổng cho công chức; Sắc lệnh 76/SL (20/05/1950) ấn định cụ thể hơncác chế độ trợ cấp hưu trí, thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn, tiền tuất đối với côngchức…Những văn bản trên cho thấy Nhà nước ta đã sớm nhận thức và sớm thực hiệnbảo hiểm xã hội theo hình thức hiện đại so với nhiều nước trên thế giới và khu vực,sớm chứng tỏ là một nhà nước tiên tiến của giai cấp công nhân và người lao động”12
Đến năm 1995, “Nghị định 12/CP (26/01/1995) của Chính phủ về việc banhành điều lệ bảo hiểm xã hội”13 và “Nghị định số 93/1998/NĐ-CP (12/11/1998) củaChính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của điều lệ bảo hiểm xã hội”14 đã quiđịnh nhiều vấn đề liên quan đến bảo hiểm xã hội, và theo đó việc thực hiện bảo hiểm
xã hội bao gồm 5 chế độ sau: “Chế độ ốm đau; Chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp; Chế độ trợ cấp thai sản; Chế độ hưu trí; Chế độ tiền tử Ngoài ra, ngườilao động còn được hưởng chế độ chăm sóc y tế (khám và chữa bệnh) theo Điều lệ bảo
11 Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp, đã dẫn, tr 104.
12 Nguồn: www.vi.wikipedia.org
13 Đã dẫn
14 Đã dẫn
Trang 10hiểm y tế Đặc biệt từ ngày 21/03/2001, người lao động tham gia bảo hiểm xã hội cònđược hưởng chế độ trợ cấp nghỉ dưỡng sức (Quyết định số 37/2001/QĐ-TTg của Thủtướng chính phủ)”15.
Trên thực tế, bảo hiểm xã hội có những đặc trưng chủ yếu như: thể hiện sự liênkết của những người lao động (bằng sự san sẽ thông qua việc đóng góp bảo hiểm xãhội của mọi người lao động); Việc tham gia bảo hiểm xã hội là bắt buộc trừ trườnghợp ngoại lệ; Nguồn thu bảo hiểm xã hội thông qua sự đóng góp của người lao động,người sử dụng lao động và Nhà nước Tiền đóng góp được đưa vào quĩ riêng, khôngnằm trong ngân sách nhà nước, để chi trả các trợ cấp và các hoạt động bảo hiểm xãhội; Quyền hưởng trợ cấp phụ thuộc vào sự đóng góp của người tham gia bảo hiểm
Ở nước ta hiện nay, việc thực hiện bảo hiểm xã hội được tiến hành theo hai hình thức:bảo hiểm bắt buộc và tự nguyện áp dụng cho hai nhóm đối tượng khác nhau: nhómngười lao động làm công ăn lương và nhóm người lao động tự do (không có người sửdụng lao động ổn định) Như vậy, hiện nay căn cứ những gì đang diễn ra ở nước ta thìbảo hiểm xã hội là một chế định pháp lí nhằm bảo về người lao động bằng cách thôngqua việc tập trung nguồn tài chính được huy động từ người lao động, người sử dụnglao động, cộng với sự hỗ trợ của nhà nước, thực hiện việc trợ cấp vật chất, góp phần
ổn định đời sống cho người tham gia bảo hiểm xã hội và gia đình họ trong các trườnghợp người lao động tham gia bảo hiểm bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnhnghề nghiệp, hết tuổi lao động theo luật định hoặc chết là họ hoặc gia đình mất hoặcgiảm thu nhập bất ngờ
Ngoài việc đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm xã hội thì hiện nay nước ta còn đangchú trọng phát triển về chăm sóc y tế cho người lao động “Trước đây (từ 1992 đến2002) bảo hiểm y tế tách riêng ra khỏi bảo hiểm xã hội bởi Nghị định 229/HĐBT banhành Điều lệ bảo hiểm y tế (ngày 15/08/1992) Hiện nay thì chăm sóc y tế đã đượcgộp chung với bảo hiểm xã hội bởi những nét tương đồng nhau”16
1.2 Đối với cứu trợ xã hội
Đây là bộ phận quan trọng của hệ thống bảo đảm xã hội của một quốc gia.Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thường xuyên có thiên tai (bãolũ…), hơn nữa, liên miên trãi qua chiến tranh chống xâm lược, vì vậy một bộ phậnkhông nhỏ người dân sống trong tình trạng nghèo túng, khó khăn tinh thần tươngthân, tương ái của dân tộc Việt Nam sớm nảy nở và phát huy cao độ
Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã phá kho thóc bị Nhậtchiếm đóng để cứu đói Sau khi thành lập Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, HồChủ tịch đã xác định rõ phải chống 3 loại giặc, trong đó có giặc đói, phát động
“nhường cơm sẽ áo”, lập “hũ gạo tiết kiệm” trợ giúp những người nghèo khó Trongcải cách ruộng đất, người nghèo, tàn tật, cô đơn được chia ruộng, giảm tô…
Từ khi đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trườ có định hướng xã hội chủ nghĩa,nhà nước ta càng quan tâm thực hiện các chính sách cứu trợ, bảo trợ xã hội đối vớinhững người nghèo khó, tàn tật Cụ thể, nhiều văn bản được ban hành và triển khai
15 Đã dẫn
16 Đã dẫn
Trang 11thực hiện, đặc biệt là từ năm 1995 đến nay như: “Chính sách cứu trợ đối với trẻ mồcôi, người già không nơi nương tựa: bao gồm trợ cấp thường xuyên và trợ cấp độtxuất; Chính sách đối với người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộcthiểu số: thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, thành lập tổ chức trợ giúp pháp
lí cho người nghèo, quan tâm đến người lao động nghèo trong quá trình chuyển đổi
cơ cấu kinh tế…; Chính sách đối với nạn nhân chất độc màu da cam: thành lập quĩbảo trợ nạn nhân chất độc da cam…; Chính sách cứu trợ xã hội đối với công chứcnhà nước, người hưởng lương trong lực lượng vũ trang qua hình thức trợ cấp khókhăn đột xuất và thường xuyên…”17
Như vậy, trên thực tế cứu trợ xã hội được thể hiện rõ ở “sự giúp đỡ bằng tiền,hiện vật hoặc các điều kiện sinh sống khác của cá nhân, cộng đồng và xã hội chonhững thành viên gặp phải những khó khăn rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống, nhằmgiúp họ tránh được mối đe dọa về kinh tế trong cuộc sống thường nhật hoặc giúp họvượt qua được khó khăn, khắc phục được hậu quả rủi ro, dần dần ổn định và bảo đảmcuộc sống lâu dài, sớm hòa nhập vào cộng đồng”18…
1.3 Đối với ưu đãi xã hội
Đây là một bộ phận đặc thù trong hệ thống bảo đảm xã hội ở nước ta Do phảitrãi qua nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc mà trong những cuộc chiến này Đảng và Nhànước đã phải huy động sức người, sức của của toàn dân để đấu tranh giành độc lậpdân tộc, thống nhất đất nước Trong các cuộc chiến này, nhiều cá nhân và gia đình đãcống hiến xương máu, công sức của mình cho Tổ quốc và trở thành đối tượng cócông với đất nước Vì vậy mà Nhà nước ta đã và đang thực hiện chính sách ưu đãi xãhội đối với họ Ở đây “ưu đã xã hội được hiểu là sự phản ánh trách nhiệm của nhànước, cộng đồng và toàn xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt, ưu tiên hơn mức bình thường
về mọi mặt trong đời sống vật chất và tinh thần đối với những người có công lao đặcbiệt với đất nước và đang gặp phải khó khăn tring cuộc sống”19
Trên thực tế, cơ chế ưu đãi xã hội là nét riêng trong hệ thống bảo đảm xã hội ởnước ta, cơ chế này nhằm đảm bảo cho hai nhóm người chủ yếu như sau:
Nhóm người đã có công sức đóng góp cho vận mệnh của đất nước, công cuộccách mạng của dân tộc bao gồm: những người đã gắn bó cả cuộc đời mình với sựnghiệp cách mạng, sự nghiệp của cộng đồng; những người gặp rủi ro trong quá trìnhhoạt động cho sự nghiệp chung của cộng đồng Phần lớn những người thuộc nhómnày thường bị suy giảm, mất khả năng lao động, khả năng cầu tiến trong điều kiệncạnh tranh của thị trường trong khi sự đóng góp của họ là vô giá (tính mạng, thân thể,gia sản…) Việc ưu đãi đặc biệt nhóm người này so với những người lao động bìnhthường kể cả những người lao động bất hạnh khác là phù hợp với truyền thống lâuđời của dân tộc: uống nước nhớ nguồn Các chính sách đãi ngộ nhóm người này gồmcó: “Chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, những người tham gia kháng
17 Nguồn: www.vi.wikipedia.org.
18 Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp, đã dẫn, tr 102.
19 Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp, đã dẫn, tr 103.
Trang 12chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc gia cam; Chính sách ưu đãi đối với gia đìnhliệt sỹ, gia đình có công giúp đỡ cách mạng”20.
Ngay từ thời kháng chiến, sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập,Nhà nước đã ra nhiều sắc lệnh cho nhóm người này như: “Sắc lệnh 20/SL(18/02/1947) ban hành chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, qui địnhnhững khoản ưu đãi xã hội đặc biệt như: hưu bổng, thương tật, tử tuất; Sắc lệnh77/SL (22/05/1950) đều có những chính sách đảm bảo cho quân nhân viên ngànhquân giới bị thương được hưởng quyền lợi giống như quân nhân và quyền lợi ưu tiênnhư đối với thương binh…”21 Đến năm 1994, Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cáchmạng,liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến,người có công giúp đỡ cách mạng và Pháp lệnh qui định danh hiệu danh dự nhà nước
Bà Mẹ Việt Nam anh hùng đã được công bố đã hoàn thiện chính sách ưu đãi xã hội
về nhiều mặt đối với người có công với cách mạng
Nhóm đối tượng thứ hai đó là nhóm những người đã và sẽ cung cấp sức laođộng quí báu cho nền kinh tế - xã hội bao gồm những người già đã có quá trình làmviệc, lao động lâu năm, cống hiến sức lao động cho xã hội, những bà mẹ có công sinh
nở, nuôi nấng con trẻ và trẻ em - nguồn sức lao động cho sự phát triển kinh tế - xã hộitrong tương lai lâu dài Các chính sách đãi ngộ nhóm người này ở nước ta gồm có:Chính sách đối với người cao tuổi (Pháp lệnh người cao tuổi); Chính sách đối với bà
mẹ và trẻ em
Nhìn chung, ưu đãi xã hội là chính sách xã hội lớn và là đặc trưng riêng củanước ta nhưng ở góc độ là bộ phận của bảo đảm xã hội thì sự ưu đãi nói trên chỉ ápdụng phần lớn cho nhóm đối tượng thứ nhất (những người có công với cách mạng)đang gặp phải khó khăn, bất trắc trong cuộc sống Tuy nhiên, với sự phát triển kinh tế
và xã hội như hiện nay ở nước ta, nhà nước đang dần có điều kiện tốt để thực hiện ưuđãi xã hội cho cả hai nhóm đối tượng kể trên…
Ngoài ba bộ phận chính kể trên, hiện nay nước ta còn đang chú trọng vào dịch
vụ xã hội Đây cũng là một trong những cơ chế rất quan trọng trong việc bảo đảm xãhội ở nước ta Dịch vụ xã hội và trợ cấp bảo đảm xã hội bằng tiền (trợ cấp bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, ưu đãi xã hội,…) là hai mặt của cùng một hành động bảo vệ antoàn cho xã hội nói chung và cho người lao động nói riêng Sẽ không thể có hiệu quảtích cực dù tiền trợ cấp có cao đến đâu mà dịch vụ nghèo nàn không đáp ứng nhu cầucủa người lao động Dịch vụ xã hội có thể bao gồm các dịch vụ y tế, phòng ngừa y tế(vệ sinh phòng dịch, y tế dự phòng…), phòng ngừa tai nạn, dịch vụ đối với người tàntật (phục hồi chức năng, cung cấp bộ phận giả…), dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, táithích ứng nghề nghiệp…Tùy thuộc vào sự phát triển của kinh tế cũng như nhu cầucủa xã hội trong từng thời kì mà dịch vụ xã hội phát triển ở những loại nào nhưng hầunhư quốc gia nào cũng quan tâm đến việc cung cấp dịch vụ y tế để đảm bảo cho rủi ro
ốm đau lên hàng đầu
20 Nguồn: www.vi.wikipedia.org.
21 Nguồn: www.vi.wikipedia.org.