1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội

90 224 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 658 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Kết cấu của bài viết gồm 3 phần : •PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. •Phần thứ hai : thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh và thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty bia hà nội. •Phần thứ ba : giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty bia hà nội. PHẦN THỨ NHẤT: CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG. I.CẠNH TRANH VÀ CÁC HÌNH THỨC CẠNH TRANH. Cạnh tranh là tất yếu trong nền kinh tế thị trường và vì thề có thể nói, thị trường là vũ đài cạnh tranh là nơi gặp gỡ của các đấu thủ. Vậy cạnh tranh là gì? 1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CẠNH TRANH. - Cạnh tranh đặc biệt phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Theo Mỏc:” cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Nghiên cứu về sản xuất hàng hoá TBCN và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Mỏc đó phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh TBCN là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận giữa các ngành. Nếu ngành nào, lĩnh vực nào có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ có nhiều người để ý và tham gia, ngược lại những ngành, lĩnh vực mà tỷ suất lợi nhuận thấp thì sẽ có sự thu hẹp về quy mô hoặc rút lui của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, sự tham gia hay rót lui của các nhà đầu tư không dễ dàng một sớm, một chiều mà là một chiến lược lâu dài, đó không phải là sự “nộ trỏnh cạnh tranh”, nói cách khác, cạnh tranh là tất yếu. - Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển của xã hội nói chung. Như vậy cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá, là nội dung cơ chế vận động của thị trường. Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đụng thỡ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Kết quả cạnh tranh sẽ là sự loại bỏ những Doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả và sự tồn tại phát triển của các Doanh nghiệpkinh doanh có hiệu quả. Đó là quy luật của sự phát triển, là tiền đề cho sự thành công của mụĩ quốc gia trong vấn đề thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế. Tóm lại, cạnh tranh là sự tranh giành những điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh của các chủ thể tham gia nền kinh tế nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển cho mình. Mức độ tranh giành trong cạnh tranh tuỳ thuộc vào thời điểm lịch sử, lĩnh vực sản xuất kinh doanh, mỗi nơi, mỗi khu vực và cơ chế của mỗi quốc gia. 2. CÁC HÌNH THỨC CẠNH TRANH Dùa vào những tiêu thức khác nhau người ta có thể phân loại thành những hình thức cạnh tranh khác nhau. 2.1Căn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường, có 3 loạiCăn cứ vào mức độ, tính chất của cạnh tranh trên thị trường, có 3 loại: - Cạnh tranh hoàn hảo - Cạnh tranh không hoàn hảo - Cạnh tranh độc quyền. 2.1.1 Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người bán, họ đều quá nhỏ bé nên không ảnh hưởng gì đến giá cả thị trường. Điều đó có nghĩa là không cần biết sản xuất được bao nhiêu, họ đều có thể bán tất cả sản phẩm của mình tại mức giá thị trường hiện hành. Vì vậy, một hãng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo không có lý do gì để bán rẻ hơn mức giá thị trường. Hơn nữa, nó sẽ không tăng giá của mình lên cao hơn giá thị trường vì nếu thế thỡ hóng sẽ chẳng bán được gì- người tiờu dựng sẽ đi mua hàng với mức giá rẻ hơn từ các đối thủ cạnh tranh của hóng. Cỏc hóng sản xuất luụn tỡm biện pháp giảm chi phí và sản xuất một số lượng sản phẩm ở mức giới hạn mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên. Đối với thị trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ không có những hiện tượng cung cầu giả tạo, không bị hạn chế chế bởi các biện pháp hành chính Nhà nước. Vì vậy, trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo giá cả thị trường sẽ dần tới mức chi phí sản xuất bởi lượng cung sản phẩm rất lớnmà tất cả đều được bán ở một mức giá như nhau, nên bất kì một doanh nghiệp hay một đơn vị sản xuất kinh doang nào đều có thể tiêu thụ hết số hàng mà mình Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU.

Trải qua hơn 10 năm thực hiện đổi mới kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế Việt Nam đó cú những bước phát triển rõ rệt : các thành phần kinh tế được mở rộng, tự do sản xuất kinh doanh, hàng hoá ngày càng phong phú

đa dạng về chủng loại, nâng cao về chất lượng, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện.

Nền kinh tế thị trường đã mang đến cho các doanh nghiệp những cơ hộithuận lợi để phát triển Mặt khác, nó cũng mang đến mối đe doạ thường trực cho

sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp, đó là quy luật đào thải Ngày nay, thay vì một thịtrường khép kín cung không đủ cầu thỡ cỏc doanh nghiệp lại phải hoạt động trongmột môi trường cạnh tranh khốc liệt cùng với những đòi hỏi ngày càng khắt khecủa khách hàng, cạnh tranh đã trở thành một quy luật tất yếu quyết định sự tồn tại

và phát triển của mỗi doanh nghiệp Nhiều đơn vị kinh tế quốc doanh do quen vớiphương thức quản lý cò : sản xuất theo kế hoạch, không quan tâm tìm hiểu nhucầu thị trường nờn đó rơi vào tình trạng thua lỗ, rất nhiều doanh nghiệp bị đẩy đếngiải thể hoặc phá sản Tuy nhiên, bên cạnh đó lại có những doanh nghiệp năngđộng, nhạy bén với thời cuộc, tích cực nghiên cứu học hỏi, áp dụng phương thứckinh doanh mới thì cơ chế thị trường mở cửa lại trở thành cơ hội cho họ khôngnhững tồn tại được mà còn có vị trí ngày càng vững chắc trên thị trường

Công ty Bia Hà Nội - trực thuộc Tổng công ty Rượu - Bia - Nước giải khátViệt Nam là một điển hình cho những doanh nghiệp quốc doanh làm ăn có hiệuquả, hoạt động kinh doanh có lãi, hoàn thành tốt nghĩa vụ nép ngân sách góp phầnphát triển nến kinh tế xã hội của đất nước Tuy nhiên trong thời gian gần đây, thịphần của công ty liên tục giảm do tốc độ phát triển mạnh mẽ của ngành bia với sựgóp mặt của rất nhiều doanh nghiệp sản xuất bia liên doanh Để tồn tại và pháttriển trong tương lai, Công ty Bia Hà Nội đang tích cực tìm hiểu, nghiên cứu để

Trang 2

đưa ra những chiến lược, những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo

vị thế vững chắc cho sản phẩm của Công ty trên thị trường

Trong khuôn khổ bản chuyên đề thực tập tốt nghiệp sau đây, em xin đượctrình bày những nét cơ bản về thực trạng sức cạnh tranh và một số giải pháp nhằmnâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của Công ty Bia Hà Nội

Kết cấu của bài viết gồm 3 phần :

 PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀNÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONGNỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

 Phần thứ hai : thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh và thực trạng năng lựccạnh tranh của công ty bia hà nội

 Phần thứ ba : giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty bia hànội

Trang 3

PHẦN THỨ NHẤT: CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.

I CẠNH TRANH VÀ CÁC HÌNH THỨC CẠNH TRANH.

Cạnh tranh là tất yếu trong nền kinh tế thị trường và vì thề có thể nói, thịtrường là vũ đài cạnh tranh là nơi gặp gỡ của các đấu thủ

Vậy cạnh tranh là gì?

1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CẠNH TRANH

- Cạnh tranh đặc biệt phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bảnchủ nghĩa Theo Mỏc:” cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranhgay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sảnxuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch” Nghiên cứu về sảnxuất hàng hoá TBCN và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Mỏc đó phát hiện ra quyluật cơ bản của cạnh tranh TBCN là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận giữa cácngành Nếu ngành nào, lĩnh vực nào có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ có nhiều người để

ý và tham gia, ngược lại những ngành, lĩnh vực mà tỷ suất lợi nhuận thấp thì sẽ có

sự thu hẹp về quy mô hoặc rút lui của các nhà đầu tư Tuy nhiên, sự tham gia hayrót lui của các nhà đầu tư không dễ dàng một sớm, một chiều mà là một chiến lượclâu dài, đó không phải là sự “nộ trỏnh cạnh tranh”, nói cách khác, cạnh tranh là tấtyếu

- Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là động lực thúc đẩy pháttriển sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển của xãhội nói chung

Như vậy cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá, lànội dung cơ chế vận động của thị trường Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hànghoá bán ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đụng thỡ cạnh tranh ngày cànggay gắt Kết quả cạnh tranh sẽ là sự loại bỏ những Doanh nghiệp kinh doanh kémhiệu quả và sự tồn tại phát triển của các Doanh nghiệpkinh doanh có hiệu quả Đó làquy luật của sự phát triển, là tiền đề cho sự thành công của mụĩ quốc gia trong vấn đềthúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế

Tóm lại, cạnh tranh là sự tranh giành những điều kiện thuận lợi cho việc sảnxuất kinh doanh của các chủ thể tham gia nền kinh tế nhằm đảm bảo sự tồn tại và

Trang 4

phát triển cho mình Mức độ tranh giành trong cạnh tranh tuỳ thuộc vào thời điểmlịch sử, lĩnh vực sản xuất kinh doanh, mỗi nơi, mỗi khu vực và cơ chế của mỗiquốc gia.

- Cạnh tranh hoàn hảo

- Cạnh tranh không hoàn hảo

- Cạnh tranh độc quyền

2.1.1 Cạnh tranh hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có

rất nhiều người bán, họ đều quá nhỏ bé nên không ảnh hưởng gì đến giá cả thịtrường Điều đó có nghĩa là không cần biết sản xuất được bao nhiêu, họ đều có thểbán tất cả sản phẩm của mình tại mức giá thị trường hiện hành Vì vậy, một hãngtrong thị trường cạnh tranh hoàn hảo không có lý do gì để bán rẻ hơn mức giá thịtrường Hơn nữa, nó sẽ không tăng giá của mình lên cao hơn giá thị trường vì nếuthế thỡ hóng sẽ chẳng bán được gì- người tiờu dựng sẽ đi mua hàng với mức giá rẻhơn từ các đối thủ cạnh tranh của hóng Cỏc hóng sản xuất luụn tỡm biện pháp giảmchi phí và sản xuất một số lượng sản phẩm ở mức giới hạn mà tại đó chi phí cận biênbằng doanh thu cận biên Đối với thị trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ không có nhữnghiện tượng cung cầu giả tạo, không bị hạn chế chế bởi các biện pháp hành chính Nhànước Vì vậy, trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo giá cả thị trường sẽ dần tới mứcchi phí sản xuất bởi lượng cung sản phẩm rất lớnmà tất cả đều được bán ở một mứcgiá như nhau, nên bất kì một doanh nghiệp hay một đơn vị sản xuất kinh doang nàođều có thể tiêu thụ hết số hàng mà mình sản xuõt ra không giới hạn về số lượng cungcấp ra thị trường

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thỡ cú vô số người bán và người muacho nên đối với người bán thì họ không tự quyết định được giá cả của sản phẩmcủa mình mà phải chấp nhận giá bán của thị trường nếu không người mua sẽ tự tìm

Trang 5

đến các sản phẩm cùng loại nhưng của đối thủ cạnh tranh để mua với giá rẻ hơn

mà chất lượng sản phẩm vẫn được đảm bảo

Sản phẩm trên thị trường là sản phẩm đồng nhất, đồng dạng theo một tiêuchuẩn thống nhất và hợp lý Các đơn vị sản xuất kinh doanh có thể tự do gia nhập,

tự do rót lui khỏi thị trường mà không có bất kì một sự cản trở nào Thông tin vềsản phẩm đều được mọi người biết, không bí mật cho nên doanh nghiệp nào cũng

cố gắng sao cho chi phí sản xuất là thấp nhất, và đạt được mục tiêu nỏy thỡ doanhnghiệp sẽ tồn tại nếu ngược lại thì làm ăn sẽ không có lãi và dẫn đến nguy cơ phásản

2.1.2 Cạnh tranh không hoàn hảo: Nếu một hãng có thể tác động đáng kể

đến giá cả thị trường đối với đầu ra của hóng thỡ hóng Êy được liệt vào “ hãngcạnh tranh không hoàn hảo” Như vậy, cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranhtrên thị trường không đồng nhất với nhau Mỗi loại sản phẩm có thể có nhiều nhãnhiệu khác nhau, mặc dù sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể Chẳnghạn như: các loại thuốc lá, dầu nhờn, nước giải khát, bánh kẹo thậm chí cùngloại nhưng lại có nhãn hiệu khác nhau Mỗi loại nhãn hiệu lại có uy tín, hình ảnhkhác nhau Mặc dù sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể Các điềukiện mua bán hàng rất khác nhau Người bán có thể có uy tín độc đáo khác nhauđối với người mua do nhiều lý do khác nhau, như khách hàng quen, gây được lòngtin từ trước Người bán lôi kéo khách về phía mình bằng nhiều cách: quảng cáo,khuyến mại, phương thức bán hàng, cung cấp dịch vụ, tín dụng, chiết khấu giá ,loại cạnh tranh không hoàn hảo này rất phổ biến trong giai đoạn hiện nay

2.1.3 Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh trên thị trường mà ở đó có một

số người bán một số sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều người bán một loại sản phẩmkhông đồng nhất Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm hayhàng hoá bán ra thị trường Thị trường này có pha trộn giữa độc quyền và cạnhtranh được gọi là thị trường cạnh tranh độc quyền Ở đây xảy ra cạnh tranh giữacác nhà độc quyền Điều kiện gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường cạnh tranh độcquyền có nhiều trở ngại do vốn đầu tư lớn hoặc do độc quyền về bí quyết côngnghệ Thị trường này không có cạnh tranh về giá cả mà một số người bán toànquyền quyết định giá cả Họ có thể định giỏ cao hơn tuỳ thuộc vào đặc điểm tiêudùng của từng sản phẩm, cốt sao cuối cùng họ thu được lợi nhuận tối đa Những

Trang 6

nhà Doanh nghiệp nhỏ tham gia thị trường này phải chấp nhận bán hàng theo giá

cả của nhà độc quyền

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cạnh tranh độc quyền đó là nhờ các phát minh,bằng sáng chế được Nhà nước cấp bản quyền nên họ toàn quyền quyết định là làmsao và làm như thế nào để có được lợi nhuận cao nhất khi sử dụng các phát minh,bằng sáng chế này Hay do kiểm soát được hầu hết các yếu tố đàu vào, đặc biệt làcác yếu tố quan trọng đối với việc sản xuất các sản phẩm cùng chủng loại, hoặc là

do hiệu quả kinh tế thu được do quy mô sản xuất ngày càng mở rộng, dẫn đến tăngsản lượng, chi phí bình quân dài hạn giảm rồi giá thành sản phẩm cũng giảmtheo.Ở các doanh nghiệp có trình độ chuyên môn hoá cao và thường xuyên đổimới các công nghệ tiên tiến giúp giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm Vì cạnhtranh độc quyền cho nên việc gia nhập và rút lui rất khó khăn bởi trong thị trườngnày không có đối thủ cạnh tranh và họ cũng không phải canh tranh với nhau

Trong thực tế có thể có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩmnào thay thế sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau Độcquyền gây trở ngại cho phát triển sản xuất và làm phương hại đến người tiêu dùng.Cho nên, ở một số nước có luật chống độc quyền nhằm chống lại sù liên minh độcquyền giữa các nhà kinh doanh

2.2 Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, người ta chia cạnh tranh làm 3 loại: Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, người ta chia cạnh tranh làm 3 loại:

- Cạnh tranh giữa người bán với người mua

- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau

- Cạnh tranh giữa những người bán (cạnh tranh giữa các doanh nghiệp)

2.2.1 Cạnh tranh giữa người bán với người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn

ra theo “luật” mua rẻ-bỏn đắt Người mua luôn muốn mua được rẻ, ngược lại,người bán luôn có tham vọng bán đắt Sự cạnh tranh này được thực hiện trong quátrình “ mặc cả” và cuối cùng giá cả được hình thành và hành động bán, mua đượcthực hiện

2.2.2 Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Là cuộc cạnh tranh trên

cơ sở quy luật cung cầu Khi một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó mà mức cung cấp

Trang 7

nhỏ hơn nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh càng trở nên quyết liệt và giá hànghoá, dịch vụ đó sẽ càng tăng Kết quả cuối cùng là người bán thu được lợi nhuậncao, còn người mua thì phải mất thêm một số tiền Đây là cuộc cạnh tranh mànhững người mua tự làm hại chính mình.

2.2.3 Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh

chính trên vũ đài thị trường, đồng thời cũng là cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất, có ýnghĩa sống còn đối với các chủ Doanh nghiệp.Tất cả các Doanh nghiệp đều muốngiành giật lấy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần của đối thủ Kết quả để đánhgiá Doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này là việc tăng doanh sốtiêu thụ, tăng tỉ lệ thị phần Cùng với nó là tăng lợi nhuận, tăng đầu tư chiều sâu,

mở rộng sản xuất Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên,bởi thế, đã bước vào kinh doanh thì bắt buộc phải chấp nhận

Thực tế cho thấy, khi sản xuất hàng hoá càng phát triển, số người bán càngtăng lên thì cạnh tranh càng quyết liệt Trong quá trình Êy, một mặt sản xuất hànghoá với qui luật cạnh tranh sẽ lần lượt gạt ra khỏi thị trường những chủ Doanhnghiệp không có chiến lược cạnh tranh thích hợp Nhưng mặt khác, nó lại mởđường cho những Doanh nghiệp nắm chắc “ vũ khớ” cạnh tranh thị trường và dámchấp nhận “luật chơi” phát triển

2.3Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế, người ta chia cạnh tranh thành 2 loại: cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế, người ta chia cạnh tranh thành 2 loại: cạnh

tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.

2.3.1 Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là sự cạnh tranh giữa các Doanh

nghiệp cùng sản xuất và tiêu thu một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó Trongcuộc cạnh tranh này, các chủ Doanh nghiệp thôn tính nhau Những Doanh nghiệpchiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mỡnh trờn thị trường; những doanhnghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh, thậm chí bị phá sản

2.3.2 Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh giữa các chủ Doanh

nghiệp, hay đồng minh các chủ Doanh nghiệp trong ngành kinh tế khác nhau,nhằm giành lấy lợi nhuận lớn nhất Trong quá trình cạnh tranh này, các chủ Doanhnghiệp luôn say mê với những ngành đầu tư có lợi nhuận nờn đó chuyển vốn từngành Ýt lợi nhuận sang ngành nhiều lợi nhuận Sự điều chuyển tự nhiên theo

Trang 8

tiếng gọi của lợi nhuận này sau một thời gian nhất định, vô hình chung hình thànhnên sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất, để rồi kết quả cuối cùng là,các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau chỉ thuđược lợi nhuận như nhau, tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cảcác ngành.

II.NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1 KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LỰC CANH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP.

Cho đến nay có nhiều tác giả đưa ra các cách hiểu khác nhau về khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp như : Fafchamps cho rằng khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chiphí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường , theo cách này , doanhnghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự sản phẩm củadoanh nghiệp khác nhưng với chi phí thấp hơn thì được coi là có khả năng cạnhtranh cao hơn Randall lại cho rằng, khả năng cạnh tranh là khả năng giành được

và duy trì thị phần trên thị trường với lợi nhuận nhất định Một quan niệm kháccho rằng, khả năng cạnh tranh là trình độ của công nghiệp có thể sản xuất ra sảnphẩm theo đúng nhu cầu cuả thị trường, đồng thời duy trì được mức thu nhập thực

tế của mình

Có thể thấy rằng các quan niệm nêu trên xuất phát từ các góc độ khác nhaunhưng đều có liên quan đến 2 khía cạnh: chiếm lĩnh thị trường và có lợi nhuận haymức độ hiệu quả chấp nhận được

Các chỉ tiêu chính đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.1 Thị phần của doanh nghiệp

Đây là một chỉ tiêu thường đựoc sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:

Trang 9

- Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường Đó là tỷ lệ % giữagiá trị sản phẩm của doanh nghiệp bán ra so với giá trị của toàn ngành.

- Thị phần của Doanh nghiệp so với phân khúc mà nó phục vụ Đú chớnh là

tỷ lệ % giữa doanh số của Doanh nghiệp với doanh số của toàn phân khúc

- Thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh số của Doanh nghiệp vớiđối thủ cạnh tranh mạnh nhất, chỉ tiêu này cho biết vị thế sản phẩm của doanhnghiệp trong cạnh tranh trên thị trường như thế nào?

Các chỉ tiêu này mực độ lớn của thị trường, vai trò, và vị trí của Doanhnghiệp Nói lên mức độ hoạt động có hiệu quả hay không có hiệu quả thông qua sựbiến động của các chỉ tiêu này Khi tiềm lực của thị trường đang lên mà phần thịtrường của Doanh nghiệp không thay đổi tức là thị trường đã ngoài tầm kiển soátcủa Doanh nghiệp hay một phần của thị trường đã rơi vào đối thủ cạnh tranh chonên Doanh nghiệp cần phải xem xét lại chiến lược kinh doanh của mình để mởrộng thị phần của Doanh nghiệp,Doanh nghiệp có thể tăng khối lượng sản phẩmtrên thị trường hiện tại, có giải pháp thích hợp lôi kéo các đố tượng tiêu dùngtương đối, đối tượng không thường xuyên, lôi kéo khách hàng từ thị trường củađối thủ cạnh tranh với mỡnh…

Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này mà Doanh nghiệp biết mìnhđang đứng ở vị trí nào, và cần vạch ra chiến lược hành động như thế nào Chỉ tiêunày nói lên mức độ lớn của thị trường và vai trò vị trí của doanh nghiệp Nói lênmức độ hoạt động có hiệu quả hay không thông qua sự biến động của chỉ tiêu này.Khi tiềm lực của thị trường đang lên mà phần thị trường của doanh nghiệp khôngthay đổi tức là thị trường đã ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp hay một phầnthị trường đã rơi vào tay đối thủ cạnh tranh cho nên doanh nghiệp cần xem xét lạichiến lược kinh doanh của mình để mở rộng phần thị phần của doanh nghiệp,doanh nghiệp có thể tăng khối lượng sản phẩm trên thị trường hiện tại, có giảipháp thích hợp lôi kéo các dối tượng tiêu dùng tương đối , đối tượng khôngthường xuyên, lôi kéo khách hàng từ thị trường của doanh nghiệp cạnh tranh vớimình

1.2 Lợi nhuận

Lợi nhuận được định nghĩa 1 cách khái quát là phần chênh lệch giữa tổngdoanh thu và tổng chi phí, hoặc tính bằng công thức

Lo = ( P - ATC )*Q trong đó :

L: lợi nhuận : lợi nhuận

Trang 10

P: giá : giáATC: chi phí đơn vị sản phẩm : chi phí đơn vịsản phẩm

Q: khối lượng đơn vị bán ra : khối lượng đơn

vị bán ra(P-ATC): lợi nhuận đơn vị sản phẩm : lợi nhuận đơn vịsản phẩm

Lợi nhuận là mục tiêu cao nhất, là điều kiện tồn tại và phát triển của doanhnghiệp Để cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho thị trường các nhà sản xuất phải bỏtiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ mong nuốn chi phí cho đầu vào

Ýt nhất và bán hàng hoá với giá cao nhất để sau khi từ đi các chi phí còn số dưdôi để không chỉ sản xuất giản đơn mà còn tái sản xuất mở rộng, không ngừng tíchluỹ phát triển sản xuất, củng cố và tăng cường vị trí của mỡnh trờn thị trường đểnâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

1.3 Tỷ suất lợi nhuận

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cho biết mức sinh lời của đồng vốn dùng trongkinh doanh Tỷ lệ này cần bù đắp chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn Thôngthường đồng vốn được coi là sử dụng có hiệu quả nếu tỷ lệ nói trên cao hơn mứcsinh lời khi đầu tư vào các cơ hội khác hay Ýt nhất phải cao hơn mức lãi suất tíndụng ngân hàng

Tỷ suất doanh thu trên vốn cho biết mức doanh thu tạo ra trên một đồng vốnngoài ra nú cũn cho biết mức độ quay vòng của vốn Tỷ suất này phụ thuộcvàođặc điểm kinh tế kỹ thuật của nghành và chu kỳ sản xuất kinh doanh

Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh tiềm năngcủa Doanh nghiệp mà còn thể hiện tính hiệu quả trong hoạt động sản xuõt kinhdoanh của Doanh nghiệp Êy Đú chớnh là : Chênh lệch (giá bán- giá thành)/giỏ

Tû suÊt lîi nhuËn

Trang 11

bán Nếu chỉ tiêu này thấp thì chứng tỏ mức độ cạnh tranh của Doang nghiệp trênthị trường là rất gay gắt Ngược lại, nếu chỉ tiêu này cao thì chứng tỏ Doanhnghiệp đang kinh doanh rất thuận lợi và có hiệu quả.

Ngoài ra, xét về quyền lợi của nhà đầu tư người ta có thể dùng chỉ tiêu tỷsuất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu để đánh giá khả năng sinh lơỡ trờn 1 đồng vốncủa người góp vốn vào doanh nghiệp

1.4 Tỷ lệ chi phí Marketing/Tổng doanh thu.

Đây là một chỉ tiêu đang được sử dụng nhiều để đánh giá năng lực cạnh tranhcũng như hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của các Doanh nghiệp

Thông qua chỉ tiêu này mà Doanh nghiệp thấy được hiệu quả hoạt động củamình Khi xem xét đến tỷ lệ này ta thấy :Nếu chỉ tiêu này cao xó nghĩa là Doanhnghiệp đã đầu tư quá nhiều vào chi phí cho công tác Marketing mà hiệu quả thuđược thì chưa cao, đòi hỏi Doanh nghiệp phải xem xét lại cơ cấu chỉ tiờu.Cú thểthay vì quảng cáo rầm ré Doanh nghiệp có thể đầu tư chiều sâu để tăng lợi Ých lâudài như đầu tư cho chi phí nghiên cứu và phát triển

2 CÔNG CỤ CẠNH TRANH CHỦ YẾU CỦA DOANH NGHIỆP

2.1 Cạnh tranh bằng giá

Giá cả là biểu hiện sự gặp nhau giữa cung và cầu thông qua cạnh tranh trênthị trường hay quan niệm “ giá cả của sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trịsản phẩm mà người bán dự tính có thể nhận đuợc từ người mua” việc xác định giá

cả chỉ được coi là hợp lý và đúng dắn khi suất phát từ giá cả thị trường( khi có đốithủ cạnh tranh) hay suất phát từ giá cả do doanh nghiệp xác định

Chính sách giá cả sản phẩm của doanh nghiệp là 1 trong những nội dụng cơbản của marketing ứng dụng, là việc dự kiến giá cả trong tương lai sẽ được thịtrường chấp nhận, chính sách giá cả chỉ có tính khả thi cao khi nó xuất phát từchiến lược thị trường, từ chính sách sản phẩm và dự kiến được sự biến động củagiá cả trong tương lai trên từng loại thị trường trong và ngoài nước

Do trên thị trường khách hàng thường mua với khối lượng khác nhau vàonhững thời gian khác nhau với nghệ thuật mặc cả khác nhau nên khó có thể ápdụng 1 giá thống nhất Trên thực tế, người bán có thể tăng giá lên khi cầu tănghoặc thực hiện chiết khấu bán hàng khi khách hàng mua với khối lượng lớn Để có

Trang 12

cơ sở cho việc tăng giảm giá trong từng trường hợp cụ thể, chính sách giá bán củadoanh nghiệp cần xác định độ linh hoạt của giá

Để chiếm lĩnh được ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sựlùa chọn chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai đoạn trongchu kỳ sống của sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường Một số chớnh sỏch giá như sau

2.1.1 Chính sách định giá theo thị trường

Tức là định giá bán sản phẩm xoay quanh mức giá thị trường của sản phẩm

đó Do không sử dụng yếu tố giá là đòn bẩy kinh tế kích thích người tiêu dùng, để

hỗ trợ doanh nghiệp nên giảm chi phí để tăng chênh lệch giữa giá bán và chi phí,tăng cường công tác khuyếch trương, cải tiến hỗ trợ, phục vụ bán hàng

2.1.2 Chính sách định giá thấp

Định giá bán thấp hơn giá thị trường nhưng cao hơn giá trị sản phẩm tức làvẫn có mức lãi thấp Nó được áp dụng trong trường hợp sản phẩm mới thâm nhậpvào thị trường cần bán hàng nhanh với khối lượng bán lớn hoặc dựng giỏ để cạnhtranh với các đối thủ

Định giá bán thấp hơn giá thị trường và cũng thấp hơn giá trị sảnphẩm( chấp nhận thua lỗ) áp dụng trong thời kỳ khai trương cửa hàng hoặc muốnbán nhanh để thu hồi vốn( tương tự bán phá giá )

2.1.3 Chính sách định giá cao

Định giá bán cao hơn giá thị trường và cao hơn giá trị sản phẩm , được ápdụng đối với sản phẩm mới tung ra thị trường với mặt hàng cao cấp , với nhữngdoanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền Trong 1 vài trường hợp địnhgiá cao để hạn chế người mua và tìm nhu cầu thay thế, để bán giá cao tốt cần tìmhiểu thị trường, tuyên truyền

I.1.4 Chính sách ổn định giá

Giá bán sẽ ổn định không thay đổi trong mọi thị tường và cho dù cung cầu

có thay đổi trong từng thời kỳ thì giá cũng không thay đổi, cách này giúp doanhnghiệp thâm nhập, giữ vững và mở rộng thị trường

I.1.5 Chính sách bán phá giá

Trang 13

Đây là hình thức cực kỳ nguy hiểm đối với doanh nghiệp, nhằm tối thiểuhoá rủi ro và thua lỗ hoặc trong trường hợp doanh nghiệp muốn đánh bại đối thủcạnh tranh, mục đích là thu hồi phần chi phí bỏ ra nhưng uy tín về sản phẩm sẽ bịmất Một số sản phẩm nên thực hiện bán phá giá khi sản phẩm không bán ra thì sẽ

bị háng , sản phẩm để qỳa lõu, sản phẩm bị cạnh tranh gay gắt

I.1.6 Chính sách định giá phân biệt

Do yêu cầu của người tiêu dùng ở mỗi nơi khác nhau nờn cỏc doanh nghiệpphải điều chỉnh giá của mình, việc xác định giá phân biệt được thực hiện dướinhiều hình thức

- Phân biệt theo khối lượng

- Phân biệt theo chất lượng

- Phân biệt theo thời gian

- Phân biệt theo địa điểm

- Phân biệt theo loại ngưũi mua

2.2 Cạnh tranh bằng sản phẩm

Để có thể cạnh tranh với các đối thủ khỏc trờn thị trường 1 trong những biệnpháp là doanh nghiệp thực hiện đa dạng hoá sản phẩm Thực chất của đa dạng hoásản phẩm là doanh nghiệp mở rộng hợp lý danh mục sản phẩm tạo nên 1 cơ cấusản phẩm có hiệu quả cho doanh nghiệp, sản phẩm của doanh nghiệp phải luônđược hoàn thiện không ngừng để có thể theo kịp với thị trường bằng cách như:duy trì những mặt hàng có tính chất truyền thống và được thị trường chấp nhận

Mở rộng chủng loại biến đổi cơ cấu mặt hàng dựng cỏc chính sách hoàn thiện,nâng cao các đặc tính của sản phẩm như màu sắc, hình dáng, kiểu cách, đặc tính vềcông dụng của sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, muốn thế doanh nghiệpphải ứng dụng khoa học kỹ thuật thực hiện đổi mới công nghệ, đổi mới thiết bịmáy móc, nâng cao trình độ lành nghề của người lao động, cho đến nay về mặtchất lượng sản phẩm người ta phấn đấu theo tiêu chuẩn quốc tế chóng ta thựchiện các chính sách như chính sách cải tiến và đổi mới sản phẩm , chính sách nàyxuất phát từ nội dung cốt yếu của việc sản xuất sản phẩm là trong bất kỳ 1 giaiđoạn hay 1 thời kỳ kinh doanh nào của sản phẩm cũng có Ýt nhất 1 loại sản phẩmđược gọi là mới và đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển

Đi đôi với thực hiện đa dạng hoá sản phẩm , để đảm bảo đứng vững trongđiều kiện cạnh tranh gay gắt , doanh nghiệp có thể thực hiện trọng tâm hoá sản

Trang 14

phẩm vào 1 số loại sản phẩm nhằm cung cấp cho 1 nhóm người hoặc 1 vùng thịtrường của mình

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng thực hiện chiến lược khác biệt hoá sản phẩm,tạo ra những nét độc đáo riêng cho mình để thu hót, tạo sự hấp dẫn cho kháchhàng vào các sản phẩm của mình, nâng cao uy tín cho doanh nghiệp

2.3 Cạnh tranh bằng dịch vụ

* Xây dựng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm

Mạng lưới phân phối được tạo lập bởi cỏc kờnh phân phối( kênh trực tiếp,kênh gián tiếp, kênh hỗn hợp ) với mục đích đưa sản phẩm đến tận tay người tiêudùng với hiệu quả cao Việc điều khiển dòng hàng hoá từ người sản xuất đếnngười tiêu dùng được thực hiện bằng 1 hệ thống kênh phân phối, các doanh nghiệpthường hay sử dụng trung gian vỡ nú đem lại hiệu quả cao nhất trong việc đảmbảo phân phối hàng hoá rộng lớn và đưa hàng tới mục tiêu

Kênh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được chia làm 4 cấp theo sơ đồsau:

Sơ đồ 1: Cỏc kờnh phân phối cú cỏc cấp khác nhau

(a) Kênh cấp khụng ( kờnh trực tiếp ngắn) không qua cỏc khõu trung gian mà bántrực tiếp bằng cách mở cửa hàng bán của doanh nghiệp hay bán hàng lưu độngthường áp dụng với mặt hàng tươi sống mang tính đơn chiếc

(b) Kênh cấp 1 ( kênh trực tiếp dài ) áp dụng khi doanh nghiệp sản xuất chuyênmôn hoá nhưng qui mô nhỏ, khả năng tài chớnh hạn chế

Ng êi b¸n lÎ

Ng êi b¸n lÎ

(a)(b)

(c)

(d)

Trang 15

(*) Ưu điểm của kênh trực tiếp

Xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng ,

do thường xuyên tiếp xúc với khách hàng giúp doanh nghiệp hiểu rõ nhu cầuthị trường, biết được mong muốn , nguyện vọng của người tiêu dùng Do đódoanh nghiệp sẽ thuận lợi trong tạo chữ tín cho sản phẩm của mình

(*) Nhược điểm của kênh trực tiếp

Hạn chế trình độ chuyên môn hoá , tổ chức và quản lý tiêu tốn nhiều chi phí

và nhân lực

(c) Kênh cấp 2 ( kênh gián tiếp ngắn)

(d) Kênh cấp 3 ( kênh gián tiếp dài)

Là loại kờnh cú khõu trung gian mar bao gồm người bán buôn, người bán lẻ,đại lý , môi giới

(*) Ưu điểm của kênh gián tiếp

Tiờu thô 1 khối lượng hàng hoá lớn trong 1 khoảng thời gian ngắn, tạođiều kiện cho doanh nghiệp tập trung chuyên mụn hoá sản xuất

(*) Nhược điểm của kênh gián tiếp

Các doanh nghiệp sản xuất không kiểm soát được giá bán của các trunggian, không có cơ hội gây được chữ tín với người tiêu dùng, không nhận biếtđược những đòi hỏi của khách hàng

Ngoài ra , cũn cú kờnh hỗn hợp, doanh nghiệp cựng lỳc vừa sử dụng kênhgián tiếp vừa sử dụng kênh trực tiếp

* Mét số biện pháp đẩy nhanh hoạt động tiêu thụ

- Quảng cáo: Là việc sử dụng các phương tiện truyền tin ( đài báo, truyềnhình ) về hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng nhằm làm chokhách hàng chú ý tới sản phẩm , dịch vụ mà doanh nghiệp sẽ cung cấp Quảng cáolàm sao phải gây Ên tượng với khách hàng, tác động vào tâm lý khách hàng

Bên cạnh đó doanh nghiệp còn thực hiện các hoạt động như tham gia hộitrợ, tổ chức hội nghị khách hàng để giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp mình,

Trang 16

hay vận chuyển hàng miễn phí, khuyến mãi, phương thức thanh toán thuận tiện các dịch vụ sau bán hàng như bảo hành, hướng dẫn sử dụng

Công tác tổ chức hoạt động tiêu thụ tốt tác động mạnh tới khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp vì:

* Giúp cho doanh nghiệp tăng sản lượng tiờu thụ , tăng doanh thu , lợi nhuận ,thu hồi vốn nhanh

* Tạo uy tín của sản phẩm trên thị trường làm cho khách hàng biết đến và hiểu

rõ tính năng công dụng của sản phẩm

* Doanh nghiệp tìm được nhiều hàng mới, khai thác được nhiều thị trường

* Kích thích sản xuất kinh doanh phát triển

III CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA DOANH NGHIỆP

1 CÁC NHÂN TỐ BÊN NGOÀI DOANH NGHIỆP

1.1Nhúm các nhân tố thuộc môi trường kinh tế quốc dân Nhóm các nhân tố thuộc môi trường kinh tế quốc dân.

1.1.1 Các nhân tố về mặt kinh tế : Các nhân tố này tác động đến khả năng

cạnh tranh của Doanh nghiệp theo các hướng

+ Tốc độ tăng trưởng cao làm cho thu nhập của dân cư tăng, khả năng thanhtoán của họ tăng dẫn tới sức mua (cầu) các loại hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đây

là cơ hội tốt cho các Doanh nghiệp Nếu Doanh nghiệp nào nắm bắt được điều này

và có khả năng đáp ứng được nhu cầu khách hàng (số lượng, giá bán, chất lượng,mẫu mã ) thì chắc chắn Doanh nghiệp đó sẽ thành công và có khả năng cạnhtranh cao

+ Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nước có tác động nhanhchóng và sâu sắc đối với từng quốc gia nói chung và từng Doanh nghiệp nói riêng

Trang 17

nhất là trong điều kiện nến kinh tế mở Nếu đồng nội tệ lên giá các Doanh nghiệptrong nước sẽ giảm khả năng cạnh tranh ở thị trường nước ngoài, vì khi đó giá báncủa hàng hoỏ tớnh bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn các đối thủ cạnh tranh Hơn nữa,khi đồng nội tệ lên giá sẽ khuyến khích nhập khẩu, vì giá hàng nhập khẩu giảm, vànhư vậy khả năng cạnh tranh của các Doanh nghiệp trong nước sẽ bị giảm ngaytrên thị trường trong nước Ngược lại, khi đồng nội tệ giảm giá, khả năng cạnhtranh của các Doanh nghiệp tăng cả trên thị trường trong nước và thị trường ngoàinước, vì khi đó giá bán của các Doanh nghiệp giảm hơn so với các đối thủ cạnhtranh kinh doanh hàng hoá do nước khác sản xuất.

+ Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năngcạnh tranh của các Doanh nghiệp , nhất là đối với các Doanh nghiệp thiếu vốnphải vay ngân hàng Khi lãi suất cho vay của Ngân hàng cao, chi phí của cácDoanh nghiệp tăng lên do phải trả lãi tiền vay lớn, khả năng cạnh tranh của Doanhnghiệp sẽ kém đi, nhất là khi đối thủ cạnh tranh có tiềm lực lớn về vốn

1.1.2 Các nhân tố về chính trị, pháp luật:

Một thể chế chính trị, luật pháp rõ ràng, rộng mở và ổn định sẽ là cơ sở đảmbảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các Doanh nghiệp tham gia cạnh tranh và cạnhtranh có hiệu quả Chẳng hạn, các luật thuế có ảnh hưởng rất lớn đến điều kiệncạnh tranh, đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các Doanh nghiệp thuộc mọithành phần và trên mọi lĩnh vực Hay chính sách của Chính phủ về xuất nhậpkhẩu, về thuế xuất nhập khẩu cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh củaDoanh nghiệp sản xuất trong nước

đó tạo nên khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp nói chung Đối với những

Trang 18

nước chậm và đang phỏt triển, giỏ và chất lượng cú ý nghĩa ngang nhau trongcạnh tranh Tuy nhiờn, trờn thế giới hiện nay, đó chuyển từ cạnh tranh về giỏ sangcạnh tranh về chất lượng, cạnh tranh giữa cỏc sản phẩm và dịch vụ cú hàm lượngkhoa học cụng nghệ cao.

Kỹ thuật và cụng nghệ mới sẽ giỳp cho cỏc cơ sở sản xuất trong nước tạo rađược những thế hệ kỹ thuật và cụng nghệ tiếp theo nhằm trang bị và tỏi trang bịtoàn bộ cơ sở sản xuất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dõn nước ta Đõy là tiền đề đểcỏc Doanh nghiệp ổn định và nõng cao khả năng cạnh tranh của mỡnh

1.2Nhỳm cỏc nhõn tố thuộc mụi trường ngành Nhúm cỏc nhõn tố thuộc mụi trường ngành.

Theo Michael Poter, mụi trường ngành được hỡnh thành bởi cỏc nhõn tố chủyếu mà ụng gọi là năm lực lượng cạnh tranh trờn thị trường ngành Bất cứ mộtDoanh nghiệp nào cũng phải tớnh toỏn cõn nhắc tới trước khi cú những quyết địnhlựa chọn phương hướng, nhiệm vụ phỏt triển của mỡnh Năm lực lượng đú đượcthể hiện trờn hỡnh 1

Sơ đồ: Cỏc lực lượng điều khiển cuộc cạnh tranh trong ngành

Nguy cơ đe doạ từ những ngời mới vào cuộc

Nguy cơ đe doạ từ các sản phẩm thay thế

Của ngời cung ứng

Quyền lực Thơng lợng

lợng

Quyền lực Thơng lợng

của ngời mua

Ngờimua

Các đối thủ tiềm năng

Các đối thủ cạnh tranh trong Ngành

Cuộc canh tranh giữa

các đối thủ hiện tại

Ngời

cung

ứng

Trang 19

1.2.1 Sức Ðp của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành:

Cạnh tranh giữa các Doanh nghiệp hiện có trong ngành là một trong nhữngyếu tố phản ánh bản chất của môi trường này Sự có mặt của các đối thủ cạnhtranh chớnh trờn thị trường và tình hình hoạt động của chúng là lực lượng tác độngtrực tiếp mạnh mẽ, tức thì tới quá trình hoạt động của các Doanh nghiệp Trongmột ngành bao gồm nhiều Doanh nghiệp khác nhau, nhưng thường trong đó chỉ cómột số đóng vai trò chủ chốt như những đối thủ cạnh tranh chính có khả năng chiphối, khống chế thị trường Nhiệm vụ của mỗi Doanh nghiệp là tìm kiếm thôngtin, phân tích đánh giỏ chính xác khả năng của những đối thủ cạnh tranh chính này

để xây dùng cho mình chiến lược cạnh tranh thích hợp với môi trường chung củangành

1.2.2 Sù đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm Èn sẽ gia nhập thị trường.

Những Doanh nghiệp mới tham gia thị trường trực tiếp làm tăng tính chấtquy mô cạnh tranh trên thị trường ngành do tăng năng lực sản xuất và khối lượngsản xuất trong ngành Trong quá trình vận động của lực lượng thị trường, trongtừng giai đoạn, thường có những đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường vànhững đối thủ yếu hơn rót ra khỏi thị trường Để chống lại các đối thủ cạnh tranhtiềm Èn các Doanh nghiệp thường thực hiện các chiến lược như phân biệt sảnphẩm, nâng cao chất lượng, bổ sung những đặc điểm mới của sản phẩm, khôngngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm nhằm làm cho sản phẩm của mỡnh cú nhữngđặc điểm khác biệt hoặc nổi trội hơn trên thị trường, hoặc phấn đấu giảm chi phísản xuất, tiêu thụ

Sức Ðp cạnh tranh của các Doanh nghiệp mới gia nhập thị trường ngànhphụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành và mức độ hấp dẫncủa thị trường đó

1.2.3 Sức Ðp của nhà cung ứng:

S¶n phÈm thay thÕ

Trang 20

Những người cung ứng cũng có sức mạnh thoả thuận rất lớn Có rất nhiềucách khác nhau mà người cung ứng có thể tác động vào khả năng thu lợi nhuậncủa ngành.

Các nhà cung cấp có thể gây ra những khó khăn nhằm giảm khả năng cạnhtranh của Doanh nghiệp trong những trường hợp sau:

- Nguồn cung cấp Doanh nghiệp chỉ cần có một hoặc vài công ty độc quyềncung cấp

- Nếu các nhà cung cấp có khả năng về các nguồn lực để khép kín sản xuất,

có hệ thống mạng lưới phân phối hoặc mạng lưới bán lẻ thì họ sẽ có thế lực đáng

kể đối với Doanh nghiệp là khách hàng

1.2.4 Sức Ðp của khách hàng:

Sức mạnh của khách hàng thể hiện ở chỗ họ có thể buộc các nhà sản xuấtphải giảm giá bán sản phẩm thông qua việc tiêu dùng Ýt sản phẩm hơn hoặc đòihỏi chất lượng sản phẩm cao hơn Nếu khách hàng mua với khối lượng lớn, tínhtập trung của khách hàng cao hơn so với các Doanh nghiệp trong ngành

1.2.5 Sự xuất hiện các sản phẩm thay thế.

Những sản phẩm thay thế cũng là một trong những lực lượng tạo nên sức Ðpcạnh tranh lớn đối với các Doanh nghiệp trong ngành

Mức độ sẵn có của những sản phẩm thay thế cho biết giới hạn trên của giá cả sảnphẩm trong ngành Khi giá của một sản phẩm tăng quá cao khách hàng sẽ chuyểnsang sử dụng những sản phẩm thay thế Hoặc do mùa vụ, thời tiết mà khách hàngchuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế Sự sẵn có của những sản phẩm thay thếtrên thị trường là một mối đe doạ trực tiếp đến khả năng phát triển, khả năng cạnhtranh và mức độ lợi nhuận của các Doanh nghiệp

2 CÁC NHÂN TỐ BÊN TRONG DOANH NGHIỆP

2.1Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực.

Đây là yếu tố quyết định của sản xuất kinh doanh bao gồm:

- Ban Giám đốc Doanh nghiệp

- Cán bộ quản lý ở cấp Doanh nghiệp

Trang 21

- Cán bộ quản lý ở cấp trung gian, đốc công và công nhân.

* Ban Giám đốc DN Là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhất trong Doanhnghiệp , những người vạch ra chiến lược trực tiếp điều hành, tổ chức thực hiệncông việc kinh doanh của Doanh nghiệp Những công ty cổ phần, những tổng công

ty lớn ngoài Ban Giám đốc cũn cú hội đồng quản trị là đại diện cho các chủ sởhữu Doanh nghiệp

Các thành viên Ban Giám đốc ảnh hưởng rất lớn đến kết qủa kinh doanh củaDoanh nghiệp Nếu các thành viên có trình độ, kinh nghiệm, khả năng đánh giá,năng động, có mối quan hệ tốt với bên ngoài thì họ sẽ đem lại cho Doanh nghiệpkhông những lợi Ých trước mắt, như tăng doanh thu, lợi nhuận, mà còn cả uy tớn-lợi Ých lâu dài của Doanh nghiệp và đây mới là yếu tố quan trọng tác động đếnkhả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp

* Đội ngò cán bộ quản lý trung gian, đốc công và công nhân:

Nguồn cán bộ của một doanh nghiệp phải đồng bộ Sự đồng bộ này không chỉxuất phát từ thực tế là đội ngò lao động của Doanh nghiệp mà cũn xuất phát từyêu cầu kết hợp nguồn nhân lực với các nguồn lực về tổ chức và vật chất

Trình độ tay nghề của công nhân và lòng hăng say làm việc của họ là mộtyờỳ tố tác động mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp Bởi vì khitay nghề cao, lại cộng thờm lũng hăng say nhiệt tình lao động thì tăng năng suấtlao động là tất yếu Đây là tiền đề để Doanh nghiệp có thể tham gia và đứng vữngtrong cạnh tranh

2.2Nguồn lực vật chất và tài chính Nguồn lực vật chất và tài chính.

* Máy móc thiết bị và công nghệ:

Tình trạng trình độ máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng một cáchsâu sắc tới khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp Nó là yếu tố vật chất quantrọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của một Doanh nghiệp và tác động trựctiếp tới chất lượng sản phẩm Ngoài ra, công nghệ sản xuất, máy móc thiết bị cũngảnh hưởng đến giá thành và giá bán sản phẩm Một Doanh nghiệp có trang thiết bịmáy móc hiện đại thì sản phẩm của họ nhất định có chất lượng cao Ngược lại

Trang 22

không có một Doanh nghiệp nào có thể nói là có khả năng cạnh tranh cao khi màtrong tay họ là cả hệ thống máy móc cũ kỹ với công nghệ sản xuất lạc hậu.

* Tiềm lực tài chính của Doanh nghiệp

Bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối nào cũng đều phải xét,tính toán trên tiềm lực tài chính của Doanh nghiệp Một Doanh nghiệp có tiềmnăng lớn về tài chính sẽ có nhiều thuận lợi trong việc đổi mới công nghệ, đầu tưmua sắm trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, đểduy trì và nâng cao sức cạnh tranh, cung cấp tín dụng thương mại, khuyến khíchviệc tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, lợi nhuận và củng cố vị trí của mỡnh trờnthương trường

Nói tóm lại, khi xem xét khả năng cạnh tranh của một Doanh nghiệp và thậmchí kể cả khả năng cạnh tranh của các đối thủ, Doanh nghiệp đều phải xem xét đầy

đủ các yếu tố tác động, từ đó “ gạn đục, khơi trong” tìm ra các biện pháp hữu hiệunhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp

III TÍNH TẤT YẾU CỦA NĂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH.

Doanh nghiệp ngày càng muốn tạo ưu thế cho sản phẩm của mình về mặtgiá cả , giá trị sử dụng, chất lượng, uy tín sản phẩm, thực chất chúng ta muốn đápứng nhu cầu ngày càng cao càng đa dạng của khách hàng, muốn bán được nhiềuhàng, có nhiều khách hàng và thu được nhiều lợi nhuận hơn các đối thủ khác đóthực chất là doanh nghiệp đang muốn tăng khả năng cạnh tranh, tăng khả năngcạnh tranh là doanh nghiệp đang muốn thay đổi mối tương quan giữa thế và lựccủa doanh nghiệp trên thị trường về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh

Trong mỗi doanh nghiệp, quá trình sản xuất diễn ra không ngừng, các hoạt động diễn ra không ngừng, các hoạt động diễn ra theo chu kì: mua nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư, thiết bị…trờn thị trường đầu vào,tiến hành sản xuất sản phẩm sau đó bán ra trên thị trường đầu ra Trong chu kì này giai đoạn nào cũng đóng vai trò quan trọng, góp phần tạo nên thành công cho doanh nghiệp Nhưng giai đoạn quan trọng hơn cả, quyết định sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp đó là giai đoạn cuối cùng của thị trường đõự ra( thị trường tiêu thô sản phẩm) Khi nói tới doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là phải nói tới thị trường Hay nói cách khác, giữa doanh nghiệp và thị trường có mối quan hệ hữu cơ mật thiết, không thể tách rời

Trang 23

Như ta đã nói ở phần trước, mục đích sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là vì lợi nhuận Nói như vậy thì có nghĩa rằng lợi nhuận càng lớn thì càng tốt Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm để bán, muốn bán được thì phải tiếp cận

và mở rộng thị trường Thị trường càng lớn thì lượng hàng hoá tiêu thụ được càng nhiều và khả năng thu lợi nhuận càng cao Còn nếu thị trường càng hẹp thì lượng hàng hoá tiêu thụ được càng Ýt có thể gây ứ đọng, khả năng quay vòng vốn kém hoặc cũng có nhiều doanh nghiệp phải đình trệ sản xuất Trong cơ chế thị trường hiện nay, cơ chế của những cuộc cạnh tranh khốc liệt, thì thị trường đóng một vai trò quyết định tới sự sống còn của Doanh nghiệp

Thị trường càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn càng phát đạt, khả năng thu hót khách hàng mạnh, lượng sản phẩm tiêu thụ lớn làm cho sản xuất phát triển,nâng cao năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp

Thị trường rộng giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm dễ dàng, nhanh chóng tăng doanh thuvà lợi nhuận cao,tạo điều kiên cho Doanh nghiệp đầu tư hiện đại hoá sảnxuất,đa dạng hoá sản phẩm, tăng thêm khả năng chiếm lĩnh thị trường, mở rộng thịtrường chính là nâng cao khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp

Thị trường mở rộng cũn giỳp cho Doanh nghiệp có khả năng kéo dài chu kì sống sản phẩm Mặt khác, nú cũn góp phần giúp cho Doanh nghiệp giảm bớt rủi rokhách quan đem lại

Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì với nhu cầu càng cao của người tiêu dùng, doanh nghiệp nào đáp ứng tốt đáp ứng cao hơn thì sẽ giành thắng lợi, có thể tồn tại và phát triển còn doanh nghiệp nào không đáp ứng được mà cứ giậm chân tại chỗ chỉ sản xuất cái mà mỡnh cú sẽ bị tiêu diệt , làm ăn sa xút và có thể phá sản

Để nâng cao khả năng cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải giảm giáthành, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng uy tín cho doanh nghiệp

Phần thứ hai Phân tích thực trạng cạnh tranh

ở Công ty Bia Hà Nội.

I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY BIA HÀ NỘI.

1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Đã từ lâu, người Hà Nội nói riêng và dân Việt Nam nói chung đã rất quenvới những cụm từ “Bia Hà Nội” Nếu đi trên đường phố thủ đô, hình như ở bất cứcon phố nào bạn cũng có thể dễ dàng bắt gặp những đại lý bia Hà Nội, đặc biệt là

Trang 24

những quán bia hơi với những biển quảng cáo đai loại như “Bia hơi Hà Nội 100%”hay “Bia hơi Hà nội chính hiệu”…

Công ty Bia Hà Nội có một bề dày truyền thống lịch sử lâu năm Từ buổi sơkhai, Công ty bia Hà Nội có tên là Công ty bia Đông Dương do một nhà tư sảnPháp đứng ra đầu tư xây dựngvào năm 1890 trên một diện tích rộng chõng 5 ha ởphố Hoàng Hoa Thám, Hà Nội Lúc bấy giê, nhu cầu uống bia của người dân ViệtNam rất thấp, gần như là chưa có Do vậy, công suất sản xuất của Công ty BiaĐông Dương chưa đến một triệu lít một năm Toàn bộ công việc quản lý sản xuất,nguyên vật liệu và kỹ thuật đều do người Pháp quản lý

Sau chiến thắng ngày 7/5/1954, đất nước giành được độc lập từ tay thựcdân Phỏp Thỏng 7/1957, nhờ sự giúp đỡ của các chuyên gia Tiệp Khắc, ChínhPhủ Việt Nam đã chủ trương cho khôi phục lại Công ty Từ đó cho đến nay đã trảiqua các giai đoạn phát triển:

* Giai đoạn 1: Từ 1958 – 1981, Công ty hoạt động theo hình thức hạchtoán độc lập trực thuộc bộ chủ quản là Bộ Công nghiệp nhẹ Với số lượng côngnhân vẻn vẹn 70 người Trong thời gian này, sản lượng bia của Công ty tính theonăm đã tăng từ 300 000 lớt(1958) lờn 20 triệu lít (1981) Nhiệm vụ chủ yếu củaCông ty chỉ là sản xuất mà không phải lo đến các yếu tố đầu vào và đầu ra khác

* Giai đoạn 2: Từ 1982 – 1989, Công ty hạch toán phụ thuộc với mụ hỡnhnhà máy trực thuộc Xí nghiệp liên hiệp rượu - bia – nước giải khát Trong giaiđoạn này nhờ có sự giúp đỡ của Cộng hoà Dân chủ Đức, Công ty đã đầu tư và đưacông suất lên 40 triệu lít / năm và tổng số công nhân là 530 người, trong đó thỡ cú

25 cán bộ trung cấp, kĩ sư, với bặc thợ bình quân là 3,2/6

* Giai đoạn 3: Từ 1989 – 1993, Công ty hoạt động theo hình thức hạchtoán độc lập theo mô hình nhà máy Trong giai đoạn này, Đảng và Nhà nước tatiến hành đổi mới cơ chế, xoá bỏ cơ chế cũ, đi từ tập trung quan liêu bao cấp sang

cơ chế thị trường với sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa Lúc này, Công ty đang phải đương đầu với rất nhiều những khó khăn, đòihỏi Công ty phải luôn tự chủ trong kinh doanh và luôn phải tự hoàn thiện mình vàkhẳng định chỗ đứng của mình trong điều kiện cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chếthị trường Hơn nữa, Công ty, cũng giống như bao doanh nghiệp khác lúc đó, phải

có sự chuyển biến rất lớn về cả nhận thức cũng như việc làm Điều may mắn lúc

đó đối với Công ty là sản phẩm của Công ty đang có nhu cầu rất lớn trên thịtrường nên nhìn chung, tình hình sản xuất của Công ty khá ổn, không có nhữngxáo trộn lớn

* Giai đoạn 4: Từ 1993 đến nay, ngày 9/12/1993 theo Quyết định338/HĐBT, Nhà máy bia Hà Nội đã được đổi tên thành Công ty Bia Hà Nội,với

Trang 25

tên giao dịch quốc tế là HABECO có trụ sở giao dịch tại 183 đường Hoàng HoaThám, Ba Đình, Hà Nội Để cho phù hợp với tính chất và quy mô hoạt động kinhdoanh của Công ty, từ tháng11/1995 đến nay, Công ty hoạt động theo hình thứchạch toán độc lập với mô hình Công ty trực thuộc Tổng Công ty Rượu – Bia –Nước giải khát Từ năm 1997 cho đến nay Công ty đang tiếp tục đầu tư về máymóc thiết bị để tăng công suất từ 50 triệu lớt lờn 100 triệu lít vào cuối năm 2002.

Nhờ đầu tư đổi mới công nghệ đúng hướng và kịp thời nên nhiều năm nay,sản phẩm của Công ty luôn đạt chỉ tiêu chất lượng sản phẩm quốc gia và sản lượngsản xuất cũng như tiêu thụ ngày càng tăng Trong suốt quá trình hình thành và pháttriển của mình, Công ty đã được Nhà nước, Chính phủ và các cơ quan ban ngànhtặng nhiều huân chương, huy chương, cờ thi đua…trờn nhiều mặt trận khác nhau

2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ VỊ TRÍ CỦA CÔNG TY 2 Chức năng,nhiệm vụ và vị trí của công ty

Công ty Bia Hà Nội là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Côngnghiệp quản lý Do vậy và chức năng cơ bản của Công ty bia Hà Nội là sản xuấtcác mặt hàng bia các loại để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Để thực hiệncác chức năng trờn thỡ nhiệm vụ chủ yếu của Công ty là:

+ Sản xuất và kinh doanh mặt hàng bia các loại:

- Bia hơi Hà Nội

- Bia chai Hà Nội

- Bia lon Hà Nội

+ Sử dụng hiệu quả nguồn vốn được giao

+ Thực hiện các nghĩa vụ và nhiệm vụ Nhà nước giao cho

+ Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ công nhân viên bồi dưỡng

và nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ cho cáccán bộ công nhân viên chức

+ Bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn nhà máy làm trònnhiệm vụ quốc phòng

+ Đẩy mạnh đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, áp dụng các thànhtựu khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượngsản phẩm để kinh doanh có hiệu quả

+ Chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc, chế độ quản lý của Nhà nước và

cơ quan quản lý cấp trên

Nói đến vị trí của Công ty bia Hà Nội thì không ai có thủ phủ nhận được đúchớnh là sự vững vàng và ổn định của Công ty trong thị trường bia khu vực HàNội, bởi chất lượng và giá cả của Công ty vẫn luôn ổn định trong nhiều năm

Trang 26

qua.Trong toàn ngành rượu – bia - nước giải khát thì Công ty luôn đứng trên cácCông ty khác ở khu vực miền Bắc về cả số lượng hàng bán ra cũng như về thịphần, doanh thu hàng năm đều tăng hơn so với năm trước Có thể nói ở khu vựcphía Bắc thì chưa có nổi một doanh nghiệp nào cùng ngành có mức tăng trưởngđều như Công ty bia Hà Nội.

Trên thị trường bia cả nước thì Công ty bia Hà Nội cũng rất có tiếng nhưng

do sự cạnh tranh khá mạnh của các Công ty bia liên doanh với nước ngoài nên ởthị trường miền Trung và thị trường miền Nam hầu như bia Hà Nội không có sảnphẩm tiêu thụ đây cũng chính là một thiếu sót của Công ty

3 CƠ CẤU SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP

Là doanh nghiệp Nhà nước, Công ty chuyên sản xuất bia các loại như:

Cơ cấu sản xuất của Công ty được chia ra làm nhiều bộ phận, mỗi bộ phậnđều có nhiệm vụ riêng và nhiệm vô chung không hoàn toàn tách rời nhau mà liênkết vơớ nhau theo sự thống nhất từ trên xuống dưới các tổ sản xuất

* Công ty: Chịu toàn bộ trách nhiệm trong tất cả các hoạt động của dâychuyền sản xuất

* Phân xưởng sản xuất được chia thành: Bộ phận sản xuất chính( 9 tổ ), béphận sản xuất phụ trợ( 5 tổ ) và bộ phận phục vô(5 tổ)

Là mét trong những doanh nghiệp Nhà nước sản xuất với quy mô lớn chonên vấn đề đặt ra cho Công ty là làm sao tổ chức cho được 1 cơ cấu sản xuất thậttinh giản nhưng cũng phải thật hiệu quả, các bộ phận sản xuất có mối liên quanchặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau trong toàn bộ quá trình sản xuất Quy mô của từng

bộ phận sản xuất chính hay phụ trợ thì đều phải tuỳ thuộc vào chức năng nhiệm vụcủa từng bộ phận đó mà Công ty tổ chức cho phù hợp với quá trình sản xuất củaphân xưởng sản xuất

Tuỳ vào loại bộ phận sản xuất nào thỡ nú cú những chức năng và nhiệm vụkhác nhau nhưng mục tiêu chính là phải làm sao phục vụ tốt cho quá trình sản xuấtcủa Công ty diễn ra bình thường, đúng yêu cầu, tiến độ của Công ty đề ra.ở bộ

Trang 27

phận sản xuất chớnh thỡ chức năng và nhiệm vụ chủ yếu đó là trực tiếp tham giavào hoạt động sản xuất từ khâu đưa nguyên liệu vào sản xuất cho tới lúc ra thànhphẩm Còn ở bộ phận phục vụ và sản xuất phụ trợ thì chức năng và nhiệm vụ chủyếu đó là phục vụ cho hoạt động sản xuất, cũng như các hoạt động duy tu, bảodưỡng, vận chuyển và phục vụ bữa ăn cho công nhân.

Tuy có sự khác biệt với nhau về chức năng và nhiệm vụ nhưng mục đíchcuối cùng vẫn là đảm bảo cho hoạt động sản xuất của Công ty diễn ra bình thường.Quy mô của các bộ phận sản xuất cũng có sự khác biệt bởi có sự khác nhau cănbản về nhiệm vụ cho nên no cũng ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động sản xuấtcũng như khả năng cạnh tranh của Công ty

4 CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ

Trước tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt cùng những biến đổi khôngngừng và không lường của thị trường Công ty cũng đòi hỏi phải có một cơ cấu tổchức lãnh đạo phù hợp, gọn nhẹ, hiệu quả và hợp lý để thích nghi và phát triển bềnvững trong bối cảnh thị trường đó Tức là giữa các bộ phận từ cấp cao đến cỏcphũng ban trong Công ty đều phải có một sợi dây gắn bó liên kết chặt chẽ vớinhau như những mắt xích trong một sợi xớch Đi đôi với nú thỡ cỏc chính sáchquản lý điều hành trong Công ty đều phải mang tính đồng bộ và thống nhất caotrong suốt quá trình sản xuất

Qua cấu trúc tổ chức dưới đây, chung ta có thể thấy rõ Công ty Bia Hà Nội

tổ chức cơ cấu Công ty theo chức năng Tức là mỗi đơn vị có nhiệm vụ và tráchnhiệm riêng Hơn nữa, Giám đốc cũng có thể dễ dàng có sự quản lý tập trung, cómột cái nhìn bao quát lên tất cả các bộ phận, phòng ban, từ đó có thể dễ dàngthấyđược những điểm mạnh, yếu của từng bộ phận để có biện pháp điều chỉnh kịp thời

Xuất phát từ đó mà Công ty có mô hình tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu

mô hình trực tuyến tham mưu

Giám đốc là người quản lý điều hành chung toàn Công ty, người chủ tài

khoản có quyền quyết định mọi vấn đề chung của Công ty Giám đốc phải là người

có trình độ học vấn, có tư tưởng lãnh đạo cấp dưới theo đúng với mục đích hoạtđộng của Công ty Là người có tính quyết đoán cao trong các quyết định của mìnhcho toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

Phó giám đốc kỹ thuật sản xuất: có trách nhiệm tổ chức và chỉ huy quá

trình sản xuất hàng ngày từ khâu chuẩn bị sản xuất đến khâu bố trí, điều khiển laođông, tổ chức cấp phát vật tư và trực tiếp chỉ huy các phân xưởng sản xuất Là

Trang 28

người có trình độ chuyên môn do phải kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của cácthiết bị máy móc Luôn luôn theo dõi sự vận hành của máy móc thiết bị để đảmbảo cho hoạt động sản xuất của Công ty diễn ra bình thường.

Phó giám đốc kinh doanh: phu trách mảng đối ngoại từ việc hợp tác sản

xuất, liên doanh liên kết đến công tác mua vật tư, tổ chức tiêu thụ sản phẩm Cũng

là người có trình độ, có học vấn và có kỹ năng trong kinh doanh, luôn nắm bắtđược nhu cầu của thị trường để từ đó có những chiến lược sản xuất cụ thể cho các

bộ phận sản xuất, cho hoạt động kinh doanh của Công ty

Cỏc phòng ban chức năng là cơ quan chức năng của bộ máy quản lý Công

ty được phân công chuyên môn hoá theo chức năng quản trị, có nhiệm vụ giúpgiám đốc chuẩn bị cho các quyết định theo dõi hướng dẫn các phân xưởng sảnxuất thực hiện đúng đắn kịp thời các quyết định quản lý

Phòng tổ chức hành chính: có chức năng về công tác quản lý nhân sự,

hành chính, tiếp đón đối nội, đối ngoại, lưu trữ hồ sơ, thủ tục hành chính, thammưu cho giám đốc để tìm người có năng lực, điều hành lao động

Phòng kế hoạch tiêu thụ: có nhiệm cụ xây dựng và tham mưu cho giám

đốc các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn về tiêu thụ sản phẩm

Phòng tài vụ: có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc về xây dựng kế hoạch

cũng như thực hiện quản lý tài chính theo kỳ kế toán, chịu trách nhiệm thực hiệnđúng chính sách tài chính kế toán áp dụng cho doanh nghiệp

Phòng kỹ thuật cơ điện: có nhiệm vụ theo dõi sự hoạt động của máy móc

thiết bị sản xuất bia cũng như các bộ phận chức năng khác để có thể kịp thời sửachữa thay thế

Phòng kỹ thuật công nghệ KCS: có chức năng theo dõi toàn bộ quy trình

công nghệ sản xuất bia, nghiên cứu ứng dụng công nghệ hiện đại, kiểm tra chấtlượng, đánh giá bia thành phẩm nhập kho Kiểm tra các định mức, tiêu chuẩn kỹthuật trong các giai đoạnh của quy trình sản xuất bia

Phòng vật tư: chịu trách nhiệm cung cấp vật tư nguyên liệu cho sản xuất

theo kế hoạch chỉ đạo của giám đốc, xây dùng cho doanh nghiệp về vật tư nguyênliệu kịp thời, đúng loại không để chậm kế hoạch sản xuất của Công ty

Quản đốc phân xưởng sản xuất:đây là phân xưởng sản xuất chính và là

phân xưởng lớn nhất của Công ty,chịu trác nhiệm trong quá trình sản xuất, thựchiện đúng theo quy trình công nghệ do phó giám đốc phụ trách kỹ thuật trực tiếpđiều hành

Trang 29

II NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY BIA HÀ NỘI TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH.

1 DANH MỤC VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN PHẨM

1.1 Danh mục sản phẩm chủ yếu

Sản phẩm chủ yếu của Công ty bia Hà Nội cung cấp cho thị trường bia của

Hà Nội là:

- Bia chai Hà Nội

- Bia hơi Hà Nội

- Bia lon Hà Nội

Trong 3 loại bia trờn thỡ bia chai đem lại doanh thu lớn nhất cho Công ty,tiếp đó là bia hơi cuối cùng là bia lon do đầu tư vào dây chuyền sản xuất chưa đều

so với 2 loại bia chai và bia hơi nên sản lượng cũng như mức tiêu thụ không cao

Biểu sè 1: Cơ cấu sản phẩm

Năm Danh mục

Sản lượng tiêu thụ Tỷ trọng( % ) Sản lượngtiêu thụ Tỷ trọng( % ) Tuyệt đối đối(%)Tương

1.2 Đặc điểm về sản phẩm

Đặc điểm chủ đạo của sản phẩm đó là mặt hàng nước giải khát có ga, là loạihàng hoá có thể ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ người tiêu dùng nên Công ty rấtchú trọng đến công tác vệ sinh an toàn thực phẩm Hiện nay Công ty đang sản xuất

3 loại bia: bia hơi, bia lon, bia chai đều mang nhãn hiệu Hà Nội

Trang 30

+ Bia lon Hà Nội: Từ tháng 8/1996, Công ty đưa vào một dây chuyền sản

xuất bia lon thay thế cho dây chuyền bia lon Trúc Bạch trước đây Từ đó, Công tycung cấp ra thị trường một loại bia lon mới mang nhãn hiệu “Bia lon Hà Nội”.Dung tích của một lon là 0,33 lớt đúng trong lon nhôm, đậy nắp an toàn vệ sinhthực phẩm thuận tiện cho việc vận chuyển đi xa Đây là loại bia được người tiêudùng ưa thích và chú trọng đến chất lượng, hình thức, mẫu mã và uy tín

+ Bia chai Hà Nội: Được coi là loại sản phẩm mòi nhọn của Công ty Bia

chai được chiết vào chai thuỷ tinh dung tích 0,45 lít và cũng được dán giấy vệ sinh

an toàn thực phẩm Bia chai được để vào két nhựa cho thuận tiện với việc vậnchuyển đi xa Hiện tại, bia chai Hà Nội đang là một sản phẩm đáp ứng một cáchmạnh mẽ nhu cầu của thị trường tiêu dùng

+ Bia hơi Hà Nội : Là loại bia tươi nên công việc vận chuyển tương đối khó

khăn và thời gian bảo quản không được lâu, chỉ trong một ngày nên số lượng cũngkhông tăng nhiều Sau khi lọc, bia hơi được đóng vào thùng inốc 50 lít Loại bianày mang đặc tính phụ thuộc vào thời tiết, song vẫn luôn đảm bảo chất lượng vàđược người tiêu dùng ưa thích Hơn nữa, giá cả lại phù hợp với đông đảo mọingười nên rất được ưa chuộng và có uy tín cao trên thị trường

1.3 Đặc điểm về nguyên liệu sản xuất

Nguyên liệu sản xuất bia được chia thành nhóm nguyên liệu chính và nhómnguyên liệu phụ

* Nguyờn liệu chính: Gồm men Malt, hoa Houblon, gạo và đường

- Malt: là một loại hạt đại mạch nẩy mần được phơi khô

- Hoa Houblon: có vai trò quan trọng trong việc tạo nên hương thơm và vịđắng đặc trưng của bia

- Hai loại nguyên liệu này được trồng ở xứ ôn đới, nước ta đã thử thí điểmtrồng nhưng cho năng suất thấp Hiện nay Công ty đang phải nhập ngoại hai loạinguyên liệu này

- Gạo và đường là hai loại nguyên liệu hỗ trợ cho Malt nhưng nó chỉ đóngvai trò phụ liệu Nguyên liệu này sẵn có ở Việt Nam, song để nâng cao chất lượngbia thì cần phải chọn kỹ loại gạo và đường

- Ngoài nguyờn liệu chính như trên giống men bia cũng là một yếu tố quantrọng để tạo nên hương thơm, chất lượng bia Giống men của Công ty được lưu trữ

hơn 100 năm nay, đây là giống men quý cần phải được bảo quản.

Biểu sè 2: Kết cấu nguyên liệu chính theo sản lượng mẻ nấu

của bia Hà Nôi.

Trang 31

Loại bia Sản lượng

(1000 lít)

Malt(kg)

Gạo(kg)

Đường(kg)

Hoa Houblon(khách hàng)

Cao hoa(kg)

Trong những nguyên liệu để sản xuất ra bia thì không thể không nói đếnnước,nước là một nguyên liệu thiết yếu, không thể thiếu, mà trong bia nước chiếmtới 98,2%, chất lượng của nguồn nước ảnh hưởng lớn tới chất lượng bia Hàmlượng Ca++ và Mg++ rất thấp Năm 2001 nhu cầu sử dụng nguyờn liệu chính củaCông ty tăng lên là: Malt (7,5kg/lớt), gạo (5kg/lớt),đường (2kg/lớt), cao hoa(0,01kg/lớt), hoa viên (0,025kg/lớt)

* Nguyên liệu phụ

Đế sản xuất ra sản phẩm bia thì ngoài nguyên liệu chớnh cũn cần đếnnguyên liệu phụ Vật liệu phụ dùng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩmđược hoàn hảo hơn, tạo điều kiện để máy móc hoạt động bình thường Vật liệuphụ để sản xuất bia bao gồm:

- Xăng, dầu, các loại: dùng để vận chuyển bia, nấu bia

- Mì, bột phấn chì, sơn các loại: dùng để bảo dưỡng, sửa chữa máy mócthiết bị

- Xót, muối, nước Javen: dùng làm vệ sinh sát trùng bao bì

- Nhãn bia: làm mác cho sản phẩm

- Vá chai (0,45 lớt), kột nhựa: dùng để chứa và đựng bia

- Thùng inốc (50 lít) làm thùng đựng cho bia hơi

- Vá hộp, nắp hộp, giấy catton, hồ dán: dùng làm bao bì cho bia lon và hộpbia

Trong báo cáo tổng kết cuối năm của Phòng cung ứng vật tư cho biết: lượngvật tư nguyên liệu dự trữ của Công ty bia Hà Nội có thể đảm bảo cho quá trìnhhoạt động sản xuất diễn ra bình thường trong vòng 6 tháng liên tục Thực tế chothấy, nhiều năm qua Công ty làm được điều này là nhờ công tác khai thác trực tiếpnguồn nguyên liệu từ nước ngoài hoặc thông qua các Công ty buôn bán trung gian

uy tín đối với loại nguyên vật liệu chính nhập ngoại như: Malt, hoa Houblon Đối

Trang 32

với các loại nguyên vật liệu nội địa, Công ty cố gắng thiết lập và giữ mối quan hệvới các nhà cung cấp trong nước Mặt khác Công ty xây dựng và duy trì hệ thốngkho bãi bảo quản đạt tiêu chuẩn đã góp phần làm cho công tác dự trữ thuận lợihơn.

Qua đây chúng ta thấy rằng, việc chuẩn bị tốt nguyên vật liệu là khâu vôcùng quan trọng đối với dây truyền sản xuất và tiêu thụ không chỉ ở Công ty bia

Hà Nội mà con quan trọng đối với tất cả các Công ty, xí nghiệp sản xuất khác.Chuẩn bị tốt nguyên vật liệu giúp quá trình chế biến nhịp nhàng, đồng bộ tránhgián đoạn trong quá trình sản xuất và đảm bảo được mối quan hệ cung – cầu trênthị trường, góp phần ngày càng nâng cao hơn nữa chất lượng và uy tín sản phẩmđối với các khách hàng

2 QUY TRèNH CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO SẢN PHẨM

Sơ đồ công nghệ sản xuất Bia

Men gièng

KhÝ s¹ch

T¨ng chøa ¸p lùc

Trang 33

Giai đoạn nấu:

Nguyên liệu là Malt, gạo, hoa bia và đường được đưa vào sản xuất theo một

tỉ lệ nhất định phụ thuộc vào mục đích sản xuất loại bia thành phẩm nào: bia chai,bia lon và bia hơi

+ Gạo được xay mịn trộn với nước, tăng nhiệt độ qua giai đoạn hồ hoá đến

65 C, sau đó đun sôi tới 120 C trong một giê Malt ngâm nước dưới nhiệt độthường sau đó được nâng nhiệt độ lên 52 C, 56 C , 75 C Malt sẽ dịch hoỏ cỏc tinhbột của gạo, sau một thời gian cho ra dung dịch nước mạch nha, lấy dung dịch đóvới độ đường 10 cho bia hơi, 10.5 cho bia chai, 12 cho bia lon

Giai đoạn lên men:

§êng ho¸ II

Läc B· bia

Lªn men phô

Röa lon

Thanh trïng

§ãng nót ChiÕt chai Röa chai

NhËp kho D·n nh·n

XuÊt

XuÊt ChiÕt thïng

Röa thïng

ChiÕt lon

GhÐp mÝ

Thanh trïng

Lµm kh«

Ghi ngµy s¶n xuÊt

SÊy kh«

§ãng hép

NhËp kho

XuÊt

Trang 34

Là quá trình vi sinh nên để đạt được chất lượng cao của bia phải chú ý đếnmen giống và nhiệt độ của quá trình lên men Phương pháp lên men mà Công tyđang sử dụng là lên men lạnh (từ 10 - 12 C).

+ Lờn men chính: Cho men vào dịch đường để con men sử dụng dịch đườnglàm tăng khối lượng men đồng thời tạo ra cồn, CO2 và nhiệt độ của dịch đường sẽtăng lên Thời gian lên men chính khoảng từ 6 – 9 ngày cho các loại bia Sau đódịch đường được đưa xuống men phô

+ Lên men phụ: Được thực hiện ở nhiờt độ từ 3 - 5 C với mục đích làm bãohoà CO2, tạo sự ổn định của bia và tạo hướng cho bia Trong quá trình lên menphụ cần phải chú ý đến nhiệt độ của hầm lên men và áp suất của tầng chứa bia

Giai đoạn lọc bia thành phẩm:

Khi kết thúc lên men phụ sẽ lọc bia để loại bỏ các tạp chất hữu cơ và men

có trong bia để bia được trong và tăng thời gian bảo quản Bia được lọc qua “mỏylọc khung bản”, có độ bão hoà CO2 với bia lon và bia chai

Giai đoạn chiết bia:

Đối với bia lon và bia chai, sau khi lọc xong, bia được chiết vào chai và đưaqua máy thanh trùng (luộc) để làm chết một lượng con men giúp bia bảo quản lâuhơn theo tiêu chuẩn của Công ty là 90 ngày Còn bia hơi được chiết vào thùng vàkhông qua thanh trựng nên thời gian bảo quản ngắn hơn của bia chai và bia lon(bảo đảm chất lượng trong một ngày)

4 ĐẶC ĐIỂM VỀ MÁY MÓC THIẾT BỊ

Tình hình các loại thiết bị của Công ty trong những năm qua cho ta thấytrình độ đổi mới công nghệ của Công ty chỉ ở mức trung bình Tỷ trọng thiết bịhiện đại chiếm khoảng 43%, chủ yếu nhập từ Đức vào khoảng những năm 1993 –

1995 Những thiết bị cũ nỏt cũn khá nhiều sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến sảnlượng của Công ty

Biểu sè 3: Cơ cấu thiết bị chủ yếu

lượng

Nước sản xuất

Năm đưa vào

sử dụng

Giá trị

sử dụng còn lại Động lực

1 Lò hơi KBP – 6,5 – 1,3

2 Lò hơi KBP – 6,5 – 1,3

21

LIấN XễLIấN Xễ

19841984

30%60%

Trang 35

Thiết bị chiết

3 Dây chuyền bia lon 7500 lon/h

4 Dây chuyền bia chai 10000

chai/h

5 Dây chuyền bia chai 15000

chai/h

111

ĐứcĐứcĐức

199119941994

60%65%75%

ĐứcĐứcĐứcĐan mạch

1994198419841993

80%45%45%70%

ĐứcĐứcĐứcĐứcĐứcĐứcĐức

1994199419841984197819841984

80%80%75%75%70%70%70%

PhápPhápPhápĐức

1952195219521952

70%70%70%85%

5 CƠ CẤU LAO ĐỘNG

Hiện nay, vấn đề lao động và việc làm trong xã hội nước ta nói riêng và cácnước cùng châu lục nói chung đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội Việc Nhànước ta mở rộng nền kinh tế, tăng cường thu hót đầu tư trong nước cũng như nướcngoài là biện pháp hay để giải quyết vấn đề việc làm Đó là nhìn từ góc độ vĩ mô.Nếu chỉ nói về vấn đề lao động trong phạm vi mét doanh nghiệp, tức là xem xétvấn đề ở góc độ vi mô, thì chúng ta thấy đó cũng không phải là một vấn đề nhỏ

Trang 36

Hầu hết các doanh nghiệp thường có phương châm: ”Chỳng tụi đặt yếu tố conngười lên hàng đầu” hay “Chỳng tụi coi vấn đề con người là quan trọng nhất”.

Công ty bia Hà Nội là một doanh nghiệp Nhà nước lớn với lực lượng laođộng đông đảo Từ ngày khai sinh chỉ vẻn vẹn có 60 người, đến nay Công ty đó cúchừng 700 cán bộ công nhân viên Điều đó chứng tỏ phần nào nói lên được quy

mô của Công ty

Biểu sè 4: Cơ cấu lao động của Công ty từ năm 1999- 2001.

Năm Chỉ tiêu

6 CƠ CẤU VỐN KINH DOANH CỦA CÔNG TY

6.1 Cơ cấu vốn kinh doanh của Công ty.

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều phải cómột lượng vốn nhất định và nguồn tài trợ tương ứng Vốn là tiền đề của mọi hoạtđộng sản xuất kinh doanh Song, việc sử dụng vốn có hiệu quả cao mới là nhân tốquyết định đến sự thành đạt của doanh nghiệp

Biểu sè 5: Cơ cấu vốn của Công ty

Trang 37

Chỉ tiêu (tr.đồng)Số tiền Tỷ trọng(%) (tr.đồng)Số tiền Tỷ trọng(%) Tuyệt đối(tr.đồng) Tương đối(%)

I.Theo cơ cấu

1.Vốn cố định 242.293 55,76 248.792 51,41 6.499 102,682.Vốn lưu động 192.226 44,24 235.139 48,59 42.913 122,32

về vốn của Công ty Bia Hà Nội kém hơn nhiều, do đó vốn đầu tư cho phát triển,củng cố, mở rộng thị trường là rất Ýt Điều này làm cản trở nhiều sự phát triểnhoạt động kinh doanh của Công ty Có nhiều kế hoạch và chiến lược đã được đưa

ra nhưng không thực hiện được bởi vì chưa đủ vốn Việc phân chia tiềm lực vốnnhỏ bé đó cho các công việc kinh doanh cụ thể luôn là một vấn đề nan giải vớiCông ty Nhưng khi so sánh với các Công ty nội địa thì Công ty Bia Hà Nội lại làmột Công ty có nguồn vốn khổng lồ và do đó rất dễ dàng cạnh tranh với các Công

ty này

Toàn bộ vốn của công ty được chia thành 2 loại : vốn cố định và vốn lưuđộng

6.2 Vốn cố định

Vốn cố định là khoản được biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định của Công

ty gồm: tài sản phi vật chất (các khoản đầu tư công nghệ, đổi mới tổ chức kinhdoanh, marketing…) và tài sản vật chất hữu hình (đất đai, nhà xưởng, máy mócthiết bị,….) Hiện nay, tình hình tài sản cố định của Công ty bia Hà nội được thểhiện qua biểu sau đây:

Biểu sè 6: Tình hình tài sản cố định của Công ty

Đơn vị: đồng

Trang 38

TT TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 31/12/2000 31/12/2001

Nguyên giá TSCĐ

Thiết bị đo lường,thớ nghiệm 1.938.247.230 0.79 1.970.972.730 0.79 Dụng cụ quản lý 1.663.987.318 0.68 2.063.973.018 0.83 Thiết bị vận tải 3.329.027.200 1.37 3.925.698.403 1.58

Trang 39

6.3 Vốn lưu động của công ty

Biểu sè 7: Tình hình vốn lưu động của Công ty

I Vốn bằng tiền 150.126.158.265 78.1 186.178.000.081 79.17

2 Tiền gửi ngân hàng 149.249.886.208 77.64 185.564.421.125 79.9

III Vốn trong thanh toán 7.428.467.853 3.86 7.833.810.745 3.33

1 Khoản trả trước người

bán

3.671.241.648 1.91 799.586.458 0.34

2 Phải thu của người mua 2.762.427.741 1.44 1.588.769.945 0.68

3 Tạm ứng trong thanh toán 258.671.233 0.13 3.245.668.778 1.38

4 Các khoản phải thu khác 736.127.231 0.38 2.199.785.564 0.94

IV Vốn lưu động khác 6.328.768.499 3.29 4.564.583.257 1.94

III Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh

CỦA CÔNG TY BIA HÀ NỘI.

1 KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CHỦ YẾU CỦA

CễNG TY BIA HÀ NỘI NHỮNG NĂM QUA

Trang 40

Qua bảng báo cáo dưới đây ta thấy mặc dù sản lượng và doanh thu thuần của công ty có sự gia tăng nhưng lơị nhuận lại bị giảm qua các năm, nguyên nhân

là do các loại chi phí như : chi phí nguyên vật liệu, chi phí bán hàng tăng mạnh

Biểu sè 8: Tình hình lợi nhuận của Công ty

Tên sản

phẩm

Lợinhuận

( tr.đ)

Thịtrường(%)

Lợinhuận( tr.đ)

Thịtrường(%)

Lợinhuận( tr.đ)

Thịtrường(%)

2000/99 2001/00

Bia lon 5.082 6.35 5.149 5.99 5.592 5.99 101.32 108.6Bia chai 48.903 61012 53.910 62.8 58.717 63.01 110.23 108.91Bia hơi 26.015 35.51 26.764 31.21 28.892 31 102.87 107.97

Dùa vào biểu số 8, sản phẩm chủ yếu của Công ty là bia lon, bia chai, biahơi Qua các năm, ta thấy tổng lợi nhuận của Công ty tăng đều năm sau cao hơnnăm trước Năm 1999 là 80.000 triệu đồng Năm 2000 đạt 85.823 triệu đồng vượtmức lợi nhuận năm 1999 là 7,27% Bước sang năm 2001, tổng lợi nhuận của Công

ty đạt 93.201 triệu đồng tăng hơn so với năm trước là 8,59% Nhìn vào biểu tathấy mặt hàng bia chai là mặt hàng đem lại lợi nhuận lớn nhất rồi đến mặt hàng biahơi và cuối cùng là mặt hàng bia lon Đi sâu vào phân tích cụ thể từng mặt hàng :

*Về bia lon : Năm 1999 đạt 5.082 triệu đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất là

6,35% so với tổng lợi nhuận Năm 2000 đạt 5.149 triệu đồng chiếm tỷ trọng 5,98%tăng hơn 1,32% so với năm 1999 với số tiền tương ứng là 121 triệu đồng Sangđến năm 2001 đạt 5.592 triệu đồng chiếm tỷ trọng 6%, tăng hơn so với năm 2000

là 8,60% với số tiền chênh lệch là 443 triệu đồng Tỷ trọng của bia lon trong tổnglợi nhuận đang có xu hướng tăng lên dần nhưng vẫn còn thấp

Nguyên nhân: Mặt hàng bia lon chiếm tỷ trọng thấp do sức tiêu thụ cònthấp, trên thị trường chưa có sức cạnh tranh mạnh so với các sản phẩm cùng loạicủa các doanh nghiệp khác, chưa thực sự trở thành nhu cầu thường xuyên của cáctừng loại khách hàng, Công ty chưa quan tâm chu đáo đến việc khuếch trương,quảng cáo thay đổi mẫu mã của sản phẩm cho phù hợp để tăng sức cạnh tranh trênthị trường Nếu chú trọng phát triển mặt hàng này thì đảm bảo đây là mặt hàngcũng đem lại lợi nhuận cao không kém gì so với bia chai và bia hơi làm tăng thêmmức thu nhập cho Công ty tạo nguồn vốn mạnh để Công ty có thể mở rộng và khaithác thị trường mới, đây là vấn đề Công ty nên xem xét kỹ

*Về bia chai : Đây là mặt hàng tiêu thụ mạnh nhất, đem lại lợi nhuận cao

nhất, bia chai luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận Năm 1999 đạt

Ngày đăng: 21/01/2016, 22:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Cỏc kờnh phân phối cú cỏc cấp khác nhau - Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội
Sơ đồ 1 Cỏc kờnh phân phối cú cỏc cấp khác nhau (Trang 14)
Sơ đồ công nghệ sản xuất Bia. - Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội
Sơ đồ c ông nghệ sản xuất Bia (Trang 32)
Sơ đồ 4:Các giai đoạn trong hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm - Đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao cạnh tranh năng lực bia Hà Nội
Sơ đồ 4 Các giai đoạn trong hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w