1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chuẩn bị xét xử vụ án hình sự và việc hoàn thiện quy định này

17 401 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 39,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong trường hợp cần thiết, chánh án tòa án có thể phân công thẩm phán và hội thẩm dự khuyết theo mục 3 phần I nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP: “Để không phải hoãn phiên toà và bảo đảm đún

Trang 1

MỤC LỤC

Một số từ viết tắt: TAND Tòa án nhân dân

TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

VKS Viện kiểm sát

VKSQS Viện kiểm sát quân sự

LỜI MỞ ĐẦU

Trong một quá trình tố tụng hình sự thì gồm bảy giai đoạn: khởi tố vụ án hình sự, điêu tra vụ án hình sự, truy tố,xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, thi hành án và thủ tục giám đốc thẩm Những giai đoạn này thống nhất với nhau, có mối quan hệ khăng khít nhưng mỗi giai đoạn lại gắn liền với trách nhiệm của từng cơ quan tiến hành tố tụng do vậy càng không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Trong đó có giao đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Trong nội dung bài

viết này em xin trình bày ý kiến của mình về đề tài Số 4: “Chuẩn bị xét xử vụ

án hình sự và việc hoàn thiện quy định này”

NỘI DUNG

Theo nguyên tăc thực hiện chế độ xét xử hai cấp quy định tại Điều 20

BLTTHS năm 2003 thì tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử: xét xử sơ thẩm

và xét xử phúc thẩm Trong đó, mỗi cấp sẽ có giai đoạn chuẩn bị khác nhau

I. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm thì bao gồm 2 giai đoạn chính: thụ

lý, nghiên cứu hồ sơ và ra các quyết định của thẩm phán được phân công làm

Trang 2

chủ tọa phiên tòa Giai đoạn này được quy định từ điều 176 đến điều 183 bộ luật

tố tụng hình sự năm 2003 Giai đoạn này gồm những nội dung chính sau:

1. Thụ lý và nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự

Quá trình này được quy định tại khoản 1 điều 176 BLTTHS: “Sau khi nhận

hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa”

Sau khi nhận được hồ sơ vụ án được chuyển từ viện kiểm sát, người nhận hố

sơ phải đối chiếu bản kê khai tài liệu với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kiểm tra việc giao bản cáo trạng cho bị can Tòa án nhận hồ sơ vụ án và váo sổ thụ lý nếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đầy đủ so với bản kê khai tài liệu và bản cáo trạng đã được giao cho bị can

Sau khi vụ án đã được thụ lý, chánh án tòa án phân công ngay thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa và phân công thẩm phán, hội thẩm, thư ký tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ án Trong trường hợp cần thiết, chánh án tòa án có thể phân công thẩm phán và hội thẩm dự khuyết theo mục 3 phần I nghị quyết số

04/2004/NQ-HĐTP: “Để không phải hoãn phiên toà và bảo đảm đúng quy định

của BLTTHS trong trường hợp Hội thẩm được phân công tham gia xét xử vụ án không tiếp tục tham gia xét xử được sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì đồng thời với việc phân công Hội thẩm chính thức cần phân công Hội thẩm

dự khuyết và cùng ghi họ tên Hội thẩm dự khuyết vào quyết định đưa vụ án ra xét xử.”

Thẩm phán, hội thẩm được phân công xét xử vụ án hính sự nghiên cứu hồ sơ

vụ án trước khi mở phiên tòa Trong thời hạn ít nhất 7 ngày là việc trước khi mở phiên tòa, thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa gửi giấy mời hội thẩm đế trụ sở tòa án để nghiên cứu hồ sơ vụ án và trao đổi các vấn đề cần thiết

về nghiệp vụ xét xử đồi với vụ án theo điều 21 quy chế về tổ chức và hoạt động

Trang 3

của hội thẩm TAND ban hành kèm theo Nghị quyết số

05/2005/NQLT-TAND-BNV-UBMTTQVN: “Khi được phân công làm nhiệm vụ xét xử, trong thời hạn

ít nhất 7 ngày làm việc trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm gửi giấy mời Hội thẩm đến trụ sổ Tòa án để nghiên cứu hồ sơ vụ án và trao đổi các vấn đề cần thiết về nghiệp vụ xét xử đối với vụ án đó”

Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu

hồ sơ vụ án, tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, yêu cầu của người tham gia tố tụng

và tiến hành những việc cần thiết cho mở phiên tòa

Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa có thể ra quyết định: trả hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ vụ án; tạm đình chỉ vụ án; đưa vụ án ra xét xử; áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn không phải là tạm gianm Cũng tren cơ sở đó thẩm phán đó đề nghị chánh án tòa án ra quyết định áp dụng,thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam; áp dụng hoặc hủy bỏ biện pháp kê bien tài sản; gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử; thay đổi người tiến hành tố tụng; chuyển vụ án

2. Thời hạn chuẩn bị xét xử

Theo quy định tại điều 176 bộ luật TTHS năm 2003 thì thời hạn chuẩn bị xét

xử sơ thẩm được quy định tính kể từ ngày thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa nhận hồ sơ vụ án

Ngoài ra thời hạn chuẩn bị xét xử còn được quy định tại 1.2 mục 1 phần I nghị định số 04/2004/NĐ – HĐTP ngày 05/11/2004 Trong trường hợp ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử tính lại kể từ ngày tòa án tiếp tục giải quyết vụ án khi lí do tạm đình chỉ không còn nữa Trường hợp thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ để điều tra

bổ sung, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét

xử kết thúc vào ngày ra quyết định

Trang 4

Thời hạn chuẩn bị xét xử bao gồm thời hạn để thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định cần thiết và thời hạn mở phiên tòa theo quyết định đưa vụ án ra xét xử

Đối với những vụ án phức tạp, chánh án tòa án có thể quyết định gia hạn thời

hạn chuẩn bị xét xử “vụ án phức tạp là vụ án thuộc một trong các trường hợp

sau: có nhiều bị can, phạm tội có tổ chức hoặc phạm nhiều tội; liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc nhiều địa phương; có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc để tham khảo ý kiến của cơ quan chuyên môn”i Khi thời hạn chuẩn bị xét xử còn lại không quá 5 ngày thì thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa ra quyết định ra hạn chuẩn bị xét xử và thông báo ngay cho viện kiểm sát cùng cấp Thời hạn gia hạn chuẩn bị xét xử đối với tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng là 15 ngày, tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng là 30 ngày

3. Những quyết định của tòa án trong khi chuẩn bị xét xử.

Trong khi chuẩn bị xét xử thì tòa án có những quyết định sau: trả hồ sơ để điều tra bổ sung; tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ vụ án;áp dụng, thay đổi và hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; đưa vụ án ra xét xử

a) Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung

Theo quy định tại Điều 179 BLTTHS năm 2003 thì: “1 Thẩm phán ra quyết

định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong những trường hợp sau đây:

a) Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;

b) Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác;

c) Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.”

Trang 5

Trường hợp không cần trả lại hố sơ để điều tra bổ sung: Trong hồ sơ thiếu những chứng cứ về phần dân sự mà không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của

bị can, luật quy định như vậy nhằm làm vụ việc được giải quyết nhanh chóng, không làm mất quyền lợi của các bị can bị cáo, người bị hai…; Nếu có căn cứ xét xử bị can theo tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà viện kiểm sát đã truy tố(điều 196 BLTTHS)

b) Quyết định tạm đình chỉ vụ án

Theo quy định tại Điều 180 BLTTHS năm 2003 thì các trường hợp được tòa

án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án bao gồm:

+ Bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chừng nhận của hội đồng giám định pháp y

+ Không biết rõ bị can đang ở đâu

Quyết định tạm đình chỉ vụ án được gửi cho viện kiểm sát cùng cấp và các bên có liên quan

c) Quyết định đình chỉ vụ án

Theo quy định tại điều 180 BLTTHS thì thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ

án trong những trường hợp sau: bị can chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; hành vi phạm tội của bị can đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá; bị can chết; người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên tòa; viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa

d) Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn

Về biện pháp tạm giam:

* Chánh án hoặc phó chánh án có thẩm quyền áp dụng, thay đổi hủy bỏ biện pháp tạm giam

Trang 6

* Trường hợp áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam:

+ Biện pháp tạm giam được áp dụng trong trường hợp: bị can, bị cáo chưa bị tạm giam hoặc đang bị tạm giam mà thời hạn tạm giam đã hết và căn cứ vào điều 88 BLTTHS xét thấy cần thiết tạm giam hoặc tiếp tục tạm giam bị can bị cáo

+ Biện pháp tạm giam được thay đổi trong trường hợp bị can, bị cáo đang bị tạm giam, nhưng xét thấy không cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo, mà có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác

+ Biện pháp tạm giam được hủy bỏ trong trường hợp bị can, bị cáo đang bị tam giam mà xét thấy không cần thiết tạm giam

* Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn

bị xét xử quy định tại điều 176 BLTTHS: “trong thời hạn ba mươi ngày đối với

tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can bi cáo bị truy tố về

nhiều tội khác nhau ( tội ít nghiêm trong, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) thì thời hạn tạm giam đối với từng bị can không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử đối với tội phạm nặng nhất mà bị can đó bị truy tố Đối với bị can đang bị tạm giam: thời hạn tạm giam tính kể từ ngày nhận hồ

sơ vụ án( trong trường hợp khi nhận hồ sơ vụ án thời hạn tạm giam còn lại không quá 5 ngày) hoặc kể từ ngày tiếp theo ngày tạm giam cuối cùng của lệnh tạm giam trước đó

Đối với những biện pháp khác: Chánh án, phó chánh án tòa án, thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn khác như cầm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh,…

e) Triệu tập những người cần xét hỏi.

Trang 7

Trước khi mở phiên tòa, tòa án phải triệu tập những người có liên quan để xét

hỏi tại phiên tòa: “ Triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa Căn cứ

vào quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa.” Những người cần xét hỏi ở đây là những người mà lời khai

báo của họ có ảnh đến việc giải quyết vụ án được đúng đắn.Việc triệu tập thì tòa

án phải gửi giấy triệu tập đến tận tay người được triệu tập Và người được triệu tập không được vắng mặt nếu vắng mặt phải có ly do chính đáng

f) Quyết định đưa vụ án ra xét xử

Sau khi nghiên cứu hồ sơ hoặc đã trao đổi với viện kiểm sát, nếu tòa nhận thấy có thể đưa vụ án ra xét xử thì phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử

Quyết định đưa vụ án ra xét xử làm thay đổi tư cách pháp lý của bị can thành

bị cáo Quyết định đưa vụ án ra xét xử là quyết định đặc trưng, chỉ có trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Trong khi chuẩn bị xét xử phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm, thẩm phán không cần ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Việc giao quyết định đưa vụ án ra xét xử: quyết định đưa

vụ án ra xét xử được gửi ngay cho viện kiểm sát cùng cấp, đưa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa của họ chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa Trong trường hợp vắng mặt bị cáo, quyết định đưa vụ án ra xét xử được giao cho người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của bị cáo, niêm yết tại trụ sở chính quyền cấp xã nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị cáo

I. Chuẩn bị xét xử phúc thẩm.

Do tính chất của xét xử phúc thẩm là xem xét lại bản án của tòa án xét xử sơ thẩm nên quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm có những phần khác hơn và nhanh hơn so với giai đoạn chuẩn bị xét xử phiên tòa sơ thẩm

1. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 242 BLTTHS thì Tòa án Nhân dân cấp tỉnh, Tòa án Quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày;

Trang 8

Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án Thời hạn trên bao gồm cả thời gian nghiên cứu hồ sơ của Tòa án phúc thẩm và Viện kiểm sát cùng cấp

2. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn

Sau khi nhận hồ sơ vụ án, tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Nếu áp dụng biện pháp tạm giam thì thời hạn tạm giam không được quá thời hạn quy định cho việc xét xử phúc thẩm Tuy nhiên, để bảo đảm quyết định bắt và tạm giam được thi hành ngày

và đúng pháp luật thì tòa án cấp phúc thẩm chỉ ra quyết định bắt và tạm giam bị cáo nếu trong khi nghiên cứu hồ sơ vụ án để chuẩn bị xét xử phúc thẩm cũng như qua diễn biến xét xử tại phiên tòa nếu thấy có đầy đủ các điều kiện sau: có căn cứ để xử phạt tù bị cáo, bị cáo không thuộc trường hợp có thể cho hưởng án treo, bị cáo không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 261 của BLTTHS và Điều 61 của Bộ luật hình sự

Đối với bị cáo đang tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam

đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì tòa án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa

Chánh án, phó chánh án, thẩm phán giữ chức vụ chánh án, phó chánh án TANDTC, thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biên pháp ngăn chặn như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền…

3. Thông báo việc xét xử phúc thẩm

Khác với tòa sơ thẩm, tòa án phúc thẩm không phải ra quyết định đưa vụ án

ra xét xử mà phải thông báo việc xét xử phúc thẩm Chậm nhất là 15 ngày trước ngày mở phiên tòa, Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng về thời gian, địa điểm xét xử phúc thẩm vụ án

Trang 9

III Những hạn chế và giải pháp hoàn thiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

1 Những hạn chế trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

Về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm:

Thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa đối với tội phạm ít nghiêm trọng là 45 ngày, tội phạm nghiêm trọng là 60 ngày, tội phạm rất nghiêm trọng là 70 ngày, tội phạm đặt biết nghiêm trọng là 120 ngày Việc xét xử tại phiên tòa không chỉ là chức năng xét xử của tòa án , mà tòa án còn phải căn cứ vào những gì mình biết

để ra quyết định của bản án, tòa án có thể kết án bị can vô tội không như những

gì mà cơ quan điều tra, viện kiểm sát khởi tố Như vậy, tòa án cũng phải xem xét hồ sơ thật kỹ (đang điều tra) Thời hạn trong trường hợp này là quá ngắn vì quy định cho thời hạn điều tra của cơ quan điều tra dài gấp vài lần Chưa quy định cụ thể về thời gian việc triệu tập người cần xét hỏi khi chuẩn bị phiên tòa

sơ thẩm,nếu trong trường hợp nếu gia hạn thêm thời gian chuẩn bị xét xử thì những người được triệu tập sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của những người này vì cũng có thể họ ở xa việc đi lại khó khăn sẽ gây tốn kém

Thời hạn xét xử được quy định tại Điều 176 BLTTHS và thời hạn tạm gian được quy định tại Điều 177 BLTTHS theo đó thời hạn tạm giam để xét chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 176 của Bộ luật” như vậy quan hệ hai điều luật có sự rang buộc chặt chẽ, cũng có thể hiểu là thời hạn tạm giam bằng thời hạn chuẩn bị xét xử Tuy nhiện đối với vụ án có nhiều bị cáo, bị truy tố về nhiều tội khác nhau có tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính như thế nào trong trường hợp các bị cáo áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam

Luật chưa quy định trường hợp những người cần xét hỏi nếu vắng mặt thì giải quyết thế nào? Sự vắng mặt của những người xét hỏi có thể liên quan đến

Trang 10

sự thật, tính khác quan của vụ án Nó cũng có thể là chứng cứ buộc tội bị cáo hoặc gỡ tội cho bị cáo, dù trước đó họ đã khai nhận nhưng cần phải trược tiếp xét hỏi họ tại phiên tòa để một lần nữa khẳng định lời khai của họ là sự thật vì trong quá trình điều tra của cơ quan điều tra những lời khai của họ có thể là gian dối hoặc do ép buộc mà bị cáo không biết

Vướng mắc trong quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn:

Về biện pháp tạm giam: theo quy định tại điều 303 BLTTHS thì chỉ được tạm giam người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu có đủ căn cứ quy định tại điều 88 BLTTHS trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Chỉ được tạm giam người từ đủ 16 tổi đến dưới 18 tuổi nếu có đủ căn cứ quy định tại điều 88 BLTTHS trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng Thực tế có nhiều trẻ em lang thang lai lịch không rõ rang ở lứa tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi phạm các tội nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng thì có áp dụng biện pháp tạm giam hay không? Nếu không áp dụng biện pháp tạm giam với họ thì trong một số trường hợp không giải quyết được vụ án Biện pháp cấm đi khỏi nơi trú: BLTTHS năm 2003 quy định khá rõ ràng cụ thể veef biện pháp này tuy nhiên điều 91 BLTTHS mới chỉ quy định điều kiện đối với bị can, bị cáo có thể được áp dụng biện pháp này là có nới cư trú rõ ràng nhằm đảm bảo sự quản lý của chính quyền địa phương, tuy nhiên các điều kiện

về nhân thân của bị can, bị cáo, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị can, bị cáo làm căn cứ quyết định áp dụng biện pháp này lại không được quy định rõ ràng dẫn tới tình trạng áp dụng tuỳ tiện, hậu quả là nhiều bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội rất nghiêm trọng cũng được áp dụng biện pháp này, sau đó đã bỏ trốn khiến tiến trình giải quyết vụ án bị trì trệ, nhiều phiên toà phải hoãn vì vắng mặt của bị cáo

Tương tự như vậy biện pháp bảo lĩnh BLTTHS cũng quy định là biện pháp

có thể được áp dụng thay cho biện pháp tạm giam đồng thời quy định về điều

Ngày đăng: 21/01/2016, 21:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w