1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ yếu NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC làm ở TỈNH bắc NINH

24 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 33,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giải quyết việc làm cho người lao động của tỉnh trong quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH ngành nông nghiệp phải chuyển đổi một cách cơ bản, đa dạng hóa sản xuất,

Trang 1

NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở TỈNH BẮC NINH

1 Giải quyết việc làm gắn với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH phải là sự chuyển dịchđồng bộ trên các mặt, cả về cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, trình độ kỹ thuậtcác vùng, các thành phần kinh tế… theo hướng vừa đảm bảo sự phát triển hiện đại,tiên tiến, vừa khai thác triệt để thế mạnh sẵn có của địa phương Từng bước điềuchỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng ưu tiên đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực cần ítvốn nhưng lại có khả năng thu hút nhiều lao động

Chuyển đổi cơ cấu kinh tế phải phù hợp với cơ cấu lao động, tổ chức lại laođộng xã hội để khai thác và phát huy tiềm năng các thành phần kinh tế Giải quyếttốt mối quan hệ biện chứng giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động sẽ tạo ra cơ cấulao động ngày càng phù hợp với cơ cấu kinh tế Do đó, sẽ tạo ra được nhiều việclàm mới để thu hút lao động, hạn chế thất nghiệp

Phát triển mạnh, tăng nhanh giá trị sản xuất của tất cả các ngành, nhưng đảmbảo cơ cấu hợp lý là tăng nhanh tỷ trọng hai ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷtrọng nông nghiệp trong GDP

Đối với ngành nông nghiệp

Nông nghiệp Bắc Ninh hiện nay vẫn là một ngành sản xuất chính của tỉnh,mặc dù chưa phát triển hết tiềm năng hiện có về năng suất cây trồng, vật nuôi,nhưng cũng đã góp phần giải quyết một cách cơ bản vấn đề lương thực cho tỉnh

Để giải quyết việc làm cho người lao động của tỉnh trong quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH ngành nông nghiệp phải chuyển đổi một cách

cơ bản, đa dạng hóa sản xuất, đa dạng hóa cây trồng, phá vỡ độc canh cây lúa, hìnhthành các vùng chuyên canh, phát triển cây công nghiệp Mở mang ngành nghề thu

Trang 2

hút lao động, sử dụng lao động dư thừa trong nông nghiệp Phấn đấu đến năm 2010

tỷ trọng nông nghiệp trong GDP đạt 17,5%, nhịp độ phát triển nông nghiệp thời kỳ

2001 - 2010 là 4,5% Muốn vậy, phải đẩy mạnh chăn nuôi, đưa chăn nuôi lên thànhngành sản xuất chính; đưa các loại giống có năng suất cao, chất lượng tốt vào trồngtrọt và chăn nuôi; chuyển một số diện tích đất ở những nơi có điều kiện, gần thịtrường sang trồng rau, cây trái và trồng hoa

Một số biện pháp phát triển chủ yếu sau:

- Giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, thực phẩm, đi sâu thâm canh tăngnăng suất cây trồng vật nuôi

Phát triển các loại cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao để tăngthêm thu nhập cho người lao động

Phát huy hết tiềm năng sẵn có về diện tích đất mặt nước chưa sử dụng,những vùng đất trũng úng ngập thường xuyên của các huyện Gia Bình, Lương Tài,Quế Võ để phát triển chăn nuôi thủy sản Mạnh dạn hình thành các vùng chuyênnuôi gia súc, gia cầm và hải sản ở những huyện có tiềm năng và lợi thế để phục vụcho nhu cầu của tỉnh và xuất khẩu

Ứng dụng các tiến bộ về giống để tăng năng suất cây trồng vật nuôi, đồngthời sử dụng phân bón một cách hợp lý, tránh gây ô nhiễm và hủy hoại môi trường

- Phát triển nông nghiệp phải gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu nôngthôn Phát triển công nghiệp nhỏ, công nghiệp chế biến với xây dựng và phát triểnnông thôn Trong quá trình đó, ngay từ đầu phải chú ý đến vấn đề bảo vệ môitrường Đẩy mạnh các ngành nghề sản xuất phi nông nghiệp, khôi phục và pháttriển làng nghề truyền thống thu hút thêm việc làm

- Khuyến khích cư dân nông thôn tự tạo việc làm ngay trên quê hương mìnhtheo phương châm: "ly nông bất ly hương" Chuyển một phần lớn con em nông dânsang làm việc ở các ngành nghề khác tại vùng quê mình

Trang 3

- Phát triển các hoạt động dịch vụ với quy mô vừa hoặc nhỏ để hỗ trợ phục

vụ sản xuất: cung ứng vật tư kỹ thuật, vận tải, sơ chế nông hải sản…

Đối với ngành công nghiệp

Mục tiêu phát triển công nghiệp trong giai đoạn 2001 - 2010 là tạo ra được

sự chuyển dịch mạnh về cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, có khả năng thuhút lao động ở nông thôn, từ đó tạo tiền đề để nông nghiệp phát triển có hiệu quảhơn, đi vào thâm canh và sản xuất phát triển Phát triển công nghiệp tạo cơ sở thúcđẩy quá trình đô thị hóa và cấu trúc lại sự phân bố dân cư trên địa bàn tỉnh Phấnđấu đến năm 2010 nhịp độ tăng trưởng GDP ngành công nghiệp tăng bình quânhàng năm là 18,9%; tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm 50,5%, trong đó côngnghiệp đóng góp 43% (theo giá năm 1994) Dự kiến đến năm 2010 lao động côngnghiệp và xây dựng chiếm khoảng 21,5% trong tổng số lao động xã hội của tỉnh

Để đạt được mục tiêu trên cần:

- Phát triển công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm trên cơ sở phát huy cơchế thị trường, đảm bảo tăng nhanh giá trị gia tăng của hàng hóa nông sản thựcphẩm, giảm tới mức thấp nhất hư hao sau thu hoạch

- Nâng dần tỷ trọng công nghiệp chế nông sản thực phẩm góp phần thay đổi

cơ cấu kinh tế nông thôn, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp nông thôn, chuyểndịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Đưa mức tăng trưởng của ngành côngnghiệp chế biến lên 25,1% trong giai đoạn 2001 - 2010

- Đối với ngành công nghiệp chế biến gỗ mỹ nghệ: khôi phục và phát triển,tăng cường đầu tư nhằm hiện đại hóa công nghệ sản xuất, khuyến khích các mặthàng gia dụng cho tiêu dùng và trao đổi Trong giai đoạn từ nay đến năm 2010phấn đấu vừa đẩy mạnh sản xuất, vừa đầu tư trang thiết bị công nghệ tiên tiến vào cáckhâu như xử lý gỗ sấy, luyện tẩm đảm bảo chất lượng sản phẩm cho nhu cầu xuấtkhẩu cũng như nhu cầu hàng cao cấp cho nhân dân

Trang 4

- Khôi phục và phát triển các làng nghề theo hướng đầu tư thiết bị công nghệtiên tiến kết hợp với công nghệ cổ truyền, nhằm nâng cao chất lượng và khả năngcạnh tranh, đáp ứng được nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu Phát triển làngnghề truyền thống, thu hút một lực lượng lao động tại chỗ khá lớn; mặt khác, nólàm thay đổi diện mạo nông thôn theo hướng hiện đại hóa Nó không chỉ làm thayđổi cơ cấu lao động về mặt số lượng, chuyển đáng kể lực lượng lao động nôngnghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, mà còn thay đổi cơ cấu lao động về mặt chấtlượng, nó sẽ đào tạo một lực lượng lao động nông thôn từ lao động phổ thôngthành lao động có nghề, lao động có kỹ thuật.

Đối với ngành dịch vụ

Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ, mở thêm các loại hình mới cả dịch vụcho sản xuất và tiêu dùng, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, đáp ứng nhu cầu

đa dạng của sản xuất và kinh doanh cũng như đời sống của nhân dân trong tỉnh

Mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động thương mại dịch vụ như thông tin, tư vấn

kỹ thuật công nghệ, tài chính, ngân hàng, pháp luật, đầu tư phát triển sản xuất kinhdoanh… Tổ chức hình thành các chợ ở khu vực nông thôn, tạo điều kiện cho nôngdân có môi trường thuận lợi để giao lưu hàng hóa dịch vụ

Phát triển mạng kết cấu hạ tầng đi trước một cách hợp lý, tương xứng vớivai trò vừa là động lực vừa là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội Ưu tiên đầu tư pháttriển du lịch, vận tải, bưu điện, tài chính, ngân hàng là ngành chiếm tỷ trọng lớn vàthen chốt Đây là hướng cơ bản để tăng cầu lao động, tạo việc làm ở cả thành thị vànông thôn Liên quan đến vấn đề này là hàng loạt các biện pháp đồng bộ từ Luậtdoanh nghiệp, khuyến khích đầu tư, chính sách hộ khẩu, chính sách thuế, vốn…đến quy hoạch tổ chức lại các vỉa hè, chợ, quản lý đô thị… đặc biệt là đào tạo cácchủ doanh nghiệp trẻ, các hộ sản xuất kinh doanh, trạng bị cho họ những kiến thức

cơ bản về thị trường và quản trị doanh nghiệp

Trang 5

3.2.2 Phát triển và đa dạng hóa các hình thức kinh doanh tạo nhiều việc làm mới cho lao động của tỉnh

Phát triển và đa dạng hóa các hình thức kinh doanh đa thành phần với nhiềutrình độ kỹ thuật và quy mô tổ chức khác nhau ở cả thành thị và nông thôn, để tạonhiều việc làm, thu hút được nhiều lao động là hướng đi quan trọng để tăng cầu vềlao động, phát triển thị trường lao động, giải quyết việc làm

3.2.2.1 Phát triển kinh tế hộ gia đình

Kinh tế hộ gia đình có vị trí hết sức quan trọng, tuy nó không phải là mộtthành phần kinh tế nhưng nó là một loại hình để phân biệt với các hình thức tổchức kinh tế khác Các thành viên của kinh tế hộ gia đình là những người có quan

hệ hôn nhân hoặc huyết thống, người chủ quản lý của kinh tế hộ gia đình đồng thời

là chủ hộ Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịutrách nhiệm vô hạn về hoạt động của mình Ở nước ta kinh tế hộ gia đình phát triểnchủ yếu ở nông thôn

Phát triển kinh tế hộ gia đình là giải pháp tạo ra nhiều việc làm tại chỗ phùhợp với mọi lứa tuổi, mọi trình độ và tận dụng được các nguồn lực tại chỗ như đấtđai, tài nguyên thiên nhiên, huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, laođộng dư thừa, kinh nghiệm quản lý dân gian… Với mô hình này, sự hợp tác vàphân công lao động trong gia đình rất linh hoạt và có hiệu quả Ở Việt Nam hiệnnay và cả những năm tiếp theo, hộ gia đình vẫn là đơn vị quản lý kinh tế cơ bản tổchức sản xuất - kinh doanh

Chỉ có phát triển kinh tế hộ gia đình mới thu hút được các loại đối tượng laođộng trong gia đình như: phụ nữ, trẻ em, nhất là lao động đã lớn tuổi, trình độ vănhóa thấp, không có chuyên môn kỹ thuật, tạo việc làm tại chỗ cho người lao động

3.2.2.2 Phát triển kinh tế trang trại

Kinh tế trang trại là hệ quả của sự phát triển kinh tế hộ, trong đó quy luậtphát triển của nền nông nghiệp từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn hàng hóa trong

Trang 6

điều kiện kinh tế thị trường, phù hợp với quy luật vận động và phát triển của nềnsản xuất xã hội Kinh tế trang trại đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tếnông nghiệp, nông thôn; tạo ra các vùng chuyên canh tập trung, sản xuất hàng hóalàm tiền đề, cơ sở cho việc phát triển công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm;tạo thuận lợi cho việc đưa công nghiệp và dịch vụ vào nông thôn; thúc đẩy pháttriển kinh tế - xã hội nông thôn; tăng độ che phủ đất trống đồi trọc, cải thiện môitrường sinh thái Kinh tế trang trại tạo thêm việc làm, góp phần giải quyết số laođộng dư thừa trong nông thôn, tăng thu nhập, cải thiện đời sống và nâng cao dântrí.

Để kinh tế trang trại phát triển đúng hướng, thực sự đóng vai trò quan trọngtrong giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, cần phải thực hiện tốtmột số vấn đề sau đây:

- Phân vùng quy hoạch gắn với chính sách sử dụng và quản lý đất đai, tạođiều kiện cho kinh tế trang trại phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thúc đẩykinh tế địa phương phát triển

- Tăng cường đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật, mở rộng và phát triển sản xuấtthâm canh, có chính sách cho vay vốn ưu đãi để đầu tư phát triển kinh tế trang trại

- Có chính sách trợ giá đối với giống, vật tư, phân bón

- Hỗ trợ các chủ trang trại tìm kiếm thị trường, mở rộng và ổn định thịtrường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa Hình thành quỹ trợ giá hỗ trợ người sản xuấtlúc khó khăn, tổ chức cung cấp thông tin giá cả, dự đoán biến động giá cả vật tư,nông sản phẩm trên thị trường thường xuyên cho chủ trang trại để điều hành sảnxuất có hiệu quả

- Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, đặc biệt

là hệ thống đường giao thông, điện, thủy lợi…

3.2.2.3 Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống

Trang 7

Có thể nói làng nghề ở Bắc Ninh có những tác động rất lớn vào đời sốngkinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt trong lĩnh vực việc làm Việc khôi phục và pháttriển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp trong các vùng nông thôn, nhất là trongcác làng nghề thủ công truyền thống đóng vai trò quan trọng và là biện pháp chủyếu nhất giải quyết lực lượng lao động thiếu việc làm hiện nay của tỉnh; góp phầnchuyển dịch cơ cấu nông, công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn; xóa đói giảm nghèo, cảithiện đời sống nhân dân và người lao động ở tỉnh.

Hiện nay Bắc Ninh có 58 làng nghề, trong đó có 31 làng nghề truyền thống,với tổng số 278 đơn vị sản xuất tiểu thủ công nghiệp và hơn 9.000 hộ kinh doanh.Làng nghề Bắc Ninh có vai trò to lớn tạo ra nhiều sản phẩm cần thiết cho xã hội,góp phần tăng trưởng kinh tế, nhất là tăng trưởng sản phẩm công nghiệp - tiểu thủcông nghiệp, thu hút nhiều lao động, làm tăng thu nhập cho người lao động Giá trịsản lượng hàng năm của các làng nghề chiếm hơn 40% tổng giá trị công nghiệp trênđịa bàn tỉnh Cho đến nay tổng số vốn đầu tư cho các làng nghề khoảng 200.000 triệuđồng [32, tr 12-13] Giá trị sản lượng sản xuất ra hàng năm khá lớn và đa dạng, thểhiện khả năng và năng lực sản xuất của các làng nghề Mặc dù thị trường tiêu thụcòn rất hạn hẹp, nhưng các tổ chức và cá nhân trong làng nghề đã hình thành đượccách tiêu thụ riêng cho mình

Trên cơ sở khôi phục và phát triển các cụm công nghiệp, các làng nghềtruyền thống hiện có, từ nay đến năm 2010 Bắc Ninh cần quy hoạch các cụm côngnghiệp làng nghề và đa nghề ở các huyện có quy mô từ 5-20 ha với những cơ sởsản xuất vừa và nhỏ sau đây:

+ Cụm công nghiệp Châu Khê, Đồng Quang, Đình Bảng, Tân Hồng

+ Hạp Lĩnh, Khắc Niệm, Phú Lâm, Liên Bão

+ Thanh Khương, thị trấn Hồ (Thuận Thành)

+ Đại bái, Ngụ (Gia Bình)

+ Táo Đôi, Kênh Vàng

Trang 8

+ Thị trấn Phố Mới (Quế Võ).

+ Phong Khê, Đông Tiến, Núi (Yên Phong)

+ Võ Cường, Đại Phúc (Thị xã Bắc Ninh)…

Định hướng phát triển các cụm công nghiệp này là sản xuất các sản phẩmtruyền thống có lợi thế của địa phương, đồng thời bố trí các cơ sở công nghiệp chếbiến nông sản thực phẩm, dệt, may, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ kim khí vừa vànhỏ…

Để Bắc Ninh giữ được nghề truyền thống, phát triển nhiều nghề mới, cónhiều sản phẩm nổi tiếng trong và ngoài nước và có những bước phát triển vữngchắc trong thời kỳ mới, cần thực hiện tốt các giải pháp sau đây:

Thứ nhất, tạo lập thị trường cho các làng nghề.

Thị trường là vấn đề sống còn, quyết định sự tồn tại, phát triển hay diệt vongcủa các làng nghề Sự biến động thăng trầm của làng nghề phần lớn là do biếnđộng của thị trường quyết định Vì vậy, cần hỗ trợ giúp các làng nghề tìm kiếm thịtrường xuất khẩu Vấn đề đặt ra hiện nay là: phải có kế hoạch đầu tư vào việcnghiên cứu phát triển sản phẩm xuất khẩu trên thị trường quốc tế thông qua triểnlãm hội chợ Sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài cần được khai thác kỹ lưỡngnăng lực truyền thống để tạo ra những sản phẩm mới và có những mẫu mã phù hợpvới thị hiếu và tiêu chuẩn quốc tế Thường xuyên nghiên cứu sự biến động nhu cầu

và thị hiếu của khách hàng ở các nước khác nhau mà cải tiến sản phẩm cho phùhợp Tỉnh phải có chính sách ưu đãi thích hợp đối với những nhà sản xuất các mặthàng truyền thống để họ có cơ hội duy trì, phát triển mặt hàng thông qua việc mởrộng sản xuất, bồi dưỡng tay nghề cho sự kế tục và cải tiến sản phẩm Cung cấpthông tin dịch vụ tư vấn kinh doanh, tư vấn thị trường, trợ giúp các làng nghề làmthủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa, giảm bớt khó khăn và phiền hà các thủ tục, giấy

tờ xuất nhập khẩu

Thứ hai, giải pháp về vốn

Trang 9

Vốn là nhân tố cực kỳ quan trọng không thể thiếu được trong quá trình sảnxuất ở làng nghề truyền thống Mặc dù yêu cầu về vốn cho sản xuất trong các làngnghề không phải là lớn, nhưng hiện nay nguồn vốn đầu tư vào sản xuất trong cáclàng nghề còn thấp chủ yếu là vốn tự có Do nguồn vốn hạn hẹp, nhiều doanhnghiệp tư nhân và các hộ cá thể gặp nhiều khó khăn về vốn trong việc đầu tư trangthiết bị và công nghệ mới Để có thể tạo nguồn vốn cho các làng nghề phát triểncần áp dụng một số giải pháp sau:

- Mở rộng hệ thống tín dụng cho khu vực nông thôn, tổ chức các quỹ tíndụng chuyên doanh phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn

- Hàng năm tỉnh nên có kế hoạch nhất định từ nguồn vốn đầu tư phát triểncho vay với lãi suất ưu đãi cho các cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp trong các làng nghề, làng nghề mới khôi phục và phát triển, các làng nghềmới

- Đơn giản hóa thủ tục cho vay vốn của các ngân hàng, các quỹ tín dụng

- Khai thác triệt để các khoản vốn hỗ trợ từ bên ngoài thông qua các chươngtrình, dự án doanh nghiệp vừa và nhỏ trong làng nghề

Thứ ba, đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất

Đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất cần đi theo con đường pháttriển từ thấp đến cao, từ thô sơ đến hiện đại Đối với ngành nghề thủ công truyềnthống, một mặt phải hết sức coi trọng việc kế thừa kỹ thuật cổ truyền với phát triển

kỹ xảo, tay nghề của các nghệ nhân; mặt khác, phải thực hiện kết hợp công nghệtruyền thống với công nghệ hiện đại, trang bị kỹ thuật tiên tiến cho những côngđoạn cần thiết để nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu, đảm bảochất lượng sản phẩm Đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất là biện pháp hếtsức quan trọng của mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh trong làng nghề truyền thống

Vì vậy cần phải:

Trang 10

- Khuyến khích các cơ sở sản xuất trong làng nghề truyền thống đầu tư chiềusâu để đổi mới công nghệ, hiện đại hóa công nghệ truyền thống, áp dụng côngnghệ nhiều trình độ trong khu vực sản xuất của làng nghề làm cho sản phẩm làm racạnh tranh được trên thị trường trong và ngoài nước.

- Để giúp các cơ sở sản xuất có thể đổi mới thiết bị và công nghệ, ngoài sự

hỗ trợ về vốn để người sản xuất có điều kiện đầu tư mua sắm trang thiết bị, tỉnh cần

hỗ trợ trong việc hướng dẫn hoặc cung cấp những thông tin về thiết bị, công nghệnhập ngoại để người sản xuất có điều kiện chọn lọc cho phù hợp

- Tổ chức các trung tâm tư vấn, chuyển giao công nghệ và các hoạt động hỗtrợ về mặt kỹ thuật và công nghệ cho các làng nghề Các trung tâm này sẽ tư vấncho các làng nghề nên sử dụng công nghệ gì, đổi mới ở khâu nào, sử dụng kỹ thuật

ra sao… để giúp các làng nghề có thể áp dụng những công nghệ hiện đại vào sảnxuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng của các làng nghề

Thứ tư, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý và nâng cao tay nghề cho người

lao động của các làng nghề.

Nhìn chung, chất lượng nguồn lao động trong các làng nghề còn thấp, nhiềungười chưa qua đào tạo, mà chủ yếu là truyền nghề trực tiếp Hiện nay, lao động cóchuyên môn kỹ thuật ở trong làng nghề truyền thống chiếm tỷ lệ rất nhỏ, cán bộ kỹthuật, cán bộ quản lý vừa ít về số lượng, vừa thấp về chất lượng Đội ngũ các chủdoanh nghiệp trình độ quản lý còn nhiều yếu kém, ít hiểu biết về sản xuất kinhdoanh Do đó, họ không đủ kiến thức và trình độ để áp dụng phương pháp quản lýtiến tiến

Để nâng cao trình độ quản lý và trình độ tay nghề cho người lao động, đápứng được yêu cầu mở rộng sản xuất ở làng nghề truyền thống cần phải có ngay giảipháp mang tính hệ thống và đồng bộ theo các hướng sau:

Trang 11

- Nâng cao trình độ văn hóa chung cho dân cư trong các làng nghề Đây làđiều kiện cơ bản để đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề, có trình độ ở các làngnghề.

- Cải tiến chương trình và tổ chức lại hệ thống các trường dạy nghề Tậptrung chủ yếu vào đào tạo những kiến thức thiết thực cho việc phát triển của làngnghề truyền thống

- Mở rộng quy mô đào tạo và đa dạng hóa các hình thức dạy nghề

+ Khuyến khích hình thành các trung tâm dạy nghề do tư nhân mở lớp đàotạo nghề cho những người có nhu cầu học

+ Có thể đưa thêm một số nghề truyền thống vào dạy ở các trường kỹ thuậtchuyên nghiệp, các trường công nhân kỹ thuật Đi đôi với vấn đề đào tạo là việc sửdụng, phải gắn việc đào tạo với giải quyết việc làm

+ Các nghệ nhân, thợ giỏi dạy nghề theo kiểu vừa học, vừa làm trong mộtthời gian nhất định

+ Các hiệp hội nghề có thể tổ chức các lớp đào tạo kỹ thuật và quản lý ởtrình độ cao, nhằm tạo ra nhiều người có trình độ sản xuất và kinh doanh giỏi, cókhả năng tiếp nhận được những nghề mới, cải tiến nghề cũ, làm hạt nhân trong các

cơ sở, các làng nghề truyền thống

Thứ năm, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

- Đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất: hộ gia đình, hợp tác xã, doanhnghiệp tư nhân, công ty TNHH… nhằm tăng cường sức cạnh tranh và củng cốquan hệ sản xuất

- Khuyến khích và tạo điều kiện cho các làng nghề thành lập trung tâm hoặcdoanh nghiệp chịu trách nhiệm giới thiệu đầu ra, đầu vào của sản phẩm Tỉnh tạođiều kiện thuận lợi cho vay vốn, mặt bằng và tạo cơ sở pháp lý cho các trung tâmnày hoạt động

Trang 12

- Thành lập các hiệp hội ngành nghề có nhiều thành phần kinh tế tham gianhằm liên kết các khâu trong quá trình sản xuất, trao đổi, rút kinh nghiệm, phâncông hợp tác sản xuất.

- Tăng cường hợp tác, liên doanh, liên kết giữa các thành phần kinh tế, giữacác làng nghề với các DNNN và tăng cường hình thức các cơ sở sản xuất làngnghề làm vệ tinh cho các doanh nghiệp quốc doanh

- Các tổ chức làm nhiệm vụ quản lý ngành, quản lý ngoại thương, các hiệphội nên có sự phối hợp chặt chẽ trong việc sắp xếp và thống nhất các đầu mối xuấtkhẩu, phân chia phạm vi và ranh giới các mặt hàng đối với mỗi đơn vị hoặc công

ty được giao nhiệm vụ xuất nhập khẩu, nhằm hạn chế tình trạng cạnh tranh hỗnloạn làm tổn hại đến lợi ích chung

Thứ sáu, hoàn thiện hệ thống chính sách kinh tế của Nhà nước.

Hoàn thiện hệ thống luật, chính sách để tạo lập, phát triển môi trường thểchế cho phát triển làng nghề Trước mắt cần tập trung vào một số các chính sách cơbản sau:

- Chính sách cơ cấu ngành nghề, mặt hàng và vùng lãnh thổ Chú trọng pháttriển các ngành và sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao như: mặt hàngxuất khẩu, mặt hàng chế biến nông, lâm, thủy sản…

- Chính sách huy động vốn cho các làng nghề

- Chính sách thuế

- Chính sách đào tạo nguồn lao động ở các làng nghề

- Chính sách hỗ trợ chuyển giao công nghệ cho các làng nghề ở nông thôn

- Tăng cường công tác quản lý của Nhà nước đối với làng nghề truyền thống

- Bảo vệ môi trường sinh thái và chống ô nhiễm môi trường trong các làngnghề

3.2.3 Giải pháp phát triển thị trường lao động

Ngày đăng: 21/01/2016, 17:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 10: Dự báo dân số Bắc Ninh theo các giai đoạn - NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ yếu NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC làm ở TỈNH bắc NINH
Bảng s ố 10: Dự báo dân số Bắc Ninh theo các giai đoạn (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w