Ngay khi Pháp vừa vào Gia Định, triều đình Nguyễn đã cử quân đội kháng cự quyết liệt khiến cho cuộc hành quân của địch gặp nhiều khó khăn.. có rất nhiều những nghĩa cử cao đẹp nói trên.
Trang 1KHOA LỊCH SỬ- LỚP SỬ 2BMÔN : LỊCH SỬ VIỆT NAM CẬN ĐẠI
ĐỀ TÀI:
CÁC CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA NHÂN DÂN VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 1862-1875
Trang 2TP HCM 16/10/2012
Trang 3MỤC LỤC
Contents
A Lời mở đầu: 4
B Nội dung: 6
I Cuộc kháng chiến giữ nước oanh liệt của nhân dân Việt Nam từ năm 1859 đến trước hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862: 6
II Cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Kỳ từ năm 1862 đến năn 1867: 12
1 Hoàn cảnh của ta và thực dân Pháp trước khi kí hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862): 12 2 Phong trào kháng chiến ở Nam Kỳ giai đoạn từ năm 1862 đến năm 1867: 12 III Cuộc kháng chiến ở Nam kỳ ( 1867- 1875) 26
a Hành động của Pháp………
b Thái độ của triều đình Huế………
c Nhân dân sáu tỉnh Nam Kỳ tiếp tục kháng chiến (1867-1875) ………
IV Ý nghĩa 33
V Nhận xét, đánh giá chung về các phong trào 33
C TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 4Trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn ởtrong tình trạng suy đốn.
Về mặt tư tưởng: triều đình nhà Nguyễn bị tinh thần hủ Nho chi phối, thủ cựu, hẹp hòi, không chấp nhận những cải cách duy tân; quan lại sĩ phu đa phần đều cố chấp nên dẫn đến tình trạng xã hội ngày một lạc hậu, trì trệ Thời Tự Đức trở về sau, binh lực và tài lực ngày một suy yếu Binh lính không được luyện tập, trang bị vũ khí lạc hậu chỉ có gươm giáo, tướng sĩ thường không chuyên trách, không có uy tínvới binh lính Tinh thần quân đội thấp kém, không đủ khả năng đảm đương nhiệm
vụ bảo vệ nhà nước trước quân xâm lược của tư bản phương Tây
Trang 5từ năm 1862, thực trạng nước ta chỉ tóm gọn qua bốn chữ: “Tiền hoang, binhkhuyết”.
Trước thực trạng xã hội như vậy, nhiều chí sĩ thức thời hiểu rõ sự cần thiếtcủa việc đổi mới đất nước như Đinh Văn Điền, Bùi Viện, Nguyễn Trường Tộ…đãtrình lên trình lên triều đình những đề xướng canh tân nhằm đối phó lại sự xâmlược của tư bản Pháp Những người đề xướng cải cách cho rằng muốn cải cách xãhội trước hết phải cải tạo quan lại, dùng những người tài giỏi trong nhân dân thamgia ý kiến vào việc nước, dùng chế độ pháp trị để quan lại không thể chuyên chế,
ức hiếp nhân dân…muốn làm được điều đó phải cải cách giáo dục, học các mônthực dụng như luật học, nông học, kỹ nghệ, địa lý, thiên văn…
Về kinh tế: phải lo đến canh nông, đề phòng hạn hán, lụt lội; tăng cườngkhai hoang, phát triển kỹ nghệ, khai khoáng, mở mang thương mại, giao thông…
Về tài chính: Phải chú ý đến vấn đề thuế khóa, phải căn cứ vào nhân lực vàtài lực trong dân
Ngoài ra phải chú ý phát triển quân đội, cải tạo xã hội, mở rộng thôngthương…
Tuy nhiên, tình trạng nước ta lúc ấy không thể dẫn đến một cuộc cải cáchtoàn diện như thế do xã hội phong kiến đã suy tàn, lực lượng sản xuất mới và lực
Trang 6Bắt đầu từ triều vua Minh Mạng việc cấm đạo đã được thực hiện Đến thời
Tự Đức, chính sách này càng triệt để hơn Lấy cớ triều đình Việt Nam cấm đạo, sátđạo, năm 1858, Pháp tấn công Đà Nẵng Năm 1862, triều đình nhà Nguyễn phải kýhòa ước Nhâm Tuất, nhường cho Pháp 3 tỉnh miền Đông; hiệp ước Giáp Tý năm
1874, thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở 6 tỉnh Nam Kỳ và cuối cùng là hiệp ướcGiáp Thân năm 1884, khẳng định sự thống trị của Pháp ở Việt Nam Điều đó khiếncho những người yêu nước-nhân dân Việt Nam vô cùng phẫn nộ, đã nổi lên chốngPháp và triều đình Thời kỳ này nhiều cuộc khởi nghĩa chống xâm lược nổ ra ởkhắp nơi từ Bắc đến Nam với nhiều thành phần dân chúng tham gia Sau đây,chúng ta sẽ tìm hiểu các phong trào chống Pháp của nhân dân Nam Kỳ giai đoạn từnăm 1859 đến năm 1875
Trang 7*Triều đình:
Trong giai đoạn này, ngay khi thực dân Pháp nổ sung xâm lược Việt Nam,quân đội triều đình đã tích cực chủ động phối hợp với nhân dân đấu tranh chốngPháp trên tấc cả các mặt trận
Tại Đà Nẵng:
Khi nghe tin bán đảo Sơn Trà bị chiếm, triều đình Nguyễn đã cử vội nhiềuquân tướng tới tăng cường lực lượng phòng thủ, Nguyễn Tri Phương được cử làmtổng chỉ huy mặt trận Quảng Nam để lo việc chống giặc Ông thực hiện chiếnthuật: một mặt chỉ huy quân đội đắp lũy chạy dài từ bờ biển vào phía trong để baovậy địch ở mé biển, chặn không cho chúng đi sâu vào nội địa Mặt khác, ông chonhân dân trong vùng thực hiện kế sách “vườn không nhà trống”, tản cư vào bêntrong để địch khỏi bắt lính, yêu cầu nộp lương thực hay cung cấp tin cho chúng.Nhờ chiến thuật này mà mấy lần liên quân Pháp-Tây Ban Nha tìm cách đánh sâuvào điều bị quân triều đình đánh bật lại và bị thiệt hại nặng nề
Sau 5 tháng chiến tranh, Pháp hầu như giậm chân tại chỗ ở bán đảo Sơn Trà,chúng quyết định chuyển hướng sang Gia Định
Tại Gia Định:
Ngày 9/2/1859, thực dân Pháp tấn công Gia Định
Trang 8Ngay khi Pháp vừa vào Gia Định, triều đình Nguyễn đã cử quân đội kháng
cự quyết liệt khiến cho cuộc hành quân của địch gặp nhiều khó khăn
Trong giai đoạn này, triều đình nhà Nguyễn vẫn tiếp tục thực hiện chiếnthuật “phòng thủ” mà không tấn công mặc dù có nhiều cơ hội
“Tháng 4/1859, tư bản Pháp bị vướng vào cuộc chiến tranh với Áo trên đấtÝ, phải dồn lực lượng quân sự vào chiến trường Châu Âu, không thể tiếp viện chođội quân xâm lược Việt Nam Thêm vào đó mâu thuẫn Anh-Pháp lúc này cũng trởnên gay gắt, chiến tranh có thể bùng nổ giữa hai nước Trong tình thế khó khăn đó,chính phủ Pháp buộc phải ra lệnh cho Gionuiy nghị hòa với triều đình Huế.”Nhưng do thái độ không dứt khoát của triều đình, đánh không dám đánh mạnh,cuối cùng việc hòa nghị không thành
Cơ hội thứ 2: “Liên quân Anh-Pháp khai chiến ở Trung Hoa Hạm đội Phápphải đưa sang Hoàng Hải Pháp chỉ để lại một ít quân để chiếm giữ Gia Định vàcầm cự với quân ta, còn thì dồn sang chiến trường Hoa Bắc”
Mặc dù Pháp chỉ còn lại lực lượng ít ỏi chưa đầy 1000 quân, nhưng NguyễnTri Phương vẫn sử dụng chiến thuật “thủ để hòa”(cố thủ rồi thương thuyết) nênPháp vẫn ung dung đi lại, ngược xuôi trên các dòng song buôn bán kiếm lời, vừa
để nuôi quân, vừa để mua chuộc một số người giao thương với chúng, thăm dò tìnhhình của ta, dụ một số người làm tay sai…tạo them điều kiện để mở rộng cuộc xâmlăng
Trong lúc này, quân đội dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Tri Phương có tớihang vạn, gấp 10 lần địch, song vẫn không chủ trương tranh thủ thời cơ tấn côngtiêu diệt địch, mà suốt một năm(1860) Nguyễn Tri Phương án binh bất động Mặtkhác chỉ chú tâm huy động quân đội và dân binh xây dựng Đại Đồn(Chí Hòa) vớithành lũy kiên cố, tưởng rằng như vậy sẽ có thể làm nản chí xâm lăng của giặc
Nhưng sự sai lầm trong chiến lược phòng ngự bị động và tư tưởng thất bạichủ nghĩa đã khiến Nguyễn Tri Phương không những không đuổi được 1000 quân
Trang 9Cuối cùng để cứu vãn quyền lợi của giai cấp, đứng trước nguy cơ xâm lượcbên ngoài và nguy cơ khởi nghĩa nông dân bên trong, triều đình nhà Nguyễn đãhèn hạ phản bội lại quyền lợi của nhân dân, của dân tộc bằng việc vội vã ký Hàngước ngày 5/6/1862.
Cuộc đấu tranh của nhân dân ta:
a Biểu hiện:
Ngay từ khi liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ sung xâm lược nước ta, nhiệtliệt hưởng ứng lời kêu gọi của quân đội triều đình, hăng hái tham gia phục vụ chiếnđấu và thành lập các đội binh dõng khá đông đảo Có thể nói không có trận chiếnnào không có mặt dân dõng Ngay đến các tù phạm cũng tham gia phục vụ chiếnđấu-được gọi là các đội “Thiện Thiện”, họ chiến đấu tích cực và còn được triềuđình ban thưởng Các làng xã xung quanh và trong tỉnh Quảng Nam đều đóng góptài lực, vật lực cho cuộc kháng chiến quyết liệt chống quân xâm lược Ngay trongtháng 5/1859, đã có 20 xã được triều đình bình nghị tuyên dương công trạng
Sử triều Nguyễn có chép lại, tại mặt trận Đà Nẵng, có trận đấu giữa ta vàđịch diễn ra 3 ngày liền, từ ngày 22 đến ngày 24/4/1859, ở Thạch Than, dân dõngdưới sự chỉ huy của triều đình đã chiến thắng quân địch
Ngay tại kinh đô Huế, biết tin địch đánh Đà Nẵng, nhiều trai tráng đã tựnguyện gia nhập đội “chiến tâm” hay vệ nghĩa dõng để được đi đánh giặc Nhiềuquan chức triều đình cũng tự nguyện ra chiến trường
Không chỉ ở kinh đô, ở ngoài Bắc, tinh thần chiến đấu cũng dâng lên rấtcao Đốc học Nam Định-tiến sĩ Phạm Văn Nghị nghe tin địch xâm lấn bờ cõi, liềnxin được đem 300 thân biên binh dõng đã mộ được vào quân thứ Quảng Nam đánh
Trang 10Cũng như trên mặt trận Đà Nẵng, tại Gia Định, thực dân Pháp vữa nổ súngvừa tấn công chúng ta thì ngay lập tức nhân dân quanh vùng nhiệt liệt hưởng ứng,gia nhập nhiều đội quân dõng để chiến đấu bảo vệ quê hương Sử triều Nguyễn cóchép rằng vào tháng 3 năm Kỹ Mùi(4/1859), “khi thành Gia Định không giữ được,người tỉnh ấy là Trần Thiện Chính(tri huyện phải cách), Lê Huy(suất đội thải về)họp dân dõng hơn 5800 người(dân nhiều người đóng tiền, nộp thóc) ngăn giữ quânthù, lại hộ vệ cho Trần Tri về bảo Tây Thái Việc ấy đến tai Vua, Vua ban khen,chuẩn cho 2 viên ấp, được khôi phục nguyên hàm, theo đi quân thứ….
Ở trận đánh chùa Chợ Rẫy: Đêm ngày 3 rạng sáng ngày 4/7/1860, một độinghĩa dũng 600 người(trong đó có 200 người dân dõng tham gia chiến đấu) doDương Bình Tâm lãnh đạo đã xung phong đánh Chợ Rẫy-một vị trí quan trọng củađịch trên phòng tuyến của chúng từ chùa Cây Mai đến chùa Trương Thị Nghĩaquân đã phục kích đâm chết tên đại úy BácBê ở gần Đồng Nai vào năm 1861.Chính dân dõng là lực lượng mở ra một cuộc chiến có tính nhân dân, đánh địch với
đủ mọi vũ khí, đủ mọi cách “dân dã” mà ngày nay gọi là “du kích” Họ bắn tỉa, họquấy rối làm tiêu hao sinh lực địch Họ đắp cản, đào hào đắp lũy Họ làm cho địchthất điên bát đảo, ăn không ngon, ngủ không yên
b Nguyên nhân làm bùng nổ cuộc đấu tranh của nhân dân ta:
Sở dĩ phong trào kháng chiến của nhân dân mạnh mẽ như vậy, trước hết phải
có lòng yêu nước thiết tha, sau nữa phải có quân lương và vũ khí
Chính vì thế hoạt động đầu tiên trở thành đặc điểm của dân chúng Nam kỳ là
sự hiến tặng và thu gom tài lực, vật lực từ người giàu có đến dân thường Ngay từ
Trang 11có rất nhiều những nghĩa cử cao đẹp nói trên.
Ví dụ: Vào tháng 4/1859, “dân hạt Định Tường(Trần Văn Ngọ, Nguyễn VănCẩm, Lê Văn Học, Từ Thị Để…) tự nguyện đem quyên sắt sống(8000 cân), trên
2700 quan, gạo(200 phương) để giúp quân nhu
Kết luận: Những sư kiện đó diễn ra thường xuyên và giúp ích rất lớn cho
phong trào chiến đấu của nhân dân
Ngày 15/4/1861, đồn giặc ở xóm Củi, Chợ Lớn bị đốt cháy
Cuối tháng 4/1861, sĩ quan Pháp bị đầu độc ở Phú Nhuận Địch bắt và giếthai nghĩa quân Hoa kiều giả làm bồi bếp ở đây Chúng còn giết cả ban hội tế làngPhú Nhuận là nơi nuôi dưỡng nghĩa quân
Đêm ngày 3 rạng ngày 4/7/1861, đồn địch tại chùa Chợ Rẫy bị tấn công
*Những cuộc chiến đấu có tổ chức và có người lãnh đạo (trong một thờigian nhất định) ở một số địa bàn khác nhau:
- Từ tháng 1/1861 đến tháng 8/1864, tại Gia Định, Tân An, Gò Công nổi lêncuộc khởi nghĩa của Trương Định
Vài nét về Trương Định: quê ở xã Từ Cung, huyện Bình Sơn, tỉnh QuảngNgãi Khi còn nhỏ đã theo cha vào lập nghiệp ở Tân An ( nay thuộc Long An)
Trang 12Diễn biến của cuộc khởi nghĩa:
Năm 1861, khi thực dân Pháp tấn công Gia Định, Trương Định lúc ấy là phóquản cơ trong đội lính đồn điền, đã chiêu mộ nghĩa binh lên đóng ở Thuận Kiềuđánh Pháp Nghĩa quân đã chiến thắng nhiều trận từ Cây Mai đến Thị Nghè
Tháng 2/1861, Đại Đồn thất thủ, quân triều đình rút về Biên Hòa, TrươngĐịnh đem quân về Tân Hòa, Gò Công chống giữ Ở đây đã có đông đảo văn thân,tới gia nhập nghĩa quân như: Án sát Đỗ Quang, Tri phủ Nguyễn Thành Ý, trihuyện Đỗ Đình Thoại, tri huyện Âu Dương Lân…có nhiều người còn mộ đượchơn 1000 nghĩa quân đến tập hợp đông đảo, đã chiến đấu nhiều trận quyết liệt vớigiặc Hàng vạn quân của Trương Định hoạt động khắp vùng Gò Công, Tân An, MỹTho, Chợ Lớn, Gia Định…lan sang cả hai bờ song Vàm Cỏ, tới tận Đồng ThápMười
Sau khi địch chiếm Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long thì các thủ lĩnh nhưPhan Văn Đạt, Đỗ Trình Thoại, Lê Cao Dũng, Hồ Huân Nghiệp…đã bị giặc bắt vàgiết hại Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân cũng bị bắt đi đày Nhưng Trương Địnhkhông nhụt chí, vẫn tiếp tục chiến đấu, trở thành chỗ dựa tin cậy cho tuần phủ GiaĐịnh là Đỗ Quang
Trương Định được triều đình phong cho chức Phó lãnh binh (3/1862), lãnhviệc chỉ huy toàn bộ dân quân Gia Định Với tư cách là tổng chỉ huy toàn bộ quândân Gia Định, Trương Định nhận lệnh tác chiến với quân đội triều đình để dành lạicác tỉnh đã mất Công việc đang triển khai thì địch chiếm Vĩnh Long (3/1862), rồitriều đình kí hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862), cuộc khởi nghĩa Trương Định bướcsang giai đoạn mới-khác hẳn về tính chất và còn quyết liệt, mạnh mẽ hơn rất nhiều
Trang 13đó kết hợp với nghĩ quân của Trương Định.
- Đầu năm 1861, có cuộc khởi nghĩa của Trần Thiện Chính và Lê Huytại Gia Định
- Đầu năm 1861, tại Định Tường có cuộc khởi nghĩa của Trần XuânHòa-một người bị liệt vì bệnh phong nhưng đầy ý chí chiến đấu, cầm quân nghiêmminh, được dân chúng kính phục gọi là “hùm xám”…Khi địch đánh chiếm Bà Rịa(1/1862), Trần Xuân Hòa đã dẫn quân đánh địch ở Cai Lậy rồi bị chúng bắt và giếttại Mỹ Tho
- 6/1861, tại Gò Công có cuộc khởi nghĩa của tri huyện Đỗ Trình Thoại.Sauk hi Mỹ Tho bị chiếm (22/6/1861), ông lãnh đạo hơn 1000 quân tiến đánh GòCông và đã hi sinh cùng 14 người đồng đội Nghĩa quân tiếp tục vây hãm Gò Côngcho tới hôm sau thì rút và gia nhập vào nghĩa quân của Trương Định
- Tháng 7/1861, tại vùng Biên Kiều, Biên Hòa, có cuộc khởi nghĩa củaPhan Văn Đạt và Trịnh Quang Nghi Khi quân triều đình thua trận tại Phú Thọ rút
về Biên Hòa, hai ông đã soạn thơ văn hô hào và chiêu tập nghĩa quân, đóng tại làngBình Thành –phía nam Biên Kiều Địch ở Tân An kéo đến đánh úp Ngày 16/7,Phan Văn Đạt cùng 8 nghĩa quân bị giặc bắt, bị tra tấn dã man nhưng vẫn nêu cao ýchí bất khuất, chửi mắng quân giặc rồi bị chúng giết Triều đình Huế phong tặngông hàm Tri phủ
- Cũng trong năm 1861, tại vùng Cần Giuộc có cuộc khởi nghĩa củaQuản Là, cuộc khởi nghĩa này đã giữ vững cả một vùng phía Bắc sông Vàm Cỏ,khống chế toàn bộ địa bàn giữa Chợ Lớn và Gò Công
- Vào cuối năm 1861, có cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Văn Lịch (QuảngLịch-Nguyễn Trung Trực) tại vùng Tân An Nguyễn Văn Lịch (1839-1868), vốn làmột thanh niên dân chài Năm 24 tuổi, ông gia nhập vào đội quân của Trương
Trang 14Ngày 10/12/1861, Nguyễn Văn Lịch đánh chìm tàu Étpêrăngsơ (tàu Hi
Vọng) của Pháp trên sông vàm cỏ Sử Triều Nguyễn chép: “khi ấy quân Tây Dương đỗ tàu bọc đồng ở phần thôn Nhật Tảo khuyên xung quản binh đạo là Nguyễn Văn Lịch sai sung phó quản binh đạo là Hoàn Khắc Nhượng, Võ Văn Quang đều đem binh quyền dọc theo ven sông, tới gần chỗ tàu quân Tây Dương đậu, chi quân phòng bị và đặt quân phục kích bèn đem 59 viên quân chiến tâm, chia làm hai đạo, giả làm thuyền buôn thẳng tới tàu Tây Dương, những người cùng đi đều cùng nhảy lên tàu một lượt giết bừa đi Quân Tây Dương nhảy xuống sông, hoặc chết hoặc thoát thân; còn thì chui xuống khoang thuyền chống bắn Quang (Võ Văn Quang) liền hô 30 tên phục binh nổi dậy tiếp chiến Bọn quản toán
là Nguyễn Học, hương thân là Hồ Quang lấy búa sắt phá tàu của Tây Dương không vỡ, tức thì phóng lửa đốt cháy hết Vua thương bọn địch, quản cơ Nhượng, Quang công 20 người làm cai đội, đều cho ngân tiến và thưởng chung cho binh lính 1000 quan tiền, 4 người chết cấp tiền tuất gấp hai lần và ấm nhiêu cho con hay cháu gọi bằng chú bác ruột Lại chấn cấp cho những nhà thôn ấy bị Tây Dương đốt cháy.
Thự tuần phủ Gia Định và Đỗ Quang, lãnh tuần phủ Định Tường là Đỗ Thúc Tỉnh đều nói trận này là xuất sắc nhất, cho nên mới thưởng cho hậu Lại nói: Những cử nhân thổ hào ứng nghĩa ở Định Tường, Vĩnh Long cũng có giết chết được quân Tây Dương và đánh đắm được thuyền lính mã tà của Tây Dương nên đều thưởng cho tiền tuất gấp hai”
Kết quả:
Tàu Étpêrăngsơ do trung úy hải quân Bacphe chỉ huy được trang bị mộtkhẩu đại bác và 1 đội quân (25 lính Pháp và Tagan) Trên bờ sông gần tàu Hi Vọngcòn có 20 lính mã tà đóng lại Vì vậy quân số địch có tới 45 tên đã bị đánh chìm
Trang 15đã ,mở đầu bằng một chiến thắng lớn lao để dẫn nghĩa quân của ông tới nhữngvinh quan to lớn hơn sau này.
- Đầu năm 1862, tại Gò Công, Tân Binh có cuộc khởi nghĩa của Lê CaoDũng, Hồ Huân Nghiệp kết hợp với nghĩa quân của Trương Định
Như vậy, qua các cuộc kháng chiến trên ta thấy được tinh thàn chiến đấuchống giặc của nhân dân ta ngày càng quyết liệt Ở giai đoạn đầu (từ năm 1859 đếnhiệp ước Nhâm Tuất ngày 5/6/1862) là giai đoạn triều đình và nhân dân cùng nhauđánh giặc, chiến đấu bảo vệ tổ quốc Các cuộc chiến đấu của nhân dân lúc này dù
do ai lãnh đạo cũng đều mang tính chất yêu nước, bảo vệ tổ quốc đồng thời bảo vềchính quyền chuyên chế nhà Nguyễn Trong giai đoạn này, nổi bật nhất , có tiếngvang và tác động mạnh mẽ nhất là cuộc khởi nghĩa của Trương Định (1861-1862)
và cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Văn Lịch trên sông Nhật Tảo Nhưng sau đó, ngày5/6/1862, triều đình đã kí hiệp ước Nhâm Tuất, đánh dâu bước ngoặt cho phongtrào đấu tranh của nhân Giai đoạn sau, từ năm 1862 trỏ đi là giai đoạn quần chúngnhân dân tự đứng lên cứu nước, cứu nhà và phản đối thái độ đầu hàng của triềuđình Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu ở mục tiếp theo
Trang 16Phong trào kháng chiến của nhân dân Việt Nam ngày một dâng cao, khiếncho thực dân Pháp bị sa lầy, không đủ sức để đàn áp các phong trào của nhân dânta.
Giới chính phủ Pháp chưa hoàn toàn nhất trí việc tiếp tục cuộc chiến tranhViệt Nam song song với cuộc chiến tranh Mêhicô
Hơn nữa, kênh Xuyê chưa đào, muốn sang Đông Dương, quân viễn chinhPháp phải đi vòng quanh châu Phi qua 2 đại dương nên rất tốn kém
Như vậy Pháp gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc chiến tranh xâmlược Việt Nam:
b Hoàn cảnh của nước ta_thái độ của triều đình:
Dân tình đói khổ, hạn hán thường xuyên xảy ra
Phong trào đấu tranh của nhân dân dâng cao
Triều đình vẫn trung thành với xu thế hòa hoãn, tỏ ra khiếp sợ thực dân Pháp
và những vũ khí tối tân của chúng mà không nhìn ra những khó khăn của địch.Không những không quyết tâm cùng nhân dân đánh giặc đến cùng mà triều đình lạimuốn bắt tay với Pháp để đàn áp các phong trào đấu tranh của nhân dân
Trang 172 Phong trào kháng chiến ở Nam Kỳ giai đoạn từ năm 1862 đến năm 1867:
a Những phong trào trong hoàng tộc tại kinh thành Huế:
Những rối ren đã xảy ra ngay tại kinh đô của nhà Nguyễn_một cuộc khủnghoảng chính trị sâu sắc, rất mạnh mẽ đã diễn ra…
-Vụ âm mưu bạo động nhưng bất thành trọng Hoàng tộc họ Nguyễn
-Khởi nghĩa Đoàn Trưng, Đoàn Trực
+ Vụ công tử Hồng Tập (1/1865), vụ này xảy ra vì 2 nguyên nhân và cũng vì
2 mục đích Thứ nhất là phản đối hiệp ước đã kí năm 1862 bằng cách giết PhanThanh Giản và Trần Tiễn Thành, hai là đánh giết các giáo dân gần kinh thành Sựviệc mới bắt đầu đã bị phát hiện nên dự định chưa được thực hiện Có thể là dựđịnh này bị bại lộ vì khi đó ở cả 3 trường thi: Thừa Thiện Hà Nội và Nam Định,các sĩ tử đã bàn luận, phản đối các hiệp ước đã kí
Đó thực sự là một sự kiện có tính toàn quốc làm triều đình Huế lo lắng vàcảnh giác Và cũng ngay trong tháng ấy, vụ Hồng Tập đã xảy ra và bị dập tắt
Kết quả: Triều thần nghị bàn xử rất nặng Vua Tự Đức giam bắt và kết tộinhư sau: Xử chém ngay (bêu đầu) Hồng Tập, đổi qua họ mẹ (Vũ tập) và chémNguyễn Văn Viện Trảm giam hậu Trương Văn Chất, Trần Thanh, Chu Thừa,Đặng Kiêu, Nguyễn Thán Giảo giam hậu Nguyễn Duy Cơ, Vũ Đức Vỹ
Ý nghĩa: vụ án này dẫu kết thúc mau chóng nhưng có ý nghĩa chính trịkhông nhỏ Đó là phản ứng chống lại những ngừi đã chú trọng ký kết hiệp ước
Trang 18Nguyên nhân: Lúc này vua Tự Đức đang cho xây dựng tiếp Vạn Niên cơ: làKhiêm Lăng Lăng được xây dựng từ tháng 12/1864 đến tháng 9/1867 thì hoànthành Do được xây dựng trong thời gian dài, quy mô lớn, giữa lúc đất nước cóchiến tranh nên rất tốn kém về người và của, vất vả, khó khăn, thiếu thốn vì lương
bị bớt xén, lạ bị đánh đập đòn roi Những người lính trông coi cũng khổ cực chẳngkém
Cùng lúc ấy “Đông Sơn thi tửu hội” thành lập ở kinh thành gần Đoàn HữuTrưng và hai em Đoàn Ái và Đoàn Tư Trực Cùng Trương Trọng Hòa, nhà sưNguyễn Văn Qúy (trụ trì chùa Lang Quang)
Đã kêu gọi nhân dân nhiệt liệt tham gia
Diễn biến: Hội đưa Đinh Đạo (hay Ưng Đạo) lên ngôi thay thế Tự Đức.Ngày 8 tháng 8 năm Bính Dần (năm Tự Đức thứ 15) tức ngày 16/9/1866 với hàng
ngàn người rầm rộ Sử Triều Nguyễn ghi rất chi tiết như sau: “Dân gian dối là đoàn Trưng cùng với bè lũ đem quân xâm phạm triều đình, phải giết chết Trước Trưng (người làng An Tuyền) và em hắn là Đoàn Hữu Ái, Đoàn Tú Trực cùng với Trương Trọng Hòa, Phạm Lương kết làm hội Đông Sơn thi tửu ngầm mưu việc trái phép lấy danh là phù lập Đinh Đạo, Hữu Quân là Tôn Thất Cúc làm nội ứng Ái gọt đầu làm sư mật kết với trụ trì chùa Long Quang là Nguyễn Văn Quý, ngầm ở chùa Pháp Vân chiêu dụ bè lũ chế tạo khí giới, cờ súng, suốt đội là Bùi Văn Liệu, Nguyễn Văn Đệ, Hồ Văn Sự, Nguyễn Văn Quý, đội trưởng là Lê chí Trực , sư ở chùa Nguyễn Văn Viên và Nguyễn Văn Lý, người làng Dã Lê là Nguyễn văn Vũ, lính Vũ Lâm là Lê Văn Tể, đều là bè lũ bí mật Lúc ấy trong coi việc ở sở thợ
Trang 19sở thợ, dự làm sáh ứng Ngày 8 tháng ấy Cúc vào túc trực, lũ tên Trưng lấy trống
ba đêm hôm ấy đem bè lũ dọa bắt dân phu chia nhau cầm cờ, giáo theo đến xưởng thợ Dương Xuân tìm Nguyễn Văn Chất, không được, trói đổng biện mà là thống chế Nguyễn Văn Xa nói dối rằng: Vâng sắc bãi bỏ công việc, đem quân về thành, phù lập Đinh Đạo, ngày mai làm lễ mừng, ban thưởng cho, ai trái lệnh thì đi chém, Bùi Văn Liệu đem binh đinh được trông coi 20 người đi theo xuất đội Nguyễn Tăng Hựu, đội trưởng Lê Văn Cơ đem nhau theo giặc, cái biền binh trông thấy, hoặc cầm binh khí, hoặc cầm chày gỗ (đồ giã vôi ở sở thợ) đi theo có đến hàng nghìn, lũ tên Trưng chia làm 3 đạo (Trực Vũ làm tiền đạo; Trưng, Ái, Lương làm chung đạo; Hòa Qúy là hậu đạo) lần lượt qua song, thừa lúc canh năm, sau khi bắn súng, các cửa hoàng thành ở kinh thành đều mở theo hướng chính nam đi vào, hai đạo quân tiền và trung sấn vào cửa Ngọ Môn, chia nhau đến cả trại quân cẩm y và Kim Ngô ở hai bên tả hữu thu lấy khí giới Nguyễn Tăng Hựu cướp lấy gươm và truyền hô quan quân điển hộ đều phải lặng im, trái lệnh thì chém Tôn Thất Cúc từ cửa đại cũng đi ra gặp lũ giặc, quay đến cửa nách bên tả, giặc Trực đem bè lũ đi theo, gặp phó vệ úy là Nguyễn Thịnh sấn đến, Cúc lánh mặt, Thịnh cùng chỉ huy sứ là Phạm Viết Trang đóng cửa chống giữ, bọn giặc bổ phá, lũ Thịnh đều bị thương, phá cửa mà vào, đến nhà Duyệt thị, chưởng vệ quyền chưởng doanh Long vũ là Hồ Uy chống cự, Trực chém Uy bị thương tai bên hữu, Uy kêu to rằng: Nội dán đóng ngay cửa Tả xương, giặc Trực tìm bắt trung quân Đoàn Thọ, hỏi rằng: Đoàn Thọ ở đâu? Có tiếng trả lời rằng Thọ ở điện Thái Hòa, giặc Trực bèn lui cùng với giặc Trưng ở trung đạo họp ở đấy, Nguyễn Thịnh cùng với cai đạo là Trần Đức, Lý giưc cửa nách, Hồ Uy ra hiệu gọi các quân đội thị vệ, Cẩn
Trang 20Lũ ngươi chịu theo giặc à? Biền binh lùi tam, bọn giặc còn ước 30 tên, Uy sấn đến đâm giặc Trực, cai đội Cáp Văn Sâm đâm theo, Trực ngã xuống, quân bắt giặc sấn đến, Trực, Trưng đều bị bắt, giặc Ái chạy vào bếp sở Hộ vệ tự vẫn, bị quân bắt lôi ra, giặc Vũ đâm đầu xuống ao Thái Dịch, Vũ cử Nguyễn Văn Thích nhảy xuống bắt được quân hậu đạo của giặc đến bờ bên nam sông Hương, trụ trì Nguyễn Văn Qúy biết việc không thành, trốn về chùa, Trương Trọng Hòa vẫn chưa biết định đem bè lũ vào thẳng trại doanh Thần cơ thu lấy khí giới hiệp quản vệ ấy là Vũ Giác đem áo quan vũ và bài đeo cho giặc đi theo đánh trống làm hiệu Bọn Nguyễn Hùng, Lê Bình đem quân ra ngoài cửa Chương Đức cùng với Lê Sĩ bắt được giặc Hòa và phái đến chùa Pháp Vân khám soát bắt Nguyễn Văn Qúy rải về, bọn còn soát lại tan chạy tứ tung hoặc trốn về vệ đội cũ hoặc chạy về xưởng thợ bấy giờ đóng hết các cửa thành chia đi tìm nã bắt được hết, đinh đạo, phải tội chiêu xưng làm giặc, bắt thắt cổ ngay, đến cả thân thuộc con trai con gái Bấy giờ phủ Tôn nhân và quan triều đình thần hội tra án làm giặc, bọn giặc Trưng chiêu xưng rằng: Đinh đạo đến tế mả cha hắn là Đinh Bảo, lũ giặc ấy trông thấy cho là không phải người thường, đem lòng kính mến, mưu dựng nên làm vua đẻ mong giàu sang, các thân công là lũ Miên Định mật tâu xin trừ đi”.
Kết quả: cuộc khởi nghĩa thất bại
Tự Đức xử tội rất nặng cuộc khởi nghĩa này, ông nói rằng: “Trẫm chịu tiếnghung ác tàn nhẫn”
+ Đinh Đạo, cả mẹ và vợ, các con trai gái, 8 người đều phải thắt cổ ngay(sau Đinh Đạo được tha, chỉ bị giam)
Trang 21b Những phong trào của nhân dân tại Nam Kỳ:
- Cuộc khởi nghĩa của Trương Định:
+ Nguyên nhân:
Hiệp ước 1862 là một thất bại lớn của triều đình Huế Điều đặc biệt là mặc
dù không phê chuẩn hiệp ước này nhưng triều đình Huế lại công nhận nó trongthực tế bằng việc thực thi ngay nhiều điều khoản trong đó có việc ra lệnh cho mọilực lượng kháng chiến ở 3 tỉnh miền Đông phải hạ vũ khí chờ thương lượng chuộcđất Nhưng nhân dân miền Nam vẫn kiên quyết tiếp tục chiến đấu, không chịunghe lệnh triều đình bởi vì đó là lẽ sống với đấc nước
Ngay sau khi hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862), toàn thể các tù nhân ở CônĐảo cùng nhân dân nơi đây đã nổi dậy chống bọn Pháp đồn trú Trước năm 1862,địch đã biến Côn Đảo thành nơi lưu đày các thủ lĩnh và các nghĩa quân yêu nước
Họ đều là các chiến sĩ dũng cảm với ý thức chính trị kiên định Cuộc khởi nghĩa nổ
ra dồn tên sĩ quan Pháp Rútxen (Rousse) vào tình thế lâm nguy Nhưng rồi tên đại
úy Risac (Richard) tới cứu viện và thực hiện một số cuộc tàn sát dã man Dẫu thấtbại nhưng cuộc nổi đậy đã mở ra một lich sử đấu tranh hào hùng của chí trị phạmCôn Đảo
Trang 22Sử triều Nguyễn chép tháng 7 Nhâm Tuất (8/1862), tức là sau khi hiệp ước được kí
kết: “ Từ khi hiệp ước đã thành, thông dụ cho Nam Kỳ nghỉ quân, đổi Trương Định về Phú Yên Khi ấy, những nhân dân ứng nghĩa ở Gia Định, Định Tường, Biên Hòa, không chịu theo Tây Dương, tụ họp đoàn kết, sau tôn Trương Định làm người là đại đầu mục, tâu bày xin ra đánh giặc Đình thần cho rằng việc miền Bắc đương khẩn mà việc miền Nam chưa có cơ hội Lại sau Phan Thanh Giản đi hiểu
dụ Trương Định lâu không đến nhận chức, bèn cách chức hàm”.
Tuy Trương Định tỏ thái độ thờ ơ, thậm chí đã kháng lệnh triều đình nhưngvua Tự Đức vẫn ẩn chứa đâu đó những ý kiến ủng hộ công cuộc kháng chiến của
Trương Định: Tháng 10 Nhâm Tuất (11/1862): “Phan Thanh Giản hằng dụ Trương Định, Trương Định thề không cùng giặc Tây Dương cùng sống Binh dân ứng nghĩa ở 6 tỉnh thuộc vào trong bộ ngũ của Trương Định đều cùng cầm cự chống lại giặcTây Dương Tướng nước phú chiêu dụ Định, Định không chịu khuất, Thanh Giản lại xin xuống sắc để dụ Định Vua bảo các thị thần rằng: lòng người như thế, cũng là một sự giúp cho cuộc mưu tính lấy lại, há lẽ nào cứ răn dụ lặt vặt mãi.”
Ngày 16/12/1862, dưới sự chỉ huy của Trương Định, nghĩa quân tiến hànhcuộc tổng tiến công Hầu như các đồn bốt của địch ở các vùng Gia Định, Biên Hòa,
Mỹ Tho đều bị tấn công Trận đánh lớn đầu tiên tiến công đền Rạch Tra trên đườnSài Gòn đi Tây Ninh, vào lúc đêm tối Nghĩa quân leo lên đồn, giết lính giặc, độtnhập vào trong đồn, giết chết đồn trưởng Turutđờ (Thouroude) bằng mác gỗ.Nghĩa quân thu được hầu hết khí giới đạn dược rồi rút lui
Trên sông Vàm Cỏ Đông, ba pháo thuyền của địch bị tấn công theo kinhnghiệm trận Nhật Tảo của Nguyễn Văn Lịch năm trước Bằng thuyền gỗ bắn đạibác, nghĩa quân tiến đánh pháo thuyền số 3 của địch, làm bị thương nặng tên sĩquan chỉ huy Nguyễn Văn Lịch cũng tấn công một pháo thuyền địch ở sông BếnLức
Trang 23Ở Mỹ Tho, hơn 1000 nghĩa quân đánh đồn Thuộc Nhiêu cách Mỹ Tho gần20km Đợt tổng tiến công này, nghĩa quân Trương Định giành được thắng lợi lớn,nhất là giành quyền kiểm soát nhiều vùng quan trọng, đẩy kẻ địch vào thế bị vâyép trên toàn chiến trường.
Nhưng từ năm 1863, địch được tăng viện đến hàng ngàn quân, chúng mởcuộc tổng tiến công vào các căn cứ quan trọng nhất của nghĩa quân Đàu tiên địchtập trung đánh Quy Sơn Trương Định bày kế dụ địch vào nơi bùn lầy và trận nàyđịch thiệt hại nặng nề, bị tiêu diệt nhiều tên, phải rút chạy
Thua trận Quy Sơn, địch tập trung đông quân hơn nữa đẻ tiến công vào căn
cứ chính của Trương Định là Tân Hòa Chúng chia làm 3 mũi đánh từ 3 mặt Mũithứ nhất do Đại tá Pie’trie từ mặt Tây Bắc đánh vào sông Rạch Lá và gặp sự kháng
cự quyết liệt của nghĩa quân đóng giữ Đông Sơn Mũi thứ 2 từ mặt Đông tức sôngXoài Rạp, gồm các chiến thuyền Tây Ban Nha Circe’ án ngữ vàm sông Gò Công,chiến hạm Forbin ở vàm sông Rạch Lá, chiến hạm Avalanche, chiến hạmDragonne cùng nhiều tàu tuần giang khác chặn ở phía Nam trên sông Cửa Tiểu(Tiền Giang) Mũi thứ 3 do đại tá Ariès chỉ huy tiến từ Mỹ Tho lên chợ Gạo, cóchiến thuyền yểm hộ Ngoài ra còn có 30 thuyền bọc sắt đưa các tốp lính theo cácrạch nhỏ tiến vào
Ngày 25/2/1863, địch cùng lúc tổng tiến công Hai tướng của Trương Định
là Đặng Kim Chung và Lưu Bảo Đường bị trúng đạn hi sinh Để phân chia lực
Trang 24An và Long Thành quanh Sài Gòn Nhưng vì sức chiến đấu công kiên của nghĩaquân chưa đủ trình độ áp đảo nên không đạt mục đích chiến lược Ngày 28/2/1863,địch chiếm được Tân Hòa, quân ta rút khỏi vòng vây, kéo về lập căn cứ ở PhướcLộc để tiếp tục chiến đấu Một số khác tản mát về phía rừng Biên Hòa, Thủ DầuMột, Tây Ninh, Đồng Tháp Mười, đoạn giữa đường Sài Gòn, Trảng Bảng và Vàm
Cỏ Đông Nghĩa quân lại tổ chức chuẩn bị quân lương, khí giới kết hợp với vậnđộng tuyên truyền nhân dân tham gia chiến đấu Về mặt chính trị, Trương Địnhtiếp tục phản đối yêu cầu giải giáp của địch qua Phan Thanh Giản Địch chỉ muốntriệt tiêu cuộc chiến đấu của nghĩa quân và lấy đó làm điều kiện cho việc trả thànhVĩnh Long Không những kiên quyết chiến đấu, Trương Định còn viết thư đòi phảitrả lại 3 tỉnh miền Đông và tổ chức những trận đánh nhỏ ở Biên Hòa, Tân An, MỹTho…và chuẩn bị lấy lại Tân Hòa Các Hoa kiều đã giúp Trương định mua súngđạn Ông còn đổi lúa gạo để lấy vũ khí Năm 1864, trong lúc chuẩn bị đánh lấy lạiTân Hòa, thì bộ hạ của Trương Định là Huỳnh Công Tấn phản bội, hắn đã dẫnđường dắt quân địch bao vây phục kích bí mật Trương Định cùng toán quân 25người tại làng Tân Phước Mờ sáng ngày 20/8/1864, cuộc chiến bất ngờ nổ ra,nhưng Trương Định cùng nghĩa quân chiến đấu rất dũng cảm, giết chết nhiều tênđịch Chẳng may Trương Định trúng một viên đạn bị gãy cột sống lưng, quyếtkhông để giặc bắt, ông dùng gươm tự sát Sau khi Trương Định hi sinh,con trai ông
là Trương Quyền đã dẫn một đội quân lên vùng Đồng Tháo Mười qua Tây Ninhgây cơ sở kháng chiến, sát cánh cùng người Khơme đánh giặc
Quang Quyền, trợ thủ đắc lực của Trương Định, tiếp tục cuộc chiến đấu,nhưng ông không đủ uy tín để tập hợp tấc cả các thủ lĩnh và hào trưởng các địaphương thành một khối thống nhất Ông phải rời đến Giao Loan, là nơi nghĩa quân
Trang 25cự được một thời gian thì nghĩa quân phải rút về Gia Loan, Gia Phú Cùng lúc đó
có một đội quân khác từ Biên Hòa tiến đánh Xuân Lộc, chiếm đồn Bào Cá, nơinghĩa quân có sự tham gia chiến đấu của nhiều Hoa Kiều Cuối tháng 1/1865,nghĩa quân rút hết về Bình Thuận (có tài liệu nói rằng sau này Chỉnh về đầu hànggiặc)
- Cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương:
Thiên Hộ Dương chiến đấu tại vùng Đồng Tháp Mười Sau khi Trương Định
hi sinh thì Thiên Hộ Dương (Võ Duy Đương) trở thành lãnh tụ chính ở vùng TiềnGiang, với căn cứ là Đồng Tháp Mười Đây là một vùng đầm lầy rộng mênh mông,dân cư thưa thớt, quanh năm ngập nước, rừng cây thấp nhưng đủ che phủ nghĩaquân Đường bộ không có, đi lại chỉ bằng thuyền Tàu to không đi được, muỗinhiều, đĩa lắm Tóm lại đó là một địa bàn thuận lợi cho chiến tranh du kích của dânbản địa, khó khăn cho địch từ ngoài vào dù với phương tiện hiện đại hơn ThápMười có vị trí chiến lược quan trọng, vì nó có thể liên lạc cùng lúc với Châu Đốc,Long Xuyên, Sa Đéc, Mỹ Tho, Tân An, Chợ Lớn, Tây Ninh và Campuchia TạiĐồng Tháp Mười, Thiên Hộ Dương xây dựng một hệ thống đồn lũy từ ngoài vàotrong chia ra các loại tiền hậu tả hữu để ứng cứu và yểm trợ lẫn nhau, quân số cótới hơn một vạn, gồm cả người Việt, người Hoa, người Miên Căn cứ tồn tại được
3 năm mà địch vẫn chưa dám kéo vào
Cuối tháng 3/1866, nghĩa quân kéo ra giành giật với địch vùng Cái Nứa.Tháng 4/1866, sau khi đã chuẩn bị kĩ, địch mở cuộc tấn công quy mô vào căn cứThiên Hộ Dương Địch chia 3 đạo: đạo thứ nhất do tên quan Boubé chỉ huy, xuấtphát từ Cầu Lố: đạo thứ 2 do quan tư Derome cầm đầu, xuất phát từ Mỹ Tho, trong
Trang 26Thiên Hộ Dương là một người đã lăn lộn nhiều năm ở các tỉnh miền Tây.
Từ tháng 5/1861, triều đình Huế đã cử một đoàn vào mộ quân ứng nghĩa ở ba tỉnhmiền Tây Trong đoàn này có mặt Chánh bát phẩm Thiên hộ Võ Duy Dương Kể
từ đây ông đã hoạt động đánh Pháp cùng Trương Định Sau khi rút khỏi căn cứĐồng Tháp Mười, Võ Duy Dương đem quân phối hợp với con của Trương Định làTrương Quyền và thủ lĩnh người Campuchia là A Soa tiếp tục đánh Pháp nhiềutrận Thực ra Viện Cơ Mật ở Huế thường có ý định liên lạc và khuyến khích cáchoạt động chống Pháp để tìm cách giành lại mấy tỉnh đã mất Vì vậy, một cách bímật, người của triều đình vẫn liến hệ với Võ Duy Dương cũng như Trương Quyền,
kể cả A Soa Nhưng Tự Đức lại quyết thực hiện yêu càu của Pháp: Tháng 6 Bính
Dần (7/1866): “Bấy giờ chủ súy Pháp thường cho là: 3 tỉnh vẫn chứa dấu tên Thiên Hộ Dương cho mượn khí giới giúp việc chính chiến để làm cớ nói Cơ mật thần xin tư cho kinh lược thần là Phan Thanh Giản, tùy nghi xử trí, bí mật tỏ bày tình khoảng, để làm cái cớ gìn giữ” Ba tháng sau, không rõ vì lý do gì triều đình
Trang 27và cấp cho ngựa về kinh, chứ không ở lại đấy: Tháng 9 Bính Dần (10/1866):
“Trước Nguyễn Hữu Cơ đến lỵ sở, đi Gia Định bảo sứ Pháp rằng: bè lũ Võ Duy Dương nên cho ra thú dồn đi khai khẩn, khi đến Vĩnh Long đem việc ấy nói kín với Phan Thanh Giản, bèn tự cho các tỉnh Vĩnh Long, Gia Định, An Giang, Hà Tiên và các tỉnh từ Bình Thuận trở ra Bắc, phàm bè luc Duy Dương đều cho ra thú đí khẩn hoang Lại xin sắc tuần phủ Bình Thuận, Khánh Hòa hễ thấy tên Dương, tên Tuệ thì đem đổi tên cấp ngựa cho trạm về kinh, phái đi nơi khác cho hết điều tiếng”.
Phan Thanh Giản không tán thành với Nguyễn Hữu Cơ, vì ông luôn có ýnghĩ như Tự Đức, nên tâu với Tự Đức việc này Nguyễn Hữu Cơ bị giáng hai cấp.Tuy nhiên, việc Thiên Hộ Dương trở ra Bình Thuận vẫn được thực hiện Nhưngrồi triều đình ngay trong tháng 10/1866, được tỉnh thần Thuận Khánh báo rằng:
“Duy Dương đi thuyền về tỉnh Bình Thuận đầu thú gặp gió bị đắm ở phận biển Thần Mẫu, sai tìm xác, chi đồ vật đem chôn, cấp cho mẹ hắn mỗi tháng 5 quan tiền, 1 phương gạo”.
Rõ ràng Võ Duy Dương chết đột ngột khi đang thực hiện một dự định nào
đó với triều đình để đánh giặc hữu hiệu hơn Có điều chắc chắn là lúc này Vial vữatới Huế đòi lấy 3 tỉnh miền Tây Có thể Võ Duy Dương về kinh nhằm đối phó việcnày
- Những cuộc chiến đấu liên minh của nghĩa quân Việt Nam và Campuchia:
Trước hết phải nhắc đến A Soa mà sử thần triều Nguyễn ghi tên là OngBướm, là con vua Campuchia Tháng 6/1864, không chịu nền bảo hộ của Pháp vàcũng muốn tranh chấp binh quyền với anh là Ong Lằn, nên A Soa lánh sang vùngThất Sơn, Châu Đốc, miền Tây Nam Kỳ, nơi có rất đông đồng bào Khơ me sinh
sống Ông trình lên triều đình Huế ý định “quy thuận nước ta để nương nhờ Tỉnh
Trang 28thần An Giang tâu lên, chuẩn cho lưu trú, nhưng bảo cho đầu mục Miên biết” Sau
đó A Soa “mộ dân, dựng đòn cùng với Ong Lằn tranh giành đánh nhau Lằn cầu
cứ chủ Súy Pháp, chủ súy Pháp yêu cầu ta bắt giao lại” Vì thế, triều Huế sợ hãi ra
lệnh cho các tỉnh miền Tây phải nghiêm ngặt cự tuyệt A Soa, không cho ở lại đấtViệt (kể từ tháng 10/1865) Chính vì vậy, thực thi lệnh triều đình, Tổng đốc An Hà
là Phan Khắc Thuận đã đánh úp Ong Bướm ở núi Tốn thuộc An Giang, bắt được tên thổ mục và lọng súng ngựa voi Sai chém đầu tên đầu mục rồi làm tờ tư giao cho chủ súy Pháp nhận thi hành” Sự việc xảy ra vào tháng Chạp Ất Sửu (1/1866)
đã đẩy A Soa vào một tình thế nguy nan Cũng chính vào lúc này, quan quân triềuđình đã làm một việc hết sức nhẫn tâm là bắt A Soa nộp cho Pháp Phải nói rằngtrong số quan lại An Giang không phải ai cũng mê muội như thế: Tháng 6 Bính
Dần (7/1866): “ Tổng đốc An Hà bị cách là Phan Khắc Thuận, bắt được A Soa ở Thất Sơn (thuộc An Giang) giải giao cho chủ súy Pháp, trong khi đí đường gặp Nguyễn Hữu Cơ, Hữu Cơ sức bảo đem trở lại, nhưng Trương Văn Uyển sợ sinh ra trở ngại khác, 2, 3, lần tư giục, bèn giải giao cho Pháp”.
Dẫu sao giữa nhân dân 2 nước Việt Nam-Campuchia, A Soa là người đầutiên thắt mối liên minh chiến đấu Lịch sử liên minh chiến đấu Việt-Campuchiacòn tiếp nối mạnh hơn giữa Trương Quyền và Pôcumbao
Pôcumbao cũng là một hoàng thân Campuchia và cũng có kỳ vọng vươngquyền Do nạn tranh quyền trong vương triều Uđông, ông phải lánh sang miềnNam Lào trong 17 năm Tháng 4/1865, một số nhà yêu nước Campuchia tìm kiếmPucômbô để lập thủ lĩnh Thực dân Pháp biết được điều này nên cho tên chủ tỉnhTây Ninh Larclause tìm bắt Pucômpô về Tây Ninh rồi về Sài Gòn để kiểm soátnhưng vào tháng 5/1866 ông được giải thoát với sự giúp đỡ của những nhà ái quốcViệt Nam
Trận đánh đầu tiên diễn ra vào ngày 7/6/1866, tại Tây Ninh, giết chết tên chủtỉnh Larclause