Do vậy, chỉ có những người có năng lực hành vi mới có ý chí riêng và khả năng nhận thức được hành vi của họ để có thể tự mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ
Trang 1I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
1 Khái niệm hợp đồng dân sự
Hợp đồng dân sự là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân
sự và là phương tiện pháp lý quan trọng để thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội Hợp đồng nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng được hình thành từ hai cơ sở:
- Cơ sở khách quan để hình thành hợp đồng: Xã hội ngày càng phát triển, sự
phân công lao động ngày càng thể hiện rõ rệt Theo đó, mỗi chủ thể chỉ có thể đảm trách một hoặc một số công việc nhất định trong xã hội Trong khi đó, nhu cầu của con người ngày càng một gia tăng theo sự phát triển của các điều kiện về vật chất và tinh thần Để thỏa mãn nhu cầu của mình, các chủ thể phải tham gia nhiều quan hệ hợp đồng khác nhau, trong đó có hợp đồng dân sự
- Cơ sở chủ quan để hình thành quan hệ hợp đồng: vì lợi ích của bản thân mình
nên chủ thể sẽ tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng dân sự Như vậy, cơ sở chủ quan để hình thành quan hệ hợp đồng là ý chí và sự tự do ý chí của chủ thể trong quan hệ hợp đồng mà chủ thể tham gia Nếu tham gia quan hệ hợp đồng mà không có sự tự do ý chí của chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó thì hợp đồng dân sự có thể bị vô hiệu
Như vậy, một xã hội muốn tồn tại và phát triển, nhu cầu của con người muốn được thỏa mãn thì buộc các chủ thể phải tìm đến với nhau thông qua quan hệ hợp đồng và trong quan hệ hợp đồng đó phải có sự tự do ý chí của chủ thể
Hợp đồng dân sự được xác lập sẽ hình thành mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng, mối liên hệ pháp lý này được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước Do đó, có thể nói rằng sau khi hợp đồng được thiết lập, sự ràng buộc pháp lý về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được thể hiện rõ nét, theo đó bên nào vi phạm cam kết, thỏa thuận phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi vi phạm của mình Chính vì lý do này, có rất nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng cho quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể như bản cam kết, bản giao kèo, khế ước, luật riêng của các bên tham gia giao kết
Trang 2Điều 388 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 quy định: “ Hợp đồng dân sự là
sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Theo đó, để hình thành hợp đồng dân sự phải có các yếu tố sau:
+ Hợp đồng dân sự phải có sự tham gia của các bên: Hợp đồng là sự thỏa thuận của các chủ thể liên quan đến xác lập các quyền, nghĩa vụ nhằm đem lại lợi ích cho mình hoặc đem lại lợi ích cho người khác
+ Hợp đồng dân sự được hình thành dựa trên cơ sở thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó
+ Hậu quả pháp lý của sự thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ hợp đồng là nhằm làm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự
+ Sự thỏa thuận giữa các bên không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như giả tạo, lừa dối, nhầm lẫn, đe dọa
2 Đặc điểm hợp đồng dân sự
2.1 Hợp đồng là hành vi pháp lí song phương
Điều 121 BLDS năm 2005 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự” Hợp đồng là một loại giao dịch dân sự phổ biến nhất trong đời sống hàng ngày Theo Điều 388 BLDS năm 2005 cũng quy định: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên như vậy, hợp đồng là hành vi pháp lí song phương Hành vi pháp lí này đòi hỏi sự thể hiện và thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự
Hành vi pháp lí này cũng khác so với hành vi pháp lí đơn phương: Hành vi pháp lí đơn phương chỉ được xác lập theo ý chí của một chủ thể duy nhất như hành vi lập di chúc hay hành vi từ chối hưởng di chúc… Tính chất của hợp đồng
là sự thống nhất ý chí giữa hai hay nhiều người Mục đích của hợp đồng chính là việc mỗi bên theo đuổi những lợi ích riêng của mình và hợp đồng là kết quả của
sự dung hoà các lợi ích đối lập nhau
Trang 3Thông thường hợp đồng có hai bên tham gia trong đó thể hiện sự thống nhất
ý chí của các chủ thể trong một quan hệ cụ thể (mua, bán, cho thuê…), nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại hợp đồng có nhiều bên tham gia và mỗi bên trong hợp đồng có thể có một hoặc nhiều chủ thể tham gia Hành vi pháp lí là hành vi có mục đích của các chủ thể nhằm phát sinh hệ quả pháp lí Đó là phương tiện để thực hiện ý chí của các chủ thể tạo ra các quan hệ xã hội nói chung và các quan
hệ pháp luật dân sự nói riêng Hành vi pháp lí chính là những sự kiện xuất hiện theo ý chí của con người và sự hiện diện của chúng đưa đến những hệ quả pháp lí nhất định mà pháp luật đã quy định Nhưng để một hành vi pháp lí làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt một quan hệ pháp luật dân sự thì hành vi đó phải là hành vi
mà chủ thể thực hiện phải phản ánh đúng ý chí của chủ thể đó Sự phản ánh đúng
ý chí của chủ thể được biểu hiện trên hai mặt là chủ quan và khách quan Mặt chủ quan của sự thể hiện ý chí biểu hiện khả năng của chủ thể tự xác định cho mình mục đích hành động và định hướng cho hành động đạt được mục đích đã xác định trước Để được như vậy ý chí đó phải có tính độc lập, phản ánh thái độ
tự nguyện, tự giác của chủ thể và ý chí đó được biểu hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định Mặt khách quan của sự thể hiện ý chí là ý chí đó phải được thể hiện ra bên ngoài cho mọi người biết dưới một hành vi nhất định Chủ thể tham gia vào hợp đồng phải có sự thống nhất ý chí và thể hiện ý chí đó ra bên ngoài Hợp đồng được tạo lập là do sự hợp tác của hai hay nhiều bên, giữa các bên đã có sự thoả thuận, sự thoả thuận này đủ để tạo lập nên hợp đồng Sự thoả thuận đó không cần phải theo một công thức nào cả do đó người ta có thể lập hợp đồng bằng cách trao đổi thư tay, thư điện tử hay qua điện thoại Ý chí của các chủ thể sẽ không làm phát sinh bất cứ một hệ pháp lí nào nếu nó không được biểu hiện ra bên ngoài cho mọi người biết dưới một hình thức nhất định
2.2 Hợp đồng là nguồn chủ yếu làm phát sinh nghĩa vụ
Theo Khoản 1, Điều 13 Bộ luật dân sự 2005, giao dịch dân sự là một trong những căn cứ xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự Cũng theo Khoản 1, Điều 281
Bộ luật dân sự 2005 căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự là hợp đồng dân sự Hợp đồng là kết quả của sự thống nhất ý chí tự nguyện, trở thành nguồn chủ yếu làm
Trang 4phát sinh nghĩa vụ Tại Điều 280 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Nghĩa vụ dân
sự là việc mà theo đó một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)” Theo như cách định nghiã trên nghĩa
vụ được hiểu là mối quan hệ về mặt pháp lí Như vậy có lẽ chưa được chính xác
và cách định nghĩa này cũng khác so với cách định nghĩa ở các bộ dân luật ở Việt Nam trước đó như Điều 644 Bộ dân luật Bắc Kì 1931“Nghĩa vụ là mối liên lạc
về luật thực tại hay luật thiên nhiên, bó buộc một hay nhiều người phải làm hay đừng làm sự gì đối với một hay nhiều người đó Người bị bó buộc vào nghĩa vụ gọi là người mắc nợ, người được hưởng nghĩa vụ gọi là chủ nợ” Có thể thấy rằng tuy có khác nhau về ngôn từ nhưng nghĩa vụ trong các quy định nói trên đều được hiểu thống nhất là một quan hệ pháp luật khi xem xét nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
Như vậy, hợp đồng là một loại giao dịch dân sự, là hành vi pháp lí song phương, là căn cứ phát sinh nghĩa vụ Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng trở thành hình thức pháp lí chủ yếu mà nhờ đó các quan hệ dân sự phong phú, đa dạng của nền kinh tế được xác lập, củng cố
II CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
Hợp đồng dân sự là phương tiện pháp lý quan trọng để thỏa mãn quyền và lợi ích hợp pháp giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng Ngoài ra, hợp đồng dân sự còn là căn cứ để Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác giải quyết tranh chấp phát sinh Tuy nhiên, để hợp đồng dân sự có hiệu lực pháp lý thì hợp đồng đó phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định
Điều 121 BLDS 2005 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Như vậy, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự chính là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 122 BLDS 2005
Theo đó, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự đó là:
Trang 5- Người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự;
- Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
- Người tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện;
- Hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp pháp luật có quy định
1 Điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng dân sự
Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự mà cụ thể ở đây là quan hệ hợp đồng
là những “người” tham gia vào quan hệ đó Phạm vi người tham gia quan hệ hợp đồng bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Điều kiện để hợp
đồng có hiệu lực là “ người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự”- như
vậy “ người” ở đây phải được nhìn nhận dưới góc độ pháp lí tức là không chỉ là
cá nhân mà còn bao gồm pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác
1.1 Chủ thể tham gia hợp đồng là cá nhân
Điều17 BLDS năm 2005 quy định: “năng lực hành vi của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự” Do vậy, chỉ có những người có năng lực hành vi mới có ý chí riêng và
khả năng nhận thức được hành vi của họ để có thể tự mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng và tự mình chịu trách nhiệm trong hợp đồng Bộ luật dân sự Việt Nam cũng không quy định cá nhân tham gia hợp đồng phải có năng lực hành vi dân sự đẩy đủ mà đối với cá nhân ở các độ tuổi khác nhau sẽ có năng lực hành vi dân sự khác nhau và từ đó sẽ có khả năng tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng khác nhau
+ Thứ nhất, đối với những người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: là
những người từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, không bị mất năng lực hành vi dân sự Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
có toàn quyền tham gia mọi giao dịch dân sự và cũng đồng thời phải gánh chịu mọi trách nhiệm và nghĩa vụ phát sinh từ hành vi pháp lý mà họ thực hiện
Như vậy, pháp luật chỉ quy định độ tuổi tối thiểu mà không quy định độ tuổi tối đa của người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng Họ có đủ tư cách chủ thể,
Trang 6toàn quyền tham gia xác lập hợp đồng và tự mình chịu trách nhiệm về những hành vi do họ thực hiện Tuy nhiên,theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình đối với nữ từ 18 tuổi (17 tuổi + 1 ngày) trở lên có quyền kết hôn nhưng người phụ nữ dù đủ tuổi kết hôn vẫn chưa có đủ năng lực hành vi dân sự Vì vậy, khi họ tham gia vào quan hệ hợp đồng phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật nếu không hợp đồng sẽ bị vô hiệu
Mặt khác, quy định có người năng lực hành vi là một trong những điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng không được hiểu theo nghĩa cứ có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ thì có thể tham gia mọi giao dịch mà trên thực tế vẫn có những quy định mang tính hạn chế người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ tham gia vào một số giao dịch nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của những người liên quan Đó là trường hợp được quy định tại Khoản 5 Điều 144 BLDS năm 2005 về người đại diện không được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó hay các giao dịch dân sự giữa người giám hộ và người được giám hộ đều vô hiệu chỉ trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ Hay tại khoản 3, Điều 69 BLDS 2005 quy định: “các giao dịch dân sự giữa người giám hộ và người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ”
Ngoài ra, đối với những cá nhân tuy có đủ năng lực hành vi dân sự nhưng có thể tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng thông qua người đại diện theo quy định của pháp luật trừ trường hợp pháp luật quy định cá nhân đó phải tự mình tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng đó
+ Thứ hai, đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần từ đủ 15
tuổi đến dưới 18 tuổi: trên thực tế, người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi đã có thể
tham gia lao động Xuất phát từ lý do này mà pháp luật dân sự đã chấp nhận một
số giao dịch dân sự nhất định phát sinh hậu quả pháp lý nếu giao dịch dân sự đó
do người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi xác lập, thực hiện theo khoản 2 Điều 20
Trang 7BLDS quy định: “Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Nhưng cũng cần lưu ý pháp luật dân sự quy định một số giao dịch cụ thể chỉ
có thể do người đã thành niên xác lập mới có hiệu lực, đặc biệt là các hợp đồng pháp luật bắt buộc phải có công chứng Trong trường hợp đó người chưa thành niên dù có tài sản riêng cũng không có năng lực hành vi dân sự để giao kết hợp đồng
+ Thứ ba, đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần từ đủ 6 tuổi
đến dưới 15 tuổi, người bị tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự:
Người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi được xác định là những người mà sự nhận thức và khả năng làm chủ hành vi của mình chưa được đầy đủ, do đó họ có những hạn chế nhất định Do đó người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi khi tham gia vào một hợp đồng dân sự nào đó phải được người theo pháp luật đồng ý Đối với người bị tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi thì: “…Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật…”
+ Thứ tư, đối với người dưới 6 tuổi và người bị Tòa Án tuyên bố mất năng
lực hành vi dân sự: Những người này không có quyền tham gia xác lập và thực
hiện bất cứ một giao dịch dân sự nào Mọi giao dịch của những người này phải
do người đại diện theo pháp luật của họ xác lập thực hiện (Điều 21, 22 BLDS 2005) Nguyên nhân là do họ chưa đủ ý chí cũng như lý trí để hiểu được hành vi
và hậu quả của những hành vi đó
Người bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì phải có người giám hộ và mọi giao dịch liên quan đều phải được xác lập, thực hiện thông qua người giám hộ (Điều 22);
Người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự thì các giao dịch liên quan tới tài sản của họ phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ các giao dịch phục vụ nhu cầu hàng ngày, với những hợp đồng liên quan
Trang 8tới tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật ( Điều 23 BLDS 2005)
Như vậy, có thể nói khả năng tham gia hợp đồng dân sự của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tương đương với khả năng tham gia giao dịch dân sự của người có năng lực hành vi dân sự một phần Nhìn chung, để có thể xác lập, thực hiện các hợp đồng, chủ thể là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự thích ứng với loại giao dịch hoặc loại hợp đồng mà chủ thể đó tham gia
Một trường hợp đã được dự liệu trong pháp luật dân sự tại Điều 133 đó là
trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập, thực hiện giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì sẽ bị tuyên là vô hiệu Đây có thể
được coi là trường hợp ngoại lệ của trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ không bị mất năng lực hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự song đã xác lập giao dịch trái với ý chí của họ nên họ có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình bởi khi đó đã vi phạm tính tự nguyện khi tham gia giao dịch
1.2 Chủ thể tham gia hợp đồng là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác
- Đối với pháp nhân: Pháp nhân là một thực thể pháp lý, khi tham gia vào
các hợp đồng dân sự thì phải thông qua hành vi của người đại diện của pháp nhân ( đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền) Khi tham gia vào các hợp đồng dân sự thì những người diện cho pháp nhân cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đại diện, phạm vi thẩm quyền đại diện để xác định hiệu lực pháp
lý của các hợp đồng này Ngoài ra trong việc tham gia các hợp đồng dân sự, pháp nhân chỉ được phép tham gia các hợp đồng phù hợp với mục đích hoạt động, phạm vi kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh của pháp nhân…
- Đối với hộ gia đình: Khi tham gia vào các hợp đồng dân sự thì chủ hộ (là
người đại diện theo pháp luật của hộ gia đình) có thể trực tiếp tham gia hoặc có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên tham gia vào việc xác lập, thực
hiện hợp đồng Theo quy định của pháp luật thì “ Giao dịch dân sự do người đại
Trang 9diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của họ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình” (khoản 2 Điều 107 BLDS)
Thông thường, giao dịch dân sự do chủ hộ hoặc thành viên đã thành niên khác được chủ hộ ủy quyền xác lập, thực hiện vì lợi ích của hộ gia đình sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình trong hợp đồng dân sự Tuy nhiên đối với việc định đoạt tư liệu sản xuất hoặc tài sản chung của hộ gia đình có giá trị lớn thì buộc phải có sự đồng ý của các thành viên trong gia đình từ đủ 15 tuổi trở lên, đối với các loại tài sản chung khác phải được sự đồng ý của đa số các thành viên
từ đủ 15 tuổi trở lên
- Đối với tổ hợp tác: Khi tham gia vào các hợp đồng dân sự thì tổ trưởng tổ
hợp tác là người đại diện theo pháp luật của tổ hợp tác Ngoài việc trực tiếp đại diện cho tổ hợp tác tham gia các hợp đồng dân sự thì tổ trưởng tổ hợp tác có thể
ủy quyền cho tổ viên của mình thực hiện những công việc cần thiết cho tổ hợp tác Tuy nhiên việc đinh đoạt tài sản là tư liệu sản xuất của tổ hợp tác phải được toàn bộ tổ viên đồng ý, đối với các loại tài sản khác phải được đa số tổ viên đồng ý
2 Điều kiện về mục đích, nội dung của hợp đồng dân sự
Bộ luật dân sự quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng (giao dịch dân
sự” là: “mục đích, nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” Theo Điều 123 BLDS 2005: “Mục đích của
hợp đồng là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được” Lợi ích hợp pháp là các hành vi mà các bên trong hợp đồng sẽ thực hiện để đem lại một kết quả nhất định Hợp đồng lại là căn cứ phát sinh nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa
vụ chính là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện Vì vậy, lợi ích hợp pháp đó có thể là vật, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện Không thể có hành vi mang tính ý chí khi các chủ thể tham gia vào việc xác lập, thực hiện hợp đồng lại không nhằm vào một mục đích nhất định Mục đích của hợp đồng là yếu tố không thể thiếu trong hợp đồng, là cơ sở xác định việc xác lập, thực hiện hợp đồng đó có hiệu lực pháp lí hay không
Trang 10Điều cấm của pháp luật là “những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định”, còn đạo đức xã hội là “những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng” Trong trường hợp hợp đồng đã xác lập vi phạm điều
cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội sẽ dẫn đến hậu quả pháp lí hợp đồng vô hiệu tuyết đối (vô hiệu đương nhiên) Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và mặc nhiên bị coi là vô hiệu Đối với trường hợp này, các bên tham gia hợp đồng, những người có quyền, lợi ích liên quan đều có quyền yêu cầu Toà án tuyên hợp đồng vô hiệu để bảo vệ lợi ích chung, lợi ích cộng đồng Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên hợp đồng vô hiệu không hạn chế Khái niệm nội dung của hợp đồng là một khái niệm rất rộng Thường thì nội dung của hợp đồng gồm các điều khoản, như: đối tượng của hợp đồng là tài sản hay công việc, chất lượng của đối tượng đó; giá và phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm thực hiện hợp đồng… (Điều 402) Bất kỳ điều khoản nào trong số
đó vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì hợp đồng cũng bị coi là vô hiệu Ví dụ: trong Quyết định Giám đốc thẩm số 18/2005/DS-GĐT ngày 22/6/2005 của HĐTP –TANDTC hợp đồng mua bán nhà được xác lập giữa người chuyển nhượng (Việt Nam) với người nhận chuyển nhượng (người Việt Nam định cư ở nước ngoài, không thuộc diện được phép có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam), thì bị xem là vô hiệu vì “có nội dung trái pháp luật”
Như vậy, để hợp đồng có hiệu lực thì mục đích cũng như nội dung của hợp đồng phải không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Hợp đồng có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì bị vô hiệu
3 Điều kiện về sự tự nguyện trong hợp đồng dân sự
Bản chất của hợp đồng là sự thống nhất ý chí và sự bày tỏ ý chí nên người tham gia hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện Sự tự nguyện xác lập, thực hiện hợp đồng là việc chủ thể tự mình quyết định là có tham gia hay không tham gia vào hợp đồng theo nguyện vọng của cá nhân mình, mà không chịu sự chi phối hay sự tác động, can thiệp chủ quan nào từ những người khác Pháp luật đòi hỏi