ở hầu hếtcác nước đang phát triển thường theo quy luật chung là lượng cầu về vốn lớnhơn nhiều so với lượng cung về vốn, tức là nền kinh tế luôn trong tình trạngthiếu vốn để đầu tư cho ho
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC: KINH TẾ ĐẦU TƯ
Đề tài: Những biện pháp cơ bản để tăng cường huy động vốn đầu tư trong nước phục vụ cho phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 2MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU
B NỘI DUNG
I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỐN PHỤC VỤ CHO PHÁT
TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
2 Những vấn đề chung về vốn đầu tư
1 Sự cần thiết cửa việc huy động vốn cho sự phát triển kinh tế Việt nam hiện nay.
2 Những nguồn vốn có thể huy động đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn cho việc phát triển nền kinh tế.
II.CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH VỐN TRONG NƯỚC
1.Huy động từ ngân sách Nhà nước
2.Nguồn vốn huy động từ doanh nghiệp Nhà nước
3.Nguồn vốn huy động từ trong dân cư và tư nhân
4.Thu hút từ vốn đầu tư nước ngoài.
IV.KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU
TƯ TRONG NƯỚC.
1.Kinh nghiệm của Nhật Bản.
2.Kinh nghiệm của Hàn Quốc.
Trang 33.Kinh nghiệm của Anh.
4.Những bài học vận dụng vào Việt Nam.
V THỰC TRẠNG CỦA VIỆC HUY ĐỘNG VỐN TRONG NƯỚC.
1.Tình hình chung
2 Sau cải cách kinh tế.
VI HIỆU QỦA SỬ DỤNG NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC TRONG THỜI GIAN QUA.
1.Trong lĩnh vực nông nghiệp
2.Trong lĩnh vực công nghiệp
1 Mục tiêu phát triển kinh tế
2 Nhu cầu phát triển vốn đầu tư trong nước ở nước ta trong thời gian tới
3 Phương hướng huy động vốn đầu tư trong nước trong thời gian tới
4 Những giải pháp cụ thể để huy động nguồn vốn trong nước thời gian tới
C KẾT LUẬN
Trang 4Vốn cho phát triển kinh tế- xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách trongcuộc sống hiện nay và nhiều năm tới ở nước ta Đương nhiên để duy trì nhữngthành quả đã đạt được của nền kinh tế nhờ mấy năm đổi mới vừa qua , giữ vữngnhịp độ tăng trưởng kinh tế cao , tránh cho đất nước rơi vào tình trạng tụt hậu sovới nhiều nước láng giềng trong khu vực và trên thế giới Trong giai đoạn hiệnnay nước ta đang tìm cách khơi dậy mọi nguồn vốn trong nước từ bản thân nhândân và việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đã có tại các cơ sở quốc doanh Nguồnnước ngoài từ ODA và đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI Tuy nhiên cần thấy rõnguồn vốn trong nước là chủ yếu , nguồn vốn trong nước vừa phong phú , vừa chủđộng nằm trong tầm tay
Mặc dù điều kiện quốc tế thuận lợi đã mở ra những khả năng to lớn để huy độngnguồn vốn từ bên ngoài , nhưng nguồn vốn ở trong nước được xem là quyết địnhcho sự phát triển bền vững và độc lập của nền kinh tế Do vậy nhóm 3 chúng em
đã chọn đề tài “ Những biện pháp cơ bản để tăng cường huy động vốn đầu tư trong nước phục vụ cho phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”
làm đề tài nghiên cứu của nhóm Trong quá trình làm bài do hạn chế về mặt kiến
Trang 5thức nên bài làm của chúng em còn nhiều thiếu xót mong cô cho những nhận xét
để bài làm của chúng em hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
B NỘI DUNG
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỐN PHỤC VỤ CHO PHÁT
TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
1 Những vấn đề chung về vốn đầu tư
Vốn đầu tư là vốn được sử dụng để thực hiện mục đích đầu tư đã dự tính Hiệnnay ở các nước đang phát triển kể cả nước ta chưa có sự thống nhất nhận thức vềbản chất, vai trò của vốn cũng như các hình thức biểu hiện nó Vì vậy khi đứngtrước thực trạng thiếu vốn của nền kinh tế, có ý kiến cho rằng cần phải phát hànhtiền cho hoạt dộng đầu tư hoặc có ý kiến khác cho rằng cần tiến hành vay vốn nướcngoài trong đó không chỉ vay cho nhu cầu sản xuất mà còn vay cho cả nhu câù tiêudùng Do vậy để huy động và sử dụng vốn đầu tư một trong những vấn đề cần thiếtđặt ra là phải có sự thống nhất nhận thức về vốn:
- Vốn là giá trị thực của tài sản hữ hình và vô hình Tài sản hữu hình gồm 2 bộphận chính:
+ Bộ phận thứ nhất là tài sản phục vụ trực tiếp sản xuất như máy móc thiết
Trang 6chế tạo ra được đủ máy móc thiết bị thì vấn đề đặt ra là cần phải tăng cường xuấtkhẩu nguyên vật liệu, sản phẩm sơ chế, hàng tiêu dùng để có nguồn ngoại tệ vàphát triển nhập khẩu các tư liệu sản xuất bằng việc giảm tiêu dùng trong nước, hạnchế nhập khẩu hàng tiêu dùng Đồng thời khi trình độ công nghệ đạt mức đủ khảnăng sản xuất các tư liệu sản xuất trong nước thì cần tập trung vào đầu tư để tạo racác tư liệu sản xuất không vay nước ngoài để tiêu dùng, chỉ vay để nhập khẩu tưliệu sản xuất tài sản vô hình như : bằng phát minh sáng chế, bản quyền, chi phínhân công phát triển… cùng với tài sản hữu hình nên trên đều là kết quả của quátrình bỏ vốn theo mục đích đầu tư Các tài sản này chính là cơ sở đảm bảo cho quátrình phát triển của tổng sản phẩm đầu ra và do vậy làm tăng nguồn vốn đầu tư choquá trình đầu tư tiếp theo Đó là lý do về sự cần thiết phải nhận thức vốn là giá trịthực của tài sản hữu hình và vô hình
- Vốn là hàng hóa cũng giống hàng hoá khác ở chỗ đều có giá trị và giá trị sửdụng, có chủ sở hữu và là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như cácyếu tố đầu vào sản xuất khác Nhưng vốn khác hàng hoá ở chỗ:
+ Vốn là yếu tố đầu vào phải tính chi phí như hàng hoá khác nhưng bản thân
nó lại được cấu thành trong đầu ra của nền kinh tế
+ Có thể tách rời quyền sở hữu vốn với quyền sử dụng vốn trả hay còn gọi
là lãi suất, trên phương diện người sử dụng vốn thì phải chi phí sử dụng vốnhay còn gọi là mua quyền sử dụng vốn Việc huy động vốn phải chú ý đếncác mối quan hệ lợi ích và giá mua và bán quyền sử dụng vốn nếu không sẽrất khó khăn hoặc không huy động được vốn
+ Chi phí vốn phải quan niệm như chi phí sản xuất khác kể cả trường hợpvốn tự có nếu phần vốn đầu tư sau khi tính toán thấy rằng không thu đượcchi phí vốn hay do bị mất mát chi phí cơ hội thì họ sẽ đầu tư ở chỗ khác( đầu
tư gián tiếp )
Trang 7- Dưới dạng tiền tệ vốn được định nghĩa là khoản tích luỹ là một bộ phậncủa thu nhập chưa được tiêu dùng Bộ phận thu nhập này đại diện cho mộtlượng giá trị hàng hoá tài sản dịch vụ nằm trong tổng sản phẩm đầu ra Vìvậy không thể phát hành tiền bỏ vào đầu tư như ý kiến của một số người đềnghị Như vậy vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền phải vận động trongmôi trường của hoạt dộng đầu tư kinh doanh và sinh lời thì tiền mới đượccoi là vốn tiền đem ra dùng hàng ngày, đưa vào cất trữ thì người sở hữu tiền
đó phải trả phải trả cho việc làm này đó là hy sinh tiền lãi và và lợi nhuận doviệc giữ tiền cất trữ Vốn có giá trị về mặt thời gian, vốn phải được tích tụgiá vốn( lãi suất ) là giá trị để mua được quyền sử dụng vốn được tính bằng
tỷ lệ phần trăm so với vốn theo đơn vị thời gian ( tháng, quý, năm, 10 năm ).Giá này cho ta một cách nhìn đối với vốn đó là quan hệ đặc biệt của nó đốivới thời gian Thời gian dài lãi suất tín dụng sẽ cao hơn lãi suất của thời gianngắn Chính nhờ có sự tách rời quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng theothời gian đã làm cho vốn có thể tích tụ vận động và lưu thông trong đầu tưkinh doanh và sinh lời Nói cách khác là quá trình vận động cần tích tụ vốntheo thời gian đã làm cho vốn được hình thành từ những khoản tiết kiệm nhỏhoặc khoản vốn chưa có cơ hội đầu tư và chuyển đến những nhà đầu tư.( Vốn đầu tư là giá trị tài sản xã hội được bỏ vào đầu tư nhằm mang lại hiệuquả trong tương lai
2 Sự cần thiết cửa việc huy động vốn cho sự phát triển kinh tế Việt nam hiện nay.
Với nền kinh tế như Việt Nam hiện nay,việc có vốn đang là một nhu cầu cấpthiết Để trở thành một nước phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới Conđường ngắn nhất chỉ có thể là làm cách nào để huy động được vốn đầu tư nhằmcung cấp cho nền kinh tế.Trước đây khi còn thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hoá
Trang 8tập trung nhà nước nắm toàn quyền quản lý cũng như kiểm soát thì việc huy độngvốn là rất khó khăn Chủ yếu huy động vốn qua các kênh ở trong nước hoặc khôngthì cũng là những viện trợ không hoàn laị của các chính phủ các nước khác tài trợcho Việt Nam, hoặc kênh huy động khác là vay nợ nước ngoài nhưng nguồn vốnnày đã bộc lộ hạn chế lớn đó là việc nợ nước ngoài quá nhiều Khi nhà nước đổimới cơ chế kinh tế năm 1986 từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sangnền kinh tế thị trường thì việc huy động vốn trở nên dễ dàng hơn Đã có hàng trămcác doanh nghiệp nước ngoài đã đến Việt Nam đầu tư phát triển kinh tế Có thể nóiViệt nam rất vui mừng khi được đón tiếp và hoan nghênh các nhà đầu tư Một lý
do rất đơn giản cho việc đó là vì Việt Nam rất coi trọng những nguồn vốn này Cóvốn đầu tư để phát triển Việt Nam sẽ nhanh chóng dùng nó để xây dựng cơ sở hạtầng, phát triển kinh tế và từ đó có cơ sở để phát triển kinh tế nhanh chóng sánh vaivới khu vực và trên thế giới Như vậy vốn có thể coi như một yếu tố không thểthiếu được đối với sự phát triển của một đất nước
3 Những nguồn vốn có thể huy động đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay
Kinh nghiệm các nước phát triển trên thế giới cho thấy rằng vốn là một nhu cầu
vô cùng cần thiết đối với sự phát triển kinh tế Nguồn vốn đầu tư là một yếu tốđầu vào của sản xuất Muốn đạt được tốc độ tăng trưởng GNP theo dự tính thìcần phải giải quyết mối quan hệ cung, cầu về vốn và các yếu tố khác ở hầu hếtcác nước đang phát triển thường theo quy luật chung là lượng cầu về vốn lớnhơn nhiều so với lượng cung về vốn, tức là nền kinh tế luôn trong tình trạngthiếu vốn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các nhu cầu khác Đểđạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế thì muốn khai thác tốt nhất các nhân tố cung
về vốn để nhằm thoả mãn nhu cầu vốn trong toàn bộ nền kinh tế, mỗi nước đều
có một chiến lược riêng song đều phải đi vào khai thác 2 luồng vốn chủ yếu sau
Trang 9a Nguồn vốn trong nước
Bao gồm các nguồn thu được từ ngân sách nhà nước các tổ chức tài chính trunggian, thị trường vốn , thị trường chứng khoán, và nguồn vốn từ các hoạt độngsản xuất kinh doanh có hiệu quả… Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu từng nguồnvố
c Nguồn vốn thu được từ kênh các tổ chức tài chính trung gian
Chức năng của các tổ chức tài chính trung gian
Cũng như thị trường tài chính, các tổ chức tài chính trung gian thực hiện chứcnăng dẫn vốn từ người có vốn tới những người cần vốn, nhưng khác với tài chínhtrực tiếp trong thị trường tài chính , các trung gian tài chính thực hiện quá trình dẫn
Trang 10vốn phải thông qua người thứ ba Một trung gian tài chính đứng giữa người chovay và người vay và giúp chuyển vốn từ người này sang người kia được gọi là tàichính gián tiếp Chúng thực hiện những chức năng chủ yếu sau :
- Chức năng tạo vốn : để có thể cho vay hoặc đầu tư, các trung gian tài chính tiếnhành huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế hình thành các quỹ tiền tệtập trung, phương thức huy động vốn hoặc theo thể thức tự nguyện thông qua cơchế lãi suất, hoặc theo thể thức bắt buộc qua cơ chế điều hành của chính phủ Vớichức năng này các trung gian tài chính đem lại lợi ích cho chính mình và cho phầnlớn những người có khoản tiết kiệm, để dành
- Chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế : Tiền vốn được huy động từ người cóvốn là để thực hiện mục tiêu cung ứng vốn cho những người cần nó Trong nềnkinh tế thị trường , người cần vốn là các doanh nghiệp, Chính phủ, các tổ,cá nhântrong và ngoài nước Với chức năng này các tổ chức tài chính trung gian đáp ứngchính xác và đầy đủ, kịp thời nhu cầu tài trợ vốn cho các cá nhân và doanh nghiệp
- Chức năng kiểm soát : các trung gian tài chính thực hiện chức năng kiểm soátnhằm giảm tới mức tối thiểu vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức do thôngtin không cân xứng gây ra ; yêu cầu của chức năng này là các trung gian tài chínhphải thường xuyên hoặc định kỳ liểm soát trước, trong và sau khi cho vay cácdoanh nghiệp
Vai trò của các tổ chức tài chính trung gian.
Các trung gian tài chính ngày càng giữ vị trí quan trọng trong hệ thống tài chính
Nó thực sự đem lại lợi ích trọn vẹn và đầy đủ cho cả người có vốn, người cần vốn,cho cả nền kinh tế xã hội và bản thân các tổ chức tài chính trung gian
Trang 11- Hoạt động của các trung gian tài chính góp phần giảm bớt những chi phí thôngtin và giao dịch lớn cho mỗi cá nhân tổ chức và toàn bộ nền kinh tế
- Do chuyên môn hoá và thành thạo trong nghề nghiệp, các tổ chức tài chính trunggian đáp ứng đầy đủ, chính xác và kịp thời yêu cầu giữa người cần vốn và người cóvốn
- Do cạnh tranh, đan xen và đa năng hoá hoạt động, các trung gian tài chính thườngxuyên thay đổi lãi suất một cách hợp lý, làm cho nguồn vốn thực tế được tài trợcho đầu tư tăng lên mức cao nhất
- Thực hiện có hiệu quả các dịch vụ tư vấn, môi giới, tài trợ, trợ cấp và phòng ngừarủi ro
Các trung gian tài chính ở Việt Nam : ở Việt Nam với quan điểm thiết lập hệthống trung gian tài chính theo hướng đa dạng hoá, đa năng hoá, thể hiện trong hệthống các văn bản pháp luật như luật các tổ chức tín dụng, các nghị định của chínhphủ đã hình thành hệ thống tài chính trung gian khá đa dạng gồm có hai khối đó làcác ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng Muốn huy động ngày càngnhiều vốn qua các tổ chức tài chính trung gian từ các đơn vị sản xuất kinh doanh,các tổ chức có nguồn vốn tạm nhàn rỗi nhất là nguồn vốn trong dân cư, hộ gia đìnhthì cần có những chính sách thật thích hợp để họ đưa vốn của mình vào các ngânhàng, các tổ chức tài chính tín dụng hoặc đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp.Trong nền kinh tế thị trường các nguồn vốn phải khai thông và tìm mọi biện pháphuy động cho phát triển kinh tế
d Nguồn vốn thông qua thị trường vốn, thị trường chứng khoán
Thị trường vốn, thị trường chứng khoán đóng vai trò thu hút, huy động cácnguồn tài chính nhàn rỗi để đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Thông
Trang 12qua thị trường vốn, thị trường chứng khoán với cơ chế hoạt động nó thu hút vàchuyển giao các khoản tiền nhàn rỗi phân tán thành nguồn vốn lớn để trở thànhvốn sản xuất tài trợ kịp thời cho sự phát triển kinh tế xã hội, là chiếc cầu trực tiếpgiữa dự trữ và đầu tư Sự tài trợ của thị trường vốn hay thị trường chứng khoán cóthể trực tiếp hay gián tiếp Các tác nhân thừa vốn hay thiếu vốn không tài trợ trựctiếp cho các tác nhân thiếu vốn là người chi tiêu cuối cùng mà thông qua các tổchức tài chính, ngân hàng đóng vai trò trung gian Các trung gian tài chính pháthành các chứng khoán của mình để thu gom vốn và sau đó tài trợ cho những tácnhân thiếu vốn Thị trường vốn đóng vai trò thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụngvốn, giúp cho việc luân chuyển vốn từ khu vực kém hiệu quả sang khu vực kinhdoanh có hiệu quả Mở ra khả năng cho người có tiền nhàn rỗi tự do lựa chọn hìnhthức và lĩnh vực để thu lợi nhuận cao và vốn sẽ luân chuyển linh hoạt trong nềnkinh tế Việc hình thành và phát triển thị trường vốn của một nước nằm trong xuthế quốc tế hoá nền kinh tế, tạo diều kiện cho nền kinh tế hoà nhập với nền kinh tếthế giới Hoạt động của thị trường tài chính tạo điều kiện cho cácnhà đầu tư nướcngoài có thể mua trái phiếu trực tiếp trên thị trường vốn Thị trường vốn tạo điềukiện thu hút vốnnước ngoài Thị trường vốn, thị trường chứng khoán nhà nướcthực hiện tốt chính sách tài chính, tiền tệ trong việcđiều hoà các nguồn vốn cho cáchoạt động kinh tế, xã hội Đồng thời thị trường vốn và thị trường chứng khoán cònđóng vai trò huy động vốn rất mạnh mẽ cho đầu tư phát triển kinh tế và sự hìnhthành thị trường này là một quy luật của tất cả các nước có nền kinh tế thị trường ởmột mức độ phát triển nào đó.
e Nguồn vốn thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Trang 13Một sai lầm lớn nếu mọi đơn vị sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế chỉ lotìm nguồn đầu tư bên ngoài doanh nghiệp của mình để phục vụ cho quá trình pháttriển sản xuất kinh doanh mà không biết tận dụng khai thác sử dụng có hiệu quảnguồn vốn đã có tại doanh nghiệp để phát triển Nguồn vốn của từng đơn vị phảiđược bảo toàn và phát triển vì nó là yêu cầu tồn tại của doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh trong nền kinh tế thị trường, nếu mất dần vốn đồng nghĩa với nguy cơ bị phásản Trong hoạt động sản xuất kinh doanh mỗi đơn vị chỉ có một số vốn nhất định.Thông thường vốn cho nhu cầu hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp vượtquá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp Vì thế ngoài khả năng tự tài trợ doanhnghiệp còn phải huy động vốn từ bên ngoài để phát triển mở rộng sản xuất kinhdoanh Trong trường hợp này huy động vốn từ bên ngoài càng gắn chặt với yêu cầu
sử dụng vốn có hiệu quả vì không ai dại gì bỏ vốn vào nơi không có khả năng pháttriển hoặc có nguy cơ mất vốn nếu điều đó chắc chắn Sử dụng có hiệu quả đồngvốn đồng nghĩa với doanh nghiệp đó tồn tại và đứng vững trong nền kinh tế thịtrường với sự cạnh tranh mãnh liệt để tồn tại Sản phẩm làm ra được tiêu thụ , sảnlượng , lợi nhuận ngày càng cao sản xuất kinh doanh ngày càng mở rộng, thực hiệnnghĩa vụ thuế với nhà nước ngày càng lớn Chính khi đó sẽ là điều kiện tốt để thuhút thêm vốn đầu tư Để bảo toàn và phát triển vốn ở từng đơn vị là sự vận dụngtổng hợp rất nhiều vấn đề Song vấn đề cần lưu ý nhất là phải biết giải quyết tốtmối quan hệ giữa tiêu dùng và tích luỹ, giữa tiết kiệm và đầu tư trong quá trình sảnxuất kinh doanh Sử dụng tiết kiệm hiệu quả các nguồn vốn của đơn vị mình trongchừng mực nào đó cũng chính là phát triển vốn
f Nguồn vốn nước ngoài
Bao gồm :
Nguồn vốn viện trợ phát triển (ODA).
Trang 14-ODA là gì ?
ODA (oficial development asistance) là nguồn hỗ trợ của các nước phát triển, các
tổ chức tài chính, các tổ chức phi chính phủ, dành cho các nước đang và chậm pháttriển nhằm giúp các nước này tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững Trongmột số trường hợp, ODA giúp các nước vượt qua khủng hoảng kinh tế hoặc tái xâydựng đất nước do chiến tranh…
-Tầm quan trọng của ODA với kinh tế Việt Nam Đối với Việt Nam, ODA có tầmquan trọng đặc biệt, giúp chúng ta giải quyết tình trạng cơ sở hạ tầng lạc hậu, vàphân bố không đồng đều, xoá bớt sự cách biệt về phát triển kinh tế giữa các vùnglãnh thổ trong cả nước, giữa thành thị và nông thôn góp phần đẩy nhanh quá trìnhcông nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Nghị quyết đại hội VII của Đảng đã khẳngđịnh : ” Tranh thủ thu hút nguồn tài trợ chính thức (ODA) đa phương và songphương, tậo trung chủ yếu cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội,nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và quản lý, đồng thời dành một phần tíndụng đầu tư cho các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng Ưutiên dành viện trợ không hoàn lại cho những vùng chậm phát triển…” Thời gianqua, số các dự án ODA trong nông nghiệp , nông thôn còn ít chưa được quan tâmkhai thác và sử dụng cá hiệu quả Vì vậy, việc đẩy mạnh thu hút và sử dụng cóhiệu quả ODA vào phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đang là đòi hỏi hếtsức cấp bách
Nguồn vốn từ thu hút trực tiếp nước ngoài (FDI).
Ngay khi thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa nền kinh tế Nhà nước đã ban hànhluật đầu tư trực tiếp nước ngoài và được áp dụng từ cuối năm 1987 Với vai trò làmột nguồn vốn bổ sung quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
Trang 15đất nước Việc thu hút nguồn vốn FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng, mũinhọn trong hoạt động kinh tế đối ngoại ở Việt Nam, là tiền đề cần thiết để pháttriển kinh tế xã hội, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu Trong thực tế, khu vực có vốn FDI đãngày càng trở thành một bộ phận cấu thành hữu cơ của toàn bộ nền kinh tế nước ta.
Sự thành bại của khu vực này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Cụ thểFDI là nguồn bổ sung cho nguồn vốn đầu tư phát triển trong nước ; nâng cao trình
độ công nghệ của đất nước thông qua việc chuyển giao công nghệ ; tiếp nhận kinhnghiệm, trình độ quản lý tiên tiến của nước ngoài ; tạo công ăn việc làm, nâng caotrình độ kỹ năng lao động và thu nhập cho người lao động; phát triển thị trườngtrong nước, tạo điều kiện mạnh mẽ để thâm nhập thị trường thế giới góp phần cảithiện cán cân thanh toán quốc tế và thâm hụt ngân sách nhà nước
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn cho việc phát triển nền kinh tế.
a Mối quan hệ giữa thu nhập và tiết kiệm
Tổng tiết kiệm trong nước mà mỗi quốc gia dù được hình thành từ các nguồn tiếtkiệm của chính phủ, dân cư, hay tiết kiệm của các doanh nghiệp thì chúng đều cóchung nguồn gốc là bộ phận của GDP, do việc tăng trưởng nền kinh tế quyết định
Sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, ổn định tạo ra mức thu nhập bình quân đầungười cao sẽ là tiền đề vững chắc cho việc mở rộng tiết kiệm trong mỗi quốc gia.Điều này cho thấy việc phân tích mối quan hệ giữa thu nhập và tiết kiệm không thể
bỏ qua tác động của tiêu dùng Nếu thu nhập tăng như vậy khả năng đầu tư giảm
và ngược lại
b Mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư
Tiết kiệm và đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ
Trang 16-Tiết kiệm là tiền đề của đầu tư Đầu tư phải cần đến vốn đầu tư Vốn này donguồn tiết kiệm hình thành , tiết kiệm quá ít không đảm bảo đủ vốn cho nhu cầuđầu tư , sẽ hạn chế đến quá trình mở rộng đầu tư và rất khó hoặc không thể đạtđược tốc độ tăng trưởng kinh tế như mong muốn.tiết kiệm quá nhiều tạo ra lực cảnvới quá trình mở rộng đầu tư.cần phải có sự phù hợp giữa tiết kiệm,đầu tư tăngtrưởng của từng nước và từng giai đoạn phát triển của đất nước.
-Đầu tư sẽ tạo ra cơ sở để mở rộng nguồn tiết kiệm vì bất kỳ người nào khi cảmthấy có cơ hội đầu tư có lợi hay có hiệu quả về kinh tế xã hội thì người ta sẵn sàngđầu tư không phân biệt đầu tư đố thuộc loại sở hữu nào và đầu tư theo hình thứctrực tiếp hay đầu tư gián tiếp.hiệu quả của đầu tư đạt được do kết quả đầu tư manglại sẽ là cơ hội để huy động được các nguồn tiết kiệm cho đầu tư kế tiếp
Để tiết kiệm biến thành đầu tư có nhiều nhân tố tác động suy cho cùng có hai nhân
tố cơ bản là an toàn và lợi ích.đồng thời đầu tư là cơ sở để tạo ra tiết kiệm với quy
mô lớn hơn cũng bị hai nhân tố cơ bản nói trên chi phối và quyết định
-Hoạt động tiết kiệm và đầu tư trong những trường hợp cụ thể có thể độc lập vớinhau vì tiết kiệm bị động phụ thuộc vào yếu tố khác nữa
c yếu tố giao lưu giữa các dòng vốn.
Quá trình đi tìm các biện pháp rút ngắn khoảng cách để người tiết kiệm và ngườiđầu tư gặp nhau trực tiếp hoặc gián tiếp ,tiến hành mua bán quyền sử dụng vốn,saukhi thỏa thuận với nhau về giá cả của vốn và các điều kiện ràng buộc khác dẫn đếnhình thành và phát triển thị trường tài chính là một yếu tố khác quan của nền kinh
tế thị trường.nó cũng đóng vai trò quan trọng thúc đẩy giao lưu vốn để phát triểnkinh tế xã hội Vai trò của thị trường tài chính :
Trang 17-Đóng vai trò to lớn trong việc thu hút ,hoạt động các nguồn tài chính nhàn rỗi đểtài trợ cho nhu cầu vốn đang bị thiếu hụt của những người chi tiêu hay đầu tư gópphần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
-Đóng vai trò quan trọng thúc đẩy nâng cao hiệu sử dụng các nguồn tài chính tạođiều kiện cho việc giao lưu vốn từ khu vực kinh doanh hay chi tiêu kém hiệu quảsang lĩnh vực có hiệu quả hơn
- Góp phần tạo điều kiện giao lưu vốn trong nước với nước ngoài đồng thời có thểthu hút vốn đầu tư từ nước ngoài vào
II CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH VỐN TRONG NƯỚC
1/ Vốn huy động từ ngân sách nhà nước
Là bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối lượng đầu tư, nó có vị trí rất quan trọngtrong việc tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thúc đẩy mạnh đầu tư của mọithành phần kinh tế theo định hướng chung của kế hoạch Chính sách và pháp luậtđồng thời trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất của một số lĩnh vực quan trọng của nềnkinh tế đảm bảo theo đúng định hướng của chiến lược và quy hoạch phát triển kinhtế- xã hội
Nguồn ngân sách bao gồm:
-Nguồn thu trong nước và nguồn thu bổ sung từ bên ngoài, chủ yếu thông quanguồn vốn ODA và một số ít là vay nợ của tư nhân nước ngoài Để nâng cao hiệuquả nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cần có những sửa đổi trong chính sách đầutư
Trang 18-Nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước:là các nguồn tàI chính cókhả nămg tạo lập nên quỹ ngân sách nhà nước do kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh trong nước mang lại.
-Nguồn thu được hình thành và thực hiện trong khâu sản xuất
-Nguồn thu được thực hiện trong khâu lưu thông-phân phối
-Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ
Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản:
-Thuế ,phí và lệ phí
-Thu về bán và cho thuê các tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước
-Thu lợi tức cổ phần của Nhà nước
-Các khoản thu khác theo luật định
Trong các khoản thu trên, thuế là khoản thu quan trọng nhất Thuế không chỉchiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước hàng năm mà còn làcông cụ của Nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân Tỷ lệ động viênGDP vào ngân sách nhà nước không ngừng tăng lên qua các năm, bình quân từ13,1% GDP (thời kỳ1986- 1990) lên 20,5% ( thời kỳ 1991- 1995) ngân sách nhànước từ chỗ thu không đủ chi đến nay đã có một phần tích luỹ dành cho đầu tưphát triển từ 2,3% GDP năm 1991 tăng lên 6,1% GDP vào năm 1996 ( nếu cả dokhấu hao cơ bản)
Nguyên nhân chủ yếu của nó là:
- Ngân sách nhà nước đã điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư nhằm tạo ra các tiền đề thuhút vốn đầu tư
Trang 19- Chi của ngân sách nhà nước dành cho đầu tư phát triển chủ yếu tập trung vào cơ
sở hạ tầng của nền kinh tế xã hội
- Ngân sách nhà nước không còn bao cấp cho các xí nghiệp nhà nước thông qua cổphần hoá và tập trung đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp- lâm nghiệp Mục tiêu của huy động vốn ngân sách nhà nước phải dành khoảng từ 20- 25% tổng
số chi ngân sách cho đầu tư phát triển hàng năm Khai thác có hiệu quả tín dụngnhà nước đầu tư phát triển, đồng thời phải đẩy mạnh hình thức vay vốn trong nhândân, cho đầu tư phát triển kinh tế là quốc sách hàng đầu Muốn đạt được các hiệuquả trên cần phải thực các biện pháp sau:
Hình thành nguồn vốn đầu tư trong ngân sách: Các biện pháp quan trọng nhất
để tăng thu là thu đúng, thu đủ các khoản vay trong nước
Thu ngân sách nhà nước trong sự phát triển bền vững, tức là thu nhưng khônglàm suy yếu các nguồn thu quan trọng mà phải bổi dưỡng phát triển và mở rộngcác nguồn thu một cách vững chắc, lâu bền Điều đó nghĩa là cần xác định mức thuhợp lý vừa đảm bảo NSNN có nguồn thu cao, vừa đảm bảo để các đối tượngNSNN có đủ điều kiện tài chính tiếp tục phát triển Xác định mức thu tại diểm
“giới hạn tối ưu”này không đơn giản mà cần phân tích, cân nhắc nhiều nhân tốkhác nhau Những nguồn thu thuộc khu vực kinh tế quốc doanh và có ý nghĩa đặcbiệt thì cần chú ý bồi dưỡng thông qua các biện pháp hỗ trợ đầu tư, trợ giúp vềkhoa học kỹ thuật, công nghệ và nhân lực trong một chừng mực không bao cấp Không tận thu NSNN quá mức để bao cấp trong cấp phát mà chỉ thu trongchừng mực tốt nhất để đáp ứng các nhu cầu chi của Nhà nước Đối với nhữngngành , những địa phương có thất thu lớn thì cần tăng cường thu và tận thu, nhưngquan điểm bao trùm thì không phải là tận thu
Trang 20-Vì điều đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế
+ Cải tiến các hệ thống thuế, làm cho diện thu thuế tăng lên, nhưng thuế xuất đơngiản hoá Kết quả là: giảm được tỷ lệ trốn lậu thuế, tăng nguồn thu cho ngân sách,đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên và chi cho đầu tư phát triển, đồng thờitránh được các khoản lạm thu, gây khó khăn phiền hà đến sinh hoạt và các hoạtđộng khác của đời sống dân cư
+ Quản lý tốt vấn đề nợ, đảm bảo đúng đối tượng trả nợ và tính kỹ các điều kiệntrả trước khi ký hợp định khung vay vốn, và hiệp định vay cho từng công trình,chương trình dự án đầu tư Các chính sách về ngân sách nhằm huy động vốn dàIhạn cho phát triển kinh tế -xã hội cần thường xuyên đổi mới cảI tiến các hình thứchuy động, đặc biệt là hệ thống thuế
- Phân bổ và sử dụng tốt các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
+ Tăng quy mô đầu tư từ ngân sách nhà nước và sử dụng đúng hướng nguồn vốnnày với biện pháp bao chùm là chống thất thu và tiết kiệm chi thường xuyên đểtăng quy mô nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước
+ Từng bước xoá bỏ triệt để cơ chế bao cấp trong lĩnh vực cấp phát quản lý đầu tưxây dựng cơ bản bằng nguồn vốn của nhà nước
+ Tăng cường công tác quản lý sau dự án Những dự án này dùng nguồn vốn nhànước thường có quy mô vốn rất lớn, hiện nay việc thẩm định các dự án là tươngđối chặt chẽ thì trái lại việc quản lý sau dự án lại bị buông lỏng dẫn đến tình trạngchi tiết trên danh nghĩa nhưng lại lãng phí trên thực tế Sử dụng nhiều cơ chế khácnhau để quản lý vốn, với nguồn vốn nhà nước được thông qua vay nước ngoài vớiđiều kiện ưu đãi thì tiến hành cho vay lại để tạo điều kiện bình đẳng trong sản xuấtkinh doanh và tái tạo nguồn vốn Tiết kiệm trong chi tiêu ngân sách hiện vẫn là
Trang 21một khả năng rất lớn cần tận dụng, bởi lẽ so với các nước tỷ lệ động viên thu nhậpquốc dân vào ngân sách nhà nước là tương đối cao Tỷ lệ thuế ở các nước so vớiGDP là tương đối cao ( thường đạt mức dưới 20% ).
2 Nguồn vốn huy động từ doanh nghiệp nhà nước
Trong chiến lược ổn định kinh tế Việt nam đến năm 2000, Đảng ta đã chỉ rõ “chính sách tài chính quốc gia hướng vào việc huy động vốn và sử dụng vốn có hiệuquả trong toàn xã hội, tăng nhanh sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân” Tạovốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả là một vấn đề mà Đảng và các doanhnghiệp nhà nước luôn quan tâm Bởi có huy động được vốn mới tiến hành đượcquá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước Đối với doanh nghiệp, chínhsách tài chính hướng vào các việc mở rộng khả năng hoạt động mạnh mẽ có hiệuquả cao của các đơn vị sản xuất kinh doanh, đó là những tế bào tài chính; làm chocác nguồn vốn chu chuyển nhanh và linh hoạt, đồng thời tạo ra cơ sở để nhà nước
có khả năng kiểm soát được nền tài chính quốc gia Trong lĩnh vực đầu tư cho khuvực doanh nghiệp nhà nước cần phải thực hiện một số giải pháp và chính sách sau: -Các doanh nghiệp nhà nước thuần tuý kinh doanh tự huy động nguồn vốn trong xãhội hoặc tín dụng ngân hàng để đảm bảo được điều kiện đầu tư bình đẳng với cácthành phần kinh tế của doanh nghiệp
-Sớm sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, chỉ giữ lại một số doanh nghiệp thật cầnthiết, còn cho phép chuyển đổi hình thức sở hữu, với sở hữu đan xen, cổ phần hoá"Đồng thời trong cơ chế chính sách cần đảm bảo sự bình đẳng tối đa, cùng loại hìnhhoạt động, nếu như không có các quy chế đặc biệt thì đều có cơ chế về thuế, tíndụng và lãnh thổ
- Cùng với quá trình hình thành các tập đoàn kinh tế, cần xây dựng cơ chế chính
Trang 22động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các bộ chuyển nhanh sang các chứcnăng quản lý nhà nước và chuyển nhanh về cơ chế Bộ chủ quản để các doanhnghiệp tự chủ trong bảo bảo toàn và phát triển nguồn vốn Hiện nay nguồn tích luỹcủa các doanh nghiệp còn rất hạn chế Bởi lẽ các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh hiệu quả còn thấp, công nghệ chưa được đổi mới, chất lượng của sản phẩmchưa cao, nên khả năng tiết kiệm cho đầu tư chưa nhiều Mặt khác vốn khấu haochưa được quản lý nghiêm ngặt và khấu hao đủ Vì vậy để huy động được nguồnvốn lớn trong doand nghiệp nhà nước thì đòi hỏi nhà nước phải tiến hành sửa đổi
và ban hành các chính sách để khuyến khích doanh nghiệp làm ăn có hiệu , để cóthể đầu tư phát triên sản xuất Trong giai đoan 1996- 2000 vốn của doanh nghiệpnhà nước tự đầu tư khoảng14-15% tổng số của toàn xã hội Mở rộng quyến tự chủcủa các doanh nghiệp theo hướng cơ cấu lại vốn sản xuất và tài sản của doanhnghiệp một cách hợp lý, tính đầy đủ giá trị quyền sử đất vào vốn vào tài sản tạidoanh nghiệp
3 Nguồn vốn huy động từ trong dân cư:
Theo ước tính của các chuyên gia về kinh tế tài chính nguồn vốn trong dân cư cókhoảng 6 tỷ USD được sử dụng qua điều tra của bộ kế hoach kế hoạch đầu tư vàtổng cục thống kê như sau:
- 44% để dành của dân là dùng để mua vàng và ngoại tệ
-20% để dành của dân được dùng để mua nhà đất và cải thiện đời sống sinh hoạt -Tuy nhà nước cho phép các doanh nghiệp nhà nước huy động vốn từ trong dânvới nhiều chính sách khác nhau, khi thực tế áp dụng còn nhiều ràng buộc Để tăngcường sử dụng nguồn vốn của nhân dân hay vốn ngoài vùng ngân sách thì cần phải
có chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm, làm giàu chính
Trang 23còn rất rất lớn, muốn vậy nhà nước phải ổn dịnh tiền tệ Vốn đầu tư của tư nhân vàdân cư có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp, mở mangngành nghề ở nông thôn phát triển công nghiệp thủ công, thương mại , dịch vụ, vậntải…Vì vậy chúng ta cần phải thực hiện các chính sách sau:
- Đa dạng hoá các công cụ, huy động vốn để cho mọi ngườ dân ở bất cứ nơI nàocũng có đIều kiện sản xuất kinh doanh
- Tăng lãi xuất tiết kiệm đảm bảo lãi xuất dương Khuyến khích sử dụng tài sản cánhân, thực hiện chế độ thanh toán tiền gửi ở một nơi và rút ra bất cứ lúc nào, cóvậy chúng ta mới đưa được nguồn vốn dưới dạng cất giấu vào lưu thông Tao môitrường đầu tư thông thoáng và thực hiện theo quy định của luật pháp để người dân
dễ dàng bỏ vốn đầu tư Chính phủ ban hành các chính sách khuyến khích các hộgia đình ở các vùng nông thôn, vốn vào sản xuất trên cơ sơ khai thác thế mạnh củatừng vùng, phát huy truyền thống hiện có của địa phương Chính phủ ban hànhchính sách khuyến khích tư nhân trong nước như tự đầu tư Thực hiện chính sách
xã hội hoá dần đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, y tế nhằm huy độngthêm nguồn lực của nhân dân
4 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Nó có tầm quan trọng đặc biệt cho việc phát triển kinh tế với phần lớn các nướcđang phát triển và là điều kiện để nhang chóng thiết lập cacad quan hệ kinh tế quốc
tế, gắn thị trường nội dịa với thị trường thế giới trên cả bốn mặt :thị trường hànghoá, thị trường tàI chính, thị trường lao động và thị trường thông tin Vì vậy, phảIxây dung một chiến lược kinh tế đối ngoại đúng đắn, phù hợp voí những chuyểnbiến to lớn về kinh tế, chính trị -xã hội và khoa học hiện nay Cần có chính sách tàIchính thích hợp để khuyến khích đầu te nước ngoài dưới hình thức vay nợ, đầu tưtài chinh, đầu tư trực tiếp, mở chi nhánh kinh doanh, thuê chuyên gia… Thực hiện
Trang 24chế độ tài chính ưu tiên như thuế nhập khẩu vật tư kỹ thuật , dịch vụ thông tin, thuếxuất nhập khẩu thành phẩm, thuế thu nhập , quyền được đảm bảo tàI sản, đIều kiệnchuyển lợi nhuận và vốn về nước và các dịch vụ đầu tư ưu đãI khác Khuyến khíchđặc biệt đôi với đầu tư nước ngoàI cho các công trình cơ sở hạ tầng, thông tin liênlạc, công nghệ mũi nhọn, các ngành sử dụng nhiều lao độngvà những dự án khaithác tài nguyên có số vốn khổng lồ Mở rộng thị trường hối đoái bằng cách chophép nhiều ngân hàng thương mại có đủ điều kiện về vốn và nghiệp vụ, được kinhdoanh ngoại hối và thực hiện dịch vụ thanh toán ngoại thương nhanh chóng, thuậnlợi cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước
III. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ HUY
ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC
Nguồn vốn luôn là một vấn đề đặt ra hàng đầu cho mọi nền kinh tế công nghiệphoá Tuy nhiên do lợi thế của mỗi một quốc gia là khác nhau và do sự khác nhau
về lợi thế so sánh nên con đường để kiến tạo nguồn vốn sản xuất là hết sức đa dạng
1 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật bản là một cường quốc kinh tế ở Châu á với cách tạo nguồn vốn cho phát triển kinh tế khác với nhiều nước khác Những năm cuối thế kỷ XIX dưới thời Minh Trị, Nhật còn là một nước rất nghèo, nền kinh tế mới đi vào công cuộc cải cách Để có khoản tích luỹ vốn đầu tư ban đầu cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội Nhật đã dựa vào cơ cấu chính quyền rất mạnh cộng với thu thuế rất lớn từ nhân dân Thông qua biện pháp này Nhật đã huy động được nguồn vốn rất lớn cho phát triển kinh tế
Trang 25Các nhà kinh tế đã tổng kết và đưa ra các nhân tố tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật là:
Sự gia tăng nguồn vốn nhanh chóng, đa dạng hoá cơ cấu sản xuất, đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, tăng cườngđiều tiết và vai trò của chính phủ trong nền kinh tế quốc dân, mở rộng thị trường
Bước đầu bước vào thời kỳ công nghiệp hoá Nhật đã có tỷ lệ tích luỹ vốn hàng năm là 21,8% đến năm 1968 là 29,2% lớn hơn hai lần so với Mỹ và gần bằng
2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Kinh tế Hàn Quốc bắt đầu cất cách từ thập kỷ 60, kể từ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ nhất ra đời năm 1962, nền kinh tế đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh Bình quân tốc độ tăng GDP hàng năm là 9% cao hơn rất nhiều so tốc độ tăng bình quân của thế giới Trong cùng thời gian công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến có tốc độ tăng trên 20% năm, dịch vụ