Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo từ 1991 đến 1996-Bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi cónhiều khó khăn, thá
Trang 1Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo từ 1991 đến 1996
-Bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi cónhiều khó khăn, thách thức mới; thực trạng kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển chậm
và chưa thật ổn định, mất cân đối về nhiều mặt, sản xuất chưa có tích lũy lại phải chịusức ép lớn về dân số còn tăng cao khoảng 2,04% Đời sống nhân dân, nhất là đốitượng hưởng chính sách xã hội gặp nhiều khó khăn Lực lượng lao động dôi thừa,chưa có việc làm ổn định hàng năm khá lớn (hơn 4% dân số) Sự nghiệp văn hóa, giáodục còn nhiều mặt chưa ổn định, cần được quan tâm đầu tư phát triển hơn nữa Đạođức, lối sống có nguy cơ bị xói mòn Các tệ nạn xã hội ngày càng phát triển Tệ thamnhũng, tiêu cực, vi phạm dân chủ, làm mất lòng dân đang trở thành những vấn đề nổicộm của các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh Kỷ cương, phép nước chưa đượcnghiêm minh An ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp “Đảng
bộ đông nhưng chưa mạnh Số đảng viên trung bình còn nhiều công tác tổ chứcchậm đổi mới, chưa có quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng, thay thế; chưa có chính sáchthu hút được số chuyên gia giỏi” [20, tr.23]
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do sự tác động bất lợi của tình hìnhquốc tế, nhất là sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nướcĐông Âu; tình hình chung của cả nước và những khó khăn khách quan của tỉnh.Nhưng chủ yếu và trực tiếp là do năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng,quản lý nhà nước của các cấp các ngành chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụcủa sự nghiệp đổi mới toàn diện Vì vậy, quá trình vận dụng, cụ thể hóa đường lốiđổi mới của Đảng vào điều kiện cụ thể của tỉnh và tổ chức thực hiện để đưa Nghịquyết vào cuộc sống còn những bất cập Thậm chí, có nơi có lúc, sự yếu kém củamột số tổ chức cơ sở đảng, sự thoái hóa biến chất của một bộ phận cán bộ đảngviên đã làm giảm nhiệt tình cách mạng và lòng tin của quần chúng nhân dân đốivới Đảng ta nói chung và Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi nói riêng
Trang 2Về chủ quan, tỉnh Quảng Ngãi có nhiều thuận lợi cơ bản Tuy chưa được hoànthiện, nhưng ủửờng lối lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh luôn thể hiện tinh thần và quyết tâmcao của toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân vì sự nghiệp đổi mới đất nước Nhữngthành tựu quan trọng đã đạt được trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội
và những kinh nghiệm bước đầu được rút ra trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và quản
lý các cấp các ngành trong tỉnh Nếu biết phát huy những thuận lợi cơ bản trên, đồngthời biết khai thác tốt hơn nguồn nhân lực dồi dào, nhất là “chất xám” của đội ngũ cán
bộ khoa học kỹ thuật và quản lý kinh tế đã được đào tạo cơ bản, nguồn vốn tiềm tàngtrong nhân dân, nguồn tài nguyên đa dạng ở địa phương và biết tạo ra môi trường đầu
tư thông thoáng để thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước, thì chắc chắn rằng tỉnhQuảng Ngãi sẽ có những tiền đề khá vững chắc để vượt qua mọi khó khăn, nền kinh
tế - xã hội phát triển cao hơn Nhận thức được điều đó, dưới ánh sáng Nghị quyết Đạihội lần thứ VII của Đảng, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XIV(1991) đã đề
ra mục tiêu tổng quát của 5 năm từ 1991 đến1995 là:
Vượt qua mọi khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế, từngbước nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo nhiệm vụ an ninh quốcphòng, tập trung xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, phát huy dânchủ xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực của bộ máy chính quyền, vai tròcủa Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, tạo tiền đề vật chất để đi lên chonhững năm sau [20, tr.25]
Với quan điểm trên, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã thật sự đề cao vị trí, vai tròcủa nhân tố con người trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Để xây dựng chiếnlược con người, Đảng bộ tỉnh khẳng định: “Công tác giáo dục trong những năm tớicần tập trung vào việc phổ cập tiểu học, đa soỏ trẻ em đến tuổi vào trường học Tiếnhành một cách tích cực công tác xóa mù chữ cho nhân dân và bổ túc văn hóa cho cán
bộ, chiến sĩ, thanh niên ” [20, tr.34] Ngoài ra, mở rộng các trung tâm giáo dục kỹthuật tổng hợp, phát triển các trường, lớp dạy nghề theo các hình thức công lập, dân
Trang 3lập và tư thục Gắn việc học nghề, hành nghề với các nhiệm vụ, mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội của tỉnh Tổ chức tốt nhiệm vụ dạy và học kết hợp với lao động sảnxuất Ngăn chặn tình trạng xuống cấp CSVC, xây dựng và tu sửa trường lớp, trước hếtbằng công sức của thầy và trò; bằng sự đóng góp của nhân dân địa phương, của cácthành phần kinh tế, các tổ chức xã hội và sự hổ trợ của ngân sách nhà nước Tăng c-ường giáo dục chính trị đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật và pháp luật cho học sinh Xâydựng trường thành các trung tâm văn hóa có nền nếp kỷ cương, văn minh, lành mạnh.Chăm sóc sức khỏe học sinh và đời sống của các thầy cô giáo Coi trọng việc nâng caotrình độ giáo viên Chấn chỉnh việc dạy thêm để có chất lượng, ít tốn kém và có thờigian cho học sinh nghỉ ngơi, tham gia các hoạt động xã hội.
Tăng cường chỉ đạo và đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ; chútrọng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, gắn với phục vụ thiếtthực các chương trình kinh tế - xã hội của tỉnh; đặc biệt là thực hiện mục tiêu pháttriển nông nghiệp toàn diện, giải quyết việc làm cho người lao động Tạo điều kiệntốt hơn nữa cho cán bộ khoa học làm việc có hiệu quả và nâng cao trình độ chuyênmôn “Coi đây là sự đầu tư cơ bản phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Mụctiêu hướng mạnh vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”[10, tr.28]
Quán triệt Nghị quyết trên của Đảng bộ, với quan điểm GD-ĐT phải đi trướcmột bước, trong 3 năm (1991-1993), ngành GD-ĐT tỉnh Quảng Ngãi đã đạt đượcmột số kết quả rất đáng trân trọng
Biểu 1.4: Kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học (1991-1993)
Năm Số người ra lớp
xóa mù chữ
Số trẻ em ra lớp phổ cập
Kinh phí được cấp (triệu đồng)
1991
1992
1993
5.747 4.500 3.564
1.159 1.710 2.749
450 530 530
Nguồn: [63, tr.9]
Trang 4Với sự quan tâm của Tỉnh ủy, Ban chỉ đạo xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểuhọc đã thành lập từ cấp tỉnh đến cấp xã theo đúng Luật Phổ cập giáo dục Tiểu họcđược Quốc hội khoá VIII (kỳ họp thứ 9) thông qua ngày 12/8/1991 và Chỉ thị17/CT (1991) của Tỉnh ủy Quảng Ngãi về đẩy mạnh công tác xóa mù chữ, phổ cậpgiáo dục tiểu học Nhờ làm tốt công tác vận động, tuyên truyền, thuyết phục củacác lực lượng xã hội như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên, Hội Liênhiệp phụ nữ, Bộ đội biên phòng cùng với chương trình giảng dạy phù hợp ở mọilứa tuổi nên phong trào xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đã đạt được nhữngthành tích nhất định trong việc hạn chế người mù chữ, tái mù chữ, từng bước nângcao dân trí cho nhân dân ở địa phương
Đến năm 1993, toàn tỉnh đã có 92/171 xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia
về xóa xong mù chữ; nhiều địa phương đạt thành tích cao như thị xã Quảng Ngãi,huyện Sơn Tịnh, huyện Bình Sơn, huyện Tư Nghĩa, huyện Trà Bồng và huyệnMinh Long
Hệ thống trường học, lớp học đã được sắp xếp hợp lý hơn: Tách cấp I và cấp
II hình thành bậc tiểu học, định hình các trường cấp II, phát triển mạng lưới trườngPTTH mới (có từ 6-12 lớp) Đầu tư xây dựng trường trọng điểm chất lượng cao(trường chuyên cấp II, III Lê Khiết) của tỉnh, hình thành hệ thống trường chuyên,lớp chọn nhằm đào tạo những học sinh giỏi, phát hiện, bồi dưỡng nhân tài cho địaphương và cho đất nước Củng cố các trường dân tộc nội trú, các trường trung họcchuyên nghiệp, dạy nghề, các Trung tâm kỹ thuật hướng nghiệp dạy nghề, trungtâm ngoại ngữ, tin học, các cơ sở dạy nghề tư nhân được khuyến khích phát triển tạo kiều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia học tập với nhiều loại hình đào tạokhác nhau Vì thế hàng năm đã thu hút gần 10.000 học viên, trong đó có khoảnghơn 7000 học sinh học nghề phổ thông Các nhóm trẻ gia đình và dân lập các tr-ường này cũng được tạo điều kiện phát triển thuận lợi hơn
Trang 5Để hình thành được đội ngũ những người thầy vừa có bản lúnh chính trị vữngvàng, vừa có nghiệp vụ chuyên môn giỏi; các thế hệ học sinh, học viên chămngoan, học giỏi vừa phát triển về thể chất luôn được Đảng bộ tỉnh và ngành GD-
ĐT xác định là nhiệm vụ hàng đầu quyết định đến chất lượng dạy và học trong nhàtrường Chính vì thế, trong những năm qua, nội dung và phương pháp giảng dạygắn liền với chương trình cải cách, trong đó đặc biệt chú ý đến giáo dục văn hóa,giáo dục chính trị tư tưởng và giáo dục thể chất thông qua những hoạt động ngoạikhóa như tìm hiểu truyền thống cách mạng, truyền thống quê hương, đất nước,truyền thống anh bộ đội cụ Hồ, tìm hiểu pháp luật, Hội khỏe Phù Đổng, các hoạtđộng văn nghệ, thể dục thể thao Việc huy động học sinh đúng độ tuổi đi học ởcác lớp đầu cấp đều cao Tỷ lệ học sinh bỏ học ngày càng giảm Chất lượng học tậpđại trà trong toàn tỉnh được củng cố Chất lượng học sinh trường chuyên, lớp chọnđược nâng cao Học sinh, sinh viên Quảng Ngãi vốn có truyền thống hiếu học Tuyvậy, trước những năm 1990, số học sinh thi đỗ đại học và các giải học sinh giỏicòn thấp Từ năm học 1990-1991 đến nay, đặc biệt là 3 năm (1993-1995), học sinhđạt giải học sinh giỏi cấp quốc gia và tỉnh ngày càng nhiều, đạt nhiều giải cao
Biểu 1.5: Học sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia và tỉnh (1993-1995)
020200
062018
021004
305339
070805
Nguồn: [58, tr.13]
Trang 6Tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại học, trung học chuyênnghiệp, dạy nghề trong toàn tỉnh ngày càng tăng, năm 1993 có 613 em, chiếm tỷ lệ20%; năm 1994 có 1.031 em, chiếm tỷ lệ 26%; năm 1995 có 2.180 em, chiếm tỷ lệ26,15%, đặc biệt có nhiều em đạt thủ khoa [58, tr.14]; số lượng sinh viên vào đạihọc, cao đẳng đạt khá cao trong cả nước; chất lượng học tập của học sinh tại tỉnhngày càng tăng như: Năm học 1994-1995, kết quả học tập của học sinh khối trunghọc chuyên ban: loại tốt chiếm 31,76%, loại khá chiếm 41,34%, loại trung bìnhchiếm 24,34% và loại yếu, kém chiếm 02,35% [58, tr.14].
Việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng chính trị và chuyên môn cho đội ngũ giáoviên được UBND tỉnh và Sở GD-ĐT tỉnh Quảng Ngãi chú trọng thường xuyên Vìvậy, đội ngũ cán bộ, giáo viên các trường đã và đang được củng cố, bố trí, sắp xếplại cho hợp lý hơn Từ năm 1993 đảm bảo được số lượng và chất lượng giáo viên đểphục vụ cho yêu cầu phát triển nhanh GD-ĐT của tỉnh Mặt mạnh cơ bản là: tỷ lệchuẩn hóa đội ngũ giáo viên rất cao so với cả nước; các giải pháp thực hiện đồng
bộ trong quá trình bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực về chuyên môn, nghiệp
vụ cho giáo viên ở tất cả các bậc, ngành học đạt hiệu quả cao; đồng thời đảm bảotốt các chủ trương do Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra
Quan điểm đúng đắn và sự chỉ đạo sát thực, cụ thể của Đảng bộ tỉnh nhằmthực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 của Đảng và Nghị quyết của Tỉnh ủy
về GD-ĐT, đã thực sự tạo nên những bước chuyển biến mới về mặt nhận thức củatoàn xã hội đối với vị trí, vai trò của GD-ĐT Từ đó đã huy động được mọi nguồnlực tập trung cho phát triển sự nghiệp GD-ĐT Kết quả sau 3 năm thực hiện (1994-1996), nhiều chỉ tiêu của ngành đề ra thực hiện kết quả như sau:
- Sắp xếp, từng bước hoàn thiện hệ thống trường lớp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Trang 7Tách khỏi bậc tiểu học với PTCS, hệ thống trường tiểu học được xây dựng
và phân bổ rộng khắp các xã, phường trong toàn tỉnh để tạo điều kiện thuận lợi chohọc sinh đến trường Hệ thống trường PTCS xã và liên xã được hình thành, phùhợp với những điều kiện dạy và học ở từng địa bàn Hệ thống trường trung họcchuyên nghiệp, dạy nghề tiếp tục được củng cố và mở rộng, đáp ứng được nhu cầuhọc tập, đào tạo cho các tầng lớp nhân dân Đến năm 1996, toàn tỉnh có 159 trườngmầm non, 224 trường tiểu học, 108 trường THCS, 30 trường PTTH, 06 trườngtrung học chuyên nghiệp - dạy nghề, 05 trung tâm GDTX, 05 trường dân tộc nộitrú, 01 trung tâm xúc tiến việc làm của Sở Lao động - Thương binh - xã hội tỉnh vàcác Trung tâm dạy ngoại ngữ, tin học khác
- Tăng nhanh số lượng học sinh, sinh viên ở các cấp học, ngành học, đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch.
Giáo dục mầm non và phổ thông đã hạn chế được sự giảm sút, tỷ lệ trẻ em vàhọc sinh đến trường, đến lớp tương đối ổn định; các trường trung học chuyênnghiệp - dạy nghề đào tạo đắc lực, góp phần cho sự ra đời và trưởng thành của độingũ những người lao động lành nghề Phong trào thi đua học tập, nâng cao trình độdân trí của người dân Quảng Ngãi được giữ vững và ngày càng phát triển Sốngười tham gia học tập với nhiều loại hình trường lớp và phương thức đào tạo khácnhau Số lượng trường lớp và người học năm sau cao hơn năm trước So sánh nămhọc 1993-1994 với năm học 1995-1996 là: mẫu giáo từ 27.100 em tăng lên 29.293em; tiểu học 4.649 học sinh tăng lên 4.758 học sinh; THCS 1.567 học sinh tăng lên1.806; THPT 324 học sinh tăng lên 462 học sinh [58, tr.16]; riêng trung họcchuyên nghiệp - dạy nghề, năm học 1990-1991 mở được 76 lớp học với 3.829 họcsinh, đến năm học 1995-1996 mở được 131 lớp học với 6.453 học sinh (trong đó
có 1.462 sinh viên đại học tại chức); Trung tâm ngoại ngữ - tin học đào tạo hơn1.400 cán bộ lãnh đạo, quản lý, công nhân viên chức - lao động và hàng ngàn học
Trang 8sinh, sinh viên trình độ A, B, C, góp phần nâng cao trình độ ngoại ngữ và tin họccho cán bộ công chức và nhân dân trong tỉnh [58, tr.34].
- Đẩy mạnh công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học đạt được những kết quả đáng kể
Thông qua những chính sách khuyến khích cụ thể và thiết thực như tăng kinhphí Nhà nước cấp cho mỗi học sinh tiểu học, miễn giảm ngày công lao động côngích tại địa phương cho người đi học, đồng thời tăng gấp đôi tiền bồi dưỡng cho cán
bộ giảng dạy Qua cuộc tổng điều tra trình độ văn hóa của tỉnh tháng 7/1996 kếtquả công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học là: Diện cháu 6-14 tuổi đang
và đã học xong cấp I là : 230.359 trên tổng số 247.394, đạt tỷ lệ 93,11%; Diệntrong độ tuổi từ 15- 35 tuổi có 432.311 người thì có, 55.512 người có trình độ vănhóa hết cấp III trở lên, đạt tỷ lệ 12,84 % Có 8.879/19.231 người được xóa mù chữ,đạt tỷ lệ 46,17% [56, tr.7-8], có 125/171 xã và 9/13 huyện, thị được công nhận đạtchuẩn quốc gia về xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học [58, tr.3]; Riêng cuốinăm 1996 đã huy động 4.374/ 6.312 người vào lớp học xóa mù chữ, kiểm tra côngnhận 1.926 người ở mức ba
- Nề nếp dạy và học ở các cấp học, ngành học được củng cố và giữ vững, chất lượng giáo dục có những bước chuyển biến tích cực.
Ngành mầm non đã có những cải tiến về nội dung, chương trình và phươngpháp nuôi dạy trẻ nên chất lượng nuôi- chăm sóc- giáo dục trẻ có tiến bộ rõ rệt,nhất là công tác chống suy dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, nên số cháu đạt "Békhoẻ", "Bé ngoan" chiếm tỷ lệ 81% tổng số cháu đi học Ngành học phổ thông đãthực hiện chương trình 12 năm cải cách giáo dục, chất lượng văn hóa của học sinhđược duy trì, củng cố và có bước tiến bộ hơn trước, nhất là các trường chuyên, lớpchọn và trường PTTH phân ban Ngành giáo dục chuyên nghiệp - dạy nghề đã chú
ý đầu tư CSVC, cải tiến chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy; tổ chức,
Trang 9sắp sếp lại quá trình đào tạo để thực hiện 5 chương trình mục tiêu của Bộ Giáo dục
và Đào tạo đề ra nên chất lượng đào tạo khá, cơ cấu ngành nghề đào tạo được bốtrí hợp lý, bước đầu được xã hội chấp nhận Công tác giáo dục chính trị tư tưởng,đạo đức cho học sinh bước đầu được chú ý, như tập trung vào việc xây dựng tinhthần thái độ học tập, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức, trách nhiệm xây dựng quêhương đất nước Tính chung trong toàn tỉnh, năm 1995, tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệpkhá cao: Tiểu học đạt 98,31%; Trung học cơ sở đạt 90,12%; Phổ thông trung họcđạt 92,34% tỷ lệ hạnh kiểm tốt - khá là 90,20% [57, tr.24-25] Đặc biệt trong 4năm từ 1992-1996, trường chuyên Lê Khiết có 138 học sinh giỏi cấp tỉnh (toàn tỉnh
có 648 học sinh giỏi cấp tỉnh) và 23 học sinh đạt giỏi quốc gia (toàn tỉnh có 62 họcsinh đạt giỏi quốc gia), trong đó có em Nguyễn Hữu Hội đạt giải toán Olympicquốc tế, có 398 học sinh trúng tuyển Đại học và có nhiều em đậu thủ khoa Giáodục chuyên nghiệp - dạy nghề có nhiều chuyển biến tốt, tổng số học sinh, sinh viêntăng gấp 2 lần so với năm 1990, hiện nay có 7.232 học sinh được nhận học bổng,chiếm tỷ lệ 54,8% (so với tổng số hàng năm) [58, tr 5]
- Đội ngũ giáo viên tiếp tục được xây dựng và tăng cường về số lượng và chất lượng.
Thực hiện chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giáo viên theochu kỳ 1992-1996 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở GD-ĐT Quảng Ngãi đã liên kếtvới các trường đại học Quy Nhơn, đại học Sư phạm Huế, đại học Ngoại ngữ ĐàNẵng để triển khai thực hiện đầy đủ các quy trình và đạt được kết quả khả quan:Bậc tiểu học 4121 giáo viên, đạt 89%; THCS 3.123 giáo viên, đạt 92%; PTTH 567giáo viên, đạt 97%; trung học chuyên nghiệp 82/85 giáo viên, đạt 97% [59, tr.8].Đồng thời chủ động đến các trường đại học để tìm nguồn và tiếp nhận, phân côngsinh viên tốt nghiệp ra trường có nhu cầu về công tác tại Quảng Ngãi là 2.665 em.Được sự quan tâm và ủng hộ kinh phí của các cấp, các ngành tại địa phương tạo
Trang 10điều kiện cho việc thực hiện tốt chương trình mục tiêu như: kết hợp bồi dưỡng
chuẩn hóa và đào tạo, bồi dưỡng vượt chuẩn với nhiều hình thức tại các trường cao
đẳng, đại học trong nước (riêng đào tạo sau đại học: 55 cao học, 05 nghiên cứu
sinh) Toàn tỉnh có 20 tiến sĩ, và 169 thạc sĩ [58, tr 45]
Tuy bị ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường đến đời sống vật chất, tinh thần nhưng
đa số cán bộ, giáo viên đã không ngừng phấn đấu, khắc phục khó khăn để bám trường,
bám lớp, giữ vững phẩm chất, lương tâm nghề nghiệp, góp phần quyết định việc phát
triển số lượng và nâng cao chất lượng sự nghiệp GD-ĐT Đưa tổng số cán bộ, giáo viên
từ 8.566 (1991) tăng lên 10.714 giáo viên (1996), cơ bản đủ cho yêu cầu phát triển
GD-ĐT tại tỉnh Số giáo viên hiện nay thiếu không nhiều, bậc tiểu học và THCS ở
các vùng sâu, vùng xa, hải đảo đã được bố trí đủ 887 giáo viên vào năm học
1996-1997
Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua hai tốt, ngành GD-ĐT Quảng Ngãi đã
chỉ đạo Phòng Giáo dục huyện, các trường PTTH trong tỉnh tổ chức thao giảng, dự
giờ, thi tuyển chọn giáo viên dạy giỏi các cấp Hàng năm có hàng nghìn giáo viên
đăng ký dự thi, trong đó có 234 giáo viên đạt dạy giỏi cấp tỉnh Cụ thể:
Biểu 1.6: Giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh từ năm học 1991-1992 đến 1995-1996
1727362622
00061112
2734596054
Nguồn:[61, tr 8]
Vì vậy, đã xuất hiện nhiều tấm gương sáng, tiêu biểu cho học sinh và đồng
nghiệp noi theo