Đánh thuế ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa trong nước, nhập khẩu và lưu thông hàng hóa nhập khẩu nhưng cơ sở xác định số thuế phải nộp chỉ là phần giá trị mới
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Một số vấn đề cơ bản về pháp luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) 1
1 Khái niệm thuế GTGT 1
2 Đặc điểm của thuế GTGT 1
3 Pháp luật thuế GTGT 2
4 Thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu 3
II Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu và ý kiến đề xuất nhằm thực thi tốt pháp luật thuế GTGT trong lĩnh vực này 4
1 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu 4
a) Những yếu tố thúc đẩy việc triển khai thực hiện thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu 4
b) Những yếu tố gây vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu 5
2 Một tố ý kiến đề xuất nhằm thực thi tốt pháp luật thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu 8
a) Về phương pháp tính thuế GTGT 9
b) Về thuế suất GTGT 9
c) Về khấu trừ thuế 9
d) Vấn đề hoàn thuế GTGT 10
đ) Hình thành và phát triển nhóm tư vấn thuế 10
e) Cải cách hành chính thuế 10
f) Đào tạo đội ngũ cán bộ thuế, cán bộ hải quan có đạo đức và trình độ nghiệp vụ 11 KẾT LUẬN 11 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng đề ra trong giai đoạn 2011 – 2020
là phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau Muốn thực hiện được chiến lược trên thì Nhà nước ta phải có một chính sách thuế GTGT hợp lý đặc biệt là chính sách thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu
Trong nội dung bài tiểu luận của mình em xin trình bày vấn đề số 10: “Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu và đề xuất
ý kiến pháp lý nhằm thực thi tốt pháp luật thuế GTGT trong lĩnh vực này”
NỘI DUNG
I Một số vấn đề cơ bản về pháp luật thuế giá trị gia tăng (GTGT)
1 Khái niệm thuế GTGT
Thuế giá trị gia tăng là loại thuế tiêu dùng nhằm động viên một bộ phận thu nhập của người chịu thuế đã sử dụng để mua hàng hóa, nhận dịch vụ
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thuế GTGT 2008 quy định : “Thuế giá trị gia tăng là thuế
tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”.
Như vậy, bản chất của thuế GTGT là một loại thuế gián thu ( được hiểu là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không phải là một) Nghĩa là các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ là người nộp thuế nhưng người tiêu dùng lại thực chất là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ
2 Đặc điểm của thuế GTGT
Là một loại thuế độc lập nên thuế GTGT cũng có những đặc điểm riêng để phân biệt nó với các loại thuế khác như sau:
Thứ nhất, thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rất rộng Đó là mọi đối tượng tồn tại trong xã hội, kể cả cá nhân và tổ chức đều phải chi trả thu nhập của mình để thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho xã hội Mọi đối tượng trong xã hội đều là chủ thể chịu thuế, chủ thể thực tế
Trang 3phải trả một phần thu nhập cho hành vi tiêu dùng Việc đánh thuế trên phạm vi lãnh thổ với mọi đối tượng thể hiện sự công bằng của thuế, đồng thời thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội Đối với trường hợp cần khuyến khích tiêu dùng hoặc hạn chế việc trả tiền thuế của người tiêu dùng, Nhà nước sẽ không đánh thuế hoặc đánh thuế với mức thuế suất thấp nhất
Thứ hai, thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ Do đó, việc đánh thuế GTGT vào hàng hóa, dịch vụ đó không gây ra những đột biến giá cả cho người tiêu dùng Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt thuế GTGT với những loại thuế gián thu khác Nếu như thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ đánh một lần ở khâu sản xuất hay khâu nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; thuế xuất khẩu chỉ đánh ở khâu xuất khẩu, thuế nhập khẩu chỉ đánh ở khâu nhập khẩu thì thuế GTGT lại đánh ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa
Thứ ba, dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa, dịch vụ thì số thuế GTGT phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn lưu thông khác nhau Đánh thuế ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa trong nước, nhập khẩu và lưu thông hàng hóa nhập khẩu nhưng cơ sở xác định số thuế phải nộp chỉ là phần giá trị mới tăng thêm của khâu sau so với khâu trước nên nếu coi giá thanh toán tính đến khi người tiêu dùng thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ
đã xác định trước và không thay đổi các phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có bị chia nhỏ và đánh thuế, tổng số thuế GTGT phải nộp qua các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng phải gánh chịu
3 Pháp luật thuế GTGT
Pháp luật thuế GTGT là tổng hợp cac quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình đăng ký, kê khai, nộp thuế, quản lí cà quyết toán thuế GTGT
Theo đó, pháp luật thuế GTGT có hai đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, pháp luật thuế giá trị gia tăng có tác động trong phạm vi rộng, đến tất cả đối tượng trong xã hội Xuất phát từ nội dung được pháp luật điều chỉnh cho thấy pháp luật thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với mọi đối tượng có thu nhập, sử dụng một phần thu nhập phục vụ đời sống Phạm vi áp dụng pháp luật thuế GTGT có tính phổ biến so với pháp luật thuế tiêu dùng khác
Trang 4Thứ hai, pháp luật thuế giá trị gia tăng chỉ có thể được ban hành khi các điều kiện áp dụng đạt đến mức độ nhất định Những điều kiện chủ yếu ở đây là các tiêu chuẩn về kế toán, chế độ chứng từ, hóa đơn và khả năng quản lý của chính các cơ quan tham gia quản lý, thu thuế GTGT Ban hành Luật thuế GTGT được coi là bước đột phá trong quá trình cải cách, hoàn thiện về
hệ thống pháp luật thuế Để đảm bảo tính hiệu quả, pháp luật thuế GTGT cần đáp ứng một số yêu cầu như sau:
Thứ nhất, đảm bảo tính thống nhất, tính ổn định và tính khả thi
Thứ hai, đảm bảo tính đơn giản trong quá trình áp dụng Tính đơn giản được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau:
- Đơn giản về cách hiểu, áp dụng đối với cơ quan quản lý, thu thuế;
- Đơn giản về cách hiểu, tuân thủ đối với đối tượng nộp thuế GTGT;
- Đơn giản về trình tự thủ tục trong suốt quá trình quản lý và chịu sự quản lý về thuế GTGT
Thứ ba, pháp luật thuế GTGT cần hướng tới người nộp thưế Thể hiện yêu cầu này, những quy định về việc kê khai, nộp thuế phải thể hiện sự tôn trọng người nộp thuế: tối đa hóa cơ hội tự
kê khai, tự nộp thuế của đối tượng nộp thuế Bên cạnh đó, đối với trường hợp vi phạm, quy định các chế tài thực sự nghiêm khắc: bao gồm chế tài hành chính với mức phạt cao; chế tài hình sự
áp dụng đối với nhiều loại hành vi vi phạm khác nhau
4 Thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu
Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều đánh thuế đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ Việc đánh thuế GTGT đối với hoạt động nhập nhẩu tạo sự bình đẳng giữa hàng hóa, dịch vụ được tạo ra trong nước và hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu, mặc dù, trong những chừng mực nhất định có thể gây ra khó khăn cho nhà nhập khẩu
Thuế GTGT là loại thuế tiên tiến chỉ “tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch
vụ” nên nếu xét trong mối quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế với chủ thể nộp thuế, đối tượng
hướng tới của quan hệ pháp luật thuế GTGT là phần giá trị tăng thêm được tạo ra bởi chủ thể nộp thuế; trong đó, đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu thì phần giá trị gia tăng là toàn bộ giá trị nhập khẩu của hàng hóa đã bao gồm các khoản thuế ở khâu nhập khẩu chưa có thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa
Trang 5Hiện nay chúng ta đã trở thành một thành viên của WTO, các cam kết hội nhập mà chúng ta
đã ký kết sẽ được thực hiện ở mức độ cao hơn Chẳng hạn, theo hiệu định CEPT/AFTA đến năm
2006 chúng ta phải hoàn thành việc cắt giảm thuế nhập khẩu đối với hơn 80% dòng thuế xuống mức 0% và đến năm 2015 sẽ áp dụng chung cho tất cả các mặt hàng, trừ một số mặt hàng có thể linh hoạt nhưng thời hạn cuối cùng không được quá năm 2018 Còn theo hiệp định Việt Nam – Hoa Kỳ thì 224 dòng thuế nhập khẩu sẽ giảm bình quân 30% Điều này tất yếu sẽ làm giảm thuế nhập khẩu Trước tình hình đó, để đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước thì thuế GTGT và bên cạnh đó là thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ đóng vai trò quan trọng.Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm kể trên, việc thực thi pháp luật thuế GTGT nói chung và đối với hàng hóa nhập khẩu nói riêng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết
II Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu và ý kiến đề xuất nhằm thực thi tốt pháp luật thuế GTGT trong lĩnh vực này
1 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu
a) Những yếu tố thúc đẩy việc triển khai thực hiện thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu
Trước hết, với diện chủ thể chịu thuế và đối tượng chịu thuế rộng; thuế GTGT là loại thuế gián tiếp không gây tác động lớn đến sự biến đổi giá cả Thuế GTGT đã tạo ra nguồn thu thường xuyên và ổn định cho ngân sách nhà nước Có thể nhận thấy những loại thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất khẩu – nhập khẩu…trong thời kỳ kinh tế suy thoái thường bị tác động rất lớn Tuy nhiên, đối với thuế giá trị gia tăng thì ngay cả trong thời kỳ kinh tế đi xuống, nhà nước vẫn thu được cho tới khi nào người tiêu dùng vẫn còn tiêu dùng Trên thực tế, nhu cầu tiêu dùng của xã hội ngày càng tăng Do đó, nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế giá trị gia tăng rất thường xuyên và ổn định
Thuế GTGT được tính toán trên cơ sở các hóa đơn, chứng từ hợp pháp và hiện nay công tác hạch toán, kế toán của các doanh nghiệp cũng đã hoàn thiện và ổn định dần.Đây là cơ sở để việc
áp dụng thuế GTGT nói chung và trong lĩnh vực nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nói riêng được dễ dàng, thuận lợi, minh bạch, hạn chế được gian lận về thuế
Trang 6Hiện nay, Chính phủ, ban chỉ đạo triển khai các luật thuế mới của Chính phủ, các Bộ, các Ngành, các địa phương đã bám sát sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, của Bộ chính trị, Quốc hội, của UBTVQH để tổ chức triển khai thực hiện luật Thuế GTGT
Trong quá trình triển khai Ban chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, các địa phương đã bám sát và phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện luật thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu Bên cạnh đó, sự phấn đấu nỗ lực của ngành thuế quan và ngành Hải Quan từ việc chuẩn bị đến việc tổ chức thực hiện pháp luật thuế GTGT cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy việc triển khai thực hiện thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu
Với quy định mọi chủ thể có hành vi sản xuất, kinh doanh các mặt hàng, các loại hình dịch
vụ thuộc diện chịu thuế và có phần giá trị tăng thêm trên lãnh thổ Việt Nam nên thuế GTGT có thể áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu Với mức thuế suất cơ bản 10%, thuế GTGT cùng với thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế nhập khẩu đã làm tốt nhiệm vụ bảo hộ có hiệu quả nền sản xuất trong nước
b) Những yếu tố gây vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu.
Thuế suất thuế GTGT khá cao
Yếu tố đầu tiên gây vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu là thuế suất thuế GTGT hiện nay khá cao Mức thuế suất thuế GTGT tính cho các hàng hóa, dịch vụ thông thường cho tiêu dùng là khá cao, làm giảm sức mua; tiêu thụ sản phẩm hàng hóa gặp nhiều khó khăn Mức thuế suất 10% được quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật thuế GTGT năm 2008 Mặc dù theo lý luận, thuế GTGT do người tiêu dùng trả, không gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng nếu thuế suất cao, giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ sẽ cao, người tiêu dùng khó chấp nhận dẫn đến việc tiêu thụ sẽ gặp khó khăn, các doanh nghiệp muốn bán được hàng buộc phải hạ giá bán và bị thua lỗ Như vậy, lượng hàng nhập khẩu sẽ giảm xuống Do đó, các doanh nghiệp nhập khẩu muốn tăng lượng hàng nhập khẩu có thể sẽ tìm những kẽ hở của pháp luật để trốn thuế, tránh thuế vì việc làm này sẽ đem lại doanh thu lớn hơn cho doanh nghiệp
Sự yếu kém trong quản lý của các cơ quan chức năng
Sự lúng túng của các cơ quan chức năng được thể hiện rõ nét ở chỗ chỉ trong một khoảng thời gian ngắn mà có quá nhiều văn bản được ban hành Điều này gây ra nhiều vấn đề mâu thuẫn
Trang 7trong điều hành và thực hiện Tiếp đến, cơ chế “xin - cho” xuất hiện: xin được hưởng thuế suất thấp hơn, xin được nộp thuế 0% xin mở rộng diện khấu trừ theo tỷ lệ tính trên giá mua không có hóa đơn GTGT, v.v…
Bên cạnh đó là sự yếu kém trong dự báo và thiếu đánh giá tác động của chính sách Việc này làm nảy sinh hiện tượng lập chứng từ không trung thực để chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT và gây ra những hậu quả nặng nề, dân chúng mất niềm tin vào chính sách thuế mới, doanh nghiệp nghi ngờ cách thức và năng lực điều hành nền kinh tế của chính phủ
Không chỉ dừng lại ở đó, sự thiếu quyết liệt trong xử phạt cũng là một vấn đề đáng kể đến Trên thực tế, thiệt hại do sử dụng hóa đơn không trung thực khiến Nhà nước thất thoát hàng trăm
tỷ đồng Nếu không có biện pháp xử lý quyết liệt thì luật pháp không còn khiến người ta sợ Do
đó, tình hình phạm tội liên quan đến thuế GTGT, mặc dù đã được cảnh báo, vẫn tiến triển nhanh,
đa dạng, tinh vi và ngày càng lớn về số tiền thuế chiếm đoạt
Phương pháp tính thuế
Việc áp dụng đồng thời hai phương pháp tính cho hai loại đối tượng nộp thuế gây nhiều tốn kém và cản trở sự vận hành của GTGT trên phạm vi toàn nền kinh tế - xã hội Việc áp dụng đồng thời hai cách tính thuế GTGT và hai loại hóa đơn trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay
là cần thiết, song trên thực tế lại nảy sinh những bất cập gây trở ngại cho các doanh nghiệp và các hộ kinh doanh Các doanh nghiệp thực hiện theo phương pháp khấu trừ thuế không được khấu trừ đâu vào khi mua hàng hóa, dịch vụ của các đơn vị tính thuế theo phương pháp trực tiếp, gây mất công bằng trong các thành phần kinh tế, hoặc nảy ra tình trạng chống thuế Ngoài ra, những bất cập trong kế toán thuế GTGT, trong chế độ hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa lưu thông trên thi trường cũng gây nhiều khó khăn cho công các thu của ngành thuế
Hoàn thuế GTGT
Hoàn thuế GTGT là việc cơ quan thuế ra quyết định trả lại số tiền thuế GTGT đã nộp vượt quá của chủ thể nộp thuế Vấn đề hoàn thuế còn chậm và phức tạp trong kiểm tra hóa đơn Do vậy, nhiều doanh nghiệp phải chịu thêm lãi suất ngân hàng từ số tiền vay nộp thuế trước nhưng chậm được trả lại Song mặt khác, chính nhiều doanh nghiệp cũng chưa nghiêm túc kê khai và hoàn thành các thủ tục cần thiết, dẫn đến tình trạng chậm trễ trong việc hoàn thuế
Thực trạng hoàn thuế hiện còn một số điểm vướng mắc như sau: Luật thuế GTGT khái quát đến mức sơ sài, khó áp dụng, các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT quá nhiều, lại luôn thay đổi kéo theo sự không ổn định của bản thân Luật thuế GTGT Bên cạnh đó,
Trang 8các văn bản hướng dẫn thi hành lại không phù hợp với quy định của văn bản luật hoặc nội dung các văn bản này vượt quá thẩm quyền của cơ quan ban hành Nội dung hướng dẫn cũng chỉ là giải pháp tình thế, chắp vá mà không được nghiên cứu, không dựa trên một cơ sở lý luận nào làm cho sắc thuế GTGT dần dần bị nhào nặn bóp méo là nguyên nhân dẫn đến sự không ổn định của thuế GTGT
Cơ chế áp dụng, thực hiện pháp luật thuế GTGT
Cơ chế áp dụng, thực hiện pháp luật thuế GTGT nói chung và trong lĩnh vực pháp luật thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu nói riêng còn nhiều yếu kém, chưa tạo dựng được một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh, đồng bộ và thật khoa học để chuyển tải pháp luật thuế GTGT như là một sắc thuế đơn giản và tiên tiến vào cuộc sống Với những chủ trương đổi mới theo hướng thông thoáng hơn trong lĩnh vực pháp luật về doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh song các cơ quan nhà nước lại bị bó tay, vô hiệu hóa trước những hành vi lạm dụng sự thông thoáng
đó để trục lợi trong việc hoàn thuế GTGT Mặt khác, sự thiếu vắng một cơ chế giám sát kiểm tra thật hữu hiệu quy trình đăng ký nộp thuế, kê khai, khấu trừ hoàn thuế, với chủ trương “tiền thoát hậu kiểm” tạo không ít thuận lợi cho các doanh nghiệp song không phải tất cả các đối tượng được hoàn thuế đều có thể áp dụng cơ chế này
Trình độ quản lý và sử dụng chứng tư, hóa đơn:
Thuế GTGT gắn với nghiệp vụ kinh doanh của chủ thể nộp thuế Nhà nước thực hiện thu thuế theo kết quả kinh doanh của đối tượng nộp thuế Điều này có nghĩa chứng từ hóa đơn là chứng cứ xác định nghĩa vụ thực tế mà chủ thể nộp thuế phải thực hiện đối với Nhà nước Do đó, trình độ quản lý và sử dụng chứng từ, hóa đơn của chủ thể nộp thuế cũng như các cơ quan quản
lý nhà nước sẽ ảnh hưởng lớn tới việc thực thi pháp luật thuế GTGT nói chung cũng như trong lĩnh vực nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nói riêng Với tư cách là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh và đã hoàn thành, Luật thuế GTGT quy định chi tiết về các loại chứng từ hóa đơn, áp dụng cho các đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ, phương pháp tính trực tiếp theo phần giá trị tăng thêm Hóa đơn, chứng từ là căn cứ pháp lý cực kỳ quan trọng trong quá trình vận hành của thuế GTGT và có thể nói sự thành công hay thất bại của quá trình này phụ thuộc rất lớn vào chế độ ghi chép quản lý chứng từ, hóa đơn Thực tiễn áp dụng ở nước ta cho thấy trong mấy năm qua, nạn hóa đơn giả đã phát triển tới mức báo động và được tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau Dạng thứ nhất là hóa đơn in giả hoàn toàn Nhìn bề ngoài thì loại hóa đơn này giống như hóa đơn GTGT do bộ tài chính phát hành và
Trang 9chỉ có thể phát hiện bằng máy soi nghiệp vụ còn đối với người mua và bán hàng thì không mấy
dễ bị phát hiện Có những trường hợp mua phải hàng lậu được cấp hóa đơn giả nhưng khi phát hiện thì người bán hàng đã biến mất nên vừa thiếu cơ sở để áp dụng trách nhiệm pháp lý vừa không được quyền khấu trừ thuế Dạng thứ hai là hóa đơn thật do bộ tài chính phát hành được bán cho một đơn vị nhất định nhưng tuồn ra thị trường mua bán một cách bất hợp pháp Thủ đoạn này có thể thực hiện bằng cách bán hàng không cấp hóa đơn cho khách hàng sau đó dùng liên trống (lẽ ra phải cấp cho khách hàng) đem bán trên thị trường chợ đen, hoặc báo cáo giải thể doanh nghiệp nhưng không thanh toán nộp lại hóa đơn mà đem bán; hoặc lợi dụng cơ chế thông thoáng trong việc thành lập doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp, sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng kí thuế, cấp mã số thuế và mua hóa đơn GTGT tại cơ quan thuế nhưng không tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà sử dụng chính các hóa đơn đó để kinh doanh bằng cách mua bán vòng vèo để hợp thức hóa số thuế đầu vào sau đó thực hiện khấu trừ thuế hoặc hoàn thuế Dạng thứ ba cũng là hóa đơn do bộ tài chính phát hành được sử dụng khi mua bán hàng hóa nhưng ghi giá thanh toán giữa các liên không đồng nhất hoặc cố tình ghi sai
mã số của người bán gây khó khăn cho sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan thuế Với thủ đoạn này số thuế đầu ra thu được ở người bán thì ít mà số thuế đầu vào phải khấu trừ ở người mua thì nhiều Đây là một hiểm họa kép do cơ chế liên hoàn thuế GTGT tạo ra Thứ tư, cạo sửa hóa đơn mua hàng ghi số tiền cao hơn số thực tế để khấu trừ, hoàn thuế, thanh toán, quyết toán thuế
2 Một tố ý kiến đề xuất nhằm thực thi tốt pháp luật thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu
Việt Nam chúng ta đang từng bước hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới Năm 2015, chúng
ta phải hoàn thành việc cắt giảm thuế nhập khẩu đối với tất cả các mặt hàng của các nước tham gia hiệp định CEPT/AFTA xuống mức thuế suất 0%; hay theo hiệp định thương mại Việt – Mỹ thì 224 dòng thuế nhập khẩu cũng sẽ giảm bình quân 30% Điều này sẽ khiến cho nguồn thu ngân sách giảm đáng kể Trước tình hình đó, chúng ta phải hoàn thiện hệ thống thuế sao cho vừa bảo hộ được nền kinh tế trong nước, vừa bảo đảm tuân thủ những thỏa thuận đã cam kết Đồng thời, cơ hội tiếp xúc với nền pháp luật thế giới cũng cho chúng ta nhiều cơ hội học tập kinh nghiệm xây dựng hệ thống pháp luật thuế nói chung, pháp luật thuế GTGT trong lĩnh vực nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nói riêng
Trang 10a) Về phương pháp tính thuế GTGT
Các văn bản về thuế đưa ra hai phương pháp tính thuế là phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính thuế trực tiếp trên thuế GTGT Tương ứng với hai phương pháp tính thuế là hai loại hóa đơn GTGT và hóa đơn bán hàng thông thường Qua thực hiện thuế GTGT cho thấy,
sử dụng hai phương pháp tính thuế gây ra nhiều bất cập trong việc khấu trừ thuế đầu vào Không mang lại hiệu quả cho thu ngân sách nhà nước Vì vậy chỉ nên áp dụng một phương pháp tính thuế là phương pháp khấu trừ thuế
b) Về thuế suất GTGT.
Để khắc phục được những vướng mắc về thuế suất, ta nên chỉ sử dụng hai mức thuế suất: 0% cho hàng hóa xuất khẩu và 10% cho mọi loại hàng hóa bán nội địa Thuế suất thống nhất sẽ góp phần bịt được những kẽ hở do chênh lệch thuế suất gây ra Để giảm số lượng thuế suất con hai mức thì phải đảm bảo các yêu cầu sau : Một là, xác định mức thuế suất phải đảm bảo không làm ảnh hưởng lớn đến nguồn thu của Ngân sách nhà nước, đồng thời phải nuôi dưỡng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước Hai là, Mức thuế suất phải bảo hộ được sản xuất trong nước Ba là, mức thuế suất phải bảo đảm công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các doanh nghiệp, đảm bảo
ổn định thị trường trong nước, không có biến động lớn về giá cả và không ảnh hưởng đến đời sống nhân dân
c) Về khấu trừ thuế
Việc cho khấu trừ thuế đầu vào phát sinh những vướng mắc như: có nhiều tỉ lệ khấu trừ khác nhau nên rất phức tạp trong quá trình thực hiện là không khuyến khích sử dụng hóa đơn chứng
từ Đối với hàng hóa nông, lâm, hải sản không cần hóa đơn, chỉ cần bản kê dẫn tới có tường hợp
cơ sở sản xuất mua của người kinh doanh buôn chuyến, người thu gom trốn thuế, các doanh nghiệp không lấy hóa đơn bán hàng, tạo kẽ hở để cơ sở kinh doanh buôn chuyến, người thu gom trốn thuế Các doanh nghiệp mua nông, lâm hải sản sau đó sơ chế bán hàng trong nước thì được khấu trừ thuế nhưng nếu xuất khẩu thì lại không được trừ thuế đầu vào Do đó, giải pháp cho vấn
đề này là: cho phép khấu trừ hoặc hoàn lại thuế GTGT trong trường hợp giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ bị hủy bỏ, sau khi đã chấp nhận trả tiền của người mua hoặc trường hợp giảm giá, các khoản thu không đòi, được xử lý có đầy đủ chứng từ hợp lệ