1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu trên hệ điều hành Windows CE

58 629 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đề tài khoá luận của sinh viên Trần Lê Mạnh tập trung vào việc nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu trên hệ điều hành WindowsCE Khoá luận được hoàn thành thông qua việc nghiên cứu, ph

Trang 1

Lời đầu tiên, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ths.Lê Minh, ngườithầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm khoá luận

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô và bạn bè, những người luôn sátcánh bên tôi trong suốt quá trình học tập, cũng như thời gian hoàn thành khoá luận

Lời cuối, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình và những người thâncủa tôi Họ luôn là nguồn động viên tinh thần và cổ vũ lớn lao, là động lực giúp tôithành công trong công việc và cuộc sống

Trang 2

Hiện nay, ở Việt Nam có hai hình thức làm thủ tục hải quan là trên giấy tờ vàtrên điện tử Trong đó, hình thức làm thủ tục hải quan trên giấy tờ là phổ biến Vớihình thức này nhân viên hải quan rất mất thời gian, công sức trong việc nhận và kiểmtra làm thuế đối với hàng hoá nhập khẩu

Do công nghệ thông tin ngày càng phát triển nên việc kết hợp giữa các thiết bịcầm tay với tìm kiếm và tính thuế cho hàng hoá nhập khẩu trong ngành hải quan là rấtcần thiết và mang lại hiệu quả quản lý cao

Trong khuôn khổ khoá luận, chúng tôi xin tập trung trình bày hệ thống xâydựng cơ sở dữ liệu biểu thuế trên WindowsCE và các chức năng tìm kiếm thuế Mụctiêu của chúng tôi là giúp cho các nhân viên hải quan làm việc một cách nhanh chónghiệu quả và linh hoạt đồng thời giảm sai sót trong việc kiểm tra hàng hoá và tính thuế

Khoá luận này được hoàn thành do việc nghiên cứu phân tích và tổng hợp tàiliệu, phân tích mô hình thủ tục hải quan thực tế đồng thời sử dụng phiên bản mới nhấtcủa hệ điều hành WinCE trên thiết bị cầm tay

Trang 3

Mục lục

Tóm tắt 1

Chương 1: Mở đầu 3

Chương 2: Tổng quan công nghệ 4

2.1 Tổng quan về hệ điều hành Window CE 4

2.2 Một số thiết bị cầm tay phổ biến 5

2.2.1 Ưu nhược điểm của thiết bị cầm tay 9

Chương 3: Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin hiện nay ngành Hải quan 11

3.1 Khái quát trình và công tác ứng dụng công nghệ thông tin Hải Quan 11

3.1.1 Hạ tầng CNTT 11

3.1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong các nghành hải quan 12

3.2 Mục tiêu và định hướng phát triển 12

3.3 Những tồn đọng trong việc ứng dụng CNTT vào ngành Hải quan 14

Chương 4: Cơ sở lý thuyết xây dựng cơ sở dữ liệu trên Windows CE 16

4.1 Cấu trúc của Cơ sở dữ liệu Windows CE 16

4.2 Tạo và xoá cơ sở dữ liệu 20

4.3 Liệt kê cơ sở dữ liệu 22

4.4 Mở cơ sở dữ liệu 23

4.5 Sắp xếp cơ sở dữ liệu 25

4.6 Tìm kiếm các bản ghi 27

4.7 Đọc bản ghi 29

4.8 Viết các bản ghi 31

4.9 Xoá bản ghi 33

4.10 Lấy về các thông tin của các đối tượng lưu trữ 33

4.11 Thay đổi thông tin của DB(database) 37

4.12 Handling Database Notification Messages 38

4.13 DB giao tiếp 40

4.15 Thẻ địa chỉ 41

4.16 Mở DB Contacts 43

4.17 Truy cập tới các thẻ địa chỉ 43

4.18 Thêm mới hoặc thay đổi thẻ địa chỉ 46

Chương 5: Thiết kế hệ thống 47

5.1 Mô tả bài toán 47

5.2 Sơ đồ phân rã chức năng 51

5.3 Biểu đồ luồng dữ liệu 52

5.4 Thiết kế giao diện 53

Chương 6: Kết quả 54

6.1 Các chức năng chính của hệ thống đạt được 54

6.1.1 Giao diện cơ sở dữ liệu của hệ thống do WinCE quản lý 54

6.1.2 Giao diện trước khi tìm kiếm thuế 55

6.1.3 Giao diện sau khi tìm kiếm thuế 56

6.2 Đánh giá kết quả đạt được 56

Chương 7: Kết luận 57

Tài liệu tham khảo 58

Trang 4

Các thiết bị cầm tay chạy hệ điều hành được thiết kế là thiết bị di động có các đặc điểm gần giống với các máy desktop PC Windows CE cung cấp giao diện thân thiện với người sử dụng và nhiều form dữ liệu giống với khi sử dụng desktop PC có cài hệ điều hành Windows 95 Không những thế, hệ điều hành Windows CE hỗ trợ cho các ứng dụng có thể tạo và duy trì cơ sở dữ liệu của nó Các chuẩn database của Windows CE cho phép có ứng dụng dễ dàng chia sẻ dữ liệu

Trong bài khoá luận này chúng tôi tìm hiểu về hệ điều hành dành cho các thiết

bị cầm tay - hệ điều hành Windows CE, mà hiện nay phiên bản mới nhất của hệ điều hành này là Windows Mobile 2005 Đồng thời nghiên cứu quy trình làm thủ tục hải quan của các công chức hải quan Từ đó, phát triển xây dựng ứng dụng biểu thuế nhập khẩu trên thiết bị cầm tay là Pocket PC

Khoá luận của tôi được hoàn thành cùng với sinh viên Trần Lê Mạnh Trong

đề tài khoá luận của sinh viên Trần Lê Mạnh tập trung vào việc nghiên cứu xây dựng

cơ sở dữ liệu trên hệ điều hành WindowsCE

Khoá luận được hoàn thành thông qua việc nghiên cứu, phân tích và tổng hợp tài liệu, phân tích nhu cầu của người sử dụng đồng thời sử dụng phiên bản mới nhất hệđiều hành Windows CE

Bố cục của khoá luận như sau.

Chương 1: phần mở đầu chúng tôi nêu nội dung nghiên cứu và tính cần thiết của đề tài Chương 2: chúng tôi đưa ra cái nhìn tổng quan về các hệ điều hành trên thiết bị cầm tay Chương 3: chúng tôi trình bày về tình hình ứng dụng công nghệ thôngtin hiện nay trong ngành Hải quan Chương 4: trình bày về cơ sở lý thuyết để xây dựng

cơ sở dữ liệu trên Windows CE Chương 5: trình bày về thiết kế hệ thống Chương 6:

Trang 5

Chương 2: Tổng quan công nghệ 2.1 Tổng quan về hệ điều hành Window CE

Tốc độ phát triển vượt bậc của các thiết bị cầm tay đã tạo nên sự cạnh tranh gaygắt của các công ty phần mềm cung cấp hệ điều hành cho các thiết bị này: Palm OS,Symbiam, Linux, Windows, Doja, Brew Trong số này, tập đoàn Microsoft với hệđiều hành Windows Mobile hứa hẹn sẽ đem lại nhiều thành công nhất nhờ vào sốlượng khổng lồ những người đã quen sử dụng Windows từ trước tới nay

Windows Mobile 2005, một trong những hệ điều hành Windows Mobile phiênbản mới nhất có rất nhiều tính năng mạnh và khác nhiều so với Windows CE - thế hệđầu tiên của Windows Mobile( phiên bản 1.0) ra đời năm 1998 Thiết bị cầm tay lúcnày chưa được gọi là Pocket PC mà có tên gọi là Palm Size PC

Windows “CE” là tiền thân của Windows Mobile ngày nay “CE” không phải làmột viết tắt, hay ký hiệu của công nghệ nào,mà đó là tập hợp các từ Compact,Connectable, Compatible, Companion và Efficient Những từ này tượng trưng cho khảnăng mà các thiết bị cầm tay sử dụng Windows CE, thể hiện sự kết hợp gọn nhẹ, khảnăng kết nối, khả năng tương thích, sổ tay điện tử và hiệu suất cao Những tính năngnày dần được cải thiện trong những thế hệ sau và bổ sung thêm tính năng khác như:màn hình màu, chụp hình, nghe nhạc, định vị,

Mặc dù Windows CE 1.0 được dùng trong Palm-Size PC từ năm 1998, nhưngtrước đó nó đã được dùng trong các Handheld PC từ năm 1996 Handheld PC có dạngnhư một laptop thu nhỏ với đầy đủ bàn phím, chuột, và chưa có màn hình cảm ứngnhư trên Pocket PC

Máy Handheld PC Pegasus sản xuất năm 1996 của hãng HP, sử dụng Windows

CE 1.0, màn hình đơn sắc Monochorome và bán được hơn nửa triệu thiết bị trong nămđầu tiên Giao diện Windows CE 1.0 được thiết kế theo giao diện của Windows 95

Năm 1997, Handheld PC Mercury ra đời với hệ điều hành Windows CE 2.0,màn hình VGA 256 màu tích hợp ứng dụng Office và vẫn giữ giao diện của Windows

95 Thời điểm này cũng là lúc Palm-Size PC chuẩn bị ra đời trên nền Windows Ce 1.0

Cuối năm 1999 và đầu năm 2000, Rapier, thiết bị cầm tay với hệ điều hànhWindows CE đầu tiên được gọi là Pocket PC(tức máy vi tính bỏ túi) hay Pocket PC

2000 Một tên gọi khác của thiết bị này lúc đó là Handheld PC – Galileo Hệ điều hànhWindows CE được nâng cấp lên phiên bản 3.0 với màn hình cảm ứng

Trang 6

Tiếp đó, năm 2001, Merlin- thế hệ Pocket PC 2002 ra đời, giao diện được xâydựng trên nền tảng Windows XP Vẫn là Windows CE 3.0 nhưng phiên bản này đượctích hợp thêm ứng dụng Windows Media Player Bởi vậy, người sử dụng đã có thêmmột chức năng rất tuyệt trên Pocket PC như nghe nhạc, xem phim Lúc này, điệnthoại di động vẫn đang phổ biến các model đơn sắc như Nokia 3310, 8310, 8210,

8250, Samsung A100, còn Pocket PC chưa tích hợp chức năng đàm thoại của điệnthoại di động

Năm 2002, trên thị trường bắt đầu phổ biến mạnh các loại smartphone(điệnthoại thông minh ) sử dụng hệ điều hành Symbian Để đẩy mạnh khả năng cạnh tranh,Microsoft đã phát triển tích hợp chức năng thoại GSM vào hệ điều hành Windows CE.Thời điểm này bắt đầu xuất hiện khá nhiều các Pocket PC có khả năng đàm thoại nhưO2 Xda, Levono

Mặc dù, lúc đó, Pocket PC vẫn chưa đủ khả năng cạnh tranh cùng các loạiSmartphone với hệ điều hành Sỵmbian do các tính năng kết nối khá yếu, cụ thể là chưa

có Blutooth, chưa có Wi-Fi

Năm 2003, Windows CE được nâng cấp lên phiên bản 4.x khá hoàn hảo và đủsức cạnh tranh với hệ điều hành Symbian nhờ vào các tính năng Bluetooth, công nghệDot Net Framework, Wi-Fi và chương trình Windows Media Player 9.0 Đánh dấubước phát triển này và có lẽ với mục đích cuối cùng là nhằm thay đổi hoàn toàn các hệđiều hành trên điện thoại di động bằng Windows, Windows CE được đổi tên thànhWindows Mobile Cũng giống như Windows trên PC, Windows cũng dùng năm ra đời

để đánh dấu các phiên bản khác nhau như: Windows Mobile 2003, Windows MobileSecond Edition(2004) Phiên bản mới nhất của hệ điều hành này là Windows Mobile5.0, vừa ra mắt trong quý 3 năm 2005

2.2 Một số thiết bị cầm tay phổ biến

Có rất nhiều thiết bị phục vụ cho công nghệ không dây, nhưng nổi bật vàthông dụng nhất hiện nay vẫn là các thiết bị cầm tay Trong phần này, chúng ta sẽ đềcập đến một số thiết bị cầm tay được phân loại bằng các chức năng phổ biến như cácthiết bị hỗ trợ gửi tin nhắn (text messaging devices), các thiết bị trợ giúp cá nhân (PDA

- Personal Digital Assistants) và các loại điện thoại thông minh (Smart phones)

Các thiết bị truyền nhận tin nhắn cũng được chia ra thành một loại thiết bịriêng biệt cho dù hiện nay tính năng này đã có trong hầu như tất cả các loại điện thoại

Trang 7

chuyển và phân phát các thông điệp tới chúng Công nghệ gửi tin nhắn được thiết kế

để quản lí hộp tin của từng thành viên và ngay lập tức gửi tin tới các thành viên thôngqua hệ thống mạng không dây hoặc mạng Internet nếu như hộp tin của thành viên đó

có thông điệp mới

Các hệ thống nhắn tin là phương tiện phổ thông nhất được sử dụng để giữ liênlạc Các ưu điểm nổi trội của hệ thống loại này là gọn nhẹ, rẻ tiền, dễ sử dụng, đáng tincậy và sử dụng dịch vụ nhắn tin được hỗ trợ ở khắp mọi nơi Thiết bị nhắn tin đầu tiênthành công trên thị trường là những chiếc máy nhắn tin (pager) - cũng đã từng được

sử dụng rất rộng rãi tại Việt Nam trong những năm đầu của thập niên 90 Ngày nay,mặc dù công nghệ nhắn tin đã được tích hợp vào điện thoại di động, nhưng rất nhiềungười sử dụng vẫn lựa chọn phương pháp nhắn tin vì đặc tính tiện lợi, ngắn gọn và rấtriêng tư của nó

Công nghệ ngày này đang phát triển với tốc độ rất nhanh đáp ứng nhu cầungày càng cao của con người Hàng loạt các thiết bị hữu ích mới được sản xuất, trong

đó có các thiết bị cầm tay, với các thiết bị này cuộc sống con người trở nên năng động

và linh hoạt hơn, tiết kiệm thời gian và xóa bỏ ngăn cản về khoảng cách

Đầu tiên phải lưu ý rằng các ứng dụng cho các thiết bị không dây cầm tay (chocác thiết bị cầm tay cỡ nhỏ như : PalmTop, Mobile ), là những chương trình hoàntoàn không có mối liên hệ nào từ các hệ thống máy tính các nhân cũng như các hệthống máy tính chia sẻ Những ứng dụng này xuất phát từ quan điểm thời gian thực,các hệ thống nhúng Những lĩnh vực chính của các ứng dụng này là trên các PalmPilots, và chúng bị giới hạn trong nhưng ứng dụng như sổ ghi địa chỉ, lập lịch cánhân, Nó rất tiện lợi trong các giao dịch thương mại, trao đổi ghi nhớ thông tin cánhân, nhưng rõ ràng nó không hữu ích với phần lớn chúng ta trong cuộc sống hàngngày, không như các máy tính cá nhân, hay hệ thống các máy chia sẻ

Tiếp đến chúng ta xem xét đến mạng Internet không dây, nó đã từng đượcnghĩ sẽ là một điều tuyệt vời nhất với nền công nghiệp máy tính Tuy nhiên nó có rấtnhiều giới hạn trong công việc cũng như cuộc sống hàng ngày, lí do chính là bởinhững thiết bị hiện đang có Các thiết bị cầm tay và phương thức WAP (WirelessApplication Protocol ) rất bị hạn chế về mặt bộ nhớ và kích cỡ màn hình hiển thị, rấtkhó để đưa vào thông tin bởi vì khả năng gõ văn bản còn rất nhiều hạn chế Nhưng dùthế nào, công nghệ không dây là công nghệ thật tuyệt vời Khả năng kết nối vớiWWW ở bất cứ lúc nào ở bất kì đâu thật sự là một tiến bộ thực sự trong kỷ nguyên

Trang 8

Với Internet không dây, chúng ta sẽ không phải ngồi trước màn hình máy tính

để lấy thông tin từ Internet, mà với thiết bị không dây cầm tay chúng ta có thể dễ dàngkết nối với Internet hoặc trong mạng Intranet, hoặc bất kì máy tính nào có hỗ trợ côngnghệ không dây

Các loại thiết bị cầm tay phổ biến:

Trên thế giới hiện nay có rất nhiều các thiết bị cầm tay, sau đây là một số cácthiết bị phổ biến hiện nay :

PDAs

Hình 1: Thiết bị PDAThuật ngữ PDA có thể nói theo nhiều cách nhưng nó thực sự là một máy tínhcầm tay PDA đâu tiên phải kể đến là nó chứa những chương trình lập lịch hàng ngày,

sổ địa chỉ, máy tính, ghi nhớ công việc, và một số các chương trình khác nữa nhưchuyển đổi tiền tệ, xem giờ Các chương trình của PDA thực sự đơn giản

Palm

Hình 2: Thiết bị PALM

Trang 9

Palm là một loại thiết bị phát triển lên từ PDA, nó mở rộng từ PDA dựa trênnền tảng nhận dạng chữ viết tay, nâng cấp bộ nhớ lên tới hàng gigabytes Bên cạnh đó

là thêm các phần đồng bộ với máy tính, các khe cắm mở rộng các bộ nhớ phụ

Palm xây dựng trên nền tảng hệ điều hành Palm OS, khác khác với Windows

CE vì Palm tập trung vào các ứng dụng quản lý lập lịch cá nhân, còn Microsoft Pocket

PC thực sự là một phiên bản thu nhỏ của máy tính cá nhân [3]

PocketPC

Hình 3:Thiết bị Pocket PC

Đây là loại thiết bị không dây phổ biến vào hàng thứ 2 trên thế giới, nổi trội làMicrosoft’s Pocket PCs dựa trên hệ điều hành Windows CE ( nó là một phiên bản thunhỏ của Desktop computer )

Hệ điều hành Windows CE được thiết kế như là một platform để tạo ra cácthiết bị mobile lập trình được ở các hình dáng, kích thước và cấp độ khác nhau, nóquản lý sự tích hợp giữa các phần mềm ứng dụng và phần cứng trên các đơn vị vật lý

Microsoft cung cấp các platform phần mềm : hệ điều hành Window CE, tíchhợp các ứng dụng Outlook, Exchange, … và nhiều thứ khác nữa

Nhiều chuyên gia dự đoán PocketPC sẽ vượt lên Palm trong vài năm tới, nó rađời sau Palm nhưng nó chiếm lĩnh thị trường bởi vì nó gần như là một máy tính để bànthu nhỏ, trong khi đó Palm hầu hết vẫn dựa trên nền tảng các ứng dụng quản lý củacủa cá nhân như một số loại PC cầm tay khác

Điện thoại di động

Trang 10

Hình 4: Thiết bị điện thoại di động

Điện thoại di động giờ đây không chỉ là đơn giản là một thiết bị đơn thuần gọi

và nhận cuộc gọi, với các công nghệ tiên tiến điện thoại giờ đây thực sự đã dần trởthành một thiết bị đa năng Thiết bị này hiện nay vẫn đảm bảo các tính năng cơ bảncủa một chiếc điện thoại, ngoài ra nó còn có rất nhiều tính năng khác và dần trở thànhmột máy tính cá nhân thu nhỏ, với các tính nắng đa phương tiện, duyệt web, … thậmchí là có riêng cả hệ điều hành

Sự đa dạng và ngày càng hoàn thiện của các thiết bị cầm tay đã làm thay đổinhiều mặt trong đời sống của con người, giờ đây con người có thể tiếp cận thông tinmọi lúc mọi nơi, đúng theo nghĩa thông tin “di động”

2.2.1 Ưu nhược điểm của thiết bị cầm tay

- Nhỏ gọn, dễ sử dụng, hợp thời

- Dễ dàng di chuyển có thể mang đi bất cứ nơi nào muốn

- Màn hình to hơn các thiết bị di động khác nên dễ dàng thao tác

- Có hệ điều hành và có thể chạy được nhiều ứng dụng khác nhau

- Giao diện đồ hoạ với 12 – 16 bit màu nên rất bắt mắt

- Có nhiều chức năng tương tự như một chiếc máy tính cá nhân và mộtchiếc điện thoại di động

- Có thể chạy đựơc các phần mềm viết bằng VisualC++

Nhược điểm:

Trang 11

- Đắt hơn các thiết bị di động khác.

- Tốc độ xử lý bộ nhớ còn nhỏ hơn máy tính để bàn nên có nhiều ứngdụng không đáp ứng được

Trang 12

Chương 3: Tình hình ứng dụng CNTT hiện nay

ngành Hải quan 3.1 Khái quát trình và công tác ứng dụng CNTT Hải quan

Từ những năm đầu của thế kỷ 80, công nghệ thông tin đã bùng nổ, phát triểnvới tốc độ nhanh trên thế giới Những tiến bộ kỹ thuật của công nghệ thông tin và ứngdụng của nó đã tác động mạnh tới nền kinh tế toàn cầu, thúc đẩy sự ra tăng kinh tế mộtcách mạnh mẽ và mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ hợp tác phát triển giữa các quốc gia,

tổ chức

Trước bối cảnh đó, lãnh đạo ngành Hải quan đã sớm nhận thức đúng vai tròcủa công nghệ thông tin đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,cũng như trong quá trình cải cách hành chính, hiện đại hoá ngành Hải quan, đặc biệt làviệc đưa các ứng dụng công nghệ thông tin vào cách hoạt động nghiệp vụ hải quan,công tác quản lý và điều hành của các cấp lãnh đạo Vì vậy, trong những năm vừa qualãnh đạo ngành Hải quan đã luôn quan tâm chỉ đạo đến công tác ứng dụng công nghệthông tin nhằm đáp ứng được các yêu cầu nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nướcgiao cho

3.1.1 Hạ tầng CNTT

Hệ thống an ninh an toàn mạng và dữ liệu: Để đảm bảo an ninh an toàn cho hệthống chung toàn ngành Hải quan, Tổng cục Hải quan đã lắp đặt hệ thống Backuponline cho cơ sở dữ liệu tại Trung tâm, lắp đặt hệ thống an toàn an ninh dữ liệu

Hệ thống mạng máy tính của Hải quan Việt Nam: Tính đến nay, Hải quan ViệtNam đã trang bị được 158 máy chủ và 3000 máy tính cá nhân hoạt động trên hai hệthống sau mạng sau:

- Hệ thống mạng máy tính cục bộ(LAN – Local Area Network) đã được xâydựng ở hầu hết các văn phòng Cục Hải quan và các dây truyền làm thủ tục Hải quankhi thực hiện luật Hải quan với tổng số mạng cục bộ là 114 mạng với kiến trúc hìnhsao STAR, tốc độ là 10Mbs, thiết bị kết nối đầu cuối là Switch/Hub

- Hệ thống mạng diện rộng ngành Hải quan (WAN): Trước yêu cầu nhiệm vụmới, chuẩn bị triển khai hệ thống qui trình nghiệp vụ Hải quan, năm 2003 Hải quanViệt Nam đã tiến hành khảo sát xây dựng “Đề án mạng diện rộng ngành Hải quan”,

Trang 13

lưu lượng hàng hoá xuất nhập khẩu nhiều như cục Hải quan Hải Phòng, Tp Hồ ChíMinh, Đồng Nai Tính đến cuối năm 2003, tổng cục đã triển khai, lắp mạng diệnrộng(WAN) với tổng số 22 điểm kết nối từ cơ quan Tổng cục Hải quan tới Cục Hảiquan Hải Phòng( 5 điểm), Tp Hồ Chí Minh( 9 điểm), Đồng Nai (7 điểm) và với cơquan Bộ tài chính Trước mắt , để đảm bảo về kỹ thuật và tốc độ đường truyền, Tổngcục đã triển khai kết nối giữa các điểm mạng diện rộng bằng Leased line, giải thông64bps.

3.1.2 Ứng dụng CNTT trong nghành hải quan

Trong những năm qua, toàn ngành đã xây dựng và triển khai một số “Hệ thốngphần mềm ứng dụng” phục vụ công tác quản lý, điều hành và một số khâu nghiệp vụHải quan, các hệ thống này chủ yếu được vận hành trong cơ quan Hải quan chưa cónhiều sự kết nối, trao đổi thông tin với các đối tác khác Với nỗ lực của toàn ngànhtính đến nay ngành Hải quan đã triển khai được 12 hệ thống ứng dụng CNTT vào cáckhâu nghiệp vụ công tác quản lý và điều hành:

- Hệ thống thụ thập và xử lý dữ liệu tờ khai Hải quan

- Hệ thống quản lý theo dõi nợ thuế, kế toán thu thuế xuất nhập khẩu

- Hệ thống dữ liệu giá tính thuế

- Hệ thống quản lý thông tin cưỡng chế thuế

- Hệ thống hàng gia công

- Hệ thống thông tin vi phạm pháp luật Hải quan

- Hệ thống quản lý loại hình nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu

- Hệ thống khai hải quan điện tử thông qua Website

- Hệ thống đăng ký, quản lý mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩu

- Hệ thống tin học hoá quản lý hành chính ngành Hải quan(Tin hoc vănphòng)

3.2 Mục tiêu và định hướng phát triển

Thực trạng của ngành Hải quan hiện nay là quản lý lượng hàng hoá xuất nhậpkhẩu, lượng hành khách, phương tiện vận tải xuất nhập khẩu ngày càng gia tăng Dựbáo hoạt động buôn bán vận chuyển ma tuý, chất gây nghiện, vũ khí văn hoá phẩm đồtruỵ, phản động ngày càng gia tăng và phức tạp hơn, xuất hiện những hình thức buôn

Trang 14

lậu và gian lận mới như: vi phạm bản quyền, xâm phạm sở hữu trí tuệ, vi phạm tronglĩnh vực CNTT, rửa tiền, buôn lậu động thực vật quý hiếm, nhưng số lượng cán bộcông chức Hải quan không thể tăng theo tỷ lệ thuận Trong khi đó, hoạt động quản lýNhà nước về Hải quan vẫn phải đảm bảo tạo thuận lợi, thông thoáng cho hoạt độngxuất nhập khẩu, đầu tư, du lịch như thủ tục hải quan phải đơn giản, minh bạch, cungcấp thông tin nhanh chóng, công khai đặc biệt là phải thông quan nhanh, giảm thiểuchi phí cho doanh nghiệp, tạo môi trường thu hút đầu tư nước ngoài nhằm đạt đượccác mục tiêu triển khai kinh tế xã hội của đất nước đến năm 2010 liên quan đến hoạtđộng Nhà nước về Hải quan.

Đồng thời, xuất phát từ yêu cầu hội nhập và xu hướng phát triển của Hải quanquốc tế cũng như khu vực, Hải quan Việt Nam cần phải thực hiện đầy đủ các cam kếtliên quan đến Hải quan trong khuôn khổ WTO, ASEAN, APEC, ASEM, WCO và các

tổ chức quốc tế khác, Việt Nam cần phải đảm bảo hệ thống pháp luật thống nhất rõràng và công khai phù hợp với các cam kết quốc tế; đảm bảo cho các quy định củapháp luật hải quan được thực hiện nghiêm chỉnh, bình đẳng cho mọi đối tượng Bêncạnh đó, cũng cần nhìn nhận sự phát triển của Hải quan Việt Nam trong bối cảnh pháttriển quốc tế như việc xuất hiện các hình thức bảo hộ mới trong điều kiện thuế ngàycàng giảm, yêu cầu về luân chuyển trao đổi hàng hoá ngày càng nhanh chóng, các loạihình vận chuyển đa phương thức, thương mại điện tử ngày càng phát triển và trở thànhphổ biến, sự xuất hiện của nguy cơ khủng bố quốc tế, tội phạm ma tuý gia tăng Đứngtrước các yêu cầu trên, Hải quan Việt Nam đã đưa ra nội dung chiến lược về tự độnghoá và tin học hoá ngành Hải quan đến năm 2010 là:

- Về tự động hoá:thực hiện tự động hoá thủ tục hải quan ở tất cả các địabàn trọng điểm, các cửa khẩu quốc tế quốc gia Phấn đấu tự động hoá quy trình thủ tụchải quan đối với 95% lượng hàng hoá xuất nhập khẩu trên địa bàn cả nước Tự độnghoá kiểm tra giám sát Hải quan Tăng nhanh khả năng thông quan hàng hoá Về khaihải quan thì được thực hiện chủ yếu thông qua mạng tin học Còn kiểm tra hàng hoáthì quy đinh tỷ lệ kiểm tra đối với hàng hoá xuất khẩu nhỏ hơn 5%, hàng nhập khẩunhỏ hơn 20%, thông quan qua mạng 80%, thông quan bằng hồ sơ 5%, kiểm tra hồ sơsau đó kết hợp kiểm tra hàng hoá 15%, đối với trường hợp kiểm tra thực tế thì trực tiếpkiểm tra bằng máy, còn kiểm tra thủ công (mở kiểm toàn bộ) 5% Giám sát hải quanchủ yếu thực hiện thông qua thiết bị kỹ thuật hiện đại như camera, hệ thống định vịtoàn cầu

Trang 15

- Về tin học hoá: Hoàn thiện hệ thống máy tính nối mạng trong cơ quanHải quan với các cơ quan liên quan Xây dựng trung tâm tự động hoá có hệ thốngtrang thiết bị máy tính và các thiết bị phụ trợ có khả năng tiếp nhận và xử lý giao dịchđiện tử phát sinh từ khâu tiếp nhận lược khai, khai báo hải quan, tính thuế, thu thuế,giải phóng hàng, giám sát cảng và kho; tin học hoá hỗ trợ cải cách thủ tục hải quan với

“môi trường không giấy tờ”

3.3 Những tồn đọng trong việc ứng dụng CNTT vào ngành Hải quan

Mặc dù đã xác định được tầm quan trọng của CNTT vào ngành Hải quan, và

đã xây dựng được hạ tầng công nghệ thông tin và các hệ thống ứng dụng công nghệthông tin, nhưng việc đưa CNTT vào ngành Hải quan vẫn còn một số tồn tại sau:

- Về hạ tầng CNTT: Hệ thống an toàn mạng và dữ liệu tại các Trung tâm

dữ liệu, các máy chủ được xây dựng với số lượng ít, quy mô đầu tư nhỏ Mạng cục bộkhông thể giải quyết bài toán xử lý tập trung về tác nghiệp cũng như dữ liệu ở quy môHải quan tỉnh thành phố, Hải quan khu vực hay vùng Tốc độ chia sẻ ứng dụng trênmạng cục bộ thường là chậm Thực hiện liên kết, chia sẻ ứng dụng giữa các mạng cục

bộ thông qua điện thoại quay số để liên lạc, kết nối, tốc độ đường truyền thấp khoảng56KB/s, chất lượng đường truyền nhiều nới không ổn định, ảnh hưởng đến việc xử lý

dữ liệu cần tính liên tục và tập trung Không đáp ứng được triển khai đồng bộ trongtoàn ngành Trang thiết bị trên mạng WAN và đường thuê bao Leased line hiện tại giáthành cao Nếu bị sơ hở mất an ninh, an toàn gây hậu quả nghiêm trọng

- Về hệ thống phần mềm ứng dụng: Các hệ thống chưa được tích hợp dẫnđến một số cán bộ phải sử dụng nhiều chương trình một lúc trong quá trình làm thủ tụcHải quan Hầu hết các hệ thống được thiết kế trên quy trình thủ tục Hải quan hiệnhành, phù hợp với quy trình thủ công nên chưa phát huy hết hiệu quả của công nghệ.Việc triển khai mở rộng các ứng dụng CNTT sau khi thí điểm thành công vẫn cònchậm Sự phối kêt hợp trong việc xây dựng quy trình thủ tuc hải quan chưa được chútrọng dẫn tới khi quy trình thay đổi thì hệ thống chưa có sự chuẩn bị để đáp ứng kịpthời Trình độ sử dụng các hệ thống ứng dụng của các cán bộ nghiệp vụ còn hạn chếlàm giảm hiệu quả của hệ thống

Ngành Hải quan Việt Nam đã chú trọng đưa ứng dụng công nghệ thông tinvào hoạt động của ngành Đã chú trọng vào đầu tư thiết bị cơ sở hạ tầng công nghệthông tin về phần cứng như hệ thống mạng máy tính, và một số các phần mềm ứngdụng Tuy nhiên Lãnh đạo ngành Hải quan vẫn chưa chú trọng vào sử dụng những ứng

Trang 16

dụng về mạng không dây và các thiết bị cầm tay Và trong thời gian tới với những yêucầu đặt ra cho toàn ngành thì các ứng dụng về mạng không dây và các thiết bị cầm tay

sẽ được quan tâm đầu tư

Trang 17

Chương 4: Cơ sở lý thuyết xây dựng cơ sở dữ liệu

trên Windows CE

Windows CE có thể được sử dụng trong nhiều thiết bị khác nhau, nhưng vớithiết bị Handheld PCs là thiết bị rất phù hợp trong việc sử dụng nó như là một thiết bịquản lý thông tin cá nhân Các ứng dụng Windows CE chuẩn giúp cho người sử dụng

có thể quản lý các cuộc hẹn, số điện thoại, và sắp xếp lịch cho công việc Các ứngdụng Windows CE về thương mại thực hiện một loạt các nhiệm vụ từ việc quản lý chiphí, tiền đầu tư cho đến việc tạo danh sách các cửa hàng kinh doanh

Các ứng dụng quản lý dữ liệu của nó khá dễ dàng Một số ứng dụng lưu trữ dữliệu của nó ở dạng các file đơn giản, trong khi các ứng dụng khác lại sử dụng mô hình

cơ sở dữ liệu quan hệ Tuy nhiên, chỉ có các ứng dụng trên Windows CE mới có thể làphần mở rộng về cơ sở dữ liệu ứng dụng của máy tính destkop và có thể chia sẻ dữliệu liên quan Mỗi một ứng dụng đều có thể yêu cầu quản lý cho các dữ liệu của nó vàđồng bộ hoá dữ liệu giữa desktop và thiết bị cầm tay Kịch bản này rất phổ biến vớiWindows CE, tới mức mà chức năng này được xây dựng trong hệ điều hành

Windows CE bao gồm một tập hợp đầy đủ các chức năng về cơ sở dữ liệudành cho tất cả các ứng dụng, bằng cách các ứng dụng trên Windows CE phải cài đặtcác chức năng đó Các chức năng về cơ sở dữ liệu này cho phép mỗi ứng dụng tạo vàduy trì cơ sở dữ liệu của nó

Các chuẩn database của Windows CE cho phép các ứng dụng dễ dàng chia sẻ

dữ liệu Ví dụ, vì chương trình ứng dụng trong Windows CE duy trì dữ liệu của nótrong cơ sở dữ liệu của Windows CE, còn các ứng dụng khác có thể truy cập tới dữliệu của cơ sở dữ liệu này

4.1 Cấu trúc của Cơ sở dữ liệu Windows CE

Một cơ sở dữ liệu của Windows CE không hoàn toàn là cơ sở dữ liệu quan hệ.Tuy nhiên, nó là một kỹ thuật vô cùng tiện lợi cho việc lưu trữ dữ liệu đã được tạo ra.Mỗi một cơ sở dữ liệu Windows CE bao gồm một số bản ghi Và mỗi bản ghi lại baogồm một hoặc nhiều thuộc tính

Trang 18

Hình 5: Sơ đồ cấu trúc phân cấp của Windows CE database

Ví dụ, một ứng dụng có thể lưu trữ một cơ sở dữ liệu của các bản ghi địa chỉ,mỗi bản ghi bao gồm có tên, địa chỉ , số điện thoại v.v

Mỗi một cơ sở dữ liệu bao gồm thông tin về cơ sở dữ liệu như tên cơ sở dữliệu, đó là tên kiểu cơ sở dữ liệu được chọn mà được dùng vào một nhóm cơ sở dữliệu Tên của cơ sở dữ liệu rất quan trọng vì tất cả các cơ sở dữ liệu dung chung mộttên miền đơn

Bổ sung vào tên của cơ sở dữ liệu, hệ thống cơ sở dữ liệu lưu trữ khoá sắp xếpcho mỗi cơ sở dữ liệu Khi một cơ sở dữ liệu được tạo ra, có tới bốn kiểu khoá sắp xếp

có thể được chỉ định, chỉ ra cách mà các bản ghi được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu Với

dữ liệu được đưa vào cơ sở dữ liệu, hệ thống sử dụng các khoá mặc định để định vị cácbản ghi một cách tự động

Cơ sở dữ liệu Windows CE có thể chỉ có một mức, vì vậy mà các bản ghikhông thể chứa các bản ghi khác, và không thể chứa nhiều hơn một cơ sở dữ liệu Kíchthước tối đa của một bản ghi là 128K và kích thước tối đa của một thuộc tính là 64K.Như vây, chỉ có 32 bytes đối với một bản ghi và 4 bytes đối với một thuộc tính Và tất

cả các chuỗi trong cơ sở dữ liệu của Windows CE đều được lưu dưới dạng Unicode

Thực tế thì cơ sở dữ liệu của một chương trình có thể bị thay đổi bởi mộtchương trình khác Một ứng dụng không thể khoá cơ sở dữ liệu để hạn chế việc truycập và hệ điều hành không đảm bảo tính toàn vẹn cho các bản ghi cơ sở dữ liệu( ví dụnhiều ứng dụng xoá các bản ghi cùng một lúc) Nhưng các chương trình cũng có thểđưa ra thông báo khi một cơ sở dữ liệu bị thay đổi do Windows CE hỗ trợ một vàithông báo để thông báo khi một ứng dụng khác tạo, chỉnh sửa hay xoá bản ghi trong

cơ sở dữ liệu

Trang 19

Windows CE thực thi nhiều hàm quản lý trên cơ sở dữ liệu như là việc nén dữliệu khi dữ liệu được chèn vào hoặc giải nén dữ liệu khi dữ liệu được truy cập, và đảmbảo tính toàn vẹn của các bản ghi trong cơ sở dữ liệu Thêm vào đó, Windows CE hỗtrợ kỹ thuật làm cho việc đồng bộ hoá cơ sở dữ liệu giữa desktop computer vàWindows CE trở nên dễ dàng.

Các chương trình tạo và sử dụng một cơ sở dữ liệu Windows CE thông quahàm API Windows CE mới Sau đây là bảng danh sách các hàm chức năng cơ sở dữliệu và các hàm API tương ứng

PegFindNextDatabase

Trang 20

Bản ghi và thuộc tính của cơ sở dữ liệu:

Các bản ghi và các thuộc tính theo các khối đã được tạo sẵn để xây dựng cơ sở

dữ liệu Windows CE Một cơ sở dữ liệu được bao gồm một số bản ghi, và mỗi bản ghiđược bao gồm một hoặc nhiều thuộc tính

Tất cả các bản ghi trong cơ sở dữ liệu Windows CE được xác định bởi một cáitên duy nhất Cái tên định danh này được gán bởi hệ thống khi một bản ghi mới đượctạo ra Tuy một chương trình không cần phải theo dõi tên của bản ghi, tên của bản ghi

có thể được tìm kiếm trong cơ sở dữ liệu Từ định danh bản ghi thuộc loại PEGOID

Mỗi thuộc tính của bản ghi lại bao gồm có tên thuộc tính, loại dữ liệu, giá trị.Tên và loại dữ liệu của thuộc tính được kết hợp làm một loại dữ liệu thuộc loạiPEGPROPID có hai phần với giá trị là hai từ Từ ở vị trí cao là tên, từ ở vị trí thấp làkiểu dữ liệu Windows CE hỗ trợ các kiểu dữ liệu là kiểu integer, kiểu string, kiểutime, kiểu mảng (array) Bảng dưới đây cung cấp các kiểu dữ liệu

Bảng các kiểu dữ liệu constant

Các bản ghi được trình bày như cấu trúc PEGPROPVAL định nghĩa các thuộctính của bản ghi Cấu trúc PEGPROPVAL được định nghĩa như sau:

typedef struct _PEGPROPVAL{

PEGPROPID proid;

WORD wLenData;

Trang 21

PEGVALUNION val;

} PEGPROPVAL;

Cấu trúc PEGPROPVAL có các thành phần sau:

 PEGPROPVAL propid: chỉ ra giá trị của thuộc tính- trường tại phần từ cao làgiá trị đã được chương trình định nghĩa, còn phần từ thấp là từ PEGVT_ chỉ rakiểu của dữ liệu

 WORD wLenData: hiện tại thuộc tính này không được sử dụng

 WORD wFlag: Cờ được thiết lập bởi một chương trình choPEGDB_PROPDELETE để xác định thuộc tính bị xoá, hoặc thuộc tính đượcthiết lập bởi hệ thống cho PEGDB_PROPNOTFOUND khi cập nhật bản ghi tạinơi mà thuộc tính không được xác định

 PEGVALUNION val: Chỉ ra giá trị thực cho các kiểu dữ liệu đơn, hoặc trỏ đếncác string hoặc BLOBs

Structure PEGPROPVAL được sử dụng cả khi đọc và khi viết bản ghi Khiđọc, ví dụ chương trình có thể sử dụng hàm TypeFromPropID để xác định để xác địnhkiểu thuộc tính được cấp cho tên của thuộc tính( PEGPROPID)

4.2 Tạo và xoá cơ sở dữ liệu

Một chương trình có thể tạo và xoá cơ sở dữ liệu khi cần thiết Số lượng cơ sở

dữ liệu có thể tồn tại phụ thuộc vào bộ nhớ ( khoảng trống lưu trữ) trên thiết bị Cơ sở

dữ liệu của Windows CE được tạo bởi hàm PegCreateDatabase Đối số của hàm là tên

cơ sở dữ liệu và kiểu tên của cơ sở dữ liệu và xác định kiểu sắp xếp tuỳ ý Kiểu sắpxếp được xác định bằng một chỉ số chỉ kiểu sắp xếp trong sơ sở dữ liệu Đối số này cóthể bằng không nếu không thực hiện sắp xếp Bảng dưới đây tổng kết các đối số củahàm PegCreateDatabase

Thống kê các đối số của hàm PegCreateDatabase

Trang 22

Các đối của hàm PegCreateDatabase Miêu tả

tự

chương trình

WORD wNumSortOrder Con số của kiểu sắp xếp trong mảng

rgSortSpecs Một cơ sở dữ liệu có thể

có từ 0 tới 4 kiểu sắp xếp

wNumSortOrder

Nếu hàm PegCreateDatabase thành công, nó trả về giá trị là tên của cơ sở dữliệu Tên của cơ sở dữ liệu dùng để mở cơ sở dữ liệu mục đích chính là để thao tác vớinội dung của nó Nếu không thành công trả về giá trị NULL Hàm GetLastError có thểđược sử dụng để lấy mã của lỗi Bảng sau trình bày mã lỗi

trùng tên với cơ sở dữ liệu đã tồntại

Hàm PegDeleteDatabase được dùng để huỷ một cơ sở dữ liệu Một đối duynhất - PEGOID là tên của cơ sở dữ liệu bị xoá Nếu hàm thực hiện thành công thì giátrị trả về là TRUE, ngược lại không thành công thì giá trị trả về là FALSE Sử dụnghàm GetLastError để lấy về thông tin của các lỗi đó Mã lỗi có thể là

Trang 23

ERROR_SHARING_VIOLATION nghĩa là một chương trình khác đang sử dụng cơ

sở dữ liệu mà chương trình muốn xoá

4.3 Liệt kê cơ sở dữ liệu

Mỗi một đối tượng lưu trữ có một số lượng cơ sở dữ liệu tuỳ ý Các hàmPegFindFirstDatabase và PegFindNextDatabase cho phép chương trình liệt kê cơ sở

dữ liệu có trong đối tượng lưu trữ

Hàm PegFindFirstDatabase bắt đầu liệt kê theo trình tự và trả về bảng liệt kêtheo hàm PegFindNextDatabase Khi liệt kê hết cơ sở dữ liệu hàmPegFindNextDatabase sẽ trả về lỗi ERROR_NO_MORE_ITEM

Chỉ có một đối duy nhất cho hàm PegFindFirstDatabase là DWORD, là kiểutên cơ sở dữ liệu được chương trình định nghĩa mà nó có thể được sử dụng khi tạo cơ

sở dữ liệu mới Chỉ đinh là zero cho kiểu tên cơ sở dữ liệu liệt kê tất cả các cơ sở dữliệu trong đối tượng lưu trữ Giá trị trả về là một trình điều khiển ngữ cảnh bảng liệt kêhoặc ERROR_HANDLE_INVALID nếu hàm thực hiện không thành công Gọi hàmGetLastError có thể trả về ERROR_OUTOFMEMORY cho biết không đủ bộ nhớ đểcấp phát cho điều khiển cơ sở dữ liệu

Chỉ có một đối số duy nhất cho hàm PegFindNextDatabase là HANDLE, đối

số này nhận biết ngữ cảnh của bảng liệt kê Nếu hàm thực hiện thành công thì giá trịtrả về là tên của cơ sở dữ liệu tiếp theo được liệt kê Nếu hàm thực hiện không thànhcông thì giá trị trả về là zero, sử dụng hàm GetLastError để có được nhiều thông tin vềlỗi đó Có thể là ERROR_NO_MORE_ITEM nghĩa là đối tượng lưu trữ không nhiềuhơn một cơ sở dữ liệu hoặc ERROR_INVALID_PARAMETER nghĩa là việc điềukhiển ngữ cảnh của bảng liệt kê là không có giá trị Khi chương trình kết thúc liệt kê

cơ sở dữ liệu thì cần phải đóng điều khiển đó lại bằng cách sử dụng hàm CloseHandle

Dưới đây là một đoạn lệnh giải thích từng bước liệt kê cơ sở dữ liệu trongWindows CE:

Trang 24

dữ liêu được sử dụng các hàm cơ sở dữ liệu API Sử dụng hàm PegOpenDatabse để

mở một cơ sở dữ liệu Windows CE

Giá trị trả vể của hàm PegOpenDatabase là hành động mở cơ sở dữ liệu Saukhi mở cơ sở dữ liệu thì có thể đọc hoặc sửa đổi cơ sở dữ liệu Khi kết thúc việc sửdụng cơ sở dữ liệu cần phải đóng cơ sở dữ liệu bằng cách gọi hàm CloseHandle

Cờ không bắt buộc với hàm PegOpenDatabase làPEGDB_AUTOINCREMENT Cờ này điều khiển cho hệ thống tự động tăng con trỏtìm kiếm sau tất cả các lần gọi hàm PegReadRecordProps Con trỏ tìm kiếm này đánhdấu bản ghi được đọc tiếp theo Các chương trình có thể đọc nhiều bản ghi cùng mộtlúc bằng cách kết hợp cơ PEGDB_AUTOINCREMENT với cờPEGDB_AUTOINCREMENT

Một đối số khác của hàm PegOpenDatabase là tên thuộc tính của thuộc tínhđược sử dụng như là kiểu sắp xếp cho hành động mở cơ sở dữ liệu Hệ thống sử dụngkiểu sắp xếp này để xác định rõ nơi con trỏ tìm kiếm chuyển đến sau khi gọi hàmPegReadRecordProps (nếu cờ PEGDB_AUTOINCREMENT được chỉ định ) Kiểusắp xếp cũng xác định được thuộc tính mà hàm PegSeekDatabase sử dụng để truyền cơ

Trang 25

Bởi vì có thể có nhiều chương trình chạy trên cùng một cơ sở dữ liệu cùng mộtlúc, có thể một chương trình thay đổi cơ sở dữ liệu mà hiện tại một chương trình kháccũng đang chạy trên nó Hệ điều hành có thể đưa ra thông báo khi các sự việc này xuấthiện Để lấy về các thông báo đó, chương trình ghi rõ cửa sổ hoạt động trong hàmPegCreateDatabase Sau đó Windows CE sẽ gửi thông báo

Thống kê các đối số của hàm PegOpenDatabase

của cơ sở dữ liệu được mở Mở một cơ

sở dữ liệu bằng tên , thiết lập giá trị củapoid trỏ tới zero, tức là có thể lây được

từ định danh đối tượng của cơ sở dữ liệumới được mở khi tên của cơ sở dữ liệuđược chỉ rõ cho lpszName

được mở Đối số nay được bỏ qua nếugiá trị của poid là khác zero

chính cho thứ tự sắp xếp trong quá trìnhduyệt toàn bộ dữ liệu Sau khi gọi hàmPegSeekDatabase thì có được thứ tự sắpxếp này Đối số này có thể bằng zeronếu thứ tự sắp xếp là không quan trọng

PEGDB_AUTOINCREMENT

hoặc là 0

đưa ra thông báo (DB_PEGOID_*)được gửi nếu một chương trình khácthay đổi cơ sở dữ liệu mà chương trình

Trang 26

đó Đối số này có thể nhân giá trị NULLnếu chương trình không cần nhân thôngbáo.

Nếu hàm PegOpenDatabase thực hiện thành công, giá trị trả về là việc điềukhiển việc mở cơ sở dữ liệu Nếu hàm thực hiện không thành công, giá trị trả về làINVALID_HANDLE_VALUE Để có được nhiều thông tin hơn về lỗi, gọi hàmGetLastError Dưới đây là bảng có danh sách các mã lỗi:

Danh sách các mã lỗi

được chỉ định Lỗi này chỉ được sửdụng nếu giá trị của poid được đặtbằng NULL hoặc bằng zero khi hàm

Khi tất cả các bản ghi trong cơ sở dữ liệu Windows CE dùng chung một tênthuộc tính, thì một chương trình có thể yêu cầu hệ thống sắp xếp các bản ghi dựa vàothuộc tính nhận được Thứ tự trong các bản ghi đã được sắp xếp ảnh hưởng tới thứ tự

mà hàm PegSeekDatabase tìm kiếm các bản ghi trong cơ sở dữ liệu, hoặc thứ tự bảnghi mà hệ thống tiến con trỏ tìm kiếm lên phía trước khi sử dụng cờPEGDB_AUTOINCREMENT khi mở một cơ sở dữ liệu Có tới 4 từ định danh thuộc

Trang 27

mô tả thứ tự sắp xếp đó được chỉ rõ với structure SORTORDERSPEC mà nó có chứa

từ định danh của thuộc tính trên mỗi bản ghi cơ sở dữ liệu được lưu trữ Structure nàycũng chứa cả các cờ có liên quan tới thứ tự sắp xếp SORTORDERSPEC được địnhnghĩa như sau:

typedef struct _SORTORDERSPEC {

tự đi xuống Mặc định sắp xếp theothứ tự đi lên

PEGDB_SORT_CASEINSENSITIVE Quá trình sắp xếp phân biệt dạng chữ

Giá trị này chỉ đúng trong trường hợp

là string

được đặt trước tất cả các bản ghikhác Mặc định, nhiều bản ghi đượcđặt trước các bản ghi khác

Một chương trình chỉ rõ thứ tự sắp xếp để sử dụng khi gọi hàmPegOpenDatabase để mở một điều khiển tới cơ sở dữ liệu Chỉ có một thứ tự sắp xếpduy nhất có thể có hiệu lực cho một thao tác mở Tuy nhiên, bằng việc mở nhiều điềukhiển tới cùng một cơ sở dữ liệu, chương trình có thể sử dụng nhiều hơn một thứ tựsắp xếp

Thứ tự sắp xếp của cơ sở dữ liệu có thể tồn tại được định nghĩa khi cơ sở dữliệu được tạo ra Một chương trình cũng có thể sắp xếp thứ tự cho cơ sở dữ liệu sau khi

cơ sở dữ liệu được tạo ra bằng việc sử dụng hàm PegSetDatabaseInfo Tuy nhiên, bởi

vì hệ thống phải xem lại danh mục quản lý thứ tự sắp xếp, do đó việc thay đổi thứ tựsắp xếp có thê sử dụng một lượng lớn tài nguyên hệ thống, và có thể mất nhiều thời

Trang 28

4.6 Tìm kiếm các bản ghi

Các bản ghi trong cơ sở dữ liệu có thể lấy về từ bất cứ chỗ nào mà con trỏ tìmkiếm của cơ sở dữ liệu hiện tại trỏ tới Vì vậy, một chương trình cần phải tìm kiếm bảnghi được yêu cầu trước khi đọc hoặc thay đổi dữ liệu Hàm PegSeekDatabase đượcdùng để tìm kiếm bản ghi yêu cầu trong cơ sở dữ liệu Bản ghi đó có thể được xác địnhrõ bằng từ định danh của nó hoặc bằng một giá trị liên quan ví dụ như thuộc tính

“name” bằng “John Doe” Khi hàm PegSeekDatabase tìm kiếm bản ghi yêu cầu, contrỏ tìm kiếm được đặt vào vị trí bản ghi đó Sau đó, chương trình có thể đọc hoặc sửađổi bản ghi đó

Thứ tự ở trong việc tìm kiếm các bản ghi của hệ thống phụ thuộc vào thứ tứsắp xếp có hiệu lực trong cơ sở dữ liệu Ví dụ, khi tìm kiếm giá trị của “John Doe”, thì

hệ thống chỉ tìm kiếm trong các thuộc tính mà có cùng tên thuộc tính vì vậy thứ tứ sắpxếp tên thuộc tính được xác định khi mở cơ sở dữ liệu Dưới đây là một số đối số củahàm PegSeekDatabase

Trang 29

Các đối số của hàm PegSeekDatabase

kiếm trong cơ sở dữ liệu đó

thực hiện

tìm kiếm Ý nghĩa của đối số này phụthuộc vào giá trị của dwSeekType

tính từ điểm bắt đầu cơ sở dữ liệu cho tớiđiểm bắt đầu bản ghi đã được tìm thấy.Các loại phương thức tìm kiếm mà hàm PegSeekDatabase có thể thực hiện.Bảng dưới đây miêu tả các giá trị có thể dùng cho đối số dwSeekType của hàmPegSeekDatabase

Các loại phương thức tìm kiếm của hàm PegSeekDatabase

 PEGDB_SEEK_PEGOID: Tìm kiếm cho tới khi tìm thấy một đối tượng có từđịnh danh được xác định bằng đối số dwValue Cách tìm kiếm này có hiệu suấtrất cao

 PEGDB_SEEK_VALUESMALLER: Tìm kiếm cho tới khi tìm thấy giá trị lớnnhất nhưng nhỏ hơn giá trị đã cho Nếu không có giá trị nào trong tất cả cácbản ghi nhỏ hơn giá trị cho ban đầu thì con trỏ tìm kiếm trỏ tới bên trái tận cùng

cơ sở dữ liệu, và hàm trả vể giá trị là zero Đối số dwValue là một con trỏ cấutrúc PEGPROPVAL Độ phức tạp của phép tìm kiếm này là O(n)

 PEGDB_SEEK_VALUEFIRSTEQUAL: Tìm kiếm đến khi tìm được giá trị đầutiên bằng với giá trị đã cho ban đầu Nếu quá trình tìm kiếm không thành côngthì con trỏ tìm kiếm được đặt ở vị trí bên trái của tận cùng cơ sở dữ liệu, và hàmtrả về giá trị là zero Đối số dwValue là một con trỏ cấu trúc PEGPROPVAL

Độ phức tạp của phép tìm kiếm này là O(n)

Ngày đăng: 21/01/2016, 23:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Thiết bị PDA - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu trên hệ điều hành Windows CE
Hình 1 Thiết bị PDA (Trang 8)
Hình 3:Thiết bị Pocket PC - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu trên hệ điều hành Windows CE
Hình 3 Thiết bị Pocket PC (Trang 9)
Hình 4: Thiết bị điện thoại di động - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu trên hệ điều hành Windows CE
Hình 4 Thiết bị điện thoại di động (Trang 10)
Hình 6: Biểu thuế nhập khẩu trên Website Hải Quan Việt Nam - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu trên hệ điều hành Windows CE
Hình 6 Biểu thuế nhập khẩu trên Website Hải Quan Việt Nam (Trang 50)
Hình 9: Giao diện cơ sở dữ liệu của hệ thống do WinCE quản lý - nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu trên hệ điều hành Windows CE
Hình 9 Giao diện cơ sở dữ liệu của hệ thống do WinCE quản lý (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w