Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam không thể đạt được những thành tựu như vậy nếu không có sự hậu thuẫn từ phía các ngân hàng thương mại, trong đó không thể kể đến Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán xuất khẩu nói riêng luôn là thế mạnh của NHNTVN. Hiện nay, trong các phương thức thanh toán quốc tế, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được xem là phương thức thanh toán thông dụng và an toàn nhất
Trang 1Lời nói đầuSau hơn 15 năm thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, hội nhập và pháttriển Kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn Có được nhữngthành tựu đó một phần la do công đóng góp của hoạt động xuất nhập khẩu.Trong thời gian qua, hoạt động xuất khẩu đã đem về cho đất nước lượng ngoại
tệ đáng kể, góp phần tăng dự trữ ngoại tệ, trang trải một phần cho nhu cầu nhậpkhẩu, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, đưa nước
ta hội nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới
Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam không thể đạt được những thành tựu nhưvậy nếu không có sự hậu thuẫn từ phía các ngân hàng thương mại, trong đókhông thể kể đến Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Thanh toán quốc tế nóichung và thanh toán xuất khẩu nói riêng luôn là thế mạnh của NHNTVN Hiệnnay, trong các phương thức thanh toán quốc tế, phương thức thanh toán tín dụngchứng từ được xem là phương thức thanh toán thông dụng và an toàn nhất Vớiquy trình nghiệp vụ chặt chẽ, trang thiết bị hiện đại và quan trọng hơn cả là độingũ thanh toán viên được trang bị đầy đủ kiến thức, trình độ nghiệp vụ chuyênmôn, NHNTVN luôn duy trì được vị trí của mình là ngân hàng có bề dày kinhnghiệm nhất và là ngân hàng chiếm tỷ trọng cao nhất trong cả nước về doanh sốthanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ
Qua quá trình thực tập tại NHNTVN, được làm quen và tìm hiểu về hoạtđộng thanh toán xuất khẩu của ngân hàng, em đặc biệt chú ý đến phương thứctín dụng chứng từ Nhằm đưa ra một vài giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tácthanh toán xuất khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ tại NHNTVN và vận
dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, em chọn đề tài: " Giải pháp nhằm
hoàn thiện hoạt động thanh toán xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam" làm chuyên đề thực tập cho
mình
Kết cấu chuyên đề gồm 3 phần:
Trang 2Chương I: Cơ sở lý luận khoa học về thanh toán quốc tế
Chương II: Thực trạng hoạt động thanh toán xuất khẩu theo phương thức tíndụng chứng từ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh toánxuất khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Với thời gian thực tập 4 tháng và vốn kiến thức tĩch luỹ được còn hạn chế,bởi vậy chuyên đề thực tập của em còn nhiều thiếu sót Em rất mong được sựgóp ý của các thầy giáo và các cán bộ phòng thanh toán xuất khẩu -VCB
Để hoàn thành chuyên đề thực tập này, em xin chân thành cảm ơn sự giúp
đỡ nhiệt tình của các cán bộ Phòng thanh toán xuất khẩu tại Ngân hàng Ngoạithương trung ương và sự hướng dẫn, bảo ban tận tình của thầy giáo PGS.TSNguyễn Duy Bột và thầy giáo Th.S Nguyễn Trọng Hà
Trang 3Chương I: Cơ sở lý luận về thanh toán quốc tế
I Khái niệm và vai trò của thanh toán quốc tế
1 Khái niệm về thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả tiền tệ phát sinh từcác quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tổ chức kinh tếquốc tế, giữa các hãng, các cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chutrình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng hình thức chuyển tiền hay
bù trừ trên các tài khoản tại các ngân hàng
Sự cần thiết của quan hệ thanh toán phát sinh từ quá trình quốc tế hoá ngàycàng gia tăng về thương mại, công nghiệp, dịch vụ Quan hệ thanh toán quốc tếdựa trên ngoại thương xuất nhập khẩu, kinh doanh tiền tệ để hưởng chênh lệchlãi suất và tỷ giá
Cơ sở kỹ thuật để thực hiện quan hệ thanh toán quốc tế là mạng thanh toánquốc tế giữa các thành viên tham gia là các quốc gia riêng biệt
Khác với thanh toán nội địa (trong phạm vi một nước) thanh toán quốc tếthường gắn với việc trao đổi đông tiền của nước này sang đồng tiền của nướckhác Nội tệ với chức năng là phương tiện thanh toán theo luật định trong phạm
vi một nước, sẽ không thể vượt qua giới hạn sử dụng của nó nếu như hai bênliên quan trong hợp đồng mua bán không có một thoả thuận cụ thể nào về vấn đề
đó Do vậy khi ký kết hợp đồng thương mại, tín dụng, hay dịch vụ các bênthường đàm phán, thống nhất về ngoại tệ nào được dùng trong giao dịch là đồngtiền của nước người bán hay người mua hay có thể là đồng tiền của nước thứ ba.Các đồng tiền được sử dụng trong thanh toán quốc tế chủ yếu là các laọingoại tệ mạnh có khả năng chuyển đổi tự do như đôla Mỹ (USD), bảng Anh(GBP), mác Đức (DEM), yên Nhật (JPY), frăng Pháp (FRF) Đặc biệt với sự rađời của đồng tiền chung châu Âu (EURO) ngày 1/1/1999 của liên minh châu Âu
Trang 4sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh gay gắt trên thị trường tiền tệ thanh toán quốc tế
để quyết định đồng tiền nào USD hay EURO sẽ chiếm tỷ lệ cao hơn trong giaodịch thanh toán quốc tế
Hiện nay, phần lớn việc chi trả trong thanh toán quốc tế được thực hiệnthông qua hệ thống giao dịch SWIFT (Hiệp hội viễn thông tài chính quốc tế).Theo thống kê của tổ chức này thì các giao dịch tài chính tiền tệ quốc tế đượcthực hiện qua mạng SWIFT chiếm 72% các giao dịch tài chính tiền tệ quốc tếhàng ngày, còn lại được thực hiện thông qua con đường điện tín, bưu điện dướicác hình thức uỷ nhiệm thu, chi hộ lẫn nhau giữa các ngân hàng, tỷ lệ trả bằngtiền mặt trong thanh toán quốc tế chiếm một phần không đáng kể
Ngoài ngoại tệ là yếu tố cơ bản không thể thiếu trong thanh toán quốc tế,một yếu tố không kém phần quan trọng trong hoạt động này là các chứng từ.Chứng từ là cơ sở để người thụ hưởng có quyền được đòi tiền và là căn cứ đểchấp nhận nợ hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ chi trả của mình Các chứng từđược tạo lập theo các luật lệ, tập quán của mỗi một quốc gia và phù hợp vớithông lệ quốc tế cho mỗi loại chứng từ được đưa ra sử dụng Chúng có thể trởthành đối tượng của một loại hình thương mại đặc biệt thông qua việc mua báncủa các ngân hàng, các tổ chức tiền tệ Số lượng và loại chứng từ cũng như hìnhthức cách tạo lập phụ thuộc vào phương thức thanh toán mà các bên lực chọn.Như trên đã phân tích thì phần lớn các giao dịch chi trả trong thanh toánquốc tế đều thông qua hệ thống tài khoản tại các ngân hàng Đồng tiền thanhtoán có thể là ngoại tệ có thể là bản tệ, song một khi đồng tiền bản tệ được đưavào sử dụng trong hợp đồng mua bán thì nhất thiết nó phải là ngoại tệ của phíabên kia, hoặc đồng tiền của nước thứ ba, chủ yếu là ngoại tệ mạnh Khác vớithanh toán nội địa, thanh toán quốc tế thường gặp nhiều rủi ro do biến động củatiền tệ, sự bất ổn chính trị của một quốc gia, do vị trí địa lý của các bên tham giacách xa nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng thanh toán nợ của con nợ Do
Trang 5vậy các nghiệp vụ đảm bảo, bảo lãnh của ngân hàng, hoạt động tín dụng của các
tổ chức tiền tệ, tài chính quốc tế ra đời như là một yếu tố không thể thiếu để hỗtrợ cho hoạt động thanh toán quốc tế
Hoạt động thanh toán quốc tế có thể mô hình hoá dưới dạng đơn giản như sau:
Giao hàng hoặc dịch vụ
Uỷ Báo
nhiệm có
chi
Thông báo trả tiền
Qua việc nêu lên một số vấn đề chung về thanh toán quốc tế, chúng ta có thểthấy nó là một mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tếquốc dân Thanh toán quốc tế là khâu kết thúc của một giao dịch mua bán hànghoá hay dịch vụ, là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng thông quaviệc chi trả lẫn nhau trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế Thanh toán quốc tế đãgóp phần chủ yếu để giải quyết mối quan hệ hàng hoá tiền tệ quốc tế, tạo nên sựliên tục của quá trình tái sản xuất và đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hoáquốc tế Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề này, chúng ta chỉxem xét thanh toán quốc tế như là việc chi trả những khoản ngoại tệ, tín dụng cóliên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá đã được thoả thuận trong hợpđồng ngoại thương
2 Vai trò của thanh toán quốc tế
Ngân h ngàng
bên bán
Ngân h ng àng trung gian
Trang 62.1 Vai trò của thanh toán quốc tế đối với hoạt động kinh tế quốc dân
Sự ra đời và phát triển của nền kinh tế sản xuất và trao đổi hàng hoá trên thếgiới gắn liền với sự ra đời, phát triển của tiền tệ và lưu thông tiền tệ Trong quátrình trao đổi hàng hoá, tiền tệ ra đời với chức năng là trung gian trao đổi hànghoá đặc biệt, làm vật ngang giá chung của các loại hàng hoá khác Việc xuấthiện đồng tiền trong lưu thông và trao đổi hàng hoá đã tạo tiền đề và thúc đẩymậu dịch quốc tế phát triển Cùng với mối quan hệ giữa các nhà kinh doanh xuấtnhập khẩu ngày càng trở nên đa dạng và phong phú Sự không nhất trí về thờìgian của các chu trình sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, hoạt động thanh toán quốc
tế - khâu kết thúc một giao dịch ngoại thương cũng trở nên bức thiết và thườngxuyên hơn, yêu cầu phảI được xem xét để hoàn thiện nghiệp vụ thanh toán quốc
tế theo luật lệ quốc gia cũng như phảI phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứngđòi hỏi của thị trường thương mại hoá toàn cầu là hết sức cần thiết
Sự trỗi dậy một cách nhanh chóng và mạnh mẽ của nền kinh tế ở một sốnước trên thế giới trong thập kỷ cuối của thế kỷ 20 đã chứng minh rằng kinh tếcủa một nước không thể phát triển với một chính sách đóng cửa, trông vào tíchluỹ và trao đổi trong nước Mà phảI biết phát huy mặt mạnh trong nước, tậndụng khả năng có lợi từ bên ngoàI, biết phát huy lợi thế so sánh, biết kết hợpsức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong hợp tác kinh tế quốc tế Văn kiệnĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã xác định: "Nhiệm vụ đối ngoại trongthời gian tới là củng cố hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa đểđẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc" và "Tiếp tục đường lối đối ngoạiđộc lập tự chủ, mở rộng đa phương hoá và đa dạng hoá các mối quan hệ đốingoại với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồngthế giới"
Trang 7Thanh toán quốc tế phản ánh sự vận động có tính chất độc lập tương đối củagiá trị trong qua trình chu chuyển hang hoá và tư bản giữa các quốc gia Nhưvậy, nếu khâu thanh toán quốc tế được thực hiện nhanh chóng, an toàn, chínhxác thì nó đã trực tiếp tác động vào việc rút ngắn thời gian chu chuyển vốn,giảm bớt và khắc phục những rủi ro liên quan tới sự biến động của tiền tệ, tớikhả năng thanh toán của con nợ, tạo điều kiện cho việc phát triển và mở rộnghoạt động ngoại thương của mỗi nước.
Vị trí và tầm quan trọng của hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng đượckhẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế đốingoại nói riêng Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi mỗi quốc gia đều đặt hoạtđộng kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là conđường tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế nước mình
Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng trogn quá trình mua bán hàng hoá,dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau Nếu không cóhoạt động thanh toán quốc tế thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và pháttriển được
Nếu tổ chức hoạt động thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, antoàn, chính xác sẽ giảI quyết được mối quan hệ lưu thông hang hoá-tiền tệ giữangười mua và người bán một cách trôI chảy và hiệu quả Về mặt kinh doanh,thanh toán tiền hàng thể hiện chất lượng của kinh doanh, nói lên hiệu quả kinh tế
và tài chính trong hoạt động của các doang nghiệp
Trong điều kiện tiền tệ thường xuyên biến động, khả năng thanh toán củacon nợ bấp bênh, rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng mua bán ngày càng nhiều,
vị trí và vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế cũng vì thế mà được khẳngđịnh hơn Trong đó các yếu tố về tiền tệ, về phương thức thanh toán, biện phápđảm bảo hối đoáI và đảm bảo thu được tiền hàng đối với nhà xuất khẩu… cần
Trang 8được xem xét nghiên cứu kỹ lưỡng để lựa chọn áp dụng cho linh hoạt với mỗitrường hợp.
2.2.Vai trò của thanh toán quốc tế đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Đối với hoạt động ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động thanhtoán quốc tế có vị trí và vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ là một dịch vụthanh toán thuần tuý mà nó được coi là một mặt không thể thiếu được trong hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng, nó bổ sung và hỗ trợ cho các mặt hoạt độngkinh doanh khác của ngân hàng
Hoạt động thanh toán quốc tế của một ngân hàng phát triển đáp ứng đượcđòi hỏi của khách hàng sẽ là điều kiện tốt để thu hút thêm khách về giao dịch,trên cơ sở đó mà ngân hàng có thể tăng qui mô hoạt động của mình
Nhờ đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế mà ngân hàng có thể mở rộnghoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng cường được nguồn vốnhuy động đặc biệt là nguồn vốn ngoại tệ do tạm thời quản lý được vốn nhàn rỗicủa các doanh nghiệp có quan hệ thanht oán quốc tế qua ngân hàng
Hoạt động thanht oán quốc tế tốt giúp cho ngân hàng phát triển được cácnghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và các dịch vụ ngân hàng quốc tế khác.Nhờ có nguồn vốn ngoại tệ thu về lớn và đa dạng thông qua nghiệp vụ thanhtoán quốc tế
Nghiệp vụ thanh toán quốc tế phát triển sẽ giúp cho ngân hàng nâng caođược uy tín của mình trên thị trường quốc tế, trên cơ sở đó mà có thể khai thácđược nguồn vốn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thịtrường tài chính thế giới nhằm đáp ứng cao hơn nhu cầu vay vốn của kháchhàng
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho ngân hàng tăng thu nhập và tăngcường khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trường, đồng thời nó
Trang 9giúp cho hoạt động ngân hàng vượt qua khỏi phạm vi quốc gia và hoà nhập với
hệ thống ngân hàng thế giới
Tóm lại, thanh toán quốc tế trong hoạt động ngân hàng nói riêng và tronghoạt động kinh tế quốc dân nói chung có một vị trí đặc biệt quan trọng Nó làmột mắt xích không thể thiếu trogn dây chuyền hoạt động kinh tế kể từ khichuẩn bị các bước cần thiết để sản xuất ra hàng hoá tới khi bán hàng thu tiền vềcho nhà xuất khẩu hay chi tiền ra để nhập hàng về phục vụ sản xuất, đời sốngcon người sao cho đủ số lượng, đúng chất lượng Nghiên cứu nội dung và quátrình phát triển của nghiệp vụ thanh toán quốc tế, lựa chọn và xử lý yếu tố trongnội dung của nó Hoàn thiện các qui trình nghiệp vụ kỹ thuật sao cho phù hợpvới những đặc điểm tính chất nền kinh tế mỗi quốc gia, đáp ứng được yêu cầu,mục đích tăng trưởng nền kinh tế lấy hoạt động kinh tế đối ngoại làm nòng cốttrước hết là nhiệm vụ của Nhà nước, sau đó là nhiệm vụ của các cơ quan chứcnăng, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, của hệ thống ngân hàng đặc biệt là hệthống các ngân hàng thương mại - những người trực tiếp tham gia vận hànhnghiệp vụ thanh toán quốc tế vào guồng máy sản xuất kinh doanh để tạo ra lợinhuận
II Quá trình phát triển nghiệp vụ thanh toán quốc tế.
1 Giai đoạn thanh toán quốc tế tự do và nhiều bên trước khủng hoảng TBCN(1929)
Đây là thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, dựa trên cơ sở của chế độbản vị vàng của các quốc gia Trong thời kỳ này cán cân trả tiền của các nướcTBCN tương đối ổn định, mặt khác chế độ tiền tệ tín dụng cũng ổn định tươngđối Do đó thanh toán quốc tế TBCN cũng ở vào giai đoạn ít có biến động Tự
do và nhiều bên là đặc điểm chủ yếu nhất của hoạt động thanh toán quốc tế lúcnày và nó hoàn toàn nhất trí với đặc điểm của chế độ bản vị vàng, chế độ tíndụng quốc tế lúc đó
Trang 10Nội dung của hoạt động thanh toán quốc tế tự do và nhiều bên bao gồm 5yếu tố sau:
1.1 Tự do mua bán ngoại hối.
Dưới chế độ thanh toán này các nguồn ngoại tệ thu, chi bất kể do nguyên nhânnào với mục đích gì đều có thể mua bán bất kỳ lúc nào trên thị trường trong vàngoài nước Tự do mua bán ngoại hối làm cho tuyệt đại đa số bộ phận nghiệp vụngoại hối đều tập trung tại ngân hàng thương mại Việc cho vay và vay nợ giữacác nước được bù trừ lẫn nhau ở mức cao nhất, giảm được đến mức thấp nhấtviệc vận chuyển tiền tệ thế giới
1.2 Vốn ngắn hạn và dài hạn tự do lưu động trên thế giới.
Với nội dung này không những mọi nhu cầu về tư bản của các nước được thoảmãn mà còn điều hoà được cung cầu về ngoại hối và cân bằng được mức lãI suấttrên thế giới Tác dụng của điều hoà cung cầu về ngoại hối và cân bằng mức lãIsuất là nguyên nhân làm cho việc lưu thông tư bản ngắn hạn và dàI hạn trênquốc tế trở thành biện pháp quan trọng nhất để cân bằng cán cân trả tiền quốc tếcủa các nước TBCN trong thời kỳ này
1.3 Tự do xuất nhập khẩu vàng.
Trong điều kiện nếu cung và cầu ngoại hối không cân bằng nhau, các nước đều
có thể tự do xuất nhập khẩu vàng với tư cách là tiền tệ thế giới Tự do xuất nhậpkhẩu vàng đã làm thoả mãn hơn về nhu cầu ngoại hối và làm cho thanh toánquốc tế được tiến hành một cách thuận lợi
1.4 Thị trường tự do về ngoại hối và vàng.
Tự do mua bán ngoại hối, tự do lưu thông tư bản ngắn hạn và dài hạn, tự do xuấtnhập khẩu vàng không những được pháp luật bảo đảm mà còn có thị trường tự
do về ngoại hối và vàng làm cơ sở nghiệp vụ Trên những thị trường này bất cứngười nào, không kể nguyên nhân gì đều có thể mua bán ngoại hối và vàng một
Trang 11cách tự do, tự do vay mượn tư bản ngắn hạn và dài hạn một cách không hạn chế
để thoả mãn nhu cầu về thanh toán quốc tế
1.5 Thanh toán quốc tế nhiều bên.
Các mối quan hệ kinh tế trong đó có vay và trả nợ giữa các nước tư bản chủnghĩa được thanh toán theo cơ chế tự do bù trừ với nhau Đó chính là việc thanhtoán quốc tế tự do và nhiều bên trong giai đoạn này
2 Giai đoạn thanh toán quốc tế trong khuôn khổ hiệp định (sau 1933)
Điển hình của giai đoạn này là vào trước và sau chiến tranh thế giới lần thứhai, khởi đầu từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, cán cân thanhtoán quốc tế của nhiều nước tư bản trong giai đoạn này thâm hụt lớn Ngoại hốikhông đủ để cung cấp cho những nhu cầu đối ngoại, tỷ giá hối đoái lên cao,vàng chạy ra nước ngoài, hệ thống tiền tệ, tín dụng thế giới bị khủng hoảng Kếtquả là chế độ thanh toán quốc tế nhiều bên và tự do cũng bị lâm vào tình trạngkhủng hoảng và sau đó là tan vỡ, chế độ quản chế ngoại hối, chế độ thanh toán
"Clearing" tay đôi (bù trừ song phương) bắt đầu xuất hiện
Trước hết là hiệp định thanh toán "Clearing" thuần tuý Đây là loại hiệp định
mà hai bên hoàn toàn không phải trả ngoại tệ cho nhau đối với bất cứ khoản chinào hay trong bất cứ trường hợp nào
Sau đó là hiệp định trả tiền "Clearing" tay đôi quy định hai bên phảI thanhtoán cho nhau số tiền chênh lệch bằng ngoại hối Hiệp định trả "Clearing" đầutiên được ký kết giữa Thuỵ Sỹ và áo ngày 12/11/1931, đến năm 1939 đã có tới
38 nước ký 178 hiệp định trả tiền "Clearing" Thanh toán mậu dịch quốc tế tiếnhành bằng những hiệp định trả tiền "Clearing" ngày càng tăng: năm 1937 chiếm12% tổng kim ngạch mậu dịch quốc tế và đến những năm sau chiến tranh thếgiới lần thứ hai con số này đã lên tới 60%
Trang 12Bên cạnh các hiệp định thanh toán "Clearing" được ký kết giữa các nước,các hệ thống tiền tệ quốc tế cũng lần lượt ra đời có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạtđộng thanh toán quốc tế Hiệp định tiền tệ quốc tế thống nhất Bretton Woodsnăm 1944 đưa ra một số nguyên tắc quan trọng như đồng đô la Mỹ (USD) làđồng tiền chuẩn quốc tế, được đổi ra vàng (1 ounce = 35 USD); tỷ giá hối đoáigiữa các nước thành viên được hình thành trên cơ sở so sánh hàm lượng vàngchính thức giữa tiền tệ của các nước thành viên và USD, nó không được phépbiến động quá phạm vi +1% của tỷ giá chính thức đã đăng ký tại Quỹ tiền tệQuốc tế (IMF).
Sự ra đời của hệ thống tỷ giá hối đoái mới này chỉ duy trì được sự ổn địnhcủa tỷ giá các đông tiền cho đến năm 1968 Với sự kiện câu lạc bộ vàng ParisgiảI thể tháng 3/1968 và chế độ hai giá vàng hình thành, việc chuyển đổi USD ravàng bị công phá mãnh liệt Giá vàng tăng vọt, USD mất giá dẫn tới cuộc đàothảI USD, săn lùng JPY và DEM Cho đến tháng 8/1971, nước Mỹ tuyên bốngừng việc đổi đô la Mỹ ra vàng, từ đó hệ thống tiền tệ Bretton Woods sụp đổ.Sau sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Woods là sự ra đời của hiệp địnhSmithsonian, theo đó Mỹ đã chính thức phá giá đồng USD 7,95% (1 ounce =38USD) Đồng thời biên độ giao động của tỷ giá hối đoáI giữa các đồng tiềnđược nới rộng lên +2,25% Cho đến tháng 2/1973, sau khi Mỹ tuyên bố phá giáđồng USD lần thứ hai 10% thì hiệp định Smithsonian hoàn toàn sụp đổ Từ thờiđiểm này quan hệ tiền tệ giữa các nước chuyển từ cơ chế tỷ giá cố định sang cơchế thả nổi
Tóm lại, đặc trưng về hoạt động thanh toán quốc tế giai đoạn trong khuônkhổ hiệp định là một khi hoạt động thanh toán được thực hiện trong khuôn khổhiệp định Chính phủ thì nó trở thành chế độ thanh toán quốc tế mang tên củahiệp định đó
3.Đặc trưng của hoạt động thanh toán quốc tế trong giai đoạn hiện nay
Trang 13Hoạt động thanh toán quốc tế tồn tại trong mối quan hệ mật thiết với cáchoạt động khác trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt nội dung chiến lược pháttriển kinh tế đối ngoại, chính sách tiền tệ tín dụng, chế độ quản lý ngoại hối củamỗi quốc gia Đồng thời việc tổ chức quản lý và thực hiện các hoạt động nàyphảI dựa trên cơ sở luật quốc gia, tập quán quốc gia, các thông lệ thực hànhquốc tế như UCP 500, URC 522 của phòng thương mại quốc tế và các hiệp địnhđược ký kết giữa các nước Do vậy ở mỗi giai đoạn khác nhau của sự phát triểnkinh tế thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng thì hoạt động thanh toánquốc tế cũng mang sắc thái và đặc trưng riêng Giai đoạn hiện nay thì hoạt độngthanh toán quốc tế có những đặc trưng chủ yếu sau.
3.1 Đồng đô la Mỹ (USD) không còn là đồng tiền chuẩn duy nhất trong thanh toán quốc tế.
Từ sau sự kiện tan vỡ của hệ thống tiền tệ quốc tế thống nhất Bretton Woods(1971), đồng đô la Mỹ không còn được tự do đổi ra vàng, chế độ tỷ giá cố địnhgiữa đồng tiền các quốc gia với đồng đô la Mỹ bị phá vỡ thì đồng đô la Mỹkhông còn là đồng tiền chuẩn quốc tế Trong thanh toán quốc tế hiện nay, ngoàIđồng đô la Mỹ còn sử dụng nhiều đồng tiền của các quốc gia khác Việc sử dụngđồng tiền nào là tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng kinh tế.Trong thực tế thấy rằng các đồng tiền mạnh, có khả năng chuyển đổi cao nhưUSD, FRF, DEM, JPY, GBP… được nhiều nước sử dụng trong các hợp đồngngoại thương, thanh toán tín dụng quốc tế và dự trữ ngoại hối của các nước Đặcbiệt từ 1/1/1999, đồng tiền chung châu Âu ra đời (EURO) đang là đồng tiền mớihấp dẫn trên thị trường thanh toán quốc tế Trong tương lai một vàI năm nữa sẽthay thế cho nhiều đồng tiền của các nước trong khối liên minh kinh tế tiền tệchâu Âu (15 nước châu Âu trong đó có 11 nước tham gia đầu tiên)
Đặc điểm nổi bật của các đồng tiền các quốc gia này là các đồng tiền nàyđều không còn được đổi ra vàng, hàm kim lượng công bố trước đây của nó đều
Trang 14không có giá trị về mặt kinh tế, chỉ mang giá trị danh nghĩa Hầu hết các đồngtiền áp dụng cơ chế thả nổi nên giá trị của nó thường xuyên biến động và bị chiphối bởi nhiều yếu tố như lạm phát, quan hệ cung cầu, lãi suất, các chính sáchtài chính tiền tệ của các quốc gia đó Tỷ giá giữa các đồng tiền biến động từngngày, từng giờ, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định và an toàn trong hoạtđộng kinh tế và thanh toán quốc tế.
Để thiết lập trật tự cho các quan hệ trao đổi mậu dịch, quan hệ thanh toánquốc tế và các quan hệ kinh tế quốc tế khác giữa các quốc gia trong khu vực vàtrên thế giới đã xuất hiện các liên minh tiền tệ, tín dụng quốc tế khu vực cùngvới sự thống nhất tiền tệ khu vực và thành lập các ngân hàng trung ương khuvực Như vậy sẽ tiết kiệm được chi phí khi chuyển đổi giao dịch giữa các nước,tránh được rủi ro đối với việc giao dịch tiền tệ giữa các nước, lãI suất sẽ giảm vàhội tụ theo một mức chung, các doanh nghiệp sẽ không sợ bị rủi ro nhiều về giá
cả, dễ dàng trong việc ra các quyết định đầu tư, kinh doanh
3.2 Trên thế giới vẫn còn tồn tại hai chế độ quản chế ngoại hối đối đầu nhau.
Vấn đề quản lý ngoại hối là một nội dung rất quan trọng trong hoạt độngngoại thương và thanh toán quốc tế Mặc dù hiện nay trong nền kinh tế hànghoá, các chủ thể tham gia trong các hợp đồng mua bán đều tuân thủ theo cácnguyên tắc "bình đẳng", " hai bên cùng có lợi", "tự do cạnh tranh" song các mốiquan hệ về tiền tệ, cơ chế thanh toán ở mỗi nước lại có những đặc điểm riêng.Các đặc điểm này được thể hiện trong các chính sách quản chế ngoại hối đạidiện cho hai nhóm nước khác nhau:
Nhóm các nước tư bản phát triển thực hiện chế độ ngoại hối tự do, các đồngtiền quốc gia được tự do tham gia vào thanh toán quốc tế, tự do chuyển đổi từđông tiền nước mình sang đồng tiền nước ngoàI, tự do chuyển vốn ra nướcngoàI hoặc từ nước ngoàI vào trong nước Một số nước như Mỹ, Pháp, Anh các
Trang 15chủ thể kinh tế tự do mở tàI khoản ở nước ngoàI, tại các nước này không cònchế độ cấp giấy phép ngoại hối.
Nhóm các nước còn lại, đại bộ phận là các nước đang phát triển và kém pháttriển, thực hiện chế độ quản chế ngoại hối nghiêm ngặt, không được mua bánngoại hối tự do, không được mở tàI khoản ở ngân hàng nước ngoàI nếu chưa cógiấy phép của cơ quan quản lý có thẩm quyền của Nhà nước Các đồng tiền củacác nước này chưa có khả năng chuyển đổi nên chưa được tham gia vào quan hệthanh toán quốc tế
3.3 Các liên minh tiền tệ, tín dụng ra đời và ngày càng có vai trò quan trọng đối với các quốc gia.
Dưới tác động của nhiều yếu tố như lạm phát, tình hình cán cân thanh toánquốc tế, tình hình cung cầu ngoại tệ, mức lãi suất, các chính sách tài chính tiền
tệ của mỗi quốc gia, tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền thường xuyên biến động,khả năng thanh toán bấp bênh dẫn đến rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế.Trước tình hình đó, bên cạnh vai trò của ngân hàng nhà nước hoặc cơ quanquản lý ngoại hối của nhà nước trực tiếp tham gia mua bán ngoại hối để điều tiếtquan hệ cung cầu trên thị trường, để điều chỉnh tỷ giá lên hoặc xuống hoặc ổnđịnh theo mức độ mong muốn, tuy nhiên muốn thực hiện được chính sách nàythì ngân hàng trung ương phảI có một lượng dự trữ ngoại hối lớn Nếu ở mộtnước nào đó tình trạng cán cân thanh toán quốc tế liên tục bị thiếu hụt thì khó cóthể thực hiện được chính sách này Để giảI quyết vấn đề đó một số tổ chức tàIchính, tiền tệ, tín dụng quốc tế ra đời nhằm giúp các nước cảI thiện cán cânthanh toán, ổn định tỷ giá hối đoái Trong các tổ chức tàI chính thì quỹ tiền tệquốc tế (IMF) và ngân hàng thế giới (WB) đóng vai trò hết sức quan trọng, bằngviệc cho vay của mình IMF và WB không những đã hỗ trợ cho sự phục hồi kinh
tế ở các nước chịu cảnh tàn phá của chiến tranh mà còn giúp đỡ các nước thànhviên trong việc cân bằng cán cân thanh toán bị thâm hụt của họ
Trang 16Bên cạnh đó còn có các ngân hàng quốc tế khu vực như Ngân hàng pháttriển liên Mỹ-IADB, Ngân hàng phát triển châu Phi-AFBD, Ngân hàng pháttriển châu á Những tổ chức này ra đời nhằm mục đích cấp tín dụng, bảo trợ vàcảI thiện cán cân thanh toán của các nước trong khu vực.
Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) là một tổ chức tài chính quốc tế ra đờitrong bối cảnh khởi đầu chiến tranh thế giới lần thứ nhất Một trong những chứcnăng hoạt động của BIS là tham gia với tư cách là người bảo trợ hoặc đại lýthanh toán quốc tế mà các nước thanh toán đã thoả thuận uỷ nhiệm Mặc dù có
bề dày hơn 50 năm hoạt động và mong mỏi tự khẳng định là một tổ chức siêuquốc gia về điều chỉnh độc quyền nhà nước, kết quả mà BIS đạt được vẫn tỏ rakhiêm tốn, trong thập kỷ gần đây hoạt động chủ yếu trong phạm vi hợp tác tiền
tệ EEC
Bên cạnh các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế, một số nước ký hiệp định
hỗ trợ tín dụng như hiệp định SWAP (Swing Agreement Of Payment) giữa Mỹ
và 14 nước tư bản Nội dung của hiệp định này là các nước sử dụng tín dụngSWAP dựa vào vốn dự trữ ngoại hối của nhau để cứu nguy cho đồng tiền củamột nước nào đó bị nguy cơ mất giá
Hiệp hội viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT) ra đời tháng5/1973 với 239 ngân hàng đầu tiên tại châu Âu và Bắc Mỹ HIện nay SWIFT đã
có trên 6600 thành viên là các tổ chức tài chính mà chủ yếu là các ngân hàngthuộc 184 nước Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hiện nay là ngân hàng duynhất của Việt Nam là thành viên của hiệp hội này Trung bình mỗi ngày có trên
4 triệu bức điện gửi qua mạng SWIFT, trong đó điện thanh toán chiếm khoảng72,5%
Sự ra đời của mạng SWIFT là một bước ngoặt lớn trong hoạt động thanh toán quốc
tế của hệ thống ngân hàng Nhờ mạng SWIFT mà thông tin giữa các ngân hàng đượcchuyển nhanh hơn, chính xác hơn, an toàn hơn và chi phí rẻ hơn lại không giới hạn trên
Trang 17phạm vi toàn cầu Việc sử dụng các mẫu điện SWIFT được tiêu chuẩn hoá bằng cáctrường bức điện với ngôn ngữ thống nhất, ngắn gọn rõ ràng đã tăng tính thống nhất,giảm tối thiểu các lỗi dễ mắc phảI, rút ngắn thời gian thao tác đánh điện và duyệt điện.Các nghiệp vụ ngân hàng được cụ thể hoá dễ sử dụng không chỉ trong phạm vi ngânhàng mà còn phục vụ cho việc truyền thông tin giữa ngân hàng và khách hàng.
III Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế.
1 Cán cân thanh toán quốc tế
Sự hợp tác và tham gia phân công lao động quốc tế tăng lên không nhữnglàm cho trao đổi hàng hoá trong nước gia tăng mà còn làm cho trao đổi hàng hoádịch vụ giữa các nước phát triển, các liên hệ kinh tế giữa các nước ngày càngmật thiết và dần dần hình thành một thị trường thế giới thống nhất
Trên cơ sở phát triển của các mối quan hệ kinh tế giữa các nước, sự liên kết
về chính trị và văn hoá giữa các nước ngày càng thắt chặt Những mối quan hệthường xuyên về các mặt kinh tế, chính trị và văn hoá giữa các nước này đã làmphát sinh những quyền lợi và nghĩa vụ tiền tệ của nước này đối với nước khác.Hoạt động thanh toán quốc tế là nhịp cầu nối quan trọng cho quá trình giaolưu thương mại cũng như du lịch dịch vụ giữa nước này với nước kia Nhữnghoạt động chuyển đổi tiền tệ từ nước này sang tiền tệ nước khác để tìm ra sựngang giá chung cho giao dịch thương mại là vô cùng cần thiết Hoạt động thanhtoán quốc tế có được thực hiện kịp thời hay không có ảnh hưởng lớn tới cán cânthanh toán của mỗi nước
1.1 Khái niệm về cán cân thanh toán quốc tế.
Cán cân thanh toán quốc tế là bảng đối chiếu giữa những khoản tiền mànước ngoài trả cho một nước và những khoản tiền mà nước đó trả cho nướcngoàI trong một thời gian nhât định
Trang 18Cán cân thanh toán quốc tế chia làm hai loại Cán cân thanh toán trong mộtthời kỳ nhất định và cán cân thanh toán tại một thời điểm nhất định.
Cán cân thanh toán giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống cán câncủa các nước Tình trạng của nó sẽ ảnh hưởng đến sự thay đổi của tỷ giá hốiđoái, đến tình hình ngoại hối của các nước, đến ngoại thương và ảnh hưởng đếntoàn bộ nền kinh tế của một quốc gia
1.2 Các hạng mục của cán cân thanh toán quốc tế.
-Hạng mục thường xuyên: ghi những khoản giao dịch về hàng hoá, dịch vụ
và các khoản chuyển dịch thanh toán giữa hai nước Hạng mục này còn được gọi
là cán cân thanh toán vãng lai Bao gồm:
Xuất nhập khẩu hàng hoá
Du lịch
Giao thông vận tải, viễn thông bưu điện
Lợi tức, cổ tức, trái tức và các khoản thu nhập khác phát sinh từ hoạtđộng đầu tư
Các khoản chi tiêu của Chính phủ ở nước ngoài như chi quân sự, ngoạigiao, xã hội
Các khoản tài trợ, viện trợ tài chính của Chính phủ
Các dịch vụ khác
-Hạng mục vốn: ghi những di động tiền tệ trong đầu tư và tín dụng giữa hainước Hạng mục này còn gọi là cán cân di chuyển vốn và tín dụng Bao gồm:
Đầu tư trực tiếp
Hoạt động tín dụng ngắn hạn và dài hạn đầu tư vào thị trường chứngkhoán (còn gọi là đầu tư gián tiếp)
1.3 Mối quan hệ và sự điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế.
Trang 19Tổng cán cân thanh toán vãng lai và cán cân vốn và tín dụng là một sốdương thì gọi là cán cân thanh toán dư thừa, ngược lại nếu là một số âm thì gọi
là cán cân thanh toán thiếu hụt
Tình trạng dư thừa hay thiếu hụt của cán cân thanh toán tại một thời điểmnhất định sẽ ảnh hưởng đến quan hệ cung và cầu ngoại hối trên thị trường, do đóảnh hưởng đến tình hình biến động của tỷ giá hối đoáI của nước đó.Nếu dư thừacán cân thanh toán sẽ ổn định của đồng bản tệ hoặc tăng giá trị đồng tiền quốcgia Ngược lại, thiếu hụt cán cân thanh toán sẽ làm cho tỷ giá hối đoái mất tính
ổn định, giá trị đồng bản tệ giảm đi
Việc điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế thường được tiến hành khi cáncân thanh toán bị thiếu hụt hay dư thừa Trên thực tế người ta thường quan tâmđiều chỉnh nhất khi nó bị thiếu hụt
Thay đổi tỷ giá hối đoáI để điều chỉnhcán cân thanh toán là biện pháp màchính phủ các nước hay áp dụng Thông qua chính sách phá giá tiền tệ để đẩymạnh xuất khẩu hàng hoá, khuyến khíchđầu tư nước ngoàI nhằm tăng thu ngoạihối và hạn chế nhập khẩu hàng hoá, do đó góp phần điều chỉnh sự thiếu hụt củacán cân thanh toán
áp dụngcác chính sách tài chính, chính sách tiền tệ Khi cán cân thanh toán
bị thiếu hụt làm cho khả năng cung ngoại hối của một nước giảm xuống Đểtăng lượng cung ngoại hối, chính phủ thường dùngbiện pháp như vay nợ, tănglãi suất chiết khấu, thu hồi vốn đầu tư ở nước ngoài về Mở rộng tín dụngthương mại nhằm thu hút nhiều vốn tư bản bên ngoài chảy vào thông quathương mại hàng hoá Nới lỏng chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm thuhút vốn ngoại tệ chảy vào để cải thiện tình trạng cán cân thanh toán
2 Tỷ giá hối đoái
2.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái.
Trang 20Có hai khái niệm về tỷ giá hối đoái:
+Các phương tiện thanh toán quốc tế được mua và bán trên thị trường hốiđoáI bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một giá cả nhất định Vì vậy, giá
cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia đượcgọi là tỷ giá hối đoái
+Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở khía cạnh khác, đó là quan hệ sosánh giữa hai tiền tệ của hai nước khác nhau Trong chế độ lưu thông bằng tiềnvàng và giấy bạc ngân hàng được tự do chuyển đổi ra vàng thì căn cứ vào hàmlượng vàng của nó Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh hai đồng tiền vàng của hainước với nhau Nếu không có những yếu tố trên thị trường tác động thì tỷ giáhối đoái sẽ trùng với giá vàng Ngày nay, giấy bạc ngân hàng của các nướckhông còn được chuyển đổi ra vàng nữa mà xu hướng thoát ly khỏi mối quan hệvới vàng thì căn cứ để xácđịnh tỷ giá là tương quan ngang giá sức mua Nghĩa làphải dựa theo chỉ số giá cả những nhóm hàng hoá và dịch vụ nhất định được tiếnhành trao đổi trên thị trường đã được lựa chọn
ở các nước, Ngân hàng trung ương hoặc Vụ hối đoái sẽ trực tiếp xác định vàcông bố tỷ giá hối đoái Còn các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức kinhdoanh tiền tệ tuỳ theo diễn biến thực tế của quan hệ cung cầu về ngoại hối trênthị trường hối đoái sẽ công bố tỷ giá kinh doanh phù hợp trên cơ sở tỷ gá củaNgân hàng trung ương
2.2 Các loại tỷ giá.
Tỷ giá chính thức: dưới chế độ quản chế ngoại hối, tỷ giá hối đoái do các cơquan quản chế ngoại hối quy định gọi là tỷ giá chính thức Tỷ giá chính thứcđược áp dụng trong cácnghiệp vụ ngoại hối Tỷ giá chính thức không lên xuống
tự do trên thị trường, không bị ảnh hưởng của quan hệ cung cầu hàng ngày
Tỷ giá tự do: tỷ giá tự do hình thành đồng thời với tỷ giá chính thức Mức độchênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá tự do phụ thuộc vào mức độ sụt giá
Trang 21của đồng tiền nội tệ và do tình hình cung cầu ngoại hối của nước đó quyếtđịnh.Tuy nhiên tỷ giá tự do không thể phản ánh một cách chính xác mức độ sụtgiá của đồng tiền, hơn nữa nó thường bị nhiều nhân tố thuần tuý, ngẫu nhiên ảnhhưởng Vì vậy tỷ giá tự do chỉ là chỉ tiêu tham khảo để đánh giá tình trạng tiền tệcủa một nước nào đó mà thôi.
Chế độ nhiều tỷ giá: Các nước sử dụng chế độ nhiều tỷ giá như một công cụ
để thực hiện chính sách ngoại hối và chính sách ngoại thương Mục đích củaviệc thực hành chế độ nhiều tỷ giá là thay đổi cơ chế hàng hoá xuất nhập khẩu,trên cơ sở đó tác động đến cán cân thương mại từ đó tác động đến cán cân thanhtoán quốc tế của một nước NgoàI ra chế độ nhiều tỷ giá còn được áp dụng như
là một loại thuế nhập khẩu đặc biệt nhằm hạn chế nhập khẩu mặt hàng nào đó,hoặc là tiền thưởng xuất khẩu để khuyến khích xuất khẩu mặt hàng nào đó Làmcông cụ cho chính sách bảo vệ mậu dịch và trong trường hợp nào đó làm tăngthu nhập của ngân khố qua thu thuế bán ngoại hối
Cơ chế tỷ giá thả nổi: là các đồng tiền không còn được đánh giá theo mộtngang giá chung nào Tỷ giá giữa hai đồng tiền trong chế độ tỷ giá hối đoáI thảnổi chỉ mang tính chất tạm thời Nó do cung cầu ngoại tệ, do tương quan lạmphát cũng như tương quan lãI suất giữa các nước quyết định Các quốc gia cóthể thả nổi đồng tiền của nước mình theo hai cách: thả nổi hoàn toàn (Chính phủkhông can thiệp), thả nổi có điều tiết (có sự can thiệp của Chính phủ)
2.3 Vai trò của tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh tế quốc dân, nó luôn làcông cụ sắc bén để điều tiết kinh tế vĩ mô của bất kỳ nước nào Đặc biệt đối vớihoạt động kinh tế quốc tế, xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế Do tỷ giá hốiđoáI phản ánh mối tương quan ngang giá sức mua của các đồng tiền, nên dễdàng so sánh được mức giá cả của thị trường nội địa với thị trường thế giới, từ
đó thấy được tình trạng năng suất lao động, các điều kiện của mỗi quốc gia Tỷ
Trang 22giá hối đoái cao hay thấp sẽ có tác động trực tiếp đến các hoạt động xuất nhậpkhẩu, khuyến khích hoặc hạn chế xuất nhập khẩu hàng hoá một nước, tác độngđến các hoạt động kinh tế khác như dịch vụ du lịch, kiều hối từ đó ảnh hưởngđến cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia.
Vấn đề điều hành tỷ giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh
tế quốc tế, một lĩnh vực kinh tế đặc biệt quan trọng đối với nước ta trong giaiđoạn hiện nay Bên cạnh đó tỷ giá cũng có mối liên quan chặt chẽ tới công tácthanh toán quốc tế, nó liên quan đến rủi ro của các bên tham gia Tỷ giá mà linhhoạt phù hợp và ổn định sẽ hạn chế được rủi ro cho người bán, người mua cũngnhư ngân hàng tham gia vào hoạt đông thanh toán quốc tế
IV Giới thiệu về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
Phương thức thanh toán là điều kiện quan trọng bậc nhất trong các điều kiệnthanh toán quốc tế Phương thức thanh toán tức là chỉ cách người bán dùng cáchnào để thu tiền về, người mua dùng cách nào để trả tiền Trong buôn bán, người
ta có thể lựa chọn nhiều phương thức thanh toán khác nhau để thu tiền hoặc trảtiền nhưng xét cho cùng việc lựa chọn nào cũng phải xuất phát từ yêu cầu củangười bán là thu tiền nhanh, đúng, đầy đủ và từ yêu cầu của người mua là nhậphàng đúng số lượng, chất lượng và đúng hạn Trong buôn bán quốc tế, việc lựachọn phương thức thanh toán nào là rất quan trọng, nó quyết định tới hiệu quảlợi nhuận cũng như tránh được những rủi ro trong kinh doanh của các bên
Do tính chất đa dạng, phong phú trong giao dịch thương mại quốc tế, đểphục vụ cho quá trình thanh toán quốc tế được thuận lợi thì ngày nay có rấtnhiều phương thức thanh toán Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếuđược sử dụng hiện nay là:
+Phương thức nhờ thu: là phương thức thanh toán quốc tế trong đó ngườixuất khẩu sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho
Trang 23người nhập khẩu, uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền ở ngườinhập khẩu nước ngoài trên cơ sở hối phiếu do người xuất khẩu ký phát.
+Phương thức chuyển tiền: là phương thức thanh toán quốc tế trong đókhách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhấtđịnh cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằngphương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu
+Phương thức ghi sổ: là phương thức thanh toán quốc tế trong đó người bán
mở một tài khoản để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành giaohàng, đến từng định kỳ (tháng, quý) người mua trả tiền cho người bán
+Phương thức tín dụng chứng từ
Trong các phương thức thanh toán quốc tế nêu trên thì phương thức thanhtoán tín dụng chứng từ là phương thức được sử dụng nhiều nhất trong thanh toánquốc tế nhất là đối với thị trường các nước đang phát triển, nền kinh tế thịtrường chưa đạt trình độ cao
1 Khái niệm về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó một ngânhàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu
mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởnglợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký pháttrong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng
từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng
2.Các bên tham gia
2.1.Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ gồm có:
Người xin mở thư tín dụng là người mua, người nhập khẩu hoặc là ngườimua uỷ thác cho một người khác
Trang 24Ngân hàng mở thư tín dụng là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, làngân hàng cấp tín dụng cho người nhập khẩu.
Người hưởng lợi thư tín dụng là người bán, người xuất khẩu hay bất cứngười nào khác mà người hưởng lợi chỉ định
Ngân hàng thông báo thư tín dụng là ngân hàng ở nước người hưởng lợi.Ngoài ra còn có ngân hàng xác nhận, ngân hàng hoàn trả, ngân hàng chiếtkhấu chứng từ, ngân hàng chuyển nhượng
2.2.Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia.
-Ngân hàng:
+Ngân hàng mở thư tín dụng: có nghĩa vụ căn cứ vào đơn yêu cầu mở thưtín dụng của người mua để mở thư tín dụng cho người bán và tìm cách thôngbáo việc mở thư tín dụng này cho người bán biết Ngân hàng mở thư tín dụng cótrách nhiệm thẩm tra các chứng từ do người bán xuất trình xem có phù hợp vớithư tín dụng hay ko Nếu phù hợp thì ngân hàng phải thanh toán tiền cho ngườibán và nhận chứng từ, nếu ngân hàng lam sai thì ngân hàng phải hoàn toàn tựchịu trách nhiệm Sau khi trả tiền cho người bán, ngân hàng trao chứng từ chongười mua và thu tiền lạicủa người mua Ngân hàng mở thư tín dụng đượcngười mua trả cho một khoản tiền thủ tục phí từ 0,125% đến 0,5% trị giá số tiềncủa thư tín dụng
+Ngân hàng thông báo: thường là ngân hàng đại lý của ngân hàng mở thưtín dụng tại nước người bán, có trách nhiệm thông báo thư tín dụng cho ngườibán
+Ngân hàng xác nhận: là ngân hàng theo yêu cầu của ngân hàng mở thư tíndụng đứng ra xác nhận trả tiền cho ngân hàng mơt thư tín dụng Sở dĩ có sự xácnhận này là do người bán chưa hoàn toàn tin tưởng và khả năng trả tiền của ngânhàng mở thư tín dụng
Trang 25+Ngân hàng chiết khấu: là ngân hàng đứng ra mua hối phiếu có kỳ hạn chưađến hạn trả tiền do người bán ký phát cho ngân hàng trả tiền theo yêu cầu củangân hàng mở thư tín dụng.
Trong thực tế nghiệp vụ về chứng từ, không nhất thiết phải có đủ các ngânhàng nói trên cùng tham gia Thông thường chỉ có hai ngân hàng tham gia làngân hàng mở thư tín dụng và ngân hàng thông báo
-Người mua (người nhập khẩu).
Khi hợp đồng mua bán áp dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từthì việc mở thư tín dụng là điều kiện tiên quyết cho người bán thực hiện hợpđồng Người mua phải mở thư tín dụng đúng thời hạn quy định trong hợpđồng Người mua phải căncứ vào nội dung của hợp đồng mua bán để làm đơnyêu cầu mở thư tín dụng gửi tới ngân hàng Người mua phải trả một khoản thủtục phí cho ngân hàng mở thư tín dụng và thường phải ký quỹ từ 20% đến 100%trị giá số tiền trong thư tín dụng tại ngân hàng mở thư tín dụng
Người mua có quyền từ chối hoàn trả toàn bộ hay một phần số tiền của thư tíndụng cho ngân hàng nếu xét thấy bộ chứng từ không phù hợp với những điềukiện mà nười mua đã nêu ra trong thư tín dụng Trong trường hợp này, ngânhàng mở thư tín dụng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những thiếu sót củamình khi kiểm tra chứng từ
-Người bán (người xuất khẩu).
Người bán chỉ giao hàng sau khi biết người mua đã mở thư tín dụng cam kết trảtiền cho mình Người bán phải kiểm tra thư tín dụng xem có đúng với nội dungcủa hợp đồng mua bán hay không, nếu có sai sót gì so với hợp đồng hoặc cónhững điều kiện gì khôngười bán có lợi cho mình thì có quyền yêu cầu ngườimua sửa đổi hoặc bổ sung thư tín dụng Nội dung sửa đổi hoặc bổ sung phảiđược ngân hàng mở thư tín dụng xác nhận thì mới có hiệu lực thanh toán
Trang 26Sau khi giao hàng, người bán phải lập đầy đủ bộ chứng từ theo yêu cầu của thưtín dụngvà xuất trình cho ngân hàng trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng.Người bán chỉ thu được tiền về nếu như ngân hàng kiểm tra thấy các chứng từ
đó phù hợp về hình thức với các điều kiện của thư tín dụng
3 Quy trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
(1) Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng của
mình yêu cầu mở một thư tín dụng theo thoả thuận trong hợp đồng ngoạithương
(2) Căn cứ vào đơn xin mở thư tín dụng, ngân hàng mở thư tín dụng sẽ lập
một thư tín dụng và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuấtkhẩu thông báo việc mở thư tín dụng và chuyển thư tín dụng đến người xuấtkhẩu
(3) Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho
người xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng đó, và khinhận được bản gốc thư tín dụng thì chuyển ngay cho người nhập khẩu
(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng, nếu
không thì tiến hành đề nghị ngân hàng mở thư tín dụng sửa đổi, bổ sung thư tíndụng cho phù hợp với hợp đồng
Người nhậpkhẩu
Người xuấtkhẩu
Ngân h ngàngthông báo L/CNgân h ngàng
mở L/C
Trang 27(5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của thư
tín dụng xuất trình thôn gqua ngân hàng thông báocho ngân hàng mở thư tíndụng xin thanh toán
(6) Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với
thư tín dụng thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu Nếu thấy không phù hợp,ngân hàng từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho người xuấtkhẩu
(7) Ngân hàng mở thư tín dụng đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ
chứng từ cho người nhập khẩu sau khi nhận được tiền hoặc chấp nhận thanhtoán
(8) Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng
thì trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền, nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chốitrả tiền
4 Thư tín dụng (L/C)
4.1 Khái niệm thư tín dụng.
Thư tín dụng là một công cụ quan trọng của phương thức tín dụng chứng từ.Thư tín dụng là một chứng thư (điện hoặc ấn chỉ) trong đó ngân hàng mở L/Ccam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình được một bộ chứng từphù hợp với nội dung của L/C
Thư tín dụng là văn bản thể hiện sự cam kết của ngân hàng nước người muađối với người bán để thực hiện nghĩa vụ trả tiền quy định trong điều khoảnthanh toán của hợp đồng mua bán, do đó thư tín dụng phải được mở trên cơ sởhợp đồng mua bán Cụ thể là những nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán làcăn cứ duy nhất để người mua dựa vào đó để mở thư tín dụng cam kết và trả tiềncho người bán
Trang 28Nhưng vì thư tín dụng lại do ngân hàng mở để cam kết trả tiền theo yêu cầucủa người mua nên sau khi thư tín dụng đã được mở tại một ngân hàng nhất địnhnào đó thì nó lại độc lập hoàn toàn với hợp đồng mua bán Tính độc lập của thưtín dụng thể hiện ở chỗ là nghĩa vụ của ngân hàng đối với người hưởng lợi thưtín dụng(người xuất khẩu) không phụ thuộc vào các quan hệ giữa người xuấtkhẩu và người nhập khẩu Mặt khác mối quan hệ giữa ngân hàng và người nhậpkhẩu cũng không liên quan đến người khác Cụ thể là ngân hàng mở thư tíndụng không cần biết đến hợp đồng mua bán, mà chỉ căn cứ vào nội dung thư tíndụng để trả tiền cho người bán, ngân hàng không cần biết đến việc giao hàngthực tế có đúng với nội dung các chứng từ xuất trình cho ngân hàng hay không
mà ngân hàng chỉ căn cứ vào các chứng từ do người bán xuất trình, nếu thấy cácchứng từ đó bề ngoài phù hợp với các điều kiện của thư tín dụng thì trả tiền chongười bán Trong trường hợp vì những nguyên nhân nào đó giữa người nhậpkhẩu và ngân hàng mà người nhập khẩu không thanh toán tiền với ngân hàng thìngân hàng vẫn phải hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với người xuất khẩu khingười xuất khẩu làm đầy đủ các thủ tục và các điều khoản của thư tín dụng
4.2 Nội dung chủ yếu của một thư tín dụng.
a Số hiệu, địa điểm và ngày mở thư tín dụng.
-Số hiệu Tất cả các thư tín dụng đều phảI có số hiệu riêng Tác dụng để trao đổithư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện thư tín dụng, dùng để ghi vào cácchứng từ có liên quan
-Địa điểm mở L/C: là nơI mà ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuấtkhẩu Tác dụng trong việc chọn luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp
-Ngày mở L/C: là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân hàng mở L/C vớingười xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C, và là căn cứ đểngười xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện việc mở L/C có đúnghạn như đã quy định trong hợp đồng hay không
Trang 29b Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ.
-Thương nhân: là người nhập khẩu (người yêu cầu mở L/C), là người xuất khẩu(người hưởng lợi L/C)
-Ngân hàng tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ : ngân hàng mở L/C,ngân hàng thông báo, ngân hàng trả tiền, ngân hàng xác nhận, ngân hàng chiếtkhấu…
c Số tiền của thư tín dụng.
Số tiền của L/C vừa được ghi bằng số, vừa được ghi bằng chữ và thống nhất vớinhau Tên của đơn vị tiền tệ phải rõ ràng
d Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong thư tín dụng.
-Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng: là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam kếttrả tiền cho người xuất khẩu nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ trongthời hạn đó và phù hợp với những điều quy định trong L/C
Cần phải xác định một thời hạn hiệu lực hợp lý, có nghĩa là nó vừa tránh đọngvốn cho người nhập khẩu vừa không gây khó khăn trong việc xuất trình chứng
từ của người xuất khẩu
-Thời hạn trả tiền của thư tín dụng: là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền về sau,điều này phụ thựôc vào quy định của hợp đồng
-Thời hạn giao hàng cũng được ghi trong L/C và do hợp đồng quy định
e Những nội dung về hàng hoá như tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu…
f.Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá như điều kiện cơ sở giao hàng, cách vận chuyển, cách giao hàng…
Trang 30g Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình
Đây là nội dung then chốt của thư tín dụng, bởi vì bộ chứng từ quy địnhtrong thư tín dụng là một bằng chứng của người xuất khẩu chứng minh rằngmình đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng những quy định của thư tíndụng, do vậy ngân hàng mở L/C phải dựa vào đó để tiến hành trả tiền cho ngườixuất khẩu nếu bộ chứng từ phù hợp với thư tín dụng Để sử dụng phương thứctín dụng chứng từ như là công cụ hiệu quả nhất trong giao dịch thanh toán quốc
tế thì phải biết cách lập bộ chứng từ hoàn hảo, đáp ứng được các điều khoản vàđiều kiện của thư tín dụng tuân theo chuẩn mực luật pháp quốc tế và thực tiễnthực hành được các nước tham gia công nhận
h.Sự cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C: là nội dung cuối cùng của thư tín dụng và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C.
i Những điều khoản đặc biệt.
k.Chữ ký của ngân hàng mở thư tín dụng.
4.3 Các loại thư tín dụng.
Các thư tín dụng thường gặp trong thanh toán quốc tế:
4.3.1.Thư tín dụng có thể huỷ bỏ (Revocable L/C)
Thư tín dụng có thể huỷ bỏ là thư tín dụng được phát hành cho người hưởng lợi(người xuất khẩu) theo chỉ thị của người cung cấp thư tín dụng (người nhậpkhẩu), nó có thể được sửa đổi hoặc huỷ bỏ mà không cần sự đồng ý của ngườihưởng lợi
Thư tín dụng có thể huỷ bỏ chứa đựng rủi ro cho người hưởng lợi vì L/C có thể
bị sửa đổi , huỷ bỏ trong khi hàng hoá đã được giao và chứng từ chưa kịp xuấttrình Loại này ít được sử dụng, thưởng chỉ áp dụng trong các mối quan hệ tintưởng hoặc các công ty phụ thuộc
Trang 314.3.2 Thư tín dụng không thể huỷ bỏ (Irrevocable L/C).
Thư tín dụng không thể huỷ bỏ là loại thư tín dụng mà ngân hàng khi đã mở thưtín dụng phảI chịu trách nhiệm trả tiền cho người xuất khẩu trong thời hạn hiệulực của thư tín dụng, không được quyền sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ thư tíndụng đó nếu chưa có sự đồng ý của các bên liên quan như người cung cấp thưtín dụng, người hưởng lợi, ngân hàng mở, ngân hàng xác nhận
Loại này đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu nên trong thanh toán quốc tế
nó được sử dụng rộng rãi
4.3.3.Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận (Confirmed irrevocable L/C).
Thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận là loại thư tín dụng không huỷ bỏ,được xác nhận bởi một ngân hàng thứ ba thông thường là ngân hàng quốc tế có
uy tín
Trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng vì lý do nào đó không thanh toánđược thì ngân hàng xác nhận có trách nhiệm thanh toán thay Như vậy, loại L/Cnày được đảm bảo thanh toán kép vì cả ngân hàng mở L/C và ngân hàng xácnhận L/C đều cam kết trả tiền cho người hưởng lợi (người xuất khẩu)
Đối với loại thư tín dụng này, quyền lợi của người xuất khẩu là được đảm bảonhất vì thế nó được sử dụng rất rộng rãi trong thanh toán quốc tế
4.3.4.Thư tín dụng không thể huỷ bỏ miễn truy đòi (Irrevocable without recourse L/C).
Thư tín dụng không thể huỷ bỏ miến truy đòi là loại thư tín dụng không thể huỷ
bỏ mà sau khi người xuất khẩu đã được trả tiền thì ngân hàng mở L/C khôngcòn quyền đòi lai tiền người xuất khẩu trong bất kỳ trường hợp nào
L/C miễn truy đòi được sử dụng rộng rãI trong thanh toán quốc tế
4.3.5 Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C).
Trang 32Thư tín dụng chuyển nhượng là thư tín dụng không thể huỷ bỏ, trong đó quyđịnh quyền của người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu ngân hàng mở thư tíndụng chuyển nhượng toàn bộ hay một phần quyền thực hiện L/C cho một haynhiều người khác
Thư tín dụng chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần
Chi phí chuyển nhượng thường do người hưởng lợi đầu tiên chịu
4.3.6.Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C).
Thư tín dụng tuần hoàn là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ sau khi đã sử dụngxong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại có giá trị như cũ và cứ như vậy nótuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị hợp đồng được thực hiện
Có 3 cách tuần hoàn: tuần hoàn tự động, tuần hoàn bán tự động, tuần hoàn hạnchế
Loại thư tín dụng này được sử dụng trong việc mua bán những mặt hàng sốlượng lớn nhưng giao thường xuyên, nhiều kỳ trong một năm với số lượng ítthay đổi nhằm tránh đọng vốn bên mua và đơn giản hoá thủ tục mở thư tín dụng
4.3.7 Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C).
Thư tín dụng giáp lưng là loại thư tín dụng được mở ra căn cứ vào thư tín dụngkhác làm bảo đảm Sa ukhi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mìnhhưởng, người xuất khẩu dùng L/C này để thế chấp mở một L/C khác cho hưởnglợi khác với nội dung f\gần giông như L/C ban đầu, L/C mở sau gọi là L/C giáplưng
Nghiệp vụ thư tín dụng giáp lưng rất phức tạp, nó đòi hỏi phải có sự kết hợpkhéo léo và chính xác các điều kiện của L/C gốc với L/C giáp lưng, nhất là cávấn đề có liên quan đến vận đơn và các chứng từ hàng hoá khác
Loại thư tín dụng nay có thể áp dụng trong buôn bán giữa các nước có sử dụngtrung gian
Trang 334.3.8 Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C).
Thư tín dụng đối ứng là loại thư tín dụng chỉ có giá trị hiệu lực khi thư tín dụngđối ứng với nó được mở ra
Thư tín dụng đối ứng thường được sử dụng trong phương thức mua bán hàngđổi hàng, ngoàI ra không loại trừ khả năng dùng trong phương thư tín dụnức giacông tuy nhiên việc sử dụng trong gia công có nhiều phức tạp
4.3.9 Thư tín dụng dự phòng (Stand-by L/C).
Thư tín dụng dự phòng là loại thư tín dụng trong đó ngân hàng mở thư tín dụngcam kết với người nhập khẩu sẽ thanh toán lại cho họ trong trường hợp ngườixuất khẩu xuất trình chứng từ gửi hàng không phù hợp với thư tín dụng hoặckhông hoàn thành trách nhiệm của mình theo thư tín dụng đề ra, đồng thời sẽ bồithường các khoản thiệt hại do minh gây ra cho người nhập khẩu
4.3.10 Thư tín dụng thanh toán dần dần về sau (Deferred payment L/C).
Thư tín dụng thanh toán dần dần về sau là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ,trong đó ngân hàng mở L/C hay là ngân hàng xác nhận L/C cam kết với ngườihưởng lợi sẽ thanh toán dần dần toàn bộ số tiền của L/C trong những thời hạnquy định rõ ràng trong L/C đó Đây là một loại L/C trả chậm từng phần
4.3.11 Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C).
Thư tín dụng có điều khoản đỏ là loại thư tín dụng quy định một ngân hàngđược gọi là ngân hàng chiết khấu thư tín dụng được sự uỷ quyền của ngân hàng
mở thư tín dụng sẽ ứng trước một khoản tiền cho người hưởng lợi thư tín dụng
để giúp người này có thêm nguồn vốn để giao hàng theo thư tín dụng đã mở.Sốtiền chiết khấu này được tính lãi
Thư tín dụng có điều khoản đỏ được sử dụng như là một phương pháp tài trợvốn cho người bán trước khi giao hàng
4.4 Lợi ích của thư tín dụng.
Trang 34a.Khả năng tài trợ vốn.
-Thư tín dụng cung cấp giao dịch đặc biệt với mức tín dụng ngân hàng độclập vàlời hứa trả tiền rõ ràng
-Thoả mãn nhu cầu tài chính của người bán và người mua qua việc xác định hạnmức tín dụng ngân hàng trên cơ sở đề nghị của cả hai bên
-Có thể cho phép người mua mua hàng với giá thấp hơn cũng như việc trả tiềnđược kéo dài hơn so với phương thức ghi sổ hoặc nhờ thu
-Giảm thậm chí loại bỏ yếu tố rủi ro tín dụng thương mại, khi mà thanh toán đãđược đảm bảo bởi ngân hàng thông qua việc mở thư tín dụng không thể huỷ bỏ.Người bán không còn phải lo về sự trung thực và khả năng của người mua trongviệc thanh toán
-Giảm được tỷ lệ nhất định rủi ro hối đoáI và rủi ro chính trị
-Mở rộng khả năng cung cấp hàng cho người mua một khi người bán chỉ đồng ýbán hàng trên cơ sở thanh toán ứng trước hoặc thư tín dụng
b Thư tín dụng cung cấp hành lang pháp luật cho thương mại quốc tế.
c Đảm bảo kiểm tra chứng từ cẩn thận trước khi được gửi tới người mua.
Người mua được đảm bảo rằng chứng từ mà họ yêu cầu theo thư tín dụng phảiđược xuất trình phù hợp với những điều khoản và điều kiện của thư tín dụng.Người mua được đảm bảo rằng chứng từ sẽ được kiểm tra bởi kỹ năng chuyênmôn ngân hàng trong hoạt động thư tín dụng
Người mua chỉ chịu trách nhiệm thanh toán cho người bán sau khi các điềukhoản và điều kiện của L/C đã phù hợp
5 Ưu nhược điểm của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
5.1 Ưu điểm
*Đối với ngân hàng
Trang 35Ngân hàng không bị ràng buộc bởi những điều khoản trong hợp đồng muabán ngoại thương và tình trạng thực tế của hàng hoá mà chỉ bị ràng buộc bởinhững điều khoản trong thư tín dụng Việc trả tiền chỉ dựa vào thư tín dụng khi
nó đã được mở
Ngân hàng thu được một khoản thủ tục phí khá lớn, ngoài ra ngân hàng cònnhận được một khoản tiền gửi đáng kể khi nhà nhập khẩu ký quỹ Xoay quanhhoạt động này, ngân hàng còn thực hiện một số hoạt động khác như: tài trợ xuấtnhập khẩu, bảo lãnh, xác nhận… và ngân hàng còn thu được một ích vô cùng tolớn đó là uy tín, địa vị của ngân hàng trên thị trường tài chính, tín dụng quốc tế
*Đối với người mua ( người nhập khẩu)
Nhà nhập khẩu có thể mở rộng nguồn cung cấp hàng hoá cho mình màkhông phải tốn kém thời gian, công sức trong việc tìm kiếm đối tác uy tín và tincậy Bởi vì, họ đựoc đảm bảo chỉ phảI trả tiền nếu có được bộ chứng từ phù hợpvới L/C.Mà để có được bộ chứng từ hoàn thiện như vậy, người bán phải đưahàng hoá qua một số tổ chức kiểm nghiệm và các tổ chức này bằng uy tín,nghiệp vụ của mình sẽ kết luận về tình trạng của hàng hoá trên các giấy tờ như:chứng thư xuất xứ, chứng từ phẩm chất…Như vậy,trong bối cảnh nước ta tiếnvào hội nhập thế giới, đặc biệt trong lĩnh vưc thương mại quốc tế, các doanhnghiệp còn non yếu về kinh nghiệm và nghiệp vụ xuất nhập khẩu thì phươngthức thanh toán tín dụng chứng từ đã mang lại cho họ niềm tin, giúp họ vữngbước trên con đường hướng ra thị trường thế giới
*Đối với người bán (người xuất khẩu)
Người xuất khẩu chỉ tiến hành giao hàng chừng nào họ biết mình được ngânhàng đảm bảo khả năng thanh toán và thực tế là nếu họ xuất trình bộ chứng từ,điều khoản, điều kiện trong L/C thì hầu như chắc chắn sẽ được thanh toán Việcthanh toán của ngân hàng không phụ thuộc vào người nhập khẩu, kể cả trườnghợp người nhập khẩu mất khả năng thanh toán Do vậy, người xuất khẩu sẽ thu
Trang 36hồi vốn nhanh, không bị ứ đọng vốn Người xuất khẩu còn tránh được những rủi
ro về ngoại hối vì khi lam đơn xin mở L/C người nhập khẩu đã có giấy phépchuyển ngoại tệ của các cơ quan quản lý ngoại hối
5.2 Nhược điểm
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán đảm bảonhất cho các bên tham gia tuy nhiên nó vẫn có hạn chế, đó là rủi ro Vì vậy, đòihỏi các bên tham gia tìm hiểu nguyên nhân và vận dụng các biện pháp linh hoạtnhằm hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra
5.2.1 Nguyên nhân gây ra rủi ro.
a Nguyên nhân khách quan từ nền kinh tế hay chế độ chính trị của các nước
Thay đổi về chính sách thuế quan nhập khẩu, thay đổi quy chế quản lý ngoạihối… đều làm ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế
Rủi ro chính trị trong thanh toán quốc tế là những rủi ro bắt nguồn từ sự pháttriển kinh tế chính trị của nước có liên quan trong quá trình thanh toán Một sựbiến động kinh tế chính trị của nước có liên quan trong quá trình thanh toán sẽảnh hưởng đến khả năng và sự sẵn sàng đáp ứng các cam kết như đã thoả thuậncủa các bên Sự suy thoáI kinh tế của một nước sẽ ảnh hưởng bất lợi tới sự vận
Trang 37động của tự do thương mại, tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp và từ đó ảnh hưởng xấu tới quá trình thanh toán.
Rủi ro chính trị thường hay gặp nhất là những rủi ro do sự thay đổi của môItrường pháp lý, đặc biệt là ở những nước có hệ thống luật pháp chưa ổn định,thường xuyên sửa đổi bổ xung Những rủi ro pháp lý thường liên quan đến cácquốc gia áp đặt hay thay đổi mạnh các yêu cầu về dự trữ ngoại hối, các qui địnhcản trở hạn chế xuất nhập khẩu Trong thực tế những thay đổi này thường khiếncác nhà xuất nhập khẩu và ngân hàng không thực hiện được nghĩa vụ của mình
b Nguyên nhân chủ quan từ các chủ thể tham gia thanh toán quốc tế.
Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên những rủi ro và hạn chếhiệu quả trong quá trình thanh toán quốc tế
-Sự bất cập trong kiến thức về ngoại thương của các doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu
-Sự yếu kém trong trình độ nghiệp vụ thanh toán của các đơn vị xuất nhập khẩu.-Thực lực tài chính của doanh nghiệp còn yếu kém
-Sự cố tình vi phạm các cam kết với ngân hàng của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.-Trình độ cán bộ ở các ngân hàng còn non kém trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế
5.2.2 Những rủi ro thường xảy ra.
a Đối với ngân hàng.
-Đối với ngân hàng mở L/C
Ngân hàng mở L/C là ngân hàng cam kết thanh toán Vì tính chất thay mặtngười mua cam kết trả tiền cho người bán để người bán tin tưởng và yên tâmgiao hàng đã làm xuất hiện khả năng xẩy ra rủi ro đối với ngân hàng mởL/C.Các rủi ro nay có thể do chính bản thân ngân hàng gây ra, nhưng phần nhiều
là do phía người mua gây ra
Trang 38+Rủi ro về tỷ giá: người mua không lường trước được mức độ trượt giá đồng nội
tệ so với ngoại tệ mạnh nên khi hàng nhập về người mua không muốn nhận hàng
vì sợ bị lỗ Trong trường hợp đó, nếu tỷ lệ ký quỹ không bù đắp được tỷ lệ trượtgiá của đồng nội tệ thì rủi ro có thể xẩy ra đối với ngân hàng mở L/C
+Rủi ro trong quá trình vận chuyển: nếu có rủi ro ro trong quá trình vận chuyểnnhư mất mát, hư hỏng, va chạm, đắm tàu…mà trách nhiệm không thuộc về hãngtàu và người nhập khẩu không mua bảo hiểm, người nhậpkhẩu không sẵn lòngthanh toán, ngân hàng mở L/C có thể gặp rủi ro
+Rủi ro do người nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản: đây là rủi
ro gây thiệt hại nặng nề nhất cho ngân hàng mở L/C, vì ngân hàng buộc phảithanh toán cho người xuất khẩu trong khi không thể thu hồi vốn từ phía ngườinhập khẩu
+Rủi ro do người xuất khẩu có hành vi lừa đảo
+Rủi ro do ngân hàng mở L/C không hành động đúng theo UCP mà L/C đã dẫnchiếu: theo UCP, ngân hàng mở L/C được miễn trách nhiệm thanh toán nếuchứng từ xuất trình có lỗi Tuy nhiên nếu ngân hàng mở L/C không hành độngđúng theo những quy định tại điều 13-UCP thì ngân hàng mở L/C gặp rủi ro đốivới chính bộ chứng từ đó
-Đối với ngân hàng thông báo
Ngân hàng thông báo là ngân hàng được ngân hàng mở L/C yêu cầu thông báomột L/C do ngân hàng mở phát hành cho người bán Ngân hàng thông báo cóthể là ngân hàng có quan hệ mã khoá với ngân hàng mở L/C, có thể là ngânhàng có trụ sở đóng tại nước người bán hoặc nước thứ ba Rủi ro đối với ngânhàng thông báo khi ngân hàng thông báo quyết định thông báo nhầm phải mộtL/C giả (hoặc sửa đổi giả) mà không có ghi chú gì, theo thông lệ quốc tế thìngân hàng thông báo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với các bên liên quan
Trang 39-Đối với ngân hàng xác nhận
Ngân hàng xác nhận thường là ngân hàng lớn, có uy tín hoặc ngân hàng có quan
hệ tiền gửi, tiền vay với ngân hàng mở L/C, được ngân hàng mở L/C yêu cầuxác nhận và cam kết trả tiền cho người bán nếu như ngân hàng mở L/C khôngthực hiện được trách nhiệm của mình Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng xác nhận
là khi không nắm được năng lực tài chính của ngân hàng mở L/C mà đã vội đixác nhận theo yêu cầu của họ để cuối cùng ngân hàng xác nhận phải nhận tráchnhiệm thanh toán thay cho ngân hàng mở L/C do ngân hàng mở L/C thiếu thiệnchí hay mất khả năng thanh toán, thậm chí phá sản
-Đối với ngân hàng chiết khấu chứng từ
Ngân hàng chiết khấu có thể là ngân hàng xác nhận nếu là L/C xác nhận, hoặc
có thể là ngân hàng mở L/C Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng chiết khấu phụthuộc vào thiện chí của ngân hàng mở L/C và người nhập khẩu Rủi ro mà ngânhàng chiết khấu có thể gặp phải là:
+Rủi ro do những nguyên nhân bất khả kháng
+Rủi ro do người nhập khẩu trì hoãn thanh toán
+Rủi ro trong quá trình vận chuyển
+Rủi ro do người nhập khẩu từ chối thanh toán bộ chứng từ
+Rủi ro do ngân hàng mở L/C bị phá sản
+Rủi ro do ngân hàng chiết khấu không hành động đúgn theo quy định của UCP
b Đối với người mua (người nhập khẩu)
Rủi ro xảy ra khi trong quá trình áp dụng và thực hiện các điều khoản của L/C,ngân hàng không chiịu trách nhiệm về tình chân thực của bộ chứng từ cũng nhưtình trạng thực tế của hàng hoá Do đó bộ chứng từ mà người mua nhận được từngân hàng có thể là bộ chứng từ giả mạo và nếu ngân hàng đã trả tiền cho người
Trang 40bán trước khi có sựphán quyết của toà án thì toàn bộ thiệt hại đó sẽ thuộc vềngười xin mở L/C tức người mua.
c Đối với người bán (người xuất khẩu)
Rủi ro xảy ra khi bên mua không có thiện chí với bên bán khi họ cố tình việnhững lỗi rất nhỏ trên chứng từ để từ chối thanh toán, mặc dù bên bán giao hàngđúng số lượng, chất lượng, thời gian như trong quy định của hợp đồng và của L/
C Do tính chặt chẽ và chi tiết của bộ chứng từ, đôi khi bên bán gặp khó khăntrong việc đáp ứng những điều kiện quá khắt khe của bộ chứng từ
Ngoài ra, còn có những rủi ro xảy ra do cơ chế chính sách thay đổi, hoặc rủi ro
về mặt đạo đức kinh doanh.Vì vậy, việc tìm kiếm các biện pháp để hạn chế,phòng ngừa rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế là vô cùng cần thiết vàcấp bách