cộng đồng, mặt khác thành phố cũng hết sức chú trọng việc hoạch địnhnhững chính sách mang lại lợi ích thiết thực cho từng người dân.Cụ thể, dự liệu trước những khó khăn của người dân về
Trang 1NHỮNG NHÂN TỐ LÀM BIẾN ĐỔI MỨC SỐNG
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN ỔN ĐỊNH VÀ NÂNG CAO MỨC SỐNG CHO NHÓM DÂN TÁI ĐỊNH CƯ Ở THÀNH PHỐ ĐÀ
3.1.1 Sự tác động của hệ thống chính sách
Đô thị hoá là xu hướng phát triển tất yếu của mỗi quốc gia, dân tộcthực hiện CNH, HĐH Tuy nhiên, trong thực tế, quá trình này diễn ra nhanhhay chậm, tích cực hay ít tích cực còn phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống cácchính sách và quá trình tổ chức thực hiện chính sách của các Đảng và Nhànước thực quyền Đối với thành phố Đà Nẵng, chính sách phát triển đô thị
đã và đang được chính quyền ưu tiên coi trọng và đây là nhân tố có ý nghĩaquyết định đối với mọi sự biến đổi xã hội nói chung và biến đổi mức sốngdân cư TĐC nói riêng
Cần phải khẳng định rằng, những thành quả mà Đà Nẵng đã đạt đượctrong giải tỏa, di dời, TĐC nêu trên trước hết và căn bản của những chủtrương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước được sự vận dụng mộtcách năng động, sáng tạo vào thực tế địa phương Một mặt chính quyềnthành phố khuyến khích, khơi dậy và huy động mọi tiềm năng sức mạnh
Trang 2cộng đồng, mặt khác thành phố cũng hết sức chú trọng việc hoạch địnhnhững chính sách mang lại lợi ích thiết thực cho từng người dân.
Cụ thể, dự liệu trước những khó khăn của người dân về việc phảichuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, tạo lập việc làm để có thu nhập ổn định,chính quyền thành phố Đà Nẵng đã đề ra chính sách đào tạo nghề cho ngườilao động Các chương trình đào tạo nghề miễn phí ngắn hạn đã được tổchức Các trung tâm dịch vụ giới thiệu việc làm cho người lao động được
mở ra đáp ứng bước đầu nhu cầu tìm kiếm việc làm của người lao động
Các chính sách tín dụng để hỗ trợ việc chuyển đổi nghề nghiệp, tạoviệc làm cũng được đặc biệt chú ý triển khai Cụ thể, Thành phố đã cungcấp, cho vay ưu đãi hàng chục tỷ đồng để các hộ di dời, TĐC phát triển sảnxuất, học việc và tìm việc làm Ngoài chế độ chính sách của Nhà nước vềgiải toả đền bù và TĐC được quy định trong các Nghị định của Thủ tướngChính phủ (NĐ22/1998, NĐ197/2004), thành phố Đà Nẵng còn trích ngânsách địa phương hỗ trợ, giúp đỡ những gia đình có khó khăn nhất là nhữnggia đình nghèo (bằng tiền, bằng gạo…) Có thể khẳng định rằng, nhờ có hệthống chính sách đúng đắn kịp thời trong quá trình tổ chức thực hiện di dời,giải tỏa nên đã giúp người dân sau TĐC, sớm vượt qua khó khăn, ổn địnhđời sống và phát triển
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, cũng cònnhững tồn tại, khó khăn mà người dân sau TĐC đang còn phải vật vã đươngđầu Đó là sự giảm sút thu nhập của các nhóm xã hội vốn trước đây gắn vớicác nghề nông - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hoặc lao động phổ thông.Nhiều người giờ đây vẫn còn gặp khó khăn trong việc chuyển nghề, tìmkiếm việc làm mới để ổn định cuộc sống Hiện tại mặc dù chính quyền thànhphố Đà Nẵng đã có hệ thống chính sách khá đồng bộ, tổ chức thực hiện khá
Trang 3quyết liệt song vẫn còn một bộ phận dân cư thiếu việc làm, mức sống chưacao Nguyên nhân có nhiều song có thể chú ý một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, chính sách đào tạo nghề mà lâu nay thành phố triển khai
thực hiện mới chỉ chủ yếu giải quyết cho những đối tượng đã có một trình độhọc vấn nhất định (tốt nghiệp THPT) Trong khi đó, lao động, nhất là laođộng ở độ tuổi trung niên lại có học vấn quá thấp Họ không hội đủ tiêuchuẩn và điều kiện để được đào tạo nghề Trong mẫu khảo sát 570 ngườitrong tuổi có khả năng lao động của 210 hộ gia đình sau TĐC, có 26,5%người có trình độ tiểu học, 41,5% ở trình độ THCS; 19% trình độ THPT và13% có trình độ từ trung cấp trở lên Như vậy số lao động ở trình độ THCStrở xuống chiếm tới 68% Điều này cũng có nghĩa là phần đông số lao đồngnày không đủ tiêu chuẩn để tham gia các lớp đào tạo nghề và thực sự họ có
ít cơ hội để tìm kiếm việc làm ổn định, có thu nhập cao Đây là thực tế giúpchúng ta hiểu rõ vì sao sau tái định, tỷ lệ lao động trong loại hình lao độngphổ thông tăng cao và tình trạng tăng đột biến lao động trong ngành buônbán dịch vụ mà ở đây thực chất là sự tăng trưởng “ảo”
Thứ hai, các chính sách tín dụng nhằm giải quyết việc làm mặc dù
được triển khai khá rầm rộ song hiệu quả chưa thật cao Chúng ta biết rằng,những người thiếu việc làm, cần việc làm vốn là những nông dân, ngư dân,những lao động phổ thông đã quen với cách kiếm sống bằng lao động cơbắp, giờ đây họ trở thành những thị dân của đô thị loại một nhưng cách nghĩ,cách làm chưa dễ thích ứng ngay trong thời kỳ đầu sau TĐC Thực tế chothấy, không phải có tiền, có vốn là ai cũng tự hạch toán kinh doanh có hiệuquả trong môi trường kinh tế đô thị Vì thế có hộ vay vốn để tạo việc làmsong một thời gian sau đồng vốn tiêu tan mà việc làm cũng không có
Trang 4Thứ ba, khả năng của thành phố để giải quyết việc làm, tạo thu nhập
nói riêng và nâng cao mức sống cho dân cư sau TĐC nói chung còn nhữnggiới hạn Trong khi đó, phạm vi giải toả đền bù và TĐC những năm qua,được triển khai đồng loạt trên nhiều địa bàn làm cho quy mô dân số phải didời, TĐC quá lớn Trong gần 8 năm vừa qua, ở Đà Nẵng đã có hơn 1/3 số hộdân thành phố với hơn 250.000 nhân khẩu phải di dời đến nơi ở mới, phảithay đổi môi trường sống và điều kiện làm việc
Như vậy hàng năm thành phố vừa phải giải quyết việc làm cho một bộphận rất lớn lao động bị mất việc làm khi phải di dời giải toả, vừa phải giảiquyết việc làm cho đội ngũ đông đảo thanh niên bước vào độ tuổi lao động.Điều này dẫn đến một sự quá tải về khả năng tạo việc làm mới, nhất là vớinhịp độ phát triển kinh tế như hiện nay Trong 3 năm từ 2001-2003, bìnhquân mỗi năm thành phố chỉ mới giải quyết được khoảng hơn 20.000 laođộng có việc làm [31, tr.232] Theo chúng tôi, chủ trương thúc đẩy quánhanh tiến trình đô thị hoá như lâu nay ở thành phố Đà Nẵng đang khôngđồng hành với tốc độ phát triển kinh tế của địa phương này Có thể ví, ĐàNẵng như một đại công trường xây dựng nên người lao động nhất là laođộng phổ thông cũng dễ tìm cho mình một nghề như làm thợ mộc, thợ hồ,bốc vác hay vận chuyển nguyên vật liệu một khi công việc xây dựng,chỉnh trang đô thị đi vào ổn định thì sức ép về việc làm sẽ càng lớn Đây làvấn đề mà chính quyền thành phố, cần sớm tìm chính sách giải quyết thíchhợp
- Tiếp theo là vấn đề nhà ở và điều kiện môi trường sống của ngườidân sau TĐC Chủ trương quy hoạch, chỉnh trang đô thị của thành phố ĐàNẵng là để sắp xếp, tạo lập lại không gian đô thị văn minh hiện đại Hiệuquả của chủ trương này là chỉ trong một thời gian ngắn bộ mặt thành phố
Trang 5được thay đổi căn bản theo hướng tích cực, cơ sở hạ tầng được xây dựng kháđồng bộ, người dân được sống trong các khu phố mới sạch đẹp với nhữngcăn nhà khang trang Hộ gia đình nào sau khi giải toả cũng được phân nhàhay đất trong các khu quy hoạch.
Nhân tố quan trọng nhất làm nên sự biến đổi tích cực đó phải kể đến
hệ thống chính sách về đền bù, TĐC mà thành phố Đà Nẵng đang vận dụng.Trên cơ sở những quy định chung của Chính phủ, UBND thành phố ĐàNẵng thường xuyên điều chỉnh, bổ sung nhằm hoàn thiện hơn hệ thốngchính sách đền bù, TĐC thông qua các quyết định: 4503/1999/QĐ-UB;170/1999/QĐ-UB; 141/2002/QĐ-UB, 122/2003/QĐ-UB và 209/2004/QĐ-
UB Các Quyết định nói trên đã xây dựng được các điều khoản quy định mộtcách rõ ràng quyền lợi và trách nhiệm của các tổ chức nhà nước và nhândân Có thể khái quát một số nội dung chính tác động đến vấn đề nhà ở vàđiều kiện môi trường sống sau đây:
Thứ nhất, chính sách đền bù thoả đáng những thiệt hại do giải toả gây
ra Đất đai và toàn bộ tài sản gắn liền với đất khi giải toả đều được bồithường theo bảng giá của thành phố quy định
Thứ hai, các hộ gia đình sau khi bị giải toả đều được bố trí mua đất
làm nhà tại các khu TĐC với giá cả hợp lý Mặc dù giá đất người dân phảimua lại cao hơn giá họ được đền bù nhưng bao giờ cũng thấp hơn rất nhiều
so với giá thị trường Tính hợp lý được thể hiện ở chỗ giá trị của đất tăng lênkhi được thành phố đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng giá bán lại cho hộdân trong diện giải toả đã có sự phân chia hợp lý, hài hoà lợi ích giữa nhànước và nhân dân Điều này phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng:
“Trong bồi thường, giải phóng mặt bằng, phải chú ý phân chia hợp lý phần
Trang 6giá trị đất tăng thêm do việc quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng mang lại”[9, tr.78].
Thứ ba, hộ gia đình đông nhân khẩu được giải quyết mua thêm lô đất
phụ Ngoài ra thành phố có kế hoạch tiếp tục xây thêm các khu chung cư đểgiải quyết chỗ ở cho các cặp vợ chồng có nhu cầu tách hộ
Thứ tư, “Các hộ có giá trị bồi thường thiệt hại dưới 50 triệu đồng
được nợ 100% tiền sử dụng đất Các hộ có giá trị bồi thường thiệt hại từ 50triệu đồng trở lên được giữ lại toàn bộ tiền bồi thường nhà cửa, vật kiến trúc,cây cối và các khoản hỗ trợ chính sách để xây dựng nhà ở mới [36, tr.35].Ngoài ra, UBND thành phố còn xem xét giải quyết việc giảm và cho nợ tiền
sử dụng đất đối với những hộ có hoàn cảnh đặc biệt
Thứ năm, “khu tái định cư phải được xây dựng tối thiểu đầy đủ các cơ
sở hạ tầng như: hệ thống điện, hệ thống cung cấp nước, thoát nước, nơi sinhhoạt cộng đồng, đường nội bộ, đường ra vào khu tái định cư ” [36, tr.35]
Những chính sách kể trên là cơ sở pháp lý tạo niềm tin cho người dânhưởng ứng hoặc thực hiện chủ trương di dời một cách nhanh chóng Mặt
khác, thành phố Đà Nẵng đang tiếp tục triển khai chủ trương “ba có” (người dân có nhà ở, có việc làm và có nếp sống văn hoá, văn minh đô thị) Các
chính sách đúng đắn của thành phố về nhà ở và môi trường cũng như điềukiện cơ sở hạ tầng xã hội thực sự trở thành “lực hút” của các khu TĐC
Tóm lại, nhân tố tạo nên sự thay đổi có tính cách mạng cho người dânsau TĐC về nhà ở, cơ sở hạ tầng xã hội chính là hệ thống chính sách giàutính khoa học và nhân văn của chính quyền thành phố Đà Nẵng Tất nhiênchính sách xây dựng phát triển đô thị của Đà Nẵng không phải đã hoàn toànhoàn hảo Đà Nẵng vần còn nhiều việc phải làm Song từ thực tế nghiên cứu,
có thể khẳng định rằng, xét về tổng thể, hệ thống chính sách mới là nhân tốquan trọng, có ý nghĩa quyết định nhất
Trang 73.1.2 Các yếu tố gia đình và biến đổi mức sống
Trong hiện thực, gia đình tồn tại dưới nhiều hình thức: gia đình đầy
đủ, gia đình khiếm khuyết; gia đình nhiều thế hệ, gia đình hạt nhân Song
dù có tồn tại dưới hình thức nào thì gia đình cũng luôn được coi là nhóm xãhội mà các thành viên gắn bó mật thiết với nhau bởi quan hệ huyết thống vàtình cảm
Sự biến đổi mức sống của nhóm dân cư sau TĐC phần nào cũng chịu sựtác động bởi thành phần và số lượng các thành viên trong gia đình Số thành viêntrong mỗi gia đình tăng hay giảm, có quy mô lớn hay nhỏ phụ thuộc một phầnvào mức sinh tự nhiên, mặt khác phụ thuộc vào sự sát nhập hay tách ra của mỗi
hộ xuất phát từ nhiều lý do khác nhau của đời sống Trong mẫu khảo sát mỗi đềtài đã thực hiện, về mặt quy mô, số thành viên của các hộ gia đình có tỷ lệ nhưsau:
Bảng 3.1: Bảng tỷ lệ hộ gia đình chia theo số lượng thành viên
hộ gia đình có từ 6 đến 8 thành viên giảm rõ rệt Nhóm hộ 7 thành viên giảmmạnh từ 7,28% xuống còn 4,3%, đặc biệt loại nhóm hộ có 8 thành viênkhông còn được duy trì sau TĐC Duy có nhóm hộ gia đình có 5 thành viêntăng từ 19,3% lên 27,5% (tăng 8,2%) Đây là con số tăng đáng phải chú ý
Sự tăng này do hai nguyên nhân, thứ nhất, thành phố có chính sách ưu tiênphân thêm phần đất phụ cho những gia đình đông người chưa có điều kiệntách hộ Khi có thêm phần đất ở trong khu TĐC, các hộ đông người (có từ 7
Trang 8đến 8 thành viên) tách hộ cho con cái đã có gia đình ra ở riêng Chính điềunày đã làm cho tỷ lệ số hộ có từ 7 đến 8 thành viên giảm xuống và nhóm hộ
có 5 thành viên tăng lên Thứ hai, một số gia đình (5 người) muốn tách hộ và
đã được phân thêm phần đất phụ nhưng chưa có điều kiện làm nhà mới nêncũng chưa tách Một số người lại nghĩ, gia đình 5 người vẫn chưa phải làđông Do vậy, số hộ gia đình có 5 thành viên tăng sau TĐC cũng là điều cóthể giải thích được
Nhìn chung, sau TĐC, ở Đà Nẵng đang có xu hướng giảm thiểu quy
mô gia đình lớn, trong khi đó kiểu gia đình có quy mô nhỏ (từ 3-5 người)vẫn được duy trì phổ biến Nghiên cứu cũng đã xem xét ảnh hưởng củanhững thay đổi trong quy mô gia đình với thu nhập và mức sống của ngườidân sau TĐC Và sau đây là những thay đổi ghi nhận được:
Bảng 3.2: Thu nhập bình quân đầu người chia theo quy mô hộ
Trang 9hai còn vì số người phải nuôi dưỡng ở các hộ đông người chiếm tỷ lệ khálớn Kết quả điều tra thực tế, cho thấy các hộ gia đình thuộc nhóm 2 có tỷ lệngười già cao hơn nhóm một, tức là nhiều gia đình có 3 thế hệ Tương tựnhư thu nhập, vấn đề chi tiêu cho đời sống cũng chịu sự chi phối của quy mô
hộ gia đình
Bảng 3.3: Mức chi tiêu bình quân đầu người và bình quân hộ/tháng chia
theo quy mô số lượng thành viên trong hộ gia đình
Như vậy, dù mức chi tiêu chung của người dân sau TĐC có tăng lên(28,8%/ nhóm 1; 27,5%/ nhóm 2) Đây là con số không nhỏ với những hộtrung bình và nghèo, song tỷ lệ mức chênh lệch tăng chi tiêu bình quân của
hộ và theo đầu người giữa hai loại hộ lại không thay đổi nhiều (81,2% và81,36%; 120% và 121,4%) Điều này cho thấy, ngoài những yếu tố làm tăng
Trang 10chi tiêu đã được phân tích, quy mô gia đình tác động không đáng kể đếnmức chi bình quân đầu người của các hộ dân sau TĐC.
Mặt khác, cũng phải thấy rằng, mức sống được đánh giá dựa trên mứcbình quân thu nhập và chi tiêu đầu người của hộ, song trong những hộ cóquy mô lớn, đông người, thường rất đông người ăn theo do vậy, dù thu nhậpcủa người lao động chính là cao nhưng phải chia sẽ với nhiều thành viênkhông có thu nhập trong gia đình nên mức sống sẽ bị kéo thấp xuống
Như vậy, một nguyên nhân dẫn đến thu nhập và chi tiêu thấp là doquy mô hộ quá đông người chi phối Một số hộ, trong tổng số chi vẫn lớnsong do đông thành viên nên bình quân chi lại thấp Vì vậy, việc nâng caomức sống cho mỗi thành viên trong gia đình phần nào đó cần gắn với việc kếhoạch hoá gia đình và thực hiện gia đình quy mô nhỏ có từ một hoặc haicon
từ đó mà tác động đến mức sống gia đình Nghiên cứu sự thay đổi mức sốngnhóm dân cư sau TĐC, luận văn cũng chú ý xem xét tác động của những yếu
tố này đến thu nhập và chi tiêu
3.1.3.1 Giới tính của chủ hộ và mức sống
Kết quả khảo sát cho thấy: tỷ lệ chủ hộ là nam giới chiếm 69,56%; sốphần trăm còn lại do nữ giới làm chủ hộ, trong đó có 15,9% nữ chủ hộ đangsống với chồng con và 14,5% là chủ hộ ở gia đình khuyết thiếu Như vậytrong tập hợp hộ gia đình thuộc diện TĐC thì nữ giới làm chủ hộ chiếm gần
Trang 111/3 trên tổng số chủ hộ Cũng cần nói thêm rằng, những nghiên cứu về giớigần đây cho thấy, ở khu vực đô thị, nam hay nữ làm chủ hộ thì sự khác biệtkhông nhiều, phần lớn các công việc của gia đình đều có sự bàn bạc nhất trígiữa vợ và chồng thậm chí cả với con cái Tuy nhiên ở nhóm đối tượng màchúng tôi chọn nghiên cứu lại đang có sự khác biệt tương đối, mà căn nguyêncủa sự khác biệt này lại do trình độ học vấn, hay nghề nghiệp chi phối Kết quảthống kê cho thấy các chủ hộ là nữ có trình độ học vấn thấp: 67% có trình độtiểu học, 16,2% THCS, chỉ có 11,1% có trình độ PTTH và 5,5% có trình độCNKT Do đó, mặc dù 88,9% nữ chủ hộ trong độ tuổi lao động, nhưng chỉ có5,5% chủ hộ làm công chức nhà nước, còn lại 94,5% làm trong các ngành nghềthu nhập thấp, kém ổn định như: làm thuê, phụ hồ, bán rau, bán cá, chăn nuôi
Vì hoàn cảnh gia đình, trình độ học vấn thấp và cơ cấu nghề nghiệp như vậynên trước TĐC, thu nhập bình quân đầu người của các hộ có nữ làm chủ hộthấp hơn so với thu nhập bình quân đầu người có nam giới làm chủ hộ (chỉbằng 88,3%)
Sau TĐC, do có những xáo trộn trong đời sống nên nhìn chung thunhập của dân cư có sự giảm sút, trong đó ở các hộ có nam giới làm chủ hộlại bị giảm sút mạnh hơn, thu nhập bình quân đầu người chỉ bằng 93,9% sovới thu nhập bình quân đầu người của các hộ có nữ làm chủ hộ Trong khi
đó, nhiều nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng có một sự chênh lệch đáng kể trongkhả năng tạo ra thu nhập cho hộ gia đình với ưu thế nghiêng về nam giới do
họ có sức khoẻ tốt, tay nghề cao và quyết đoán hơn Nhưng ở đây, tại saosau TĐC, khả năng tạo ra thu nhập của nam chủ hộ lại sút kém so với các nữchủ hộ? Đi sâu tìm hiểu chúng tôi thấy, trong 144 nam chủ hộ trong mẫukhảo sát, có 12 chủ hộ nghỉ hưu nên thu nhập và mức chi tiêu của họ khôngthay đổi, 15 trường hợp (chiếm 9,6%) do thay đổi chỗ ở nên lâm vào thấtnghiệp; 36 chủ hộ (23,1%) phải chuyển đổi nghề nên thu nhập bị giảm sút
Trang 12Thông thường sự chuyển đổi nghề nghiệp là để có thu nhập cao hơn nhưng ởđây phần lớn là do tình thế bắt buộc Nhiều người sau TĐC không còn điềukiện để làm lại các nghề cũ trước đây Với nghề nghiệp mới do bước đầuchưa thành thạo, do trình độ học vấn thấp, lao động có tính chất đơn giảnnên thu nhập thấp Trong số 36 nam chủ hộ của mẫu điều tra phải chuyểnđổi nghề nghiệp thì có 18 nam chủ hộ đã phải chuyển từ nghề chuyên môn,
ổn định, thu nhập cao như: ngư nghiệp, thủ công sang các nghề như: phụ
hồ, buôn bán tạp hoá, xe thồ, mở quán bida Cũng cần phải lưu ý rằng, vớicác hộ ngư nghiệp khi chuyển đổi nghề, thu nhập của họ trong thời gian đầuthường giảm sút mạnh vì vợ con của họ mất lợi thế trong việc buôn bán cá.Hơn nữa còn có 18 nam chủ hộ là công nhân nhưng sau TĐC chuyển sangnghề xe thồ, xe kéo
Còn đối với nữ chủ hộ, sau TĐC họ nhanh chóng chuyển sang buônbán, dịch vụ quy mô nhỏ ngay tại nhà hoặc bất cứ ở đâu có thể để duy trì thunhập cho gia đình mình Tình trạng buôn bán, dịch vụ tràn ngập vỉa hè, lềđường trong những năm qua tại Đà Nẵng ở một chiều cạnh nào đó thể hiện
sự thích ứng của lực lượng lao động nữ trong điều kiện không kiếm đượcviệc làm ổn định, chính thức khác
Như vậy, sau TĐC, các hộ có nam là chủ hộ lại gặp khó khăn nhiềuhơn các chủ hộ là nữ giới trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việclàm Đây là điêù đã tác động không nhỏ đến thu nhập, chi tiêu và tạo nên sựkhác biệt giữa các nhóm có nam hay nữ làm chủ hộ
3.1.3.2 Tuổi của chủ hộ và mức sống
Trong tất cả các đặc điểm tạo nên sự nhạy bén, quyết đoán của chủ hộtrong việc tổ chức sản xuất - kinh doanh nhằm nâng cao mức sống cho giađình thì độ tuổi của họ cũng được coi là nhân tố khá quan trọng Mỗi nhómtuổi có những đặc điểm riêng và tác động trực tiếp tới thu nhập, chi tiêu vàmức sống của hộ gia đình
Trang 13Kết quả khảo sát cho thấy: nhóm chủ hộ ở độ tuổi từ 30-45 chiếm55,7%; tuổi từ 46-55 chiếm 30% và nhóm chủ hộ trên 55 tuổi chiếm 14,3%.
Ở các nhóm tuổi khác nhau, mức sống của hộ gia đình cũng rất khác nhauxét về cả thu nhập và chi tiêu
Bảng 3.4: Bảng tương quan giữa nhóm tuổi chủ hộ với thu nhập và chi
tiêu bình quân đầu người/tháng của hộ gia đình
Bảng 3.5: Bảng tương quan giữa nhóm tuổi chủ hộ với các nhóm mức
sống theo thu nhập sau TĐC
Đơn vị tính: %Nhóm tuổi Nghèo Tạm đủ T bình khá Giàu
Trang 14Như vậy là, nhóm hộ gia đình có chủ hộ trong độ tuổi từ 30-45 đều cómặt trong cả 5 nhóm của tháp phân tầng, tuy nhiên đa phần các hộ đều cómức sống từ trung bình trở lên (66,8).
Trong khi đó nhóm chủ hộ ở độ tuổi: 46-55 lại không có hộ nào thuộcnhóm giàu và đa phần hộ gia đình thuộc nhóm mức sống tạm đủ và trungbình Tỷ lệ hộ gia đình có mức sống từ trung bình trở lên chỉ ở mức 50,7%
Còn nhóm chủ hộ trên 55 tuổi thì có tỷ lệ hộ ở nhóm giàu cao nhất(10%) nhưng đa phần số hộ của nhóm này lại nằm ở mức sống tạm đủ vàtrung bình, mức sống từ trung bình trở lên chỉ chiếm tỷ lệ 53,3%
Có thể lý giải sự khác nhau về khả năng tạo thu nhập giữa các nhómtuổi của chủ hộ bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau song căn cứ vào kết quảkhảo sát thực tế nhóm dân cư sau TĐC ở Đà Nẵng, chúng tôi bước đầu nhậnthấy một số nhân tố đáng lưu ý như sau:
Đối với nhóm chủ hộ trong độ tuổi từ 30-45 thì có ưu thế về sức khoẻ,năng động, táo bạo và nhạy bén trong việc nắm bắt cơ hội tìm kiếm việc làmhay tự tạo lập nghề nghiệp để ổn định và cải thiện mức sống cho gia đìnhsau TĐC Tuy nhiên ở độ tuổi này đa phần con cái của họ còn nhỏ và phảisống phụ thuộc vào cha mẹ Ngoài ra còn có 8,8% số hộ nuôi dưỡng thêmcha mẹ không còn khả năng lao động Vì thế, mặc dù thu nhập hàng thángcủa bản thân chủ hộ khá cao song mức thu nhập bình quân đầu người/thángcủa hộ lại ở mức trung bình
Đối với nhóm chủ hộ từ 46-55 tuổi, không còn ưu thế của tuổi trẻ nhưnhóm 30-45 tuổi Họ lại có ít cơ hội và điều kiện để tham gia các chươngtrình đào tạo nghề mới Ở nhóm tuổi này, với đặc điểm tâm lý bảo thủ, engại nên gặp nhiều trắc trở trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, nhất là nhữngngười trước đây vốn làm nghề nông hoặc ngư nghiệp Ngoài ra còn có một
Trang 15vấn đề cần được lưu ý: đó là ở nhóm xã hội này, tỷ lệ con cái trong tuổi laođộng mà chưa tìm kiếm được việc làm, thất nghiệp, sống phụ thuộc vào cha
mẹ còn lớn (39/63 gia đình, chiếm 61,9%) Như vậy, sự khó khăn trongchuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp của chủ hộ cùng với tình trạng thiếu việclàm, thất nghiệp của con cái họ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mức thunhập, chi tiêu của nhóm hộ này thấp nhất trong 3 nhóm hộ đã phân tích ởtrên
Nhóm chủ hộ trên 55 tuổi có mức thu nhập và chi tiêu bình quân đầungười khá cao nhưng vai trò của chủ hộ trong việc tạo thu nhập cho gia đìnhlại không đáng kể vì đa phần đã ngoài tuổi lao động Ưu thế của các gia đìnhthuộc nhóm chủ hộ ở tuổi này là con cái đã trưởng thành, tỷ lệ nhân khẩusống phụ thuộc thấp, tỷ lệ lao động tạo thu nhập cho gia đình cao Đây là lý
do khiến nhóm này có mức sống cao hơn so với hai nhóm chủ hộ nói trên
3.1.3.3 Trình độ học vấn của chủ hộ và mức sống
Học vấn là vấn đề mấu chốt của sự phát triển, là một trong những yếu
tố quan trọng quy định vị thế của mỗi người trong xã hội Học vấn tạo ra cơhội về việc làm, tác động đến sự lựa chọn nghề nghiệp Học vấn không chỉtác động trực tiếp đến khả năng tạo thu nhập, chi tiêu của chủ hộ mà còn ảnhhưởng rất lớn đến trình độ học vấn, nghề nghiệp và cơ hội tìm kiếm việc làmcủa con cái và thành viên của gia đình trong tương lai
Thống kê trình độ học vấn của số đối tượng đã khảo sát cho thấy sốchủ hộ có trình độ tốt nghiệp tiểu học trở xuống chiếm tỷ lệ 28,3%; tươngứng ở THCS là 42,8%; THPT có 15,7%; công nhân kỹ thuật là 1,4%; trungcấp là 1,4% và trình độ CĐ-ĐH trở lên có 10,4% Như vậy, trình độ học vấncủa các chủ hộ trong diện di dời TĐC trong những năm qua ở Đà Nẵng rấtthấp, có đến 71,1% từ THCS trở xuống; số chủ hộ có trình độ CNKT trở lên
Trang 16chỉ có tỷ lệ 13,2% (chưa bằng 1/2 tỷ lệ chung của thành phố Đà Nẵng là35%)
Các nghiên cứu thực tế đã chỉ ra rằng, người có trình độ học vấn caothường có nhiều cơ hội trong tìm kiếm việc làm, lựa chọn ngành nghề có ưuthế hơn so với những người có trình độ học vấn thấp và những lao độngchưa qua đào tạo thường gắn với những công việc có thu nhập thấp, không
ổn định Mối quan hệ giữa trình độ học vấn với nghề nghiệp, việc làm, thunhập của nhóm chủ hộ sau tái định cư cũng không nằm ngoài xu hướng
đó Hầu hết các chủ hộ có trình độ tiểu học, THCS đều làm nông - ngưnghiệp hoặc lao động phổ thông Đây là những ngành nghề thường có thunhập thấp, không ổn định Điều tra cho thấy, trong 149 chủ hộ có trình độtiểu học, THCS có 64,8% hoạt động nông - ngư nghiệp hoặc lao động phổthông; chỉ có 15,7% là lao động trong lĩnh vực CN-TTCN nhưng cũng chỉđảm đương các việc đơn giản như khâu giày dép, chế biến cá với thu nhậpthấp và rất không ổn định Trong khi đó, các chủ hộ có trình độ cao đẳng - đạihọc trở lên, 100% đều là cán bộ công chức có thu nhập cao và ổn định Nhưvậy, qua nghề nghiệp, trình độ học vấn đã tạo nên sự khác biệt khá rõ về thunhập giữa các nhóm chủ hộ khác nhau
Phân tích, các số liệu điều tra có thể thấy, thu nhập bình quân đầungười của các chủ hộ có trình độ cao đẳng - đại học trở lên cao gấp 2,19 lần
so với nhóm chủ hộ có trình độ tiểu học và gấp 1,8 lần nhóm có trình độTHPT Rõ ràng với trình độ học vấn càng cao thì khả năng tạo ra thu nhậpcho bản thân và đóng góp vào thu nhập của gia đình càng lớn Đặc biệt trongquá trình di dời TĐC, khi phải thay đổi nơi ở, điều kiện làm việc, môi trườngsống thì riêng nhóm chủ hộ có trình độ cao đẳng - đại học trở lên là có khảnăng thích ứng nhanh, họ sớm ổn định việc làm và thu nhập, còn nhữngnhóm gia đình mà chủ hộ có trình độ học vấn thấp gặp khá nhiều khó khăn
Trang 17sau TĐC Trong tổng số các trường hợp rơi vào thất nghiệp có 85,7% là cácchủ hộ có trình độ THCS trở xuống Như vậy trình độ học vấn của chủ hộkhông những có ý nghĩa lớn trong việc tạo nên sự năng động và khả năngthích ứng trước những biến đổi của cuộc sống mà còn tác động đến cơ cấunghề nghiệp của các nhóm chủ hộ, điều này dẫn đến sự không giống nhautrong biến đổi về thu nhập của các nhóm hộ sau TĐC Hơn thế nữa, sauTĐC, thu nhập bình quân đầu người ở nhóm hộ gia đình mà chủ hộ có trình
độ THCS trở xuống giảm sút còn 73,28% so với trước TĐC Trong khi đó,thu nhập bình quân đầu người của nhóm hộ có trình độ cao đẳng - đại họctrở lên đã tăng 7,4% so với trước TĐC Kết quả thống kê cũng đã cho thấytrong cơ cấu tháp phân tầng thì ở nhóm giàu 100% thuộc về các chủ hộ cótrình độ từ THPT trở lên; trong khi đó ở nhóm nghèo có đến 55% chủ hộ ởtrình độ tiểu học và 45% chủ hộ có trình độ THCS Như vậy, rõ ràng sự giàu-nghèo là hệ quả từ nhiều nguyên nhân nhưng trong đó trình độ học vấnđược coi là nhân tố có ảnh hưởng vừa trực tiếp vừa quan trọng
Bên cạnh đó, kết quả khảo sát còn cho thấy trình độ học vấn của chủ
hộ còn tác động rất lớn đến trình độ học vấn cũng như cơ hội tìm kiếm việclàm của con cái họ Đây chính là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mứcsống của hộ gia đình trong hiện tại và tương lai lâu dài
Trong tổng số 447 con cái của 210 hộ gia đình trong diện khảo sát, có
261 người con đang được học bình thường ở các cấp học, nhưng cũng cóđến 186 người con đã bỏ học giữa chừng (chiếm 41,6%) mà phần lớn lại bỏhọc ở chương trình tiểu học hay THCS Điều đáng lưu ý ở đây là tất cả cáctrường hợp có con bỏ học giữa chừng đều thuộc các gia đình của nhóm chủ
hộ có trình độ từ THCS trở xuống Nhóm này chiếm 71,1% trong tổng sốmẫu khảo sát song chỉ có 31% con cái đang theo học các chương trình trungcấp, cao đẳng - đại học Còn nhóm chủ hộ có trình độ từ THPT trở lên tuy
Trang 18chiếm chưa đầy 30% trong tổng số hộ nhưng lại có 69% con cái đang họccác chương trình từ trung cấp, CĐ-ĐH Chính điều này đã và đang tác độngtrực tiếp đến việc lựa chọn nghề nghiệp và cơ hội tìm kiếm việc làm sauTĐC Khảo sát 114 hộ có con trong độ tuổi lao động cho thấy trong 210người con thì chỉ có 117 người hiện đang có việc làm đem lại thu nhập chogia đình, còn 93 người đang trong tình trạng thất nghiệp.
Trong tổng số người con hiện đang thất nghiệp có 9 trường hợp(chiếm 9,7%) là con cái thuộc nhóm chủ hộ có trình độ từ THPT trở lên vàbản thân những người con này đã tốt nghiệp CĐ - ĐH, đang giai đoạn chờviệc, cơ hội tìm kiếm việc làm của họ khá lớn 90,3% trường hợp thất nghiệpcòn lại đều là con cái thuộc nhóm chủ hộ học vấn THCS trở xuống Nhữngngười con này do bỏ học quá sớm (chỉ dừng ở trình độ học vấn THCS trởxuống) nên hiện nay không đủ điều kiện tham gia các chương trình đào tạonghề để chuyển đổi nghề nghiệp; vì vậy cơ hội tìm việc làm mới càng trởnên khó khăn hơn Đây chính là nhóm xã hội cần đặc biệt chú ý trong các trợgiúp xã hội để tìm việc làm, phát triển sản xuất, ổn định cho cả gia đình và
xã hội
3.1.3.4 Ngành nghề, việc làm của chủ hộ và mức sống
Các đặc điểm nhân khẩu của chủ hộ như tuổi tác, giới tính, trình độhọc vấn đều là những nhân tố quan trọng tác động đến các mặt thu nhập, chitiêu của bản thân chủ hộ cũng như gia đình nhưng sự tác động này lạithường thông qua nghề nghiệp Vì vậy, việc nghiên cứu biến đổi mức sốngcủa nhóm dân cư sau TĐC không thể không xem xét yếu tố nghề nghiệp
Số liệu thống kê từ cuộc khảo sát ngành nghề của chủ hộ thuộc nhómdân cư sau TĐC ở Đà Nẵng cho thấy:
Bảng 3.6: Cơ cấu ngành nghề của chủ hộ