1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sinh kế của người dao trong quá trình hội nhập và phát triển – trường hợp người dao đỏ ở tả phìn

94 401 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 4,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu nàyđược đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên ngành, luận văn, luận án cũng nhưcác sách chuyên ngành mang tính lí luận : Bế Viết Đẳng với “Các dân tộcthiểu số trong sự p

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sinh kế là hoạt động tất yếu của con người để tồn tại, là cách thức conngười tác động vào tự nhiên , môi trường để tạo ra của cải vật chất đảm bảocuộc sống mưu sinh Tuy nhiên sinh kế của mỗi tộc người khác nhau khônghoàn toàn giống nhau, trong một nước sinh kế tộc người thể hiện trình độ pháttriển của quốc gia đó

Nước ta là nước đang phát triển, tỉ lệ nghèo đói còn khá cao nhất là cácdân tộc thiểu số phân bố tới 3/4 diện tích lãnh thổ, ở vùng xa xôi hẻo lánh.Các chiến lược ổn định phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của nước tatrong đó có vấn đề sinh kế tộc người luôn được Đảng đặt lên hàng đầu Thực

tế cho thấy công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền núi trong mấy chụcnăm qua là thành tựu thực hiện của chính sách dân tộc

Thực trạng các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay đang ngày càng pháttriển, khẳng định mục tiêu mà Đảng ta hướng tới và con đường Đảng đã lựachọn cho các dân tộc thiểu số là hết sức đúng đắn

Để thực hiện mục tiêu xã hội nhanh chóng xóa đói giảm nghèo, ổnđịnh cuộc sống, phát triển kinh tế - xã hội Đảng đã áp dụng nhiều chínhsách mang tầm chiến lược đối với vùng miền núi và dân tộc thiểu số.Nhưng thực tế một số chương trình chính sách do còn thiếu tính lí luận vàthực tiễn nên chưa đạt được kết quả như mong muốn Vì vậy nghiên cứumột cách cơ bản các vấn đề kinh tế - xã hội của các dân tộc trong quá trìnhchuyển đổi hiện nay là rất cấp thiết

Trong những năm gần đây cùng với công nghiệp hóa – hiện đại hóa,quá trình đô thị hóa và phát triển du lịch đang được đẩy mạnh ở miền núi cónhiều tiềm năng và các dân tộc thiểu số Vì vậy không tránh khỏi những tácđộng tới giá trị văn hóa, xã hội và sinh kế của các dân tộc nơi đây Trên cơ sở

Trang 2

thực tế đó tôi đã chọn sinh kế của tộc người trong quá trình hội nhập và pháttriển để tìm hiểu và nghiên cứu.

Những vấn đề mà tôi trình bày trong khóa luận là kết quả một thángnghiên cứu thực địa tại cộng đồng người Dao đỏ ở Tả Phìn – Sa Pa – Lào Cai.Qua đó đưa ra cái nhìn khái quát nhất về bức tranh sinh kế của người Dao đỏ

ở Tả phìn nói riêng và Sa Pa nói chung trong quá trình phát triển và hội nhậphiện nay Đặc biệt dưới tác động của du lịch thì những sinh kế mới nào đượccộng đồng Dao đỏ xác lập và tiếp nhận Nó có tác động như thế nào đến đờisống, văn hóa, xã hội của người Dao, tạo ra những cơ hội, thách thức gì chongười dân địa phương phát triển kinh tế - xã hội

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề sinh kế tộc người từ trước tới nay đã là tâm điểm nghiên cứucủa nhiều ngành khoa học : Kinh tế học, xã hội học, lịch sử, triết học….đượcnhìn nhận dưới khía cạnh hoạt động kinh tế của tộc người, là công trình củacác tổ chức, cá nhân, các nhà hoạch định chính sách Những nghiên cứu nàyđược đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên ngành, luận văn, luận án cũng nhưcác sách chuyên ngành mang tính lí luận : Bế Viết Đẳng với “Các dân tộcthiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội miền núi” (1996), hay như

“Nghiên cứu về định canh, định cư ở Việt Nam” của tổ chức Quốc tế AnhDFID … Các nghiên cứu này đã nêu lên được thực trạng kinh tế của các tộcngười thiểu số, sản xuất và sinh kế của các dân tộc trong thời kì chuyển từ ducanh du cư sang cuộc sống ổn định

Tuy nhiên không có một phông chung khi nghiên cứu bức tranh sinh kế tộcngười Mỗi nhóm tài liệu lại có cái nhìn riêng về hoạt động kinh tế của các dân tộc

Các nhà hoạch định chính sách chủ yếu tập trung nghiên cứu để nhằmmục tiêu vạch ra các chính sách xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vậtchất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc

Trang 3

Các nhà kinh tế lại nhìn hoạt động kinh tế của đồng bào các dân tộcthiểu số trong tình trạng kém phát triển, còn lạc hậu.Vì vậy cần đưa tiến bộkhoa học kĩ thuật, cũng như đầu tư các giống mới chuyển đổi cơ cấu câytrồng vật nuôi, tăng năng suất Cũng như chú ý phát triển kinh tế hàng hóa ởmiền núi gắn với chiến lược con người.

Một số tổ chức và các cá nhân nghiên cứu tình hình kinh tế của các dântộc miền núi để đầu tư nhằm khai thác tiềm năng đem lại lợi nhuận

Như vậy, vấn đề này đã được phản ánh một cách khái quát trong từngnhóm dân tộc, tập trung trong các tài liệu nghiên cứu khá phong phú

Người Dao ở nước ta đứng vào hàng thứ 6 so với các dân tộc thiểu số ởMiền Bắc, sinh kế của người Dao được phản ánh dưới khía cạnh các hình tháikinh tế bao gồm nông nghiệp, kinh tế phụ gia đình, mua bán và trao đổi hànghóa Nhưng chủ yếu là hoạt động sinh kế truyền thống như trong bài “Trithức địa phương trong sử dụng thuốc nam của người Dao đỏ” của tác giả TrầnThị Hồng Hạnh đăng trên tạp chí Dân tộc học số 5 (2002), đề cập tập quánlên rừng lấy thuốc nam về chữa bệnh cho gia đình cũng như cho cộng đồnglàng bản, là tập quán có từ lâu đời của tổ tiên người Dao Nhưng nay trongquá trình chịu sự tác động của du lịch hiện nay lấy thuốc nam để bán chokhách du lịch thành phổ biến, trở thành một nghề kiếm thêm thu nhập thìchưa nghiên cứu nào đề cập tới

Gần đây nhất nghiên cứu của Phạm Thị Mộng Hoa và Lâm Thị MaiLan về “Du lịch với dân tộc thiểu số ở Sa Pa” cũng đề cập tới khía cạnhnhững tác động kinh tế - xã hội của du lịch đối với dân tộc thiểu số ở Sa Patrong đó có cả đối tượng là người Dao đỏ ở Tả Phìn Ngoài ra, cũng phải kểtới luận văn “Tác động của du lịch lên đời sống một số tộc người ở Sa Pa LàoCai” của Trần Thị Huệ (2004) Trong trường hợp này các dân tộc thiểu số đều

bị đặt vào vị trí là khách thể bị động trước làn sóng du lịch, mới nảy sinh

Trang 4

những sinh kế này, chứ chưa đề cập mặt chủ thể mà chính dân tộc đó chủđộng tham gia vào hoạt động kinh doanh hay tiếp cận thị trường, tự kiếm cơhội và sinh kế mới để phát triển nên đây cũng là khoảng trống còn để ngỏ cầnphải được quan tâm nghiên cứu.

Khi đề cập tới Sinh kế một tộc người cụ thể, mới chỉ có nghiên cứu củatác giả Trần Mai An với “Sinh kế người Cơ Tu : Khả năng tiếp cận và cơ hộinghiên cứu trường hợp ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên – Huế” (2006)

và “Sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên rừng của người Tà Ôi (Pacoh) ở thônPhú Thượng, xã Phú Vinh, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế trong bốicảnh hiện nay” (2004) của Nguyễn Xuân Hồng Tuy vậy các nghiên cứu trêncũng đã giúp tôi bước đầu định hướng được cách tiếp cận khi nghiên cứu

“Sinh kế của người Dao trong quá trình hội nhập và phát triển – trường hợpngười Dao đỏ ở Tả Phìn (Sa Pa)” để thấy được những đổi mới trong bức tranhsinh kế truyền thống , cũng như sự góp mặt của sinh kế mới mà người Dao đỏ

ở Tả phìn nói riêng và người Dao ở Sa Pa nói chung là hết sức phổ biến, nằmtrong quy luật của sự phát triển

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong những năm gần đây, kể từ khi người Dao đỏ ở Tả Phìn có thêmnguồn thu nhập từ du lịch bổ sung thêm vào bức tranh sinh kế truyền thống,đời sống dường như được cải thiện rất nhiều, từ sinh kế thuần nông nay thêmsinh kế dịch vụ cho thấy chuyển biến đáng kể, tích cực Nên người Dao đỏ ở

Tả Phìn – Sa Pa là chủ thể, là đối tượng tập trung nghiên cứu của tôi, để cócái nhìn toàn diện và giải đáp các vấn đề cụ thể sau :

+ Những biến đổi bức tranh sinh kế truyền thống của Người Dao đỏdiễn ra như thế nào?

+ Sinh kế mới mà người Dao tìm kiếm và xác lập là dựa trên tiền đềnào? Nó đã được tiếp nhận theo chiều hướng nào, bằng cách nào?

Trang 5

+ Những hệ quả của quá trình chuyển đổi sinh kế ra sao, đặt ra cơ hội vàthách thức gì mà tộc người phải đối diện để phát triển kinh tế - xã hội hiện nay?

Những kết quả nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi một xã – TảPhìn (Sa Pa)

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Ngoài việc thu thập và sử lí các nguồn tài liệu thành văn và khôngthành văn về tộc người Dao đỏ, các bài báo, tài liệu, sách, công trình nghiêncứu có liên quan tới đề tài Tôi cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu cơ bảncủa Dân tộc học – Nhân học đó là điền dã Dân tộc học bao gồm :

+ Phương pháp điều tra thu thập thông tin từ các hộ gia đình bằng bảnghỏi, các hộ có thành viên tham gia hoạt động du lịch và thu nhập từ sinh kếmới.Một số tổ chức, nhóm xã hội ở địa phương như Câu lạc bộ Thổ cẩm,Công ty tắm thuốc dân tộc Dao đỏ

+ Tiến hành phương pháp phỏng vấn sâu đối với các đối tượng khácnhau như trưởng thôn, những người bán hàng thổ cẩm cho khách du lịch,người già, lãnh đạo địa phương là người dân tộc và cán bộ huyện nằm vùng,hội phụ nữ để có thông tin cần thiết và cụ thể nhất về hoạt động kinh tế cũngnhư sự hòa nhập vào nhịp độ phát triển du lịch mạnh mẽ của người Dao đỏnơi đây

+ Phương pháp quan sát tham dự - phương pháp kinh điển trongnghiên cứu Dân tộc học cũng được sử dụng tối đa Vì muốn hiểu và thuthập thông tin xác thực nhất về cuộc sống của người Dao đỏ trong hoàncảnh hiện nay thì không gì hơn là cùng ăn, cùng ở, cùng tham gia cáchoạt động hàng ngày của họ Vì vậy tôi đã đến ở tại một gia đình ngườiDao đỏ ở đội 1 – Sả Xéng –Tả Phìn , từ đó giúp tôi định hướng và tiếpcận với các hộ gia đình hiệu quả hơn

Trang 6

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phụ lục và kết luận, khóa luận : “Sinh kế tộc người trong quá trình hội nhập và phát triển – nghiên cứu trường hợp người Dao đỏ ở Tả Phìn , Sa Pa, Lào Cai” được trình bày thành ba chương:

Chương 1: Tổng quan về xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Chương 2: Sinh kế truyền thống của người Dao đỏ ở Tả Phìn

Chương 3: Sự chuyển đổi sinh kế tộc người trong quá trình hội nhập

và phát triển.

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XÃ TẢ PHÌN, HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI

Sa Pa nằm ở độ cao 1600m so với mặt nước biển được mệnh danh nhưmột “Đà Lạt” ở phía Tây Bắc, một vùng đất khiêm nhường lặng lẽ như ẩnchứa bao điều kì diệu của cảnh sắc thiên nhiên Phong cảnh thiên nhiên của

Sa Pa kết hợp với sức sáng tạo của con người, cùng với địa hình của núi đồi,màu xanh của rừng như bức tranh có sự sắp xếp theo bố cục hài hòa tạo nêncho vùng có nhiều cảnh sắc hấp dẫn, thơ mộng chìm trong làn mây bồng bềnhlàm cho thị trấn Sa Pa như một thành phố trong sương huyền ảo vẽ lên bứctranh sơn thủy hữu tình Chính vì vậy mà từ những năm 30 chủ thế kỉ trước

Sa Pa đã được người Pháp chọn làm điểm du lịch nghỉ dưỡng với những ngôinhà biệt thự sang trọng và những con đường lát đá thơ mộng giữa những vườnđào, vườn mận chi chít hoa mỗi độ xuân về

+ Phía Bắc giáp huyện Bát Sát

+ Phía Đông giáp huyện Bảo Thắng

+ Phía Nam giáp huyện Văn Bàn

+ Phía Tây giáp huyện Than Uyên, Phong Thổ (Lai Châu)

Sa Pa nằm ở chân núi Phan xi păng với đỉnh cao 3.143m, có khu bảotồn thiên nhiên Hoàng Liên là một trong những khu vực đầu tiên được ghitrong hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam được chính thức chuyển thành vườnquốc gia Hoàng Liên theo quy định số 90/2002/QĐ-TTG của thủ tướng chínhphủ với tổng diện tích 29.845ha

Trang 8

HÌNH 1.1 : BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN SA PA

Vị trí xã Tả Phìn trên bản đồ

Trang 9

Xét về vị thế kinh tế, Sa Pa là lãnh thổ trung chuyển quan trọng của 2vùng địa lí kinh tế Tây Bắc và Đông Bắc qua đèo Hoàng Liên, có hành langkinh tế quan trọng Hòa Bình-Sơn La-Điện Biên và Hà Nội-Vĩnh Phúc- YênBái- Lào Cai- Trung Quốc Sa Pa còn gần các điểm du lịch hấp dẫn thuộctuyến du lịch Điện Biên- Mường Lay- Lai Châu, cửa khẩu quốc tế Lào Cai vàtuyến biên giới Hà Khẩu (Trung Quốc) tạo lợi thế tiếp nhận du lịch trong cảnước tới tham quan Nhờ vị thế như vậy mà Sa Pa nằm trong 4 chương trình35VN-VN78 theo tuyến du lịch Tây Bắc là Hà Nội-Lào Cai- Sơn La- LaiChâu thuộc chương trình du lịch toàn quốc.

Địa hình, diện mạo của Sa Pa bị chia cắt bởi dãy núi phan Xi păng vớiđỉnh cao nhất 3143m, thấp nhất 400m suối Bo độ cao trung bình từ 1500-1800m so với mực nước biển, độ dốc lớn trung bình 350-400 có những nơi độdốc trên 450 do vậy mà đã cản trở sự phát triển giao thông, hạn chế phát triểnkinh tế và giao lưu với bên ngoài của huyện Sa Pa

Nhưng mặt khác Sa Pa lại được hưởng lợi thế từ khí hậu, do nằm sátchí tuyến trong vành đai Á nhiệt đới bắc bán cầu nên Sa Pa mang sắc tháinhiệt độ ôn đới với nhiệt độ trung bình từ 15- 180c, số giờ nắng trung bìnhhàng năm biến động trong khoảng 1400 – 1600h, độ ẩm 85 – 90% và lượngmưa trung bình 2762mm/năm Chính nhờ đặc điểm này mà tạo cho Sa Pa cókhí hậu mát mẻ quanh năm thuận lợi phát triển du lịch và trồng cây ôn đới

Sa Pa có hệ thống sông suối dày trung bình 0.7- 1.0/km2, đặc điểm sôngsuối có lòng hẹp, dốc, thác ghềnh nhiều Có thể nói tài nguyên nước của Sa Paphong phú nhưng do núi cao và dốc nên bao nhiêu nước cũng chảy đi hết gâynhiều khó khăn về nước sản xuất và đời sống tại các xã vùng cao

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 67,864ha (100%) trong đó đấtNông nghiệp 5.072,14 ha (chiếm 7,5% ), đất lâm nghiệp 34.883,25 ha

Trang 10

(51,4%) trong đó 28.010 ha là đất rừng tự nhiên có trữ lượng 20m3gỗ, đấtchuyên dùng 858,06 ha (1,2%), đất thổ cư 223,33 ha (0,3%), đất chưa sử dụng26.827,22 ha (39,6%).

Nhìn chung diện tích đất của huyện chủ yếu là các loại đất “Feralit mùnvàng đỏ trên núi cao từ 700-1700m, đá mẹ chủ yếu là đá Branit thuộc nhómmắc ma axit Ngoài ra còn có đất mùn A lít trên núi cao, đất mùn thô than bùnphù hợp với các loại cây trồng vì vậy mà cây trồng chính là lúa, ngô, đậutương, cây làm thuốc ( thảo quả, đỗ trọng, sa nhân), cây ăn trái (mận, đào, lê),hoa Đây là thế mạnh phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Bảng 1.1: T ng s n lổng sản lượng lương thực cây có hạt một số năm ản lượng lương thực cây có hạt một số năm ượng lương thực cây có hạt một số nămng lương thực cây có hạt một số nămng th c cây có h t m t s n mực cây có hạt một số năm ạt một số năm ột số năm ố năm ăm

vụ, ngô trồng chủ yếu trên đồi năng suất còn thấp, chế biến còn gặp nhiều khókhăn Mặc dù là huyện vùng cao nhưng số lượng trâu, bò không tăng, đàn lợn

có tăng nhưng trọng lượng xuất chuồng không cao, tỉ lệ “Lợn cắp nách” (10

-15 kg/ con) cao

Trang 11

Bảng1 3: Tình tr ng ói nghèo huy n Sa Paạt một số năm đói nghèo huyện Sa Pa ện Sa Pa

(Nguồn: Ban nội vụ huyện Sa Pa, tháng 4 / 2008)

Bảng1 4: T l ói nghèo c a các dân t c huy n Sa Pa ỷ lệ đói nghèo của các dân tộc huyện Sa Pa đến tháng 12/2006 ện Sa Pa đói nghèo huyện Sa Pa ủa các dân tộc huyện Sa Pa đến tháng 12/2006 ột số năm ện Sa Pa đói nghèo huyện Sa Paến tháng 12/2006n tháng 12/2006

Sa Pa có dân số toàn huyện là 43.600 người (2005) với mật độ dân sótoàn huyện 63 người/km2 Trong đó ở thành thị 221người/km2, nông thôn 58người/km2, thậm chí có xã mật độ dân số chỉ có 34 người/km2 ( Tả Van) Sa

Pa có nhiều dân tộc cư trú và sinh sống nhưng tập trung chủ yếu 6 dân tộc:Mông (chiếm 52,31%), Dao ( 25,37%), Tày (5,18%), Giáy (1,64%), Kinh(14,1%), Xá Phó ( 1,25%) Nhìn chung họ cư trú theo từng cụm dân với từngtộc người, có xã có tới 2 – 3 tộc người nhưng họ sống riêng biệt không sốngchung giữa tộc người này với tộc người kia

Mặc dù đã trải qua những bước thăng trầm của lịch sử nhưng đồng bàovẫn giữ được bản sắc văn hóa riêng mang nét đặc trưng của dân tộc mình như:

Trang 12

Lễ “róong pọoc” của người Giáy, lễ “ Sải sán” ( đạp núi) của người Mông, “lễtết nhảy” ( tết hàng năm) của người Dao đỏ Đây là nguồn tài nguyên nhânvăn vô giá cho Sa Pa bước vào phát triển và hội nhập

( Nguồn: UBND huyện Sa Pa, 4 / 2008)

Sự đa dạng thành phần dân tộc khiến cho Sa Pa đa dạng sắc màu vănhóa kết hợp với tài nguyên thiên nhiên phong phú là một thế mạnh để Sa Pađẩy mạnh phát triển kinh tế trên tất cả các lĩnh vực: Nông – Lâm nghiệp,Công nghiệp – Xây dựng, Dịch vụ - Du lịch theo phương châm “Lấy kinh tếNông – Lâm nghiệp làm trọng tâm, đẩy mạnh phát triển công nghiệp – xâydựng và coi du lịch – dịch vụ là then chốt” ( UBND huyện Sa Pa)

Thực hiện phương châm này dưới sự lãnh đạo của Đảng các dân tộchuyện Sa Pa đang cùng nhau chung sức phát triển kinh tế từng bước thoátkhỏi đói nghèo, nâng cao đời sống, tăng thu nhập.Trong những năm gần đâychính sách đầu tư cho đồng bào các dân tộc đã tạo động lực cho họ phát triểnkinh tế, tự vươn lên không còn tình trạng đốt phá rừng sống du canh du cư,cuộc sống ngày càng ổn định

- Mục tiêu đến năm 2010 của Sa Pa :

Trang 13

- Tỉ lệ hộ đói nghèo tiêu chí mới là dưới 25%

Đơn vị hành chính của Sa Pa hiện nay gồm 18 đơn vị hành chính trong

đó có một thị trấn và 17 xã: Hầu Thào, Bản Phùng, Tả Phìn, Nậm sài, ThanhPhú, Sa Pả, Lao Chải, Trung trải, Thanh Kim, Bản Hồ, Sử Pán, Suối Thầu, TảVan, Bản Khoang, Tả Giàng Phình, Nậm Cang, San Sà Hồ Mỗi xã có một vịthế riêng nhưng trong đó các xã: San Sả Hồ, Tả Phìn, Tả Van, Hầu Thào, Bản

Hồ có thế mạnh về du lịch làng bản tập trung những nét văn hóa đặc trưngcủa 4 dân tộc lớn ở Sa Pa: Bản Hồ ( Người Tày), Tả Phìn ( Người Dao), San

sả Hồ ( Người Mông), Tả Van ( Người Giáy) Nơi đây hấp dẫn du khách bởilọai hình du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng

Số lượng khách du lịch đến Sa Pa không ngừng tăng Năm 2005 Sa Pađón 200.024 lượt khách tăng 20% so với năm 2004 trong đó khách nội địa136.700 lượt và khách quốc tế 63.324 lượt Lượng khách du lịch lưu trú quađêm tại Sa Pa là 178.905 lượt (115.581 lượt khách nội địa, 63.324 lượt kháchquốc tế) đến từ 81 quốc tịch khác nhau bao gồm : Pháp, Australia, Canada, HàLan, Trung Quốc… tốc độ tăng trưởng mạnh 58% Riêng năm 2005 có55.501 lượt khách quốc tế đi tham quan du lịch làng bản trên địa bàn : Tả Van

có 10.597 lượt khách lưu trú Bản Hồ 4.543 lượt khách lưu trú, Thanh Phú

989 lượt khách, Thanh Kim 289 lượt, Tả Phìn 17 lượt, Sín Chải 20 lượt ngoàicác cơ sở lưu trú trên địa bàn thị trấn phát triển mạnh cả về chất và lượng thìcác cơ sở lưu trú ở các làng du lịch cũng được mở rộng (UBND huyện Sa Pa)

Bảng1 6: Bảng thống kê số hộ kinh doanh nhà nghỉ ở m t s xãột số năm ố năm

doanh (đv :Hộ)

Trang 14

(Nguồn : Phòng Thương mại – du lịch huyện Sa Pa)

Như vậy, du lịch đã sớm trở thành thế mạnh là ngành kinh tế trọngđiểm chiếm tỉ trọng GDP cao của huyện tạo tiền đề phát triển kinh tế củahuyện nói riêng và của tỉnh nói chung Năm 2007 là năm đón nhận nhiều sựkiện trọng đại trong đó đáng chú ý nhất là sự thành công của Đại Hội ĐạiBiểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và Việt Nam chính thức trở thành thànhviên của tổ chức thương mại quốc tế (WTO) Điều đó càng tạo bước đột phácho du lịch Sa Pa trong nền kinh tế hội nhập và phát triển như hiện nay

Bảng 1.7 : C c u kinh t c a huy n n m 2005ơng thực cây có hạt một số năm ấu kinh tế của huyện năm 2005 ến tháng 12/2006 ủa các dân tộc huyện Sa Pa đến tháng 12/2006 ện Sa Pa ăm

(Nguồn : UBND huyện Sa Pa)Năm 1903 Sa Pa chính thức được ghi trên bản đồ Việt Nam, năm 2008

Sa Pa kỉ niệm 103 năm có tên Sa Pa Kể từ đó tới nay trải qua nhiều nămtháng Sa Pa ngày nay đã và đang thay da đổi thịt ( Từ một huyện nghèo dầntiến tới 1 huyện giàu có) nhiều nhà hàng, khách sạn, chợ phiên, làng du lịchsinh thái đang được hình thành

Trang 15

Ngay sau khi chiếm được Sa Pa năm 1886, chúng đã đặt ách thống trịtại mảnh đất giàu tiềm năng này.Từ đó tới năm 1954 người Pháp cũng pháttriển hệ thống nông nghiệp chăn nuôi và cây ăn quả Á nhiệt đới đặc sản trênđồn điền Viô (nông trường Sa Pa ngày nay), Pheniét, Tắkkô, Magne Nhưngcộng đồng dân tộc thiểu số không được hưởng lợi từ sự phát triển này Đờisống của người dân vẫn chủ yếu là canh tác nương rẫy, theo phương thức ducanh du cư.

Thời kì hợp tác hóa nông nghiệp : 1954-1970 hoạt động nương rẫy

vẫn là hình thức chính Nhóm người Kinh, Tày, Giáy có hệ thống sản xuấtcây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày (bông, lạc cố định) còn ngườiMông, Dao, Xá Phó vẫn sống du canh du cư Chính sách cải cách ruộng đấttrong giai đoạn này làm xuất hiện tổ đổi công và hợp tác hóa nông nghiệp.Bao gồm :6 xã Thanh Phú, Lao Chải, Bản Khoang, Tả Phìn, Trung Trải vàThị trấn (1958) Hệ thống ruộng bậc thang tiếp tục phát triển và tăng diệntích dưới tác động của nghị quyết II (1962) và nghị quyết III (1963), mạnhnhất là ở Lao Chải và Sa Pả từ 510 ha (1952) tăng lên 776 ha (1965) Diệntích rừng được người Mông và Dao sử dụng phát triển Thảo quả ở Tả Van,

Tả Giàng Phình,Tả Phìn, San Sả Hồ, Bản Khoang với tổng diện tích là8,1ha (1960) quy đổi

Thời kì củng cố hợp tác xã (1970-1986) với chính sách xây dựng

vùng kinh tế mới và vùng chuyên canh củng cố hợp tác xã (1971) và nghịquyết TW phát triển lâm nghiệp đã làm tăng diện tích trồng Thảo quả lên 400

ha (1980)

Thời kì đổi mới từ 1986 tới nay : Chính sách giao đất, giao rừng, chính

sách mở cửa của nhà nước có vai trò thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh,xuất hiện mô hình kinh tế gia đình và trang trại, việc làm nương rẫy giảm,

Trang 16

ruộng bậc thang tăng 817,3 ha (1980) đến 2.225 ha (2005) Tuy nhiên dân cưvẫn sống dựa chặt chẽ vào sản phẩm của rừng.

Năm 1993 dưới tác động chính sách mở cửa đón khách du lịch ViệtNam, cảnh quan du lịch truyền thống được khai thác và mở rộng tới tận cáclàng bản xung quanh với những điểm du lịch kì thú và đặc sắc tác động khôngnhỏ tới đời sống kinh tế của các dân tộc nơi đây Trong thời kì này có sựchuyển đổi quan trọng về phương thức sản xuất : Ruộng lúa nước bậc thang làphương thức canh tác được người dân ưu tiên hơn là canh tác nương rẫy kémhiệu quả

Như vậy, người Pháp có vai trò tiên phong khai thác lãnh thổ Sa Pa chomục đích phát triển nông nghiệp, quy mô trang trại và du lịch nghỉ dưỡng có

cơ sở khoa học Tuy nhiên mục đích khai thác của người Pháp chỉ mang lạilợi ích cho mẫu quốc, còn các dân tộc thiểu số hầu như không được hưởngvẫn sống trong cảnh nghèo nàn lạc hậu Việc hình thành du lịch làng bản có

từ thời Pháp thuộc vào đầu thế kỉ XX và được khôi phục lại từ 1993 ngày

càng khẳng định sức hút lớn về Tài nguyên nhân văn đối với khách du lịchquốc tế

1.2 Tổng quan về xã Tả Phìn

Đã từ lâu Tả Phìn trở thành một địa danh rất đỗi quen thuộc với bất cứ

du khách nào khi tới Sa Pa Tả Phìn gợi cho ta liên tưởng tới mảnh đất nơi đồicao heo hút gió ngàn, quanh năm sương mù bao phủ

Tả Phìn là một xã vùng cao nằm ở phía Bắc huyện Sa Pa, 4 mặt tiếpgiáp với các đơn vị hành chính cấp xã trong và ngoài huyện Sa Pa:

Phía Đông giáp Trung Chải – Sa PaPhía Nam giáp Sa Pả - Sa Pa

Phía Tây giáp Bản Khoang – Sa PaPhía Bắc giáp Phìn Ngang – Bát Sát

Trang 17

Nằm ở độ cao trung bỡnh 1300m nờn khớ hậu của Tả Phỡn nằm trongphụng chung của khớ hậu huyện Sa Pa mang đặc tớnh khớ hậu giú mựa trờn nỳi

cú mựa đụng rột, mựa hố mỏt, nhiệt độ trung bỡnh từ 15-160c, độ ẩm tương đốicao 86%, lượng mưa trung bỡnh 2901mm/năm, với chế độ mưa này đỏp ứngnhu cầu về nước sinh hoạt và hoạt động sản xuất của người dõn

Ngoài những yếu tố thời tiết chung Sa Pa cũn cú những hiện tượng thờitiết đặc biệt thường xuyờn xuất hiện : Sương mự, băng giỏ,dụng,mưaphựn,sương muối, mưa đỏ và tuyết Mặc dự cú tỏc động xấu tới cuộc sống vàhoạt động sản xuất nụng nghiệp của con người nơi đõy nhưng mặt khỏc nú lạitạo cho Sa Pa núi chung và Tả Phỡn núi riờng càng thờm sức sống hấp dẫn lạthường

Tả Phỡn cỏch trung tõm thị trấn khụng xa (12km về phớa Đụng bắc), gầnquốc lộ 4D nờn Tả Phỡn cú điều kiện thuận lợi phỏt triển kinh tế thương mại -dịch vụ và sớm được đưa vào khai thỏc theo tuyến du lịch làng bản Sa Pa – TảPhỡn – Sa Pa

Bản đồ hành chính Huyện Sa Pa - Lào Cai

Trang 18

HÌNH 1.8 :VỊ TRÍ XÃ TẢ PHÌN TRÊN BẢN ĐỒ

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã có 2.718,3 ha trong đó đất nôngnghiệp 391,98 ha, lâm nghiệp có rừng 1.459,6 ha, đất chuyên dùng 74,3 ha,

Vị trí xã Tả Phìn trên bản đồ

Trang 19

đất ở 12,5 ha, đất chưa sử dụng 747,6 ha Qua đó chúng ta thấy diện tích đấtnông nghiệp và lâm nghiệp của xã chiếm tỉ lệ lớn khẳng định hoạt động sảnxuất nông - lâm nghiệp giữ vai trò chủ đạo Tuy nhiên diện tích đất lúa mớichỉ khai thác được một vụ, một vụ bỏ hoang, mặt khác do tập quán canh táccòn lạc hậu, điều kiện sống và dân trí còn hạn chế, năng xuất không cao nêntrước đây đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn.

Toàn xã Tả Phìn có số dân 2.478 người /427 hộ (2007) trong đó có

1079 lao động chiếm 45-47% tổng số dân Đây là nguồn lực quan trọng pháttriển kinh tế đặc biệt là ngành cần nhiều lao động như nông – lâm nghiệp

Xã gồm 6 thôn với 13 đội sản xuất:

Thôn Sả XéngThôn Can NgàiThôn Tả ChảiThôn Lủ KhấuThôn Suối ThầuThôn Giàng Tra

Với 3 dân tộc anh em Mông, Dao, Kinh cùng sinh sống:

Mông 1348 người / 244 hộ Dao 1059 người / 160 hộKinh 71 người / 23 hộNhìn chung dân cư phân bố rải rác, phân tán theo từng cụm nhỏ, đa sốdân tộc ở đây sống định canh định cư Người Mông phân bố trên sườn gầnđỉnh và đỉnh đồi núi, người Dao là cụm cư dân phân bố xung quanh chân đồinúi, dưới thung lũng gần nguồn nước, chủ yếu là các hộ thuần nông tham giahoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp, người Kinh phân bố xung quanh trụcđường giao thông chính và khu vực trung tâm xã (thôn Sả Xéng), phần lớn họ

từ đồng bằng lên đây làm ăn sinh sống, các hộ này tham gia hoạt động sản

Trang 20

xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp như giáo viên, y tá, buôn bán nhỏ, bánhàng ăn …

Mỗi dân tộc mang một sắc màu văn hóa, phong tục tập quán riêng đặctrưng tạo nên một Tả Phìn không chỉ hấp dẫn du khách bởi khí hậu trong lành,cảnh quan kì thú mà còn phong phú về màu sắc trang phục, ngôn ngữ, nét vănhóa truyền thống của các dân tộc Chính sự kết hợp hài hòa giữa con ngườivới thiên nhiên đã trở thành nguồn tài nguyên có giá trị phục vụ phát triển dulịch, làm đòn bẩy cho các ngành kinh tế khác - ngành kinh tế trọng tâm nông

- lâm nghiệp của địa phương

Trong những năm qua nhờ thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh

tế - xã hội , các dự án hỗ trợ và đầu tư Tả Phìn ngày càng lớn mạnh và ổnđịnh thu được nhiều thành tựu về mọi mặt

Do đặc điểm của địa hình và khí hậu nên cây trồng chủ yếu của Tả Phìn

là Lúa và Ngô Lúa được trồng với diện tích lớn, theo số liệu điều tra năm

2003 tổng diện tích lúa của xã là 394,9 ha (bình quân 655m2/ người Nươngrẫy trồng ngô 200,7 ha (bình quân 416m2/ người) Lúa chỉ canh tác một vụvào tháng 4, tháng 5 khi có đủ điều kiện về nước và nhiệt độ Năm 2007 xãgieo cấy được7223 kg giống năng suất 40 tạ / ha và 800 kg ngô năng suất 20

tạ / ha Bước đầu giải quyết lương thực cho hơn 2000 dân trong xã

``

Các loại rau ít, số lượng không lớn, phổ biến hơn là các loại cải có thểtrồng quanh năm Các loại Đậu, bầu bí, su su, cải mèo được trồng trong cácvườn nhỏ xung quanh với hàng rào ngăn lợn, gà thả rông vào phá hoặc trồngxen kẽ trên nương ngô Rau chỉ đủ ăn ở mức độ gia đình tự cấp, tự túc làchính Đây cũng là hình thức kinh tế phổ biến ở hầu hết các dân tộc thiểu sốmiền núi nước ta sản xuất vẫn phụ thuộc vào tự nhiên, việc áp dụng khoa học

kĩ thuật còn hạn chế do địa hình phức tạp

Trang 21

Bảng1.8 :B ng th ng kê di n tích m t s lo i cây tr ng c a Tản lượng lương thực cây có hạt một số năm ố năm ện Sa Pa ột số năm ố năm ạt một số năm ồng của Tả ủa các dân tộc huyện Sa Pa đến tháng 12/2006 ản lượng lương thực cây có hạt một số nămPhìn

mô nhỏ mới ở cấp độ hộ gia đình Do đặc điểm hầu hết các gia đình là thuầnnông nên trâu được nuôi nhiều, ở Tả Phìn gia đình nào cũng có từ 2- 3 con trởlên, bò mới được nuôi nhiều trong vài năm trở lại đây Nhìn chung chăn nuôimang tính tự cung tự cấp với mục đích ăn thịt và cúng bái là chính Đặc biệtngười Mông và người Dao ở Tả Phìn nuôi nhiều giống lợn đen chỉ ăn toàn rau

cỏ và ngô sống thịt nhiều nạc, thơm ngon được đánh giá cao Nay trở thànhđặc sản trong các nhà hàng, khách sạn với thực đơn khá độc đáo “ Thịt gàbản, lợn cắp nách, cá suối”

Tuy nhiên việc người dân nuôi lợn cắp nách để bán vẫn chưa phổ biến.Điều đó cho thấy tư duy tiếp cận thị trường còn hạn chế bởi ảnh hưởng củaphong tục tập quán Vì vậy trong quá trình hội nhập và phát triển như hiệnnay, nhất là tác động của du lịch tới làng bản Tả Phìn ngày càng mạnh mẽ thì

Trang 22

việc xác định trồng cây gì, nuôi con gì có thể bán được ra thị trường tăng thunhập cho người dân cũng là nội dung nằm trong chiến lược xóa đói xóa đóigiảm nghèo mà Đảng và nhà nước đề ra.

Như vậy, muốn tạo động lực cho các dân tộc phát triển kinh tế, trướchết chúng ta phải hiểu chính dân tộc đó thì mới đánh giá được bức tranh sinh

kế tộc người biến đổi theo xu hướng nào Người Dao cũng là cộng đồngngười chiếm số lượng đông trong các dân tộc thiểu số ở nước ta trong nhữngnăm gần đây đa phần thoát nghèo hòa nhập vào nền kinh tế thị trường, đặcbiệt là những nơi du lịch phát triển như ở Tả Phìn

1.3 Người Dao và những nét văn hóa đặc trưng

1.3.1 Khái quát chung

Người Dao là cộng đồng dân tộc thiểu số ở nước ta có số lượng khoảngtrên 20 vạn người đứng vào hàng thứ 6 so với các dân tộc thiểu số ở miền bắc,chiếm 1,17% dân số toàn miền bắc, sống xen kẽ với các dân tộc khác nhưMông, Mường, Thái, Tày, Nùng, Kinh…cư trú ở các tỉnh vùng cao biên giới,vùng sâu, vùng xa : Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Lai Châu…

Người Dao cư trú trên cả 3 vùng : Vùng cao, vùng giữa và vùng thấpnhưng tập trung chủ yếu ở vùng giữa Trong đó vùng núi cao hiểm trở có độcao trung bình từ 800-1000m ( có nơi cao tới 2000m) của các tỉnh vùng caoTây Bắc : Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu là địa vực người Dao đỏ cư trú đônghơn cả

Lịch sử di cư của người dao sang Việt Nam được xác định là từ thế kỉXII, XIII cho tới những năm 40 của thế kỉ XX bằng 2 con đường ( đường thủy

và đường bộ ), nguồn gốc từ Trung Quốc

Ở nước ta người Dao được chia làm 7 ngành :

+ Dao đỏ ( Dao cóc ngáng, Dao sừng, Dao dụ lạy, Dao Quế lâm, Daođại bản)

Trang 23

+ Dao quần chẹt ( Dao Sơn dầu)

+ Dao tiền (Dao Đeo tiền)

+ Dao lô gang ( Dao Thanh phán)

Dân tộc Dao ở Lào Cai có số lượng 74.220 người, Dao đỏ chiếm 66,7%tổng số dân tộc Dao ở đây Họ sống tập trung ở các xã vùng cao của cáchuyện : Sa Pa, Bát Sát, Văn Bàn, Than Uyên, Bảo Yên, Bắc Hà, Bảo Thắng.Sống xen kẽ với các dân tộc Tày, Giáy, Nùng, Thái, Hà Nhì, Phù Lá,Kháng…tất yếu dẫn đến sự giao thoa văn hóa và học hỏi kinh nghiệm lẫnnhau của các dân tộc, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng khác nhau tùy từng dântộc và cộng đồng

Sa Pa một trọng điểm du lịch Việt Nam, người Dao chiếm 25,5% tổng

số dân đứng hàng thứ 2 sau người Mông Người Dao sống tại thị trấn và 12 xãtrong huyện Tập trung đông ở các xã Bản Khoang (89,5% cư dân toàn xã ),Suối Thầu (90,3% cư dân toàn xã ), Bản Phùng (79,7% cư dân toàn xã),Thanh Kim (77,8% ), Bản Hồ (48,3%), Thanh Phú (49,5%), Trung Chải(31,3%), Tả Phìn (40,1%), Nậm Cang (55,9%), Nậm Sài (35,6%), Tả Van(7,8%), Sử Pán (2,3%), Thị Trấn (1,2%)

1.3.2 Người Dao đỏ Tả Phìn và nét văn hóa đặc trưng

Theo Bế viết Đẳng thì sở dĩ gọi là Dao đỏ vì trang phục phụ nữ của họdùng nhiều màu đỏ, nhiều tua và núm bông đỏ Trong lễ cưới và trong đám

Trang 24

chay (cúng Bàn Vương) cô dâu và phụ nữ tham dự đám phải đội một cái mũrất to Khung mũ bằng gỗ cắm 2 nan tre hay nứa bẻ thành 2 góc nhọn nhô raphía trước mặt, ngoài khung được phủ bằng vải đỏ và nhiều cái khăn thêu nênngười Trung Quốc gọi họ là Dao Đại Bản, người Tày gọi họ là Dao Cóocngáng (sừng ngang) Dựa vào màu sắc trang phục có thể dễ dàng phân biệt họvới các ngành Dao khác Hiện nay ở Tả Phìn chỉ còn phụ nữ mặc trang phụctruyền thống nhiều còn nam giới đều mặc theo kiểu người kinh.

Gia đình người Dao là gia đình phụ quyền với vai trò của người tộctrưởng trong dòng họ Người chồng, người cha làm chủ gia đình, con trai cóquyền thừa kế tài sản để nối dõi tông đường

Tôn ti trật tự và những cấm kị trong gia đình được quy định chặt chẽ,con dâu không được ngồi ngang hàng với bố chồng, nếu ăn cùng mâm thì condâu phải đứng ăn, đợi khi bố chồng ăn xong đứng dậy đi ra ngoài mới đượcngồi

Người Dao có nguồn gốc từ Vân Nam (Trung Quốc) chịu ảnh hưởngbởi tư tưởng Khổng giáo, hầu hết người Dao có tục thờ cúng tổ tiên, thờ bànVương (người được coi là ông tổ của dân tộc mình) Bàn thờ được đặt ở nơilinh thiêng không được quay lưng về phía bàn thờ, vì như vậy bị coi là thái độthiếu tôn kính với tổ tiên

Trong một năm người Dao đỏ có những kiêng kị nhất định : Ngày 20/1– âm lịch (kiêng gió thổi), ngày 1/2 (kiêng rượu, sợ chim ăn lúa), ngày 2/2(kiêng chuột, sợ chuột ăn lúa), ngày 1/3 (kiêng sấm sét), ngày 14/3 (kiêngnước,kiêng lũ lụt)

Một năm người Dao đỏ ở Tả Phìn cúng rất nhiều lần, theo cô Lý TảMẩy ở đội I – Xả Séng thì trong năm bắt buộc có 4 lần cúng : Tết âm lịchcúng 1 lần, qua tết âm lịch cúng 1 lần, tết thanh minh và rằm tháng 7 Ngoài

Trang 25

ra còn có lễ cúng phát sinh như khi có người trong gia đình đau ốm hoặc trâu

bò ốm chết

Nhà của người Dao đỏ ở Tả Phìn – Sa Pa thuộc kiểu nhà trệt (nhà nềnđất giống như của người Kinh), do điều kiện khí hậu lạnh ở trên núi cao mànhà của họ thường làm thấp để tránh gió Nhà làm bằng gỗ có 3 cửa, 1 cửachính và 2 cửa phụ ở 2 bên đầu hồi, nhà có gác rộng ở phía trên bắc lên bởithang bằng cây gỗ Pơ mu dùng đựng đồ và thóc ngô thu hoạch được

Nhà thường có 2 gian,1 gian bếp và 1 gian tiếp khách Nhà có 3 bếp : 1bếp nấu ăn, 1 bếp sưởi, 1 bếp lò dùng nấu cám hay đun rượu Trước đây lợpbằng gỗ Pơ mu nay đã được thay bằng prôxim 5-7 nóc nhà liền sát nhau

Khi tới thăm gia đình người Dao đỏ ở Tả Phìn – Sa Pa , may mắn hơnnếu được tham dự đám cưới hay đám ăn hỏi thì bạn sẽ có cơ hội thưởng thứcnhững món ăn truyền thống như thịt sấy khô, thịt chua, lợn cắp nách, gà đen,rượu mầm thóc đặc trưng của vùng khí hậu lạnh

Người Dao đỏ ở Tả Phìn còn được biết tới bởi nghệ thuật thêu thổ cẩmhết sức tinh xảo.Vải thường được nhuộm chàm trước khi thêu, hình mẫu hoavăn phong phú bao gồm hoa văn kỉ hà (đường kẻ song song hay gấp khúc),họa tiết hình cây thông, muông thú, hình người Họ thêu ở mặt trái tấm vải,thêu theo trí nhớ chứ không dựa vào hình mẫu hoa văn Các em gái 5-6 tuổi

là trưởng thành, chết hồn mới được về với tổ tiên

Bên cạnh đó “Lễ tết nhảy” là sinh hoạt văn hóa cộng đồng khá độc đáocủa người Dao đỏ Tả Phìn – Sa Pa được tổ chức thường xuyên vào khoảng

Trang 26

cuối giờ thìn, đầu giờ tỵ ngày mùng 1 hoặc mùng 2 tết nguyên đán tại nhàtrưởng họ hoặc trưởng thôn Trong lễ tết nhảy người ta kể về sự tích dòng họ,công lao của tổ tiên, sự tích về một số thần thánh trong miếu vạn thần củangười Dao Người Dao đỏ Tả Phìn có 4 dòng họ lớn : Lý, Phàn, Chảo, Tầntập trung đông ở 2 thôn Sả Xéng và Tả Chải, một số ở Suối Thầu và Lủ Khấu.Mỗi khi lễ tết nhảy được tổ chức tập hợp tất cả các thành viên trong gia đình,dòng họ tạo mối gắn kết cộng đồng.

Hát giao duyên, đối đáp trong những phiên chợ tình hay các buổisinh hoạt cộng đồng thể hiện tình yêu đôi lứa, hạnh phúc gia đình, ca ngợiquê hương, bản làng, con người, kinh nghiệm sản xuất trong lao động đượclưu truyền từ đời này qua đời khác Nhưng vốn văn hóa đặc sắc này đang

có nguy cơ bị mai một do sự mất vai trò không gian chợ tình cũng như quátrình thương mại hóa nhanh cho nên hiện nay chúng ta chỉ còn bắt gặpnhững hình thức văn hóa này trong tiết mục văn nghệ trình diễn phục vụkhách du lịch và lễ hội Vì vậy cần phải khôi phục và phát triển nét đẹp vănhóa truyền thống này

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1:

Trên đây là tổng quan về Sa Pa - hình ảnh quảng bá của Lào Cai - một

Đà Lạt ở Tây Bắc không chỉ hấp dẫn du khách bản địa mà còn là điểm đếncủa du khách khắp nơi trên thế giới Đến với Sa Pa không chỉ để hưởng bầukhông khí mát mẻ, thăm thú cảnh đẹp mà sức hút của Sa Pa chính là conngười nơi đây – địa bàn đa dân tộc, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa, hoạtđộng sản xuất của 6 dân tộc anh em tụ cư ở Sa Pa

Thực tế cho thấy chính vì hội tụ đầy đủ các yếu tố về cảnh quan, về conngười Do vậy Sa Pa đang từng bước khai thác thế mạnh này tạo nguồn thuxứng đáng, tự tin hội nhập trong tương lai

Trang 27

Nằm trong phông chung của Sa Pa Tả Phìn cũng mang trong nó tiềmnăng lớn, trước hết Tả Phìn được du khách biết tới bởi cảnh quan đẹp, nhưngkhông hẳn như vậy, tâm điểm thu hút người bản địa cũng như du khách nướcngoài chính là bức tranh sinh hoạt văn hóa, hoạt động sản xuất của ngườiMông và Người Dao trong đó người Dao đỏ Tả Phìn là nhân vật chính.

Từ màu sắc trang phục, cấu trúc bản làng, phong tục, tập quán, ẩm thựcđậm chất truyền thống vừa mang đặc điểm chung của dân tộc Dao, lại vừa cónét riêng của ngành Dao – Dao đỏ

Trang 28

CHƯƠNG 2 SINH KẾ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI DAO Ở TẢ PHÌN

2.1 Sinh kế và sinh kế tộc người

Chúng ta có thể hiểu rằng: "Sinh kế” là việc làm, là hoạt động để mưu

sinh kiếm sống (chẳng hạn người ta thường nói tìm sinh kế hay vất vả vì sinhkế) (Từ điển tiếng việt ; tr859 ; 2001)

Như vậy "sinh kế" chính là sự tác động vào tài nguyên thiên nhiên mà con

người (nhóm năng lực xã hội) tiến hành đáp ứng nhu cầu mưu sinh để tồn tại

"Sinh kế tộc người" : Được hiểu theo nghĩa hẹp hơn là những hoạt

động, cách thức mà tộc người đó lựa chọn phương thức kế sinh nhai Tuynhiên ở mỗi tộc người khác nhau, mỗi vùng địa lí khác nhau, mỗi quốc giakhác nhau thì phương thức kiếm sống lại khác nhau không hề có mô hình sinh

kế chung cho tất cả các tộc người.Qua đó phản ánh bức tranh sinh kế tộcngười hết sức đa dạng nhiều màu sắc

Trong công trình nghiên cứu về sinh kế người Cơ Tu (huyện NamĐông, tỉnh Thừa Thiên - Huế) tác giả Trần Thị Mai An cũng đã đưa ra khái

niệm về "Sinh kế rừng" Theo đó "Sinh kế rừng" là chỉ nhóm cộng đồng cư

dân có kế sinh nhai phụ thuộc vào tài nguyên rừng Họ cùng có chung nguồnlực / vốn nhân lực, xã hội, thiên nhiên, vật chất và tài chính để đáp ứng nhucầu sinh tồn của mình (Thông báo dân tộc học năm 2005)

Tóm lại "Sinh kế" được sử dụng như một thuật ngữ khi tiếp cận các

nhóm xã hội và các cấp (hộ gia đình, cộng đồng vùng) đã sử dụng đến cácnguồn lực / vốn nào để có cơ hội nâng cao mức sống, đồng thời có nhữngchiến lược phát triển sinh kế bền vững

"Sinh kế bền vững" được hiểu theo nghĩa cách thức kiếm sống đó đem

lại nguồn thu nhập ổn định cho con người Hay cũng có thể hiểu sinh kế bền

Trang 29

vững là sinh kế tạo ra những giá trị kinh tế nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói,thỏa mãn yêu cầu xã hội cũng như không tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên.Sinh kế bền vững ít chịu tác động hoặc cản trở bởi yếu tố phát sinh, điều kiệnngoại cảnh, sinh kế bền vững mang tầm chiến lược lâu dài.

Đối với các dân tộc thiểu số ở nước ta vấn đề sinh kế luôn được Đảng vànhà nước đặt lên hàng đầu, bởi sinh kế gắn với chiến lược xóa đói giảm nghèo.Việc tìm hiểu sinh kế của người Dao trong bức tranh sinh kế tộc người cũngkhông nằm ngoài nội dung nâng cao mức sống, cải thiện kinh tế đồng thời đánhgiá xu hướng biến đổi khi môi trường hội nhập và phát triển tác động

2.2 Sinh kế truyền thống của người Dao - phương thức kiếm sống mang tính tộc người.

Hầu hết các dân tộc thiểu số ở nước ta nói chung và người Dao ở MiềnBắc nói riêng hoạt động nông nghiệp là hình thức kiếm sống chủ yếu Nhưngngười Dao sinh sống ở cả 3 vùng cao - giữa - thấp nên hình thức tìm nguồnsống của họ là khác nhau thể hiện ở phương thức canh tác, kinh nghiệm sảnxuất, sử dụng nguồn lực như thế nào tác động vào tự nhiên làm ra của cải vậtchất đảm bảo cuộc sống mưu sinh

Ở vùng thấp : Vùng chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng có độ cao dưới200m người Dao quần trắng và một số nhóm Dao hạ sơn như Dao quần chẹt,Dao thanh y và Dao tiền thì ruộng nước và ruộng bậc thang là loại hình canhtác chính; chỉ cấy lúa một vụ còn một vụ trồng hoa màu và cây lương thựcphụ, cây công nghiệp

Ở vùng giữa : Có núi đá vôi, độ cao khoảng 400m - 600m trở lên ngườiDao lô gang, Dao tiền, Dao thanh y, chủ yếu là Dao quần chẹt Đồng bàotrước đây sống du canh du cư, khai phá nương rẫy, nguồn lương thực chủ yếu

là lúa nương và ngô Nhưng từ sau cách mạng tháng Tám trở lại đây phần lớnđồng bào đã chuyển sang canh tác ruộng nước, nương rẫy chỉ là hoạt độngphụ trợ, đời sống dần ổn định

Trang 30

Ở vùng cao : Điển hình là nương rẫy vùng cao núi đá, ở đây có nhiềungười Dao đỏ, một bộ phận người Dao tiền Họ sống định canh định cư từ lâu,khai thác rừng và ruộng bậc thang là nguồn thu nhập chủ yếu.

Người Dao đỏ ở Tả Phìn - Sa Pa - Lào Cai là bộ phận cư trú ở vùng caovới độ cao 1300m so với mực nước biển thì nguồn thu nhập chính của ngườiDao là nông nghiệp và nghề rừng còn các nguồn thu nhập khác chiếm tỉ lệthấp Đây là nguồn sinh kế truyền thống của người Dao đỏ, qua quá trìnhkiếm sống, tác động vào giới tự nhiên, kinh nghiệm sản xuất được đúc kết và

họ là những nông dân thuần túy sản xuất nông nghiệp

Bên cạnh thu nhập từ nông nghiệp và khai thác rừng là chủ yếu, ngườiDao đỏ Tả Phìn ở Sa Pa còn có nguồn thu nhập từ nhiều hoạt động khác phảnánh bức tranh sinh kế của người Dao đỏ - Tả Phìn - Sa Pa khá phong phú, tưduy làm giàu trong cuộc sống mưu sinh cũng đã được người Dao tiếp cận vìmục đích duy nhất cuộc sống

2.2.1 Sinh kế từ nông nghiệp

Đây là nguồn thu nhập chính của người Dao đỏ Trước đây họ cũngsống du canh du cư, làm nương rẫy là chính Năm 1968 dưới cuộc vận độngđịnh canh định cư của nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số du canh thìnhìn chung hầu hết các ngành Dao đều có cuộc sống ổn định, nhất là từ năm

1970 khi chính phủ có phương án phát triển kinh tế - xã hội cụ thể, xóa đóigiảm nghèo Người Dao đã sống thành làng mật tập khai phá ruộng bậc thangcanh tác ruộng nước kết hợp với làm nương rẫy

+ Nương rẫy của đồng bào Dao đỏ ở Tả Phìn thường là những cụmnương rẫy xa nhà, đi bộ mất từ 30 phút trở lên mới tới nương, thậm chí cónương phải đi mất một giờ đồng hồ Nương thường nằm ở lưng chừng núi, để

có một mảnh nương canh tác người Dao phải tiến hành phát đốt rất vất vảtrong lần đầu tiên, từ những năm sau trở đi công việc làm đất nhẹ nhàng hơn,nương được cải tạo thành cơ sở sản xuất lâu dài

Trang 31

Cây trồng trên nương chủ yếu là Ngô canh tác một vụ, người Dao đỏ

Tả Phìn trước đây chỉ trồng Ngô giống địa phương, đặc biệt có loại Ngô trắng

ăn ngon và dẻo, nhưng năng suất không cao Ngô trở thành nguồn lương thực

chính trong mùa giáp hạt thóc không đủ ăn, trong 2-3 tháng Theo cô Chảo Sử

Mẩy - chủ tịch hội phụ nữ xã Tả Phìn " Thì ngày xưa cứ tới tháng 4 là hết

gạo phải ăn Ngô, Giống ngô trắng (Ngô địa phương) ăn ngon, mỗi ngày xay

ra làm 2-3 mẻ bánh để ăn, gia đình nào không có ngô lại phải đi đổi sắn khô

ở nơi khác về trộn với gạo chống đói Bây giờ đã đủ ăn ngô chỉ dùng để

nướng, luộc và cho lợn, gà, vịt ăn” Như vậy ngô đã trở thành nguồn thu khá

quan trọng trong hoạt động trồng trọt của người Dao đỏ Nay ngô vẫn là cây

trồng phổ biến chiếm phần lớn diện tích đất canh tác

Bảng 2.1: Thống kê sản lượng ngô một số hộ gia đình ở thôn Sả Xéng

(Nguồn : Tài liệu điều tra tại xã Tả Phìn 4/2008)

(Kết quả điều tra thực địa tháng 4/20

Trang 32

Ngoài cây ngô được trồng ở trên nương thì cây thảo quả cũng có ưuthế nhưng do thời tiết khí hậu lạnh nên thu nhập không ổn định Thảo quảđược trồng nhiều ở 2 thôn Tả Chải và Lủ Khấu mỗi gia đình thu hoạch từ2-3 tạ Thảo quả / năm.

+ Ruộng bậc thang : Từ lâu người Dao đỏ ở Tả Phìn khai hoang ruộngbậc thang ở thung lũng, chân đồi, nơi gần nguồn nước trồng lúa Do phụ thuộcvào điều kiện tự nhiên như nước và khí hậu nên người Dao chỉ cấy lúa một vụ

Từ tháng giêng, tháng 2 bắt đầu cày ải, cho tới tháng 3 tháng 4 dưới tác độngcủa mưa nắng gió, không khí đất sẽ ải một phần vỡ tơi xốp ra một cách tự nhiên.Cuối tháng 3, đầu tháng 4 cày lại một lần nữa, đồng thời tiến hành gieo mạ đểchuẩn bị cấy khi mùa mưa tới, tháng 6 - tháng 7 làm cỏ lúa, tháng 9 - 10 thu hoạch

Trước đây, người Dao Tả Phìn cấy giống lúa địa phương (lúa vùng cao)đặc điểm cây lúa cao gần bằng đầu người bao gồm nhiều loại : Thóc trắng,thóc đỏ, nếp dâu (rẻo và ngon dùng làm các loại bánh) nhưng hạt rất thưa,năng suất thấp 18-19 tạ / ha

Trong những năm gần đây nhờ việc đầu tư chuyển đổi giống cây trồng,

xã Tả Phìn vận động, hỗ trợ mua giống lúa lai Trung Quốc, giống lúa Nghị ưu

838 có thời gian sinh trưởng ngắn, chịu được khí hậu lạnh cho năng suất caođạt 40 tạ / ha (gấp đôi giống lúa địa phương) 100% các hộ Dao đỏ ở Tả Phìngieo cấy giống lúa mới, nhờ đó các hộ gia đình không những đủ ăn mà một số

hộ còn có dự trữ Đời sống người Dao đỏ Tả Phìn ngày càng ổn định

Bên cạnh đó nhờ biết cách chăm bón, nên năng suất ổn định NgườiDao bón lót cho lúa bằng phân chuồng, phân xanh, cày ải cuốc bẫm, hầu hếtcác hộ có mua phân bón hóa học (đạm, lân, kali) bón cho cả ngô và lúa

Lúa, ngô thu hoạch được chủ yếu nhằm duy trì cuộc sống ít khi đem ratrao đổi

Trang 33

Ngoài Lúa và Ngô là cây lương thực chính thì người Dao còn trồng một

số cây ăn quả như Mận, Đào, Lê, Chè…tuy nhiên quy mô còn nhỏ, năng suấtthấp chỉ đáp ứng nhu cầu của gia đình

Chăn nuôi: quan trọng thứ 2 sau trồng trọt của người Dao, Chăn nuôivừa nhằm cung cấp sức kéo, cung cấp thực phẩm, phục vụ nghi lễ cúng bái,ngoài ra chăn nuôi còn là tài sản dự trữ trong gia đình

Người Dao đỏ đã định canh từ lâu nên việc chăn nuôi khá phát triển, việclàm ruộng nước và nương định canh đòi hỏi cần có sức kéo Với người Dao đỏ

Tả Phìn thì việc nuôi Trâu chiếm ưu thế hơn cả, bò có số lượng ít hơn, gà, dêtương đối Gia đình nào cũng có từ 3-5 con trâu trở lên nhìn chung hình thứcchăn nuôi còn nhỏ lẻ, chịu ảnh hưởng tác động của điều kiện tự nhiên, môitrường và dịch bệnh gây trở ngại lớn cho quá trình chăn nuôi của các hộ gia đìnhNgười Dao ở Tả Phìn Chẳng hạn như trong đợt rét tháng 12/2007 rất nhiều trâu

bò bị chết do thời tiết lạnh và thiếu thức ăn, có những gia đình chết tới 2-3 contrâu trở thành tay trắng mất sức kéo, gà hầu như không còn do dịch bệnh

Bảng2.2 : Số lượng trâu bò c a m t s h T Phìn tháng 4/2008ủa các dân tộc huyện Sa Pa đến tháng 12/2006 ột số năm ố năm ột số năm ở Tả Phìn tháng 4/2008 ản lượng lương thực cây có hạt một số năm

còn sống (con)

Số lượng trâu chết (con)

Trang 34

chăn nuôi thả rông ăn ngô và rau là chính (tỉ lệ lợn cắp nách nhiều), loạilợn này thịt ngon và thơm được đánh giá cao, nuôi phục vụ gia đình còn ítkhi bán ra thị trường Tuy nhiên một số hộ cho rằng nếu nuôi được nhiều,

sử dụng không hết thì cũng có bán loại lợn cắp nách từ 10 - 15 kg thu nhậpthêm cho gia đình

2.2.2 Sinh kế từ khai thác rừng

Rừng là nguồn tài nguyên quý giá nuôi sống con người, khai thácnguồn lợi tự nhiên phục vụ cuộc sống là hoạt động có từ lâu đời của cư dânhái lượm săn bắt Trải qua quá trình lịch sử lâu dài con người ngày càng tácđộng mạnh mẽ hơn, văn minh hơn khai thác sản phẩm mà thiên nhiên ưu đãicho rừng

Đối với người Dao đỏ rừng chiếm tổng thu nhập lớn đối với họ Rừngcung cấp thực phẩm (măng, rau, củ, quả…) trong bữa ăn người Dao đỏ bữanào cũng có món ăn nguồn gốc từ rừng, rừng là nơi cung cấp nguyên vật liệu,chất đốt (củi đun, gỗ làm nhà, tre, nứa) , ngoài ra rừng còn là kho dược liệuphong phú cung cấp nhiều vị thuốc quý chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh Trithức bản địa của người Dao đỏ về cây thuốc tắm và thuốc uống đã được pháttriển và mở rộng thành nguồn dược liệu chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng tạiđịa phương

Công việc lên rừng hái lá thuốc trở thành tập quán quen thuộc củangười Dao đỏ gắn với vai trò của người phụ nữ trong gia đình Trong đóthuốc tắm và thuốc uống được người Dao khai thác nhiều hơn có công dụngtốt đối với sức khỏe, chẳng hạn như chữa được bệnh vô sinh, phong thấp,phòng hậu sản….Tri thức dân gian kết hợp với kho dược liệu có sẵn từ rừnghiện nay được cộng đồng người Dao đỏ tiếp cận thị trường phát triển thànhsản phẩm hàng hóa, mở dịch vụ đáp ứng nhu cầu cho khách du lịch, kiếmthêm thu nhập cho gia đình

Trang 35

Khi điều tra một số hộ gia đình người Dao đỏ ở Sả Xéng thì có tới 5 hộ

có dịch vụ tắm thuốc dân tộc Dao đỏ tại nhà, với vốn đầu tư ban đầu từ5000.000 - 10.000000 đồng mỗi tháng thu nhập được khoảng từ 300.000 -500.000 đồng/tháng, nếu tháng ít khách cũng thu được từ 200.000 - 300.000đồng Đây là nguồn thu nhập đáng kể làm thay đổi sinh kế, nâng cao mứcsống cho các hộ gia định này

2.2.3 Sinh kế từ hoạt động khác.

Nghề thủ công truyền thống được người Dao đỏ coi trọng : Nghề mộc,rèn, nông cụ, đan lát, thêu thổ cẩm…người Dao nổi tiếng đóng thùng đựngnước, làm chậu, môi, thìa gỗ Nhìn chung sản phẩm chỉ đáp ứng nhu cầutrong gia đình, không có trao đổi mua bán

Nghề thêu thổ cẩm đạt tới trình độ tinh xảo, người Dao đỏ ở Tả Phìnkhông dệt vải, họ mua vải ở nơi khác hoặc trao đổi với một số dân tộc trongvùng có sản phẩm dệt đem về nhuộm chàm và thêu, may thành quần áo để mặc

Sản phẩm thổ cẩm của người Dao tạo ra khá công phu bởi bàn tay khéoléo của người phụ nữ, ai cũng biết thêu, các em gái từ 5- 6 tuổi đã phải họcthêu Con gái trước khi đi lấy chồng bắt buộc phải thêu xong 3 bộ quần áo.Hoa văn được thêu tỉ mỉ, đường nét cầu kì với đủ màu sắc đỏ, vàng,trắng ngoài thêu hoa văn trên quần áo để mặc thì gối, túi, ví ….cũng là sảnphẩm độc đáo của người Dao

Nếu như trước đây, việc thêu thổ cẩm chủ yếu phục vụ nhu cầu maymặc trong gia đình thì ngày nay dưới tác động của du lịch và nền kinh tế thịtrường, các sản phẩm bắt đầu được đưa ra thị trường để bán cho khách dulịch Nguồn thu nhập từ bán thổ cẩm trong thời gian nhàn rỗi hiện nay cũng lànguồn thu thường xuyên và tương đối ổn định

Bảng 2.3 : Th ng kê thu nh p c a m t s ph n bán h ng rong theoố năm ập của một số phụ nữ bán hàng rong theo ủa các dân tộc huyện Sa Pa đến tháng 12/2006 ột số năm ố năm ụ nữ bán hàng rong theo ữ bán hàng rong theo àng rong theo

khách T Phìn.ở Tả Phìn tháng 4/2008 ản lượng lương thực cây có hạt một số năm

Trang 36

STT Tên

Thời gian tham gia (năm)

Thu nhập 1 tháng (nghìn đồng)

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Qua bức tranh sinh kế mà người Dao tiến hành thì hoạt động nôngnghiệp giữ vai trò chủ đạo, người Dao Tả phìn – Sa Pa là dân tộc định cư lâuđời, kinh nghiệm sản xuất đạt trình độ thâm canh cao Cây lương thực chính

là lúa và ngô, cây ăn quả có đào, mận, lê và cây dược liệu có thảo quả Trướcđây cuộc sống bấp bênh không đủ ăn còn thiếu đói trong mùa giáp hạt Naymức sống được cải thiện do chuyển đổi giống cây trồng, năng suất cao vấn đềlương thực được giải quyết, số hộ nghèo đói giảm đáng kể

Chăn nuôi khá quan trọng không đáp những đáp ứng nhu cầu về sứckéo mà còn dùng cho nghi lễ thờ cúng và cung cấp thực phẩm Chăn nuôichưa được tiếp cận thị trường mới chỉ ở phạm vi gia đình, hình thức chăn nuôihoàn toàn tự nhiên nhỏ lẻ hay bị đe dọa bởi dịch bệnh và khí hậu, sinh kế từchăn nuôi chưa thực sự bền vững Vì vậy cần phải có biện pháp giúp phát

Trang 37

triển kinh tế hộ gia đình bền vững phòng chống dịch bệnh hiệu quả, triệt để,đồng thời tạo ra sản phẩm hàng hóa bán ra thị trường.

Bên cạnh đó sinh kế từ rừng có vai trò quan trọng trong cuộc sốngngười Dao đỏ

Hiện nay sinh kế từ bán hàng thổ cẩm, mở dịch vụ tắm thuốc,Homestay (nhà nghỉ) đang là trào lưu góp phần tăng thu nhập, cải thiện cuộcsống Đó là sinh kế mới bắt đầu manh nha, nhưng nguồn sinh kế này có bềnvững hay không còn phụ thuộc vào chính thị hiếu của khách du lịch, chấtlượng sản phẩm, bản sắc văn hóa tộc người nơi đây Đồng thời nhà nước cần

có chính sách đầu tư, phát triển du lịch phù hợp tạo cơ hội mở rộng hoạt động

về quy mô

Hầu hết nguồn sinh kế của các hộ gia đình người Dao đỏ trên địa bànnghiên cứu kiếm sống dựa trên sự kết hợp đa dạng các hoạt động sản xuấtnông nghiệp, khai thác từ rừng và các hoạt động sinh kế mới khác là tắmthuốc, bán thuốc, Homestay (cho khách lưu trú tại nhà) Xu hướng đa dạnghóa nguồn sinh kế đã trở thành giải pháp xóa đói giảm nghèo cho người Dao

đỏ - Tả Phìn – Sa Pa Nó phản ánh biến đổi sâu sắc bức tranh sinh kế truyềnthống của người Dao nói chung và người Dao đỏ Tả Phìn nói riêng so vớinhững năm trước đây, càng chứng tỏ sự hội nhập được đẩy mạnh, trình độdân trí nâng cao tạo tiền đề vững chắc phát triển kinh tế - xã hội

CHƯƠNG 3

SỰ CHUYỂN ĐỔI SINH KẾ TỘC NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH HỘI

NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN 3.1 Tiền đề của sự chuyển đổi.

3.1.1 Quá trình đô thị hóa và tác động tới sinh kế

Trang 38

3.1.1.1.Khái niệm đô thị hóa.

“Đô thị hóa” là quá trình vận động, chuyển hóa và biến đổi mang tính

quy luật về các mặt kinh tế - xã hội – môi trường, cùng với những biến đổi về

sự phân bố dân cư nguồn lao động theo hướng từ phân tán tới tập trung, từ tậptrung ở mức độ thấp tới tập trung ở mức độ cao

Quá trình đô thị hóa có khả năng tạo ra thay đổi căn bản về cơ cấunghành kinh tế, tăng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh, làm thay đổi cấutrúc hình thái quần cư, làm thay đổi cấu trúc không gian môi trường đô thị

Nét khác biệt giữa Sa Pa với các đô thị khác là Sa Pa phát triển ngànhcông nghiệp không khói, đô thị Sa Pa không phải là đô thị công nghiệp mà Sa

Pa là đô thị du lịch và mang đặc điểm riêng của một đô thị miền núi : Khônggian đô thị nhỏ, thường ven theo các triền đồi, triền núi, đường xá thườngdốc, quanh co; là nơi tụ cư sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, làm chokhông gian văn hóa đô thị thêm đa sắc màu dân tộc Bên cạnh đó Sa Pa – mộthuyện có lợi thế về cảnh quan thiên nhiên con người vượt trội hơn so vớinhững địa phương khác của tỉnh Lào Cai được quy hoạch là 1 trong 16 khu dulịch chuyên đề của cả nước, là khẩu hiệu du lịch trọng điểm của Lào Cai

Nằm trong chương trình mục tiêu chung phát triển kinh tế - xã hội củatỉnh Lào Cai, với việc tập trung lập và thực hiện các các đề án nâng cấp cảitạo mạng lưới đô thị với đề án : “Cải tạo, chỉnh trang thành phố Lào Cai, xâydựng và chuyển các cơ quan hành chính của tỉnh về khu đô thị mới Hoànthiện chỉnh trang khu vực thị xã Lào Cai, Cam Đường cũ, quy hoạch cáctuyến phố, bãi đỗ xe, nâng cấp thị trấn Sa Pa từ đô thị loại V lên đô thị loại

IV Sở xây dựng chủ trì cùng với ủy ban nhân dân huyện Sa Pa rà soát thựchiện nhằm xây dựng và phát triển đô thị cho phù hợp, xây dựng Sa Pa thànhmột đô thị du lịch, nâng cấp một số thị trấn như Bát Sát, Bắc Hà, Phố Lu,Tằng Loỏng từ đô thị loại V lên đô thị loại IV và nâng cấp một số trung tâm

Trang 39

huyện lỵ Mường Khương, Simacai thành trung tâm thị trấn,…Tập trung mọinguồn vốn, trong và ngoài nước, từ nhân dân xây dựng cơ sở vật chất – hạtầng cơ sở cho việc phát triển các đô thị” (sở xây dựng Lào Cai) Mục tiêuxây dựng một Lào Cai với cơ sở hạ tầng vững chắc, một Lào Cai quy mô vàbền vững, một Lào Cai với những đô thị du lịch như Sa Pa, Bắc Hà Nhờ đó

mà quá trình đô thị hóa ở Sa Pa càng được đẩy mạnh

3.1.1.2.Đô thị hóa và tác động tới sinh kế

Ngành du lịch – dịch vụ được coi là thế mạnh của Sa Pa Trong nhữngnăm qua với sự mở cửa của nền kinh tế, là cơ hội cho Sa Pa phát triển mạnh

mẽ Toàn huyện có tới gần 400 cơ sở kinh doanh thương nghiệp, nhà nghỉ,khách sạn Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã được hình thành Hệ thốngthương nghiệp quốc doanh được củng cố, góp phần ổn định giá cả, cung cấpcác mặt hàng thiết yếu Doanh thu từ du lịch – dịch vụ tăng nhanh, du lịch kéotheo nhiều loại hình dịch vụ của địa phương, tạo sức hấp dẫn cho thu nhập,cải thiện đời sống nhân dân, thúc đẩy quá trình đô thị hóa ở địa phương

Căn cứ vào luật du lịch ngày 27/6/2005; căn cứ quyết định Đại hộiĐảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XIII tiếp tục khẳng định đưa du lịch Lào Caithành ngành kinh tế mũi nhọn, ưu tiên đầu tư cho khu du lịch Sa Pa thành đôthị du lịch mang tầm cỡ quốc gia; căn cứ quyết định Đảng bộ huyện Sa Pa lầnthứ XX trong đó lựa chọn du lịch là chương trình đột phá; căn cứ quy chếquản lí du lịch Sa Pa và quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Lào Cai, UBND thịtrấn đã tập trung chỉ đạo lấy phát triển du lịch – dịch vụ làm kinh tế mũi nhọn

Vì vậy mà kinh tế du lịch trên địa bàn tăng nhanh, chiếm tỉ trọng 57% (2003)trong cơ cấu nền kinh tế, 68% (2006) Hệ thống khách sạn và nhà hàng tăngnhanh Năm 2000 mới có 102 cơ sở thì đến năm 2005 có 220 cơ sở kinhdoanh Tính riêng khách sạn và nhà nghỉ năm 2000 mới có 42 cơ sở đến 2006tăng 132 cơ sở; số người kinh doanh thương mại du lịch, khách sạn nhà hàng

Trang 40

năm 2000 là 725 người, đến năm 2005 tăng lên 1560 người; số khách du lịchtăng nhanh, năm 2000 là 49.322 người đến năm 2005 là 200.000 người.

Quá trình phát triển du lịch hấp dẫn dòng người các tỉnh miền xuôi lênđịnh cư sinh sống ngày một đông trong những năm gần đây càng thúc đẩy quátrình đô thị hóa ở Sa Pa thêm mạnh mẽ Các cơ sở hạ tầng điện, đường,trường, trạm được xây dựng ngày càng hoàn thiện

Sự phát triển mạnh mẽ của loại hình kinh tế du lịch đã tạo nhiều công ănviệc làm tăng thu nhập cho người dân, đời sống nhân dân được cải thiện Trong

cơ cấu kinh tế, ngành này chiếm tỉ trọng cao và tăng nhanh, năm 2003 chiếm57% trong cơ cấu GDP đến năm 2006 tăng lên 68% ; kinh tế nông – lâm nghiệpcũng có sự tăng trưởng đáng kể Năm 2003 chiếm 21% trong cơ cấu GDP đếnnăm 2006 là 22%; công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp giảm dần trong cơ cấukinh tế năm 2003 đạt 22% đến 2006 giảm còn 10% trong cơ cấu GDP

Như vậy, đô thị hóa và phát triển du lịch làm chuyển biến cơ cấu kinh

tế , đặc biệt trong những năm gần đây sức hút của du lịch thúc đẩy quá trình

đô thị hóa ở Sa Pa, cũng đang tác động đến mọi mặt cuộc sống của người dân,dẫn đến sự thay đổi sinh kế hay chuyển đổi nghề nghiệp: Chuyển từ làm nôngnghiệp sang kinh doanh, là hiện tượng diễn ra tương đối phổ biến của các đôthị Việt Nam nói chung; một bộ phận vẫn tiếp tục sản xuất nông nghiệpnhưng họ đầu tư cho sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóatrồng rau, trồng hoa, cây ăn quả, …kết hợp với chăn nuôi Đồng thời tạo ra cơhội và thách thức đặt ra cho kế sinh nhai của những cư dân nơi đây

3.1.2 Tốc độ phát triển du lịch và khai thác du lịch

3.1.2.1.Tốc độ phát triển và khai thác du lịch ở Sa Pa

Trong những năm gần đây cùng với quá trình đô thị hóa ở Sa Pa diễn rahết sức mạnh mẽ, dựa trên thế mạnh của mình con người với hơn 10 điểm vănhóa du lịch đặc sắc : Chợ tình, Thác Bạc, Cầu Mây, Bãi Đá Cổ, Hàm Rồng,

Ngày đăng: 22/01/2016, 09:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hoàng Văn Châu, Phạm Thị Hồng Yến, Lê Thị Thu Hà : Làng nghề du lịch Việt Nam. Nxb thống kê – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Văn Châu, Phạm Thị Hồng Yến, Lê Thị Thu Hà ": Làng nghề dulịch Việt Nam
Nhà XB: Nxb thống kê – 2007
4. Trần Thùy Dương : Văn hóa dân gian Lào Cai với vấn đề phát triển du lịch ở Lào Cai. Tạp chí văn hóa dân gian, số 1 – 1997 (tr56-58) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thùy Dương : "Văn hóa dân gian Lào Cai với vấn đề phát triển dulịch ở Lào Cai
5. Bế Viết Đẳng : Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở Miền Núi. Nxb Chính Trị Quốc Gia, Nxb Văn hóa dân tộc , Hà Nội – 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bế Viết Đẳng ": Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ởMiền Núi
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc Gia
6. Bế Viết Đẳng – Nguyễn Khắc Tụng : Người Dao ở Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội – 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bế Viết Đẳng – Nguyễn Khắc Tụng : "Người Dao ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
7. Trần Hồng Hạnh : Tri thức địa phương trong sử dụng thuốc nam của người Dao đỏ. Tạp chí dân tộc học, số 5 – 2002 (tr23-29) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Hồng Hạnh ": Tri thức địa phương trong sử dụng thuốc nam củangười Dao đỏ
8. Phạm Văn Hậu : Di dân, du lịch và văn hóa tộc người trong quá trình đô thị hóa ở miền núi.Khóa luận tốt nghiệp Dân tộc học – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Văn Hậu : "Di dân, du lịch và văn hóa tộc người trong quá trình đôthị hóa ở miền núi
9. Phạm Thị Mộng Hoa , Lâm Thị Mai Lan : Du lịch với dân tộc thiểu số ở Sa Pa. Nxb Văn hóa dân tộc – 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thị Mộng Hoa , Lâm Thị Mai Lan ": Du lịch với dân tộc thiểu số ởSa Pa
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc – 2000
10. Nguyễn Xuân Hồng : Sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên rừng của người Tà Ôi ( Pacoh) ở thôn Phú Thượng, xã Phú Vinh, huyện A Lưới, Tỉnh Thừa Thiên – Huế trong bối cảnh hiện nay .(Thông báo dân tộc học – 2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Xuân Hồng : "Sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên rừng của người TàÔi ( Pacoh) ở thôn Phú Thượng, xã Phú Vinh, huyện A Lưới, Tỉnh ThừaThiên – Huế trong bối cảnh hiện nay
11. Trần Thị Huệ : Tác động của du lịch đối với một số dân tộc huyện Sa Pa.Luận văn thạc sĩ Dân tộc học – 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thị Huệ : "Tác động của du lịch đối với một số dân tộc huyện Sa Pa
12. Trần Thị Hường : Du lịch về làng. Khóa luận tốt nghiệp Dân tộc học – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thị Hường ": Du lịch về làng
13. Nguyễn Liễn : Sa Pa trăm nẻo đi về. Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội – 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Liễn : "Sa Pa trăm nẻo đi về
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
14. Nguyễn Đức Mười : Lào Cai vận hội mới. Nxb Chính Trị Quốc Gia – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đức Mười : "Lào Cai vận hội mới
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc Gia – 2005
15. Hà Thị Kim Oanh : Chợ tình của người Dao đỏ Sa Pa. Tạp chí dân tộc học, số 1 – 1997 (tr76-76) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Thị Kim Oanh ": Chợ tình của người Dao đỏ Sa Pa
16. Phòng Thương Mại – Du Lịch huyện Sa Pa : Tổng kết công tác Thương Mại Du Lịch năm 2005. Phương hướng nhiệm vụ 2006 ( Tài liệu lưu trữ tại phòng thương mại và du lịch huyện Sa Pa) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng Thương Mại – Du Lịch huyện Sa Pa : "Tổng kết công" tác "ThươngMại Du Lịch năm 2005
17. Phạm Quỳnh Phương : Du lịch ở Sa Pa – Hiện trạng và thách thức . Tạp chí văn hóa dân gian, số1 - 1997 (tr58-62) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Quỳnh Phương : "Du lịch ở Sa Pa – Hiện trạng và thách thức
18. Trần Hữu Sơn : Xây dựng đời sống văn hóa vùng cao. Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Hữu Sơn : "Xây dựng đời sống văn hóa vùng cao
Nhà XB: Nxb Văn hóa dântộc
20. Lê Ngọc Thắng : Một số vấn đề dân tộc và phát triển. Nxb Chính Trị Quốc Gia – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Ngọc Thắng : "Một số vấn đề dân tộc và phát triển
Nhà XB: Nxb Chính TrịQuốc Gia – 2005
21. Tổ chức phát triển Quốc Tế Anh DFID : Nghiên cứu định canh định cư ở Việt Nam. Nxb Chính Trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức phát triển Quốc Tế Anh DFID : "Nghiên cứu định canh định cư ởViệt Nam
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc Gia
22. UBND huyện Sa Pa : Báo cáo kết quả thực hiện chỉ tiêu KTXH – ANQP năm 2006. Phương hướng nhiệm vụ 2007. ( Tài liệu lưu trữ văn phòng UBND huyện Sa Pa) Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND huyện Sa Pa : "Báo cáo kết quả thực hiện chỉ tiêu KTXH – ANQPnăm 2006. Phương hướng nhiệm vụ 2007
23. UBND xã Tả Phìn : Báo cáo tổng kết thường niên 2007, 2008. (Tài liệu lưu trữ văn phòng UBND xã Tả Phìn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND xã Tả Phìn : "Báo cáo tổng kết thường niên 2007, 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH 1.1 : BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN SA PA - Sinh kế của người dao trong quá trình hội nhập và phát triển – trường hợp người dao đỏ ở tả phìn
HÌNH 1.1 BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN SA PA (Trang 8)
Bảng1. 6: Bảng thống kê số hộ kinh doanh nhà nghỉ ở một số xã - Sinh kế của người dao trong quá trình hội nhập và phát triển – trường hợp người dao đỏ ở tả phìn
Bảng 1. 6: Bảng thống kê số hộ kinh doanh nhà nghỉ ở một số xã (Trang 13)
Bảng 1.7 : Cơ cấu kinh tế của huyện năm 2005 - Sinh kế của người dao trong quá trình hội nhập và phát triển – trường hợp người dao đỏ ở tả phìn
Bảng 1.7 Cơ cấu kinh tế của huyện năm 2005 (Trang 14)
Bảng 2.1: Thống kê sản lượng ngô một số hộ gia đình ở  thôn Sả Xéng - Sinh kế của người dao trong quá trình hội nhập và phát triển – trường hợp người dao đỏ ở tả phìn
Bảng 2.1 Thống kê sản lượng ngô một số hộ gia đình ở thôn Sả Xéng (Trang 31)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w