1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất xã vũ lạc – kiến xương – thái bình giai đoạn 2005 – 2015

86 285 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 274,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này được thể hiện qua việc quy hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung của quản lý nhà nước về đất đai được quy định trong luật đất đai từ năm 1993 đến năm 2003.. Về thuật ngữ

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦUĐất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là yếu tố đóng vai trò quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.

Để quản lý và sử dụng tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả đòi hỏi Nhà nước cần phải có những biện pháp sử dụng phù hợp Một trong những biện pháp ấy là quy hoạch sử dụng đất đai Bởi Quy hoạch sử dụng đất đai là căn cứ để giao đất và cấp giấp chứng nhận quyền sử dụng đất đai cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất ổn định lâu dài đồng thời góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nẩy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau Do vậy, quy hoạch

sử dụng đất là một trong hoạt động quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Điều này được thể hiện qua việc quy hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung của quản lý nhà nước về đất đai được quy định trong luật đất đai từ năm 1993 đến năm 2003

Quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển đất nước Tuy nhiên trước thực tế đất đai sử dụng không đúng mục đích, chuyển đổi mục đích sử dụng một cách tuỳ tiện, sử dụng lãng phí không đem lại hiệu quả cao Nhiều quy hoạch sử dụng đất lập xong để đó: “Quy hoạch treo”, không có tính khả thi, không có hiệu quả, không đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các ngành kinh tế Tất cả những việc đó đều do: khi xây dựng quy hoạch sử dụng đất không đánh giá đúng hiện trạng của đất, không tìm hiểu phân tích kỹ nhu cầu sử dụng đất của các ngành kinh tế Vì vậy, đòi hỏi

Trang 2

việc lập quy hoạch phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, nhu cầu sử dụng đất của địa phương cần lập.

Vũ Lạc là một xã có lịch sử hình thành cũng như huyện Kiến Xương,

là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử- văn hoá Với lực lượng lao động khá dồi dào, những nét đẹp văn hoá và các tập quán sinh hoạt, tập quán sản xuất trên địa bàn đã tạo một nguồn tài nguyên nhân văn khá phong phú, đa dạng Cùng địa hình bằng phẳng, khu dân cư phân bố quần tụ, tách biệt với những cánh đồng bát ngát, cơ sở hạ tầng phát triển mang đậm sắc thái của các làng xã đồng bằng sông Hồng Với vị trí kinh tế-xã hội khá thuận lợi do nằm gần Thành phố Thái Bình và có tuyến tỉnh lộ 39 chạy qua nên việc giao lưu trao đổi hàng hoá với bên ngoài khá sôi động Do vậy, việc quy hoạch sử dụng đất của xã đòi hỏi phải thực tế, và cần được tính toán đầy đủ chính xác, phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế

Xuất phát từ mục đích đó em đã chọn đề tài: “Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất xã Vũ Lạc – Kiến Xương – Thái Bình giai đoạn

2005 – 2015 ” nhằm đưa ra các phương án quy hoạch sử dụng đất một cách

hợp lý để phát huy được hết tiềm năng đất đai

Kết cấu đề tài gồm có 3 chương:

chương I: Cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất

chương II: Thực trạng sử dụng đất và đánh giá thực trạng sử dụng đất của xã

Vũ Lạc

chương III: Những giải pháp thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Vũ lạc- Huyện Kiến Xương - Tỉnh Thái Bình

Trang 3

NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

ĐAI.

I. Khái niệm và đặc điểm của Quy hoạch sử dụng đất đai

1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất đai:

a/ Khái niệm:

Quy hoạch sử dụng đất đai cũng giống như các quy hoạch khác nó có các thuộc tính của quy hoạch nói chung và những thuộc tính đó gắn với đối tượng quy hoạch là đất đai

Để hiểu khái niệm quy hoạch đất đai, cần tìm hiểu khái niệm đất đai dưới góc độ quản lý đất đai Về thuật ngữ “đất đai” do hiện nay chưa có định nghĩa chuẩn Tuy nhiên, dựa theo các quy định của pháp luật hiện hành thì thuật ngữ “đất đai” có thể hiểu như sau:

- Đất đai là tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư , xây dựng các cơ sở kinh tế văn hoá, xã hội,

Trang 4

các tính chất lý hoá tính…) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau.

Như vậy, mặc dù hiện có nhiều định nghĩa về “đất đai” nhưng nói chung đều có sự giống nhau ở các thuộc tính : Là một diện tích bề mặt có giới hạn, có chiều nằm ngang kết nối mọi thành phần liên quan với nhau về các điều kiện tự nhiên và điều kiện sống của động thực vật, là bộ phận không thể tách rời của quốc gia

Về thuật ngữ “ quy hoạch sử dụng đất đai” thì có hai cách định nghĩa:

- “Quy hoạch sử dụng đất đai là việc Nhà nước bố trí, sắp xếp các loại đất đai cho các đối tượng sử dụng theo các phạm vi không gian và trong từng khoảng thời gian nhất định, với mục đích phục vụ tốt nhất cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và cho pháp sử dụng hợp

lý, có hiệu quả các yếu tố đất đai” ( theo cuốn Giáo trình Quản lý mhà nước

về đất đai và nhà ở )

- “Quy hoạch đất đai là việc khoanh định hoặc điều chỉnh việc khoanh định đối với các loại đất cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và trong phạm vi cả nước, sự tính toán, phân bổ việc sử dụng đất đai cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí không gian.” ( theo cuốn sách Những điều cơ bản về luật đất đai năm 2003)

Với hai cách định nghĩa trên đều có cho thấy Quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất:

- Tính kinh tế: thể hiện qua hiệu quả sử dụng đất

- Tính kỹ thuật: biểu hiện qua các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật là điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu…

- Tính pháp chế : xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền

sử dụng đất nhằm đảm bảo sử dụng đất đai theo pháp luật

Trang 5

b./ Vai trò của quy hoạch sử dụng đất:

Quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững phát huy lợi thế của thổ nhưỡng và lãnh thổ để mang lại lợi cao, thực hiện đồng thời 2 chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường

Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và trên cơ sở đó lập kế hoạch chi tiết sử dụng đất của mình; xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá-xã hội với hiệu quả cao

Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất đai còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai phát huy lợi thế ngành và lãnh thổ, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp; ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những hậu quả khó lường

về tình hình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng của từng địa phương, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường

Trang 6

2. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất:

“Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện cụ thể như sau:

Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội

Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất đai mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp lý (là phương tiện mở rộng, củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai)

Ở nước ta hiện nay, quy hoạch sử dụng đất phục vụ nhu cầu của người

sử dụng đất và quyền lợi của toàn xã hội; góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nẩy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau

Trang 7

2.2 Tính tổng hợp:

Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất biểu hiện ở hai mặt:

- Đối tượng quy hoạch sử dụng đất là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ… toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

- Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế, và

xã hội như: Khoa học tự nhiên, KH –XH, dân số và đất đai, sản xuất nông công nghiệp, môi trường sinh thái…

Với đặc điểm này, quy hoạch có tính chất tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất; điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân bổ sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn định

2.3 Tính dài hạn:

Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh tế - xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn (phương hướng, chính sách và biện pháp sử dụng đất để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội ) của quy hoạch sử dụng đất đai từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn

Căn cứ vào các dự báo cụ thể biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế - xã hội quan trọng ( như thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nông nghiệp…) từ đó xác định quy hoạch về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng chính sách và biện pháp

có tính chiến lược, là căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hằng năm và ngắn hạn

Trang 8

2.4 Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô :

Quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch namg tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất các ngành, như:

- Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng

- Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành

- Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng

- Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất

Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài ảnh hưởng của nhiều nhân

tố kinh tế xã hội, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hoá, quy hoạch sẽ càng ổn định

2.5 Tính chính sách:

Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rõ đặc tính chính trị và chính sách

xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định

có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai với mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển

ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái

2.6 Tính khả biến:

Khi xã hội phát triển , khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách

và tình hình kinh tế - xã hội thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất đai không còn phù hợp Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết

Trang 9

Điều đó thể hiện tính khả biến của quy hoạch - quy hoạch sử dụng đất đai luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “Quy hoạch - thực hiện – quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện…” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao.” (Trích Giáo trình quy hoạch sử dụng đất đai của tác giả Lương Văn Hinh).

II. Những quy định pháp lý về quy hoạch sử dụng đất đai:

A. Cơ sở pháp lý của quy hoạch pháp lý:

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp – công nghiệp - dịch vụ sang công nghiệp

- dịch vụ - nông nghiệp đã và đang gây áp lực ngày càng lớn đối với đất đai (bình quân mỗi năm phải chuyển khoảng 30000 ha đất nông nghiệp sang mục đích khác)

Việc sử dụng đất đai hợp lý liên quan chặt chẽ tới mọi hoạt động của từng ngành và từng lĩnh vực, quyết định đến hiệu quả sản xuất và sự sống còn của từng người dân cũng như vận mệnh của cả quốc gia Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác quản lý và sử dụng đất đai là vấn đề bức xúc

và cần được quan tâm hàng đầu

Ý chí của toàn Đảng, toàn dân quan tâm đến vấn đề đất đai được thể hiện trong hệ thống các văn bản pháp luật như: Hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật Và việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một hoạt động chiến lược quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam nêu rõ trong các văn kiện Đảng, trong Hiến pháp và các luật

- Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã khẳng định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, “ Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” ( Chương II, điều 18 )

Trang 10

- Điều 1 Luật đất đai năm 2003 cũng nêu rõ “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai”.

- Điều 6 Luật đất đai xác định một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai là “Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất”

- Năm 2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định 68/2002/NĐ_CP về quy hoạch kế sử dụng đất

- Gần đây nhất có Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT về hướng dẫn về trình tự, nội dung lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở các cấp

B Những quy định về quy hoạch sử dụng đất:

1 Yêu cầu của quy hoạch:

Quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành và cả nước phải đảm bảo thực hiện được các mục tiêu vĩ mô (bao quát chung toàn bộ xã hội và cả nước), như: an ninh lương thực, bảo vệ môi trường, công bằng xã hội…quy hoạch

sử dụng đất đi theo lãnh thổ hành chính phải cụ thể hoá các mục tiêu vĩ mô, cùng với việc sử dụng hợp lý các mục tiêu cụ thể của địa phương và các vấn

đề cụ thể của từng chủ sử dụng đất khác trên địa bàn nhưng phải đảm bảo yêu cầu sau:

- Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế-

xã hội, quốc phòng, an ninh

- Quy hoạch sử dụng đất đai phải chính xác và đảm bảo tính thống nhất

- Quy hoạch đất đai của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch của cấp trên nhưng đồng thời quy hoạch của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sừ sử dụng đất của cấp dưới;

- Quy hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết định, xét duyệt trong năm cuối của kỳ trước đó;

Trang 11

2 Trách nhiệm lập quy hoạch sử dụng đất:

Điều 25 của Luật đất đai 2003 quy định:

“ 2.1 Chính phủ tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước

2.2 Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương

2.3 Uỷ ban nhân dân huyện thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thị trấn thuộc huyện

Uỷ ban nhân dân huyện, quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương,

Uỷ ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các đơn vị hành chính cấp dưới

2.4 Uỷ ban nhân dân xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị trong kỳ quy hoạch sử dụng đất tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương

2.5 Quy hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn được lập chi tiết gắn với thửa đất (sau đây gọi là quy hoạch sử dụng đất chi tiết); trong quá trình lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết, cơ quan tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân

Kế hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn được lập chi tiết gắn với thửa đất (sau đây gọi là kế hoạch sử dụng đất chi tiết)

2.6 Uỷ ban nhân dân cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông

Trang 12

qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

2.7 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được trình đồng thời với

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.”

Quy hoạch sử dụng đất đai được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt là căn cứ để bố trí sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất

3 Nội dung lập quy hoạch sử dụng đất:

Điều 23 của Luật đất đai 2003 quy định nội dung lập quy hoạch sử dụng đất chung cho cả 4 cấp là cả nước, tỉnh, huyện, xã như sau:

“ Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai;

Xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch;

Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh;

Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án; Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường; Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất.”

4 Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch sử dụng đất:

Điều 26 của Luật đất đai 2003 quy định:

“4.1 Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước do Chính phủ trình

Trang 13

4.2 Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

4.3 Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp 4.4 Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của xã.”

Ngoài ra việc quy định việc xét duyệt quy hoạch được quy định cụ thể hơn trong Nghị định 181/CP về hướng dẫn việc thực thi Luật đất đai

C) Nội dung, trình tự lập quy hoạch cấp xã:

Việc quy định việc lập quy hoạch cấp xã đã được quy định cụ thể trong Thông tư 30 của Bộ tài nguyên và môi trường và được thể hiện như sau:

“B.1 Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương :

Điều tra, thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế -

xã hội, dự kiến phát triển các ngành của xã trong tương lai có liên quan đến

sử dụng đất của xã

Cụ thể:

-Về điều kiện tự nhiên cần điều tra là: vị trí địa lý, địa hình - địa mạo, khí hậu - thời tiết, thuỷ văn, các nguồn tài nguyên, cảnh quan môi trường

- Về điều kiên kinh tế xã hội cần điều tra: tình hình kinh tế, tình hình

cơ sở hạ tầng, tình hình các khu dân cư nông thôn

Trang 14

Từ các tư liệu thu thập ở trên tiến hành nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các thông tin, tư liệu của địa phương từ đó lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết và kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ đầu của xã.

Thu thập các thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện

đã được xét duyệt có liên quan đến việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của xã

Thu thập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa chính của xã

B.2 Đánh giá tình hình sử dụng đất và biến động sử dụng đất của địa phương đối với giai đoạn mười (10) năm trước

Đánh giá hiện trạng các loại đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng

- Đối với đất nông nghiệp gồm: đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và các loại đất nông nghiệp khác cần xác định rõ diện tích hiện trạng sử dụng đất

- Đối với đất phi nông nghiệp cần đánh giá tình hình cụ thể từng loại đất trong các nhóm đất sau: đất ở; đất chuyên dùng; đất tôn giáo, tín ngưỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa

- Đối với đất chưa sử dụng cũng giống như các loại đất trên

B.3 Đánh giá tiềm năng đất đai và sự phù hợp của hiện trạng sử dụng đất so với tiềm năng đất đai, so với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ của địa phương

Đối với đất nông nghiệp đánh giá hiện trạng sử dụng đất có phù hợp với tổng quỹ đất nông nghiệp của xã, đánh giá khả năng chuyển đổi cơ cấu

sử dụng đất nông nghiệp có phù hợp với chiến lược tổng thể của xã

Trang 15

Đối với đất phi nông nghiệp cần đánh giá tiềm năng sử dụng các loại đất như đất sản xuất kinh doanh, đất ở,

Đối với đất chưa sử dụng cần đánh giá khả năng đưa đất vào sử dụng B.4 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ trước của địa phương

Đánh giá các mặt được và chưa được về việc khai thác và đưa vào sử dụng các loại đất nông nghiệp; đất phi nông nghiệp; đất chưa sử dụng

B.5 Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ trước

Đánh giá tiến độ thực hiện kế hoạch sử dụng đất, kết quả thu hồi đất, giao đất cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư

Đánh giá những mặt được và chưa được của kế hoạch sử dụng đất kỳ trước

B.6 Xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch

Tổng hợp và dự báo nhu cầu sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tại địa phương

Xác định khả năng đáp ứng về số lượng, chất lượng đất đai cho nhu cầu sử dụng đất

Trên cơ sở nhu cầu sử dụng đất và khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng đất xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch

B.7 Xây dựng các phương án quy hoạch sử dụng đất chi tiết

Xây dựng các phương án phân bổ quỹ đất cho nhu cầu phát triển kinh

Trang 16

Thể hiện lên bản đồ địa chính các khu vực sử dụng đất theo từng phương án phân bổ quỹ đất đã được xác định và các khu vực sử dụng đất đã được khoanh định trong quy hoạch sử dụng đất của cấp trên.

Đối với địa phương chưa có bản đồ địa chính thì được thay thế bằng loại bản đồ khác phù hợp nhất đang có tại địa phương

B.8 Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các phương án quy hoạch sử dụng đất

Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn xã; tác động của phương án quy hoạch sử dụng đất đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; nguồn thu cho ngân sách xã đối với mỗi phương án quy hoạch sử dụng đất Đánh giá quá trình thay đổi tập quán canh tác cũ chuyển sang việc sử dụng đất ổn định đối với các xã thuộc khu vực dân tộc thiểu số

Đánh giá việc giải quyết quỹ nhà ở, khả năng giải quyết đất sản xuất nông nghiệp, mức độ thu nhập đối với xã vùng nông thôn không thuộc khu vực phát triển đô thị Đánh giá mức độ ảnh hưởng đến đời sống các hộ dân phải di dời chỗ ở, số lao động mất việc làm do bị thu hồi đất, số việc làm mới được tạo ra từ việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đối với các xã thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị

Đánh giá hiệu quả việc chỉnh trang khu dân cư nông thôn, khu đô thị, giải quyết ô nhiễm môi trường thuộc khu dân cư Đánh giá hiệu quả giao rừng, việc bảo vệ và phát triển rừng đối với các xã miền núi

Đánh giá việc bảo tồn các di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh trên địa bàn xã; đánh giá việc bảo tồn bản sắc dân tộc đối với các xã thuộc khu vực dân tộc thiểu số

Trang 17

B.9 Lựa chọn phương án hợp lý về quy hoạch sử dụng đất chi tiết của địa phương được thực hiện căn cứ vào kết quả phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của từng phương án quy hoạch sử dụng đất.

B.10 Phân kỳ quy hoạch sử dụng đất: Phân chia các chỉ tiêu sử dụng đất theo mục đích sử dụng, diện tích đất phải chuyển mục đích sử dụng, diện tích đất phải thu hồi, diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ đầu và kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ cuối

B.11 Xây dựng bản đồ quy hoạch sử dụng đất chi tiết

Xây dựng bản đồ quy hoạch sử dụng đất chi tiết của phương án quy hoạch được lựa chọn

Xây dựng bản đồ tổng hợp quy hoạch sử dụng đất trên cơ sở tổng hợp bản đồ quy hoạch sử dụng đất chi tiết

B.12 Lập kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ đầu

Cụ thể hoá các chỉ tiêu sử dụng đất trong kế hoạch sử dụng đất chi tiết

kỳ đầu đã được xác định đến từng năm

Dự kiến thu ngân sách từ việc đấu giá đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã và các chi phí cho quản lý đất đai tại xã

B.13 Xác định các biện pháp bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường

Lựa chọn các biện pháp như chống rửa trôi, chống xói mòn đất, chống

ô nhiễm nguồn nước, không khí đồng thời sử dụng tiết kiệm, khai thác triệt

để đất đai cũng như các nguồn tài nguyên khác

B.14 Xác định các giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ đầu Xác định các giải pháp phù

Trang 18

hợp với việc tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ đầu tại xã.”

III Tình hình quy hoạch sử dụng đất hiện nay:

1 Tình hình quy hoạch sử dụng đất những năm qua

Hệ thống công tác quy hoạch sử dụng đất đai gồm 4 cấp: cấp cả nước, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã ở nước ta được quy định trong Luật Đất đai

1987, 1993 và Luật Đất Đai 2003 hiện hành Trách nhiệm, thẩm quyền về lập, trình, thẩm định, xét duyệt, điều chỉnh của tất cả các cấp cũng được quy định rõ ràng Hệ thống này là chặt chẽ, hướng đích và chủ trương nhất quán Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, tức là hình thức sở hữu nhà nước của chế

độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy

Trang 19

hoạch và pháp luật Trong những năm qua hệ thống công tác quy hoạch sử dụng đất đai đã được duy trì và không ngừng phát triển Kết quả công tác quy hoạch sử dụng đất cũng có một bước chuyển mới, như một mốc son trong quá trình hình thành và phát ttriển của mình Điều đó được thể hiện rõ

ở một số mặt sau đây:

- Tính đến tháng 9/1995 đã có 9 tỉnh, 20 huyện triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đai, khoảng 2000 cơ sở cấp xã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất đai

Ngày 5/12/1995 Thưòng trực Chính phủ có phiên họp xem xét báo cáo định hướng quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2010 và hoàn chỉnh việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai cả nước để chuẩn bị trình Quốc hội trong kỳ họp vào năm sau

- Tính đến tháng 8/1996 đã có 18 tỉnh, 15 huyện xây dựng xong

và 20 huyện đang triển khai, tổng số trên 3000 xã đã xây dựng xong hoặc đang triển khai quy hoạch sử dụng đất đai

- Chính phủ đã có tờ trình số 4012/KTN ngày 19/8/1996, số 4665/KTN ngày 16/10/1996 trình Quốc hội khoá IX về quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2010 tại kỳ họp thứ 10 ( họp từ ngày 15/10 đến 12/11/1996 ) Tại điểm 5 của Nghị quyết về nhiệm vụ năm 1997 kỳ họp này của Quốc hội đã ghi: “ Trên cơ sở báo cáo của Chính phủ về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và ý kiến của các đại biểu Quốc hội, các ngành, địa phương khẩn trương xây dựng quy hoạch và kế khoạch sử dụng đất của ngành, địa phương mình; Chính phủ tổng hợp, hoàn thiện đề án quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất trong phạm vi cả nước trình Quốc hội tại kỳ họp sau”

Trang 20

Trên cơ sở Nghị quyết này quy hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 đã được hoàn thiện thêm.

- Ngày 10/3/1997, Chính phủ có tờ trình số 1091/KTN trình Quốc hội quy hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá IX

- Ngày 24/3/1997, Đảng Đoàn Quốc hội có tờ trình số 243/ĐĐQHK9, Quốc hội khoá 9 trình Bộ Chính trị về quy hoạch sử dụng đất của cả nước đến năm 2010, kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm

1996 – 2000 và kế hoạch giao đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng

để sử dụng vào mục đích khác năm 1997

- Tại kỳ họp thứ 5, khoá IX ( họp từ ngày 02/4 đến ngày 10/5/1997 ) Quốc hội đã ra Nghị quyết về kế hoạch sử dụng đất đai trong cả nước 5 năm từ năm 1996 đến 2000, thông qua ngày 10/5/1997.Trong suốt thời kỳ sau đó, căn cứ theo điểm 3 của Nghị quyết này có ghi: “ Căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trên

cơ sở thực hiện Nghị quyết này, Chính phủ chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang

bộ, Cơ quan thuộc chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tiếp tục hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng quỹ đất đai do mình quản lý; trên cơ

sở đó, Chính phủ hoàn chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai dài hạn trong cả nước để trình Quốc hội xem xét, quyết định” Và có thể do chưa có chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nên cả nhiệm kỳ Quốc hội khoá X, không có kỳ họp nào xem xét, quyết định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của cả nước Trong giai đoạn này có sự kiện khủng hoảng tài chính- tiền tệ mà gọi là “ cú sốc ” làm ảnh hưởng đến việc đầu tư nói chung và trực tiếp là nhiều dự án sử dụng đất bị chậm lại điều khó tránh khỏi Công tác lập

Trang 21

quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vẫn được tiến hành nhưng có phần trầm lắng hơn và đi vào chiều sâu hơn, có sự thận trọng hơn nhưng lại nghiêng về các dự án cụ thể, đơn lẻ.

Suốt thời gian dài như vậy, tới đầu năm 2004, khi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 được Đại hội Đảng thông qua, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai được dự kiến đưa vào chương trình nghị sự của kỳ họp thứ 5 ( họp từ ngày 11/5- 15/6/2004 ) của Quốc hội khoá XI Tại

kỳ họp này, quốc hộiđã thông qua quy hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2005 (Nghị quyết

số 29/2004/QH11, kỳ họp thứ 5, thông qua ngày 15/6/2004) Vào thời điểm này, 61/64 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương (do có 3 đơn vị mới được thành lập), xấp xỉ 50% số huyện và số xã ( hiện nay 70% đơn vị cấp huyện, trên 60% đơn vị cấp xã ) đã lập xong quy hoạch sử dụng đất của cấp mình

Mặt khác các nghiên cứu chiến lược ở tầm vĩ mô còn thiếu nhiều, điều kiện khoa học công nghệ vốn liếng cũng như lực lượng cán bộ chưa cho phép, lực lượng sản xuất chưa phát triển kịp với quan hệ sản xuất có tính áp đặt đòi hỏi phải chuyển đổi sang cơ chế thị trường, đổi mới các thể chế, thiết chế, chế tài…đã làm cho cách tiếp cận về phương pháp, nội dung và sự điều tra, quy hoạch nói chung xáo trộn, tình rạng mạnh ai nấy làm là phổ biến nên

Trang 22

chưa chú trọng đến các cơ sở khoa học một cánh đầy đủ, đúng đắn và chính xác

Thêm vào đó có xu hướng hội nhập giao lưu rộng rãi với các nước xung quanh và các nước phương tây bằng nhiều con đường như du học, thực tập, đào tạo nâng cao và trao đổi thông tin qua mạng…tạo ra các luồng tư tưởng “kỹ trị”, “sùng bái”, “giáo điều” là khó tránh khỏi Do đó một mặt vừa thiếu lý luận tổng kết và thực tiễn, mặt khác lại nôn nóng, hiểu biết hạn hẹp

về lý luận cũng như thực tiễn của cơ chế kinh tế thị trường nhất là của phương tây dẫn đến xem nhẹ các phương pháp truyền thống, phương pháp

kế thừa, xem nhẹ các mặt tổng thể, rất hạn chế trong việc nghiên cứu các vấn

đề vĩ mô có ý nghĩa chiến lược, nghiêng hẳn về cụ thể thực dụng làm cho các yếu tố khoa học sử dụng đất đai mờ đi, cốt làm cho kịp tiến độ thời gian

do chỉ thị, nghị quyết trong đó có cả bệnh thành tích của cả cơ quan chuyên môn và cơ quan chính quyền các cấp Vấn đề này có thể thấy rõ ở các mặt sau: nước ta có tới 100 triệu thửa đất, rất manh mún lại phân bố không đồng đều; nơi có nhiều đất thường nghèo, dân cư thưa thớt; chỗ đất ít thì trù phú, đông dân,bắt buộc sử dụng cho các mục đích phi nông nghiệp vào đất ruộng thậm chí đất ruộng lúa 2,3 vụ tốt; xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp thường xây dựng theo kiểu biệt khu, lãng phí đất ở khu vực xung quanh, thiếu đồng bộ; xây dựng khu dân cư thì tranh giành ra mặt đường, bờ vùng kênh mương…

Những yếu tố tác động tới quy hoạch như vốn đầu tư, biện pháp khoa học kỹ thuật, phong tục tập quán và sản xuất sinh hoạt chưa được xem xét, tính toán cụ thể và đầy đủ làm cho quy hoạch rời xa thực tế, thiếu tính khả thi dẫn đến “treo” hoặc thực hiện không theo quy hoạch

Trang 23

So sánh về nội dung, cách làm, cách quản lý quy hoạch, tính pháp lý trên thực tế ( hiệu lực pháp lý của các quy hoạch ), truyền thống công tác quy hoạch… thì thấy rõ nước ta đi sau nhiều nước một khoảng thời gian dài nhưng lại rất cố gắng vượt trước một số mặt ví dụ như tính bao quát - phủ trùm, tính hệ thống, tính phân vùng không gian lãnh thổ và phân vùng hành chính…

Tuy vậy vẫn không thể nào tránh được hạn chế đáng kể đang tồn tại ở hầu hết các quy hoạch ở cả 4 cấp đó là: làm ào ào theo phong trào, là rải mành mành thiếu tập trung và chưa đồng bộ, mạnh ai nấy làm, ai cũng có thể làm quy hoạch, nội dung quy hoạch phản ánh nhiều mong muốn duy ý chí, thiếu tính khả thi do còn hạn chế về tài liệu điều tra cơ bản,không tính được các yếu tố về vốn, các yếu tố về kinh tế - xã hội – môi trường, chính trị

và chính sách, văn hoá…trong sử dụng và quản lý đất đai, các yếu tố ngoại sinh thì thường tính quá lên…Hơn thế nữa yếu tố lợi ích cục bộ là khá phổ biến Vì thế quy hoạch làm xong để đấy hoặc không làm theo quy hoạch làm cho nhiều quy hoạch trở thành quy hoạch “treo” Ví dụ rất phổ biến là trong các quy hoạch sử dụng đất các cấp thường cố ghi bằng được thật nhiều diện tích cho xây dựng công nghiệp

CHƯƠNGII: Thực trạng sử dụng đất và đánh giá thực trạng sử dụng đất của xã Vũ Lạc.

A Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường và thực trạng sử dụng đất của xã Vũ Lạc.

I Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường.

1) Điều kiện tự nhiên.

1.1) Vị trí địa lý.

Trang 24

Xã Vũ Lạc nằm ở phía Tây của huyện Kiến Xương, giáp ranh với Thành Phố Thái Bình Tổng diện tích tự nhiên của xã là 747,37 ha.

Giáp ranh của xã bao gồm:

- Phía Bắc giáp xã Vũ Đông, Vũ Sơn

- Phía Nam giáp xã Vũ Ninh, Vũ An

- Phía Đông giáp xã Vũ Lễ

- Phía Tây giáp phường Trần Lãm, xã Vũ Chính, xã Hoàng Diệu thành phố Thái Bình

Với vị trí kinh tế-xã hội khá thuận lợi do nằm gần thành phố Thái Bình và có tuyến tỉnh lộ 39 chạy qua nên việc giao lưu trao đổi hàng hoá với bên ngoài khá sôi động

1.2) Địa hình - địa mạo.

Địa hình mang tính chất chung của vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng nên địa hình tương đối bằng phẳng có độ dốc <10, thấp dần từ khu dân

cư ra sông Tính chất bằng phẳng của địa hình chỉ bị phá vỡ bởi các sông ngòi kênh rạch và một số gò nằm rải rác Độ cao bề mặt hầu hết từ 0,7-1,25

m so với mực nước biển, mức độ chênh lệch địa hình không quá 1 m Địa hình xã Vũ Lạc nhìn chung bằng phẳng dốc dần từ Bắc xuống Đông Nam

Như vậy, với độ cao trung bình so với mặt nước biển thấp, địa hình lại tương đối bằng phẳng, độ dốc không lớn thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu trao đổi hàng hoá Những vùng thấp, trũng thuận lợi phát triển nuôi trồng thuỷ sản

1.3) Khí hậu - thời tiết.

Mang đặc điểm khí hậu đồng bằng Bắc Bộ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển Khí hậu của xã chia làm 4 mùa:

Trang 25

Xuân, hạ, thu, đông Mùa hạ thời tiết nóng, ẩm mưa nhiều; mùa đông trời lạnh, khô và ít mưa Theo chế độ mưa khí hậu của xã chia làm hai mùa: mùa mưa và mùa khô.

- Mùa mưa: Bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với đặc trưng là nóng, ẩm, mưa nhiều Lượng mưa trung bình 1788 mm, lượng mưa cao nhất vào tháng 4,5 và tháng 7,8 là 1860 mm; lượng mưa thấp nhất vào tháng 11,12 là 1716 mm

- Mùa khô: từ giữa tháng 11 đến cuối tháng 3 năm sau có khí hậu lạnh, ít mưa Hướng gió thịnh hành là gió Đông Bắc, gây lạnh đột ngột Nhiệt độ trung bình thấp nhất là 150C

- Các đặc trưng khí hậu: nhiệt độ trung bình năm 23-240C, tháng 6,8 có nhiệt

độ cao nhất là 380C-390C; tháng 1,2 có nhiệt độ thấp nhất là 50C-90C Tổng tích ôn hàng năm là 85000C, số giờ nắng trung bình 1600 đến 1800 giờ/năm

Độ ẩm không khí có chỉ số dao động từ 82-94%; lượng bốc hơi trung bình năm là 700 mm

- Gió, bão: chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính: Gió Đông Bắc thổi vào mùa lạnh, gió Đông Nam thổi vào mùa nóng tốc độ trung bình 2- m/s Vào tháng 6,7 có xuất hiện vài đợt gió Tây khô nóng, mùa Đông từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau có những đợt rét đậm kéo dài ngoài ra hàng năm còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của 2-3 cơn bão với sức gió và lượng mưa lớn gây ảnh cho sản xuất nông nghiệp cũng như sinh hoạt của nhân dân

Tuy nhiên, do khí hậu chia làm nhiều mùa một năm, cùng với chế độ nhiệt đa dạng nên thuận lợi cho phát triển kinh tế- xã hội, nhất là phát triển nền nông nghiệp đa dạng với nhiều giống cây, con tạo điều kiện tốt cho phát triển thâm canh tăng vụ

Trang 26

Là xã có sông Trà Lý chảy qua cùng với hệ thống sông ngòi nhỏ và rất nhiều ao, hồ là nguồn cung cấp và dự trữ nước ngọt rất quan trọng đặc biệt

là vào mùa khô hạn Tuy nhiên do địa hình bằng phẳng, độ dốc nhỏ nên khả năng thoát nước chậm, khi mưa lớn thường gây úng ngập cục bộ Chế độ thuỷ văn khá chủ động

1.5) Các nguồn tài nguyên.

* Tài nguyên đất.

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 747,37 ha, hầu hết diện tích này

đã được đưa vào sử dụng Đất đai của xã được hình thành nhờ sự bồi lắng của phù sa các con sông

* Tài nguyên nước.

Gồm cả hai nguồn nước: nước mặt, nước ngầm

Nguồn nước mặt: chủ yếu là hệ thống sông ngòi nhỏ cùng với rất nhiều ao, hồ là nguồn cung cấp nước mặt chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, chất lượng nước tương đối tốt không bị ô nhiễm nhiều

Nguồn nước ngầm: có trữ lượng nước ngầm lớn, mực nước ngầm nông thuận lợi cho việc khai thác Hiện nay hầu hết người dân trên địa bàn

xã dùng nguồn nước này phục vụ cho sinh hoạt, tuy nhiên qua điều tra khảo sát cho thấy nguồn nước ngầm có chứa nhiều sắt, cần được xử lý trước khi đưa vào sinh hoạt Đây là nguồn tài nguyên quan trọng cần được bảo vệ khai thác hợp lý để phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân

Tóm lại, tài nguyên nước (cả nước mặt và nước ngầm) của xã Vũ Lạc tương đối dồi dào, dễ khai thác Chất lượng nước mặt khá tốt, nước ngầm cần phải qua quá trình xử lý trước khi đưa vào sử dụng

* Tài nguyên nhân văn.

Trang 27

Vũ Lạc có lịch sử hình thành cũng như huyện Kiến Xương, là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử- văn hoá Là vùng đất được hình thành từ thế kỷ XIII (thời Trần).

Nhân dân xã Vũ Lạc cùng với nhân dân huyện Kiến Xương nói riêng

và nhân dân Tỉnh Thái Bình nói chung đã trải qua nhiều thời kỳ chiến tranh Với tinh thần đoàn kết trong cả thời chiến và thời bình đã đưa đời sống của nhân dân ngày càng cao Các phong tục lễ hội truyền thống cùng với các di sản văn hoá được gìn giữ và phát huy

Theo số liệu thống kê đến 31/12/2005 toàn xã có 10021 người Với lực lượng lao động khá dồi dào, những nét đẹp văn hoá và các tập quán sinh hoạt, tập quán sản xuất trên địa bàn đã tạo một nguồn tài nguyên nhân văn khá phong phú, đa dạng giúp cho cộng đồng dân cư tồn tại và phát triển, cùng nhau xây dựng kinh tế - xã hội ngày càng phát triển

Ngày nay, trong thời kỳ đổi mới cùng với sự lãnh đạo của HĐND, UBND xã, toàn nhân dân trong xã đã phát huy truyền thống đoàn kết, phát huy ý thức tự lực, tự cường khắc phục mọi khó khăn để vươn lên thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội đảng bộ đề ra

2) Cảnh quan môi trường.

Với địa hình bằng phẳng, khu dân cư phân bố quần tụ, tách biệt với những cánh đồng bát ngát, cơ sở hạ tầng phát triển mang đậm sắc thái của các làng xã đồng bằng sông Hồng Đan xen trong làng xóm là các đền, chùa, nhà thờ họ mang đậm kiến trúc của các thời kỳ lịch sử Cùng với các công trình văn hoá phúc lợi công cộng, đường làng ngõ xóm được xây dựng khang trang… tạo ra bộ mặt nông thôn mới cho xã Vũ Lạc

Trang 28

Là một xã thuần nông tốc độ gia tăng dân số khá cao, đặc biệt là tỷ lệ sinh con thứ ba trong những năm gần đây gia tăng nên dưới sức ép của sự gia tăng dân số để đảm bảo cho nhu cầu đất ở, lương thực ngày một tăng nên con người đã can thiệp vào tự nhiên làm cho cảnh quan môi trường bị biến đổi Việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học… trong sản xuất nông nghiệp

đã ảnh hưởng đến môi trường nước, môi trường đất và không khí

Lượng rác thải chưa được thu gom, còn tồn đọng trong các ngõ xóm,

ao hồ ảnh hưởng đến sinh hoạt của các khu dân cư

Trước thực trạng trên, trong thời gian tới cùng với việc khai thác các nguồn lợi một cách tối đa để phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống thì việc tái tạo lại cảnh quan, bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững là cần thiết Quy hoạch sử dụng đất cần đáp ứng được yêu cầu đó

3) Đánh giá về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường liên quan đến sử dụng đất đai

Từ những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường của xã như đã nêu trên cho thấy:

a) Thuận lợi:

Có vị trí khá thuận lợi cùng với tiềm lực về con người và các điều kiện tự nhiên khác xã Vũ Lạc có điều kiện phát triển kinh tế theo hướng mà đại hội đảng bộ đã đề ra

Địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ, chế độ nhiệt nhìn chung đảm bảo cho phép gieo trồng 2 - 3 vụ/ năm Trong quy hoạch sử dụng đất cần bố

Trang 29

trí đa dạng hoá cây trồng để nâng cao hệ số sử dụng đất nguồn nước dồi dào thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, và sinh hoạt của người dân

Chế độ thuỷ văn chia làm hai mùa rõ rệt, một mùa dư thừa nước, một mùa thiếu hụt nước Do đó trong quy hoạch sử dụng đất cần bố trí sử dụng đất thích hợp để lợi dụng những thuận lợi và hạn chế những bất lợi của thời tiết khí hậu nhằm sử dụng đất có hiệu quả

Diện tích đất nông nghiệp khá lớn tuy nhiên trong quy hoạch sử dụng đất phải chú ý khai thác triệt để diện tích này để sản xuất nông nghiệp, đồng thời hạn chế tối đa việc sử dụng loại đất này vào mục đích phi nông nghiệp

b) Khó khăn:

Ngoài những thuận lợi, hiện nay xã còn gặp phải một số khó khăn sau:Chịu ảnh hưởng của gió bão, hàng năm vào mùa mưa tình trạng úng ngập cục bộ xảy ra gây cản trở cho việc sản xuất và sinh hoạt của người dân

Chất lượng nước ngầm cần được khắc phục xử lý trước khi đưa vào

Trang 30

nhiều khó khăn đó là: thiên tai thời tiết gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất vụ mùa, giá vật tư nông nghiệp tăng nhanh; hệ thống giao thông thuỷ lợi nhất là mương máng tưới tiêu chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng hoá, đợt dịch cúm gia cầm H5N1 cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát triển kinh tế xã hội chung của xã

bộ KHKT vào sản xuất như giống, phân bón, thủy lợi Với phương châm tập trung thâm canh hai vụ lúa, mở rộng diện tích cây vụ đông, thay đổi tập quán sản xuất, thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng cường đưa những giống có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt vào sản xuất

Diện tích gieo cấy năm 2005 là 913,4 ha, năng suất lúa đạt 124,45 tạ/ha Giảm 528 kg so với năm 2004 do ảnh hưởng của bão Về cây màu trồng được 108,9 ha tăng 11% so với kế hoạch

Sản xuất vụ đông do ảnh hưởng của mưa đầu vụ nên diện tích trồng cây vụ đông đạt 245 ha giảm 12% so với năm 2004

Tổng sản lượng lúa màu quy thóc đạt 6.129.055 kg, bình quân lương thực đầu người đạt 694 kg giảm 26 kg so với năm 2004

- Chăn nuôi:

Do thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc ở các thôn, xóm ngành chăn nuôi trong những năm qua đã đạt được kết quả

Trang 31

khả quan, đóng góp một phần quan trọng vào tỷ trọng ngành nông nghiệp Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp nông thôn nhân dân đã tích cực chăn nuôi gia súc gia cầm Theo thống kê năm 2005 tổng đàn trâu bò có 380 con, đàn lợn có 7920 con

Đàn gia cầm theo thống kê đợt tiêm phòng năm 2005 có 21.136 con

- Nuôi trồng thủy sản:

Việc nuôi trồng thuỷ sản được phát triển theo hướng thâm canh, sản xuất hàng hoá Đến năm 2005 tổng diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản là 32,91

ha Một số diện tích nuôi thả cá được các hộ kết hợp với thả rau cần

- Ngoài ra công tác khuyến nông, chuyển giao KHKT cây trồng vật nuôi được chú trọng phát triển Hàng năm mở các lớp tập huấn nâng cao trình độ thâm canh cho nông dân Trong hoạt động nông nghiệp tăng theo hướng phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, chuyển diện tích đất có hiệu quả kinh tế thấp sang nuôi trồng cây con khác

b) Về ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản:

Ngành nghề truyền thống của địa phương trong những năm qua đã có bước phát triển tiến bộ vượt bậc Đến nay toàn xã có 08 vệ tinh cho các doanh nghiệp như mây tre đan Hiệp Hoà thu hút từ 500-550 lao động tại chỗ, doanh nghiệp cơ khí xây dựng Hoàng Phát thu hút khoảng 50 lao động Địa phương đã có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp về thuê đất nhằm giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương

Các lao động khác được tập trung trong các công ty, xí nghiệp may dệt với số lượng lớn Mang lại nguồn thu nhập lớn cho các gia đình

Trang 32

Công tác xây dựng cơ bản trong năm qua đã đạt được những thành tựu đáng kể, năm 2005 đầu tư cho xây dựng 2 phòng và phòng giáo viên cho trường THCS , đầu tư nâng cấp mẫu giáo thôn Thượng Cầm diện tích 50 m2.

Trong năm qua kết hợp với dự án làm đường 219 từ cầu Kìm đi Hồng Thái, UBND xã đã giải toả hành lang và hỗ trợ các hộ ven đường làm cống thoát nước tại thôn Vân Động Nam Xây dựng mương bê tông đoạn thôn Thượng Cầm- thôn Kìm

c) Thương mại- dịch vụ:

Các hoạt động thương mại- dịch vụ trên địa bàn có bước phát triển khá nhanh, các phương tiện máy móc sản xuất, phương tiện giao thông, nghe nhìn, máy điện thoại tăng nhanh TTCN phát triển, dịch vụ thương mại cũng không ngừng được mở rộng Là địa phương có thị trường khá sôi động, nhộn nhịp với tổng số 55 loại hình dịch vụ và trên 80 hộ tham gia kinh doanh tại chỗ và nhiều lao động kinh doanh trên các trục đường vào thành phố Thái Bình, tạo việc làm tăng thu nhập cho người dân

Như vậy, trong năm qua về cơ bản có sự chuyển dịch rõ rệt về cơ cấu các lĩnh vực sản xuất, lao động được đầu tư nhiều hơn vào khu vực thủ công nghiệp Dưới sự lãnh đạo của các cấp, các ngành cùng với sự nỗ lực của nhân dân trong xã nên đã đạt được những kết quả tương đối toàn diện Với mức tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm 2000-2005 là 11-12%.Thu nhập bình quân đầu người đạt 6,36 triệu đồng/người/năm

Tỷ trọng các ngành như sau:

- Nông nghiệp : 48,48%

- Tiểu thủ CN- XDCB : 17,20%

- Dịch vụ thương mại : 34,32%

Trang 33

1.2) Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng:

a) Về giao thông vận tải:

Hệ thống giao thông trong những năm gần đây được đầu tư cơ bản, đường nhựa đã đến trung tâm xã, hệ thống đường trục xã, thôn xóm có đầu

tư Tuy nhiên một số tuyến đường đang dần xuống cấp, song việc bảo quản

tu bổ thường xuyên chưa được ngành giao thông và các thôn chú trọng, tình trạng tắc nước làm hỏng đường đang diễn ra ở nhiều đoạn đường xã và thôn, trong những năm tới cần được đầu tư duy tu mở rộng

b) Thủy lợi:

Hệ thống thuỷ lợi đã đáp ứng tốt cho sản xuất nông nghiệp tuy nhiên

cần đầu tư nâng cấp cũng như duy tu bảo dưỡng các công trình trọng điểm Năm qua xã đã tổ chức nạo vét 148 m sông T5 đảm bảo tưới tiêu nước vụ xuân năm 2006 Hệ thống kênh mương cấp I,II được cứng hoá nên việc dẫn nước cho phục vụ sản xuất từng bước được đảm bảo chất lượng

c) Nước sinh hoạt:

Hầu hết nhân dân trong xã sử dụng nước giếng khoan và dùng nước mưa phục vụ cho nhu cầu ăn uống

d) Điện sinh hoạt:

Hiện nay, nhân dân trong xã đã được sử dụng điện lưới quốc gia Khả năng cung cấp điện khá đầy đủ Năm 2005 là năm thứ hai thực hiện HTXDV Điện, tiến hành sửa chữa, nâng cấp hệ thống lưới điện áp nông thôn, chỉ đạo các thôn xây dựng mạng lưới điện chiếu sáng phục vụ đi lại Do làm tốt công

Trang 34

tác quản lý và đầu tư nên tỷ lệ điện hao hụt hàng năm giảm từ 27% xuống còn 21%.

e) Thông tin liên lạc:

Đài truyền thanh duy trì thường xuyên chế độ phát thanh theo quy định, được quan tâm và đầu tư kinh phí thường xuyên để đảm bảo lượng phát thanh của đài Năm qua đài đã chú trọng tuyên truyền phục vụ cho đại hội đảng bộ và các nhiệm vụ chính trị khác được nhân dân quan tâm

Số điện thoại liên lạc được tăng cao đến nay có khoảng trên 300 máy

và phát triển một số mạng internet

g) Y tế:

Công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm thường xuyên Năm 2005 tổ chức khám chữa bệnh cho 7278 lượt người; số giường bệnh trên địa bàn là 10 giường Trạm y tế đã làm tốt công tác khám chữa bệnh cho nhân dân: tiêm chủng mở rộng cho trẻ đạt 100%; điều trị sốt rét đạt

15 ca

Thường xuyên tuyên truyền để nâng cao nhận thức của cộng đồng về dân số, sức khoẻ sinh sản gắn với giảm sinh vững chắc với nâng cao chất lượng dân số Công tác dân số kế hoạch hóa gia đình ngày càng được quan tâm và đạt được những thành tựu khả quan, tỷ lệ sinh năm 2005 là 1,18%

Tỷ lệ sinh con thứ ba giảm 2,66% so với năm 2004

h) Văn hóa- xã hội:

Hoạt động thể dục, thể thao tiếp tục được duy trì Những hoạt động nổi bật là bóng đá nhi đồng, môn cầu lông, môn thể dục dưỡng sinh cho người cao tuổi… Công tác văn nghệ đã được ban văn hoá và trung tâm học

Trang 35

tập cộng đồng tích cực duy trì với đội văn nghệ nhiệt tình thường xuyên phục vụ các nhiệm vụ địa phương

Cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” được nhân dân đồng tình ủng hộ, đăng ký xây dựng gia đình văn hoá, khu dân cư tiên tiến Tổ chức việc cưới, việc tang, lễ hội có nhiều tiến

bộ

i) Giáo dục đào tạo:

- Công tác giáo dục đào tạo được coi trọng và mở rộng ở tất cả các cấp học, ngành học Đầu tư cơ sở vật chất trường lớp, nâng cao chất lượng học của học sinh, công tác quản lý giáo dục có nhiều tiến bộ, đội ngũ giáo viên thường xuyên được bồi dưỡng nâng cao kiến thức chuyên môn Phong trào

xã hội hoá học tập có chiều hướng phát triển tích cực Các trường học đều đạt tiên tiến

- Nhà trẻ huy động được 72% trẻ trên toàn xã đến lớp

- Mẫu giáo lớp 5 tuổi đạt 100%

- Trường tiểu học: năm vừa qua có thành tích rất đáng khích lệ đó là tỷ lệ lên lớp đạt 100% được nhà nước tặng huân chương lao động hạng 3, được UBND tỉnh công nhận trường tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh, công đoàn được tổng liên đoàn lao động Việt Nam tặng bằng khen

Tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 100%, từ năm 2003 đến nay được đầu tư nhiều về cơ sở vật chất đủ để đáp ứng cho giảng dạy và học tập Kiên cố 15 phòng học, huy động được 100% học sinh vào lớp 6

Năm 2005 trường được UBND huyện công nhận đơn vị tiên tiến

2) Thực trạng phát triển xã hội.

2.1) Về Khu dân cư nông thôn

Trang 36

Là một xã đồng bằng nên mật độ phân bố dân cư khá đồng đều, và tập trung nên việc quản lý xã hội tương đối thuận lợi, tình hình dân cư ổn định UBND xã có nhiều cố gắng trong điều hành quản lý xã hội, chuyển đổi mô hình thôn, xây dựng quy định về thực hiện nếp sống văn hoá trong việc cưới, việc tang… bộ mặt nông thôn dần thay đổi

Tổng diện tích đất khu dân cư nông thôn là 123,07 ha Trong đó đất ở

là 58,24 ha Đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao thể hiện trong xây dựng cơ bản: số nhà mái bằng chiếm 71%, số nhà tầng 10%; các trang thiết bị gia dụng như tivi, xe máy, ô tô, bình nóng lạnh… được nhân dân xã

sử dụng khá phổ biến Hệ thống cơ sở hạ tầng trong khu dân cư nông thôn

có nhiều thay đổi: đường làng ngõ xóm được cải tạo, nâng cấp, hệ thống điện thông tin các cơ sở văn hoá xã hội phục vụ công cộng phát triển

2.2) Về Dân số, lao động, việc làm, thu nhập và mức sống.

a) Dân số: theo số liệu thống kê năm 2005 toàn xã có 10021 nhân khẩu

tương đương với 2736 hộ, quy mô hộ là 3,66 người/hộ Mật độ dân số 1341 người/km2

Với phong trào kế hoạch hóa gia đình kết hợp với các biện pháp tuyên truyền tăng cường đưa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình vào nhân dân nên kết quả đạt được tương đối tốt Tỷ lệ sinh tự nhiên năm 2005 là 1,18%

b) Lao động, việc làm: Tổng số lao động toàn xã năm 2005 khoảng gần

864 lao động Hàng năm vào thời kỳ nông nhàn số lao động tham gia vào sản xuất TTCN là khá lớn, số lao động này hàng năm không ổn định, phụ thuộc vào thời vụ và tình hình thị trường

Trang 37

Chương trình giải quyết việc làm đã được chính quyền quan tâm nhưng vấn đề nổi lên hiện nay là chất lượng lao động nông nghiệp còn thấp, lao động trong các ngành nghề có trình độ chưa cao.

c) Mức sống dân cư: cùng với công cuộc đổi mới của đất nước đời sống dân cư

của người dân Vũ Lạc có những bước tiến rõ rệt Cùng với sự tăng trưởng kinh tế chung của xã hàng năm số hộ nghèo giảm dần và số hộ giàu cũng tăng lên Số hộ nghèo năm 2005 trên địa bàn xã còn gần 7%

Nhìn chung cuộc sống của người dân đã được cải thiện đáng kể, các nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như điện, nước, muối iốt… cũng được tăng cường, góp phần nâng cao mức sống cả về vật chất và tinh thần cho nhân dân Đẩy lùi các tệ nạn xã hội, đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu phục vụ nhiệm

vụ chính trị ở địa phương

3) Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế- xã hội.

a) Những tồn tại trong việc phát triển kinh tế xã hội của xã những năm

qua:

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi dần tính chất của nền kinh tế tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa Tăng trưởng kinh tế năm sau cao hơn năm trước Tuy nhiên việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn diễn ra chậm, sản xuất vẫn là thuần nông chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có Một số tuyến mương tưới tiêu bị xuống cấp cần được cải tạo

Sản xuất chăn nuôi còn nhỏ lẻ, HTXDV nông nghiệp và các ngành chưa triển khai tốt mô hình liên kết, hợp tác trong chăn nuôi chủ yếu là tự tìm kiếm thị trường nên trước biến động giá thị trường người dân bị ép giá chưa tạo ra nguồn thu lớn

Trang 38

Tình trạng giao thông xuống cấp ở một số tuyến trong thôn xẩy ra chưa được xử lý, cần được khắc phục trong thời gian tới.

Do nền kinh tế khá phát triển nên nảy sinh hàng loạt vấn đề chưa được giải quyết triệt để như: quy hoạch vùng đổ rác, phân loại và xử lý rác thải Tình trạng xây mộ tốn nhiều diện tích vẫn diễn ra

Công tác phát thanh truyền thanh trong năm qua bị dán đoạn, nội dung tin bài chưa phong phú Hệ thống cơ sở vật chất đường dây bị xuống cấp

Tỷ lệ gia tăng dân số còn cao, việc tuyên truyền, giải thích về pháp lệnh dân số mới còn hạn chế nên xảy ra tình trạng sinh con thứ ba gia tăng

b) Những kết quả đã đạt được:

Ngoài những tồn tại trên thì trong những năm qua đảng bộ và nhân dân xã đã nỗ lực phấn đấu phát huy tinh thần đoàn kết thống nhất chủ động sáng tạo trong tổ chức thực hiện đã đạt được những kết quả khá toàn diện:

- Trong 5 năm từ 2001-2005 tổng giá trị thu nhập từ ba ngành như sau:

+ Tổng thu nhập từ SXNN trong 5 năm đạt 152,041 tỷ đồng

+ Tổng thu nhập từ ngành nghề dịch vụ trong 5 năm: 107,643 tỷ đồng

Trang 39

Trong những năm tới việc phát triển kinh tế- xã hội sẽ gây áp lực lớn đến sử dụng đất, đặt ra nhiều vấn đề bức xúc trong việc bố trí sử dụng đất của xã Các ngành kinh tế- xã hội đều có nhu cầu về đất, về vị trí đất một cách gay gắt Vì vậy việc bố trí thích hợp cả về quy mô và vị trí sao cho có hiệu quả cao cần được xem xét một cách nghiêm túc, khoa học đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội cả hiện tại và tương lai đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái đảm bảo phát triển bền vững.

III Tình hình quản lý sử dụng đất đai xã vũ lạc

1.Tình hình quản lý đất đai: công tác quản lý Nhà nước về đất đai của xã

Vũ lạc được chia làm 2 giai đoạn:

a) Thời kỳ trước luật đất đai năm 1993.

Trước khi có luật đất đai năm 1993, đất đai của xã chưa có sự quản lý thống nhất Cán bộ địa chính phải kiêm nhiệm nhiều việc, chưa được đào tạo chuyên ngành, trình độ chuyên môn còn hạn chế Nhiệm vụ quản lý đất đai chưa được quan tâm đúng mức, sử dụng đất không đúng mục đích, các tranh chấp về đất đai như tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh giới đất giữa các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức khác chưa được giải quyết triệt để vì chưa có cơ

sở pháp lý đầy đủ làm cơ sở cho việc giải quyết

Việc giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất chưa được quan tâm đúng mức Trong thời kỳ này công tác quản lý đất đai chưa được chặt chẽ, việc thống kê đất đai chưa được làm thường xuyên, nên việc lập sổ sách theo dõi biến động trên địa bàn xã thiếu chính xác Công tác đo đạc lập bản đồ địa chính còn hạn chế; công tác quy hoạch, kế hoạch chỉ dừng lại ở quy hoạch cho các ngành

Trang 40

Nhìn chung, công tác quản lý đất đai trong thời kỳ này chưa được quan tâm đầy đủ.

b) Thời kỳ sau luật đất đai năm 1993 đến nay

Từ khi ban hành luật đất đai năm 1993 và đến tháng 7 năm 2003 là luật đất đai mới đã ban hành những quy định mới nhằm làm cho công tác quản lý nhà nước về đất đai được chặt chẽ hơn Dưới sự chỉ đạo của UBND huyện, UBND xã công tác quản lý nhà nước về đất đai dần đi vào nền nếp

Có cán bộ địa chính chuyên trách, trình độ của cán bộ địa chính được nâng cao Thực hiện tốt các quy định trong luật đất đai năm 1993 và đến luật đất đai năm 2003 thì công tác quản lý đất đai càng được hoàn thiện, với các nội dung quản lý và hệ thống bảng biểu, số liệu thống kê hoàn toàn được tiến hành theo quy định mới

Công tác quản lý đất đai của xã Vũ Lạc đã đạt được những kết quả đáng kể Cụ thể:

- Công tác hoạch định ranh giới: từ năm 1995 đến nay địa giới hành chính

không có thay đổi Ranh giới được xác định rõ ràng theo chỉ thị 364- CT và được UBND xã quản lý

- Công tác đo đạc lập bản đồ địa chính: xã đã được tiến hành đo đạc lập bản

đồ địa chính theo toạ độ nhà nước Đất đai được khoanh vùng đến từng thửa

rõ ràng ở thực địa và trên bản đồ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lập hồ sơ địa chính Bản đồ địa chính là cơ sở quan trọng phục vụ cho công tác quy hoạch, giao đất, cho thuê đất…

- Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: việc lập quy hoạch, kế hoạch sử

dụng đất còn nhiều hạn chế Chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất dài hạn, chỉ dừng lại ở việc lập kế hoạch sử dụng đất cho các ngành và đất ở

Ngày đăng: 22/01/2016, 09:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8). Luận văn “ Phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai năm 2010 của phường Chi lăng, thành phố Lạng Sơn” của sinh viên Lê Văn Mạnh- ĐC 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai năm 2010 của phường Chi lăng, thành phố Lạng Sơn
1). Giáo trình quản lý Nhà nước về đất đai- Giáo sư, tiến sĩ khoa học Lê Đình Thắng Khác
2). Giáo trình quy hoạch sử dụng đất đai – Tác giả Lương Văn Hinh Khác
3). Những điều cơ bản của Luật đất đai năm 2003- Nxb Chính trị quốc gia Khác
4). Nghị định 181/CP về hướng dẫn thi hành luật đất đai Khác
5). Thông tư 30 của Bộ tài nguyên và môi trường về hướng dẫn quy trình quy hoạch sử dụng đất các cấp Khác
6) Tạp chí Địa chính số 2-8/ 2005 Khác
7). Báo cáo quy hoạch sử dụng đất của xã Vũ Lạc Khác
9) Nghị quyết Đại hội Đảng Xã năm 2005 Khác
10) Báo cáo tổng kết năm 2005 và phương hướng nhiệm vụ năm 2006và những năm tiếp theo đến năm 2010 và 2015 Khác
11) Các số liệu thống kê về dân số; năng suất, sản lượng cây troòng trên địa bàn xã Vũ Lạc Khác
12) Dự kiến phát triển các ngành của Xã Vũ lạc Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp năm 2005. - Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất xã vũ lạc – kiến xương – thái bình giai đoạn 2005 – 2015
Bảng 1 Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp năm 2005 (Trang 44)
Bảng 3: Hiện trạng sử dụng đất năm 2005 xã Vũ Lạc, huyện Kiến   Xương - Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất xã vũ lạc – kiến xương – thái bình giai đoạn 2005 – 2015
Bảng 3 Hiện trạng sử dụng đất năm 2005 xã Vũ Lạc, huyện Kiến Xương (Trang 50)
Bảng 4: Biến động các loại đất sản xuất nông nghiệp thời kỳ 1995- 2005. - Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất xã vũ lạc – kiến xương – thái bình giai đoạn 2005 – 2015
Bảng 4 Biến động các loại đất sản xuất nông nghiệp thời kỳ 1995- 2005 (Trang 53)
Bảng   5:Biến   động   đất   phi   nông   nghiệp   thời   kỳ   1995-2005 (Trích   Nguồn:  TTQHĐĐ&amp;ĐTĐC) - Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất xã vũ lạc – kiến xương – thái bình giai đoạn 2005 – 2015
ng 5:Biến động đất phi nông nghiệp thời kỳ 1995-2005 (Trích Nguồn: TTQHĐĐ&amp;ĐTĐC) (Trang 55)
Bảng 6: Biến động các loại đất theo mục đích sử dụng thời kỳ 1995- 2005. - Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất xã vũ lạc – kiến xương – thái bình giai đoạn 2005 – 2015
Bảng 6 Biến động các loại đất theo mục đích sử dụng thời kỳ 1995- 2005 (Trang 56)
Sơ đồ 2: So sánh diện tích các loại đất giai đoạn 2000- 2005 - Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất xã vũ lạc – kiến xương – thái bình giai đoạn 2005 – 2015
Sơ đồ 2 So sánh diện tích các loại đất giai đoạn 2000- 2005 (Trang 57)
Bảng 8: So sánh diện tích đất phi nông nghiệp trước và sau quy hoạch - Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất xã vũ lạc – kiến xương – thái bình giai đoạn 2005 – 2015
Bảng 8 So sánh diện tích đất phi nông nghiệp trước và sau quy hoạch (Trang 74)
Bảng 9: Diện tích và cơ cấu các loại đất đến năm 2015 - Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất xã vũ lạc – kiến xương – thái bình giai đoạn 2005 – 2015
Bảng 9 Diện tích và cơ cấu các loại đất đến năm 2015 (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w