A – MỞ ĐẦU Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện nay, với nhiều ưu thế so với các loại hình công ty khác như: các cổ đông trong công ty
Trang 1MỤC LỤC
A – Mở đầu
B – Nội dung
I – Khái quát về công ty cổ phần và vốn của công ty cổ phần
1 Khái quát về công ty cổ phần
2 Vốn và cấu trúc vốn của công ty cổ phần
II – Quy định của pháp luật về các hình thức huy động vốn của CTCP
1 Huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu
2 Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu
3 Huy động vốn thông qua các hình thức tín dụng
III – Thực trạng huy động vốn của công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay
IV – Một số đề xuất giải pháp về huy động vốn trong CTCP
C – Kết luận
Trang 2A – MỞ ĐẦU
Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện nay, với nhiều ưu thế so với các loại hình công ty khác như: các
cổ đông trong công ty chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp, có cấu trúc vốn linh hoạt và khả năng chuyển nhượng vốn góp tự do, dễ dàng, có tính ổn định trong kinh doanh và không hạn chế thời gian tồn tại … Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn hoạt động sản xuất kinh doanh được thì phải có công nghệ, lao động và vốn, trong đó vốn là nhân tố đầu tiên để hình thành nên các yếu tố còn lại, nó phản ánh năng lực chủ yếu và quyết định khả năng kinh doanh Trong công ty cổ phần cũng vậy, vấn đề vốn cũng là một trong những vấn đề đặc trưng, phức tạp và quan trọng nhất Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin lựa chịn đề tài
“tìm hiểu pháp luật về huy động vốn của công ty cổ phần” cho bài tập lớn học kỳ
của mình
B – NỘI DUNG
I – Khái quát về công ty cổ phần và vốn của công ty cổ phần
3 Khái quát về công ty cổ phần
Công ty cổ phần (CTCP) đầu tiên trên thế giới ra đời khoảng thế kỉ XVII, nó gắn liền với sự bóc lột của chủ nghĩa đế quốc với các nước thuộc địa, sang thế kỉ XIX công ty cổ phần ngày càng phát triển mạnh mẽ Với tính chất như một hiện tượng kinh tế - xã hội, CTCP nói riêng cũng như các loại hình công ty nói riêng
đã trở thành một thực thể pháp lí Trong khoa học pháp lí, hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau lại có những định nghĩa khác nhau về CTCP Pháp luật Việt Nam không đưa ra định nghĩa cụ thể về CTCP mà chỉ đưa ra những dấu hiệu
để nhận biết Theo Khoản 1 Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005 quy định:
“Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
b) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
c) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;
d) Cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
e) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này”.
Ngoài ra tại khoản 2 và khoản 3 Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005 còn cho thấy rõ CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh và có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán
Trang 34 Vốn và cấu trúc vốn của công ty cổ phần
Doanh nghiệp không thể được thành lập và hoạt động nếu không có vốn Vốn
là yếu tố quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ cũng như quan
hệ với các đối tác bên ngoài Trong quan hệ nội bộ, vốn của công ty được xem là cội nguồn của quyền lực Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của công ty là một dấu hiệu chỉ rõ thực lực tài chính của công ty CTCP là loại hình công ty đối vốn điển hình do vậy vấn đề vốn của CTCP hết sức phức tạp Vốn của công ty cổ phần có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ dựa trên những tiêu chí khác nhau Căn cứ vào nguồn gốc hình thành vốn của công ty cổ phần được chia thành: vốn
sở hữu (vốn tự có) và vốn tín dụng (vốn vay)
Vốn chủ sở hữu: là vốn thuộc sở hữu của công ty, được hình thành từ nguồn vốn đóng góp của các cổ đông và vốn do CTCP tự bổ sung từ lợi nhuận của công ty
Vốn tín dụng: là nguồn vốn hình thành từ việc đi vay bằng nhiều hình thức khác nhau: vay ngân hàng, vay từ tổ chức cá nhân, vay bằng cách phát hành trái phiếu
Vốn của CTCP có thể được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng điều quan trọng là công ty có tỷ lệ vốn hợp lý, phương thức huy động vốn thích hợp và có phương án kinh doanh đúng đắn để sự dụng vốn hiệu quả và tạo được niềm tin cho đối tác đảm bảo công ty phát triển vững mạnh
II – Quy định của pháp luật về các hình thức huy động vốn của CTCP
Theo Luật doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh
“không được phát hành bất kì một loại chứng khoán nào” (Khoản 3 Điều 130 và
khoản 2 Điều 141) Mặc dù, khả năng huy động vốn của công ty TNHH có thuận
lợi hơn là được quyền phát hành trái phiếu nhưng cũng “không được phát hành
cổ phần” (khoản 3 Điều 38) Hơn hẳn các loại hình công ty kia về khả năng huy
động vốn của mình, CTCP có quyền phát hành chứng khoán theo khoản 3 Điều
77 Luật doanh nghiệp 2005: “Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán
các loại để huy động vốn”
Cũng giống như nhiều loại hình công ty khác, CTCP có hai cách để huy động vốn là tăng vốn chủ sở hữu và tăng vốn vay Tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành thêm cổ phiếu; còn tăng vốn vay được thực hiện thông qua ba hình thức: phát hành trái phiếu, tín dung ngân hàng, tín dụng thuê mua
1 Huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu
Trong quá trình sản xuât kinh doanh, CTCP có thể tăng vốn thông qua phát hành cổ phiếu mới Hình thức huy động này có đặc điểm cơ bản là tăng vốn mà không làm tăng nợ của công ty, bởi những người sở hữu cổ phiếu trở thành cổ đông – chủ sở hữu của công ty
Trang 4a Khái niệm cổ phần, cổ phiếu
Cổ phần là khái niệm chỉ các chứng nhận hợp lệ về quyền sở hữu một phần đơn vị nhỏ nhất của một cá nhân hay tổ chức trong CTCP Ở các quốc gia khác
nhau, thuật ngữ “cổ phần” được hiểu theo các cách khác nhau nhưng bản chất
của nó vẫn thể hiện quyền sở hữu đối với CTCP Ở Việt Nam, cổ phần là phần chia nhỏ nhất và bằng nhau của vốn điều lệ (Điểm a khoản 1 Điều 77 LDN 2005) Luật doanh nghiệp Việt Nam quy định rất rõ ràng và cụ thể các loại cổ phần mà CTCP được phép phát hành, đó là: cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi
Luật doanh nghiệp không đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là cổ phần phổ thông nhưng căn cứ vào quyền và nghĩa vụ của người nắm giữ nó Cổ phần phổ thông được hiểu là loại cổ phần có thu nhập không ổn định, cổ đông nắm giữ cổ phần phổ thông được trả cổ tức hàng năm tùy thuộc vào hoạt động kinh doanh của công ty và có những quyền cơ bản nhất như biểu quyết, tham gia bầu cử và ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm soát công ty, chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của mình
Luật doanh nghiệp cũng không đưa ra khái niệm chung cho cổ phần ưu đãi
mà mỗi cổ phần ưu đãi đều có khái niệm riêng và đem lại cho người nắm giữ những quyền đặc biệt Thực chất, cổ phần ưu đãi có nguồn gốc từ cổ phần ưu đãi phổ thông, chẳng qua từ cái gốc chính đó, người ta giảm đi các yêu tố quyền căn bản để tạo ra những cổ phần ưu đãi khác nhau Trong đó:
Cổ phần ưu đãi biểu quyết, theo khoản 1 Điều 81 Luật doanh nghiệp 2005,
là “cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông Số phiếu
biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định” Như
vậy, so với các cổ phần phổ thông, cổ phần ưu đãi biểu quyết sẽ co tiếng nói nhiều hơn trong các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông Luật doanh nghiệp không hạn chế tối đa số phiếu biểu quyết của cổ phần ưu đãi biểu quyết và cũng không hạn chế tỷ lệ cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ phần ưu đãi biểu quyết nói riêng
mà chỉ hạn chế về chủ thể có quyền nắm giữ loại cổ phần này nhằm hạn chế cổ
đông đưa ra các quyết định bất lợi cho CTCP Theo đó, “chỉ có tổ chức được
Chính phủ ủy quyền và cổ đông sang lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết”.
Cổ phần ưu đãi cổ tức, theo khoản 1 Điều 82 Luật doanh nghiệp 2005, là
“cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ thức của cổ phần phổ
thông hoặc mức ổn định hằng năm” Cổ tức được chia hằng năm gồm cổ tức cố
định và cổ tức thưởng Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty Dưới góc độ này ta thấy cổ phần ưu đãi cổ tức mang đặc tính của một trái khoán Loại cổ phần này có sức hút đông đảo các nhà đầu tư chỉ quan tâm đến lợi nhuận
Trang 5 Cổ phần ưu hoàn lại, theo khoản 1 Điều 83 Luật doanh nghiệp 2005, là
“cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của người
sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại” Cổ phần ưu đãi loại này cũng là một trong những công cụ huy động vốn hữu
hiệu của CTCP, đặc biệt là khi công ty cần gấp một khoản vốn lớn để giải quyết những công việc cụ thể Có thể nói, đây cũng là một khoản vay của CTCP trong quá trình hoạt động của mình, chỉ khác là công ty không trả lãi cho người nắm giữ nó và quyền ưu tiên nhận tài sản còn lại của CTCP phải xếp sau người nắm giữ trái phiếu sau khi công ty giải thể hoặc phá sản (nếu có)
Như đã đề cập trên thì cổ phần là phần chia nhỏ nhất và bằng nhau của vốn điều lệ, là tượng trưng cho quyền sở hữu của cổ đông và được cụ thể hóa bằng một cố phiếu, chỉ có CTCP mới phát hành cổ phiếu Luật doanh nghiệp định
nghĩa cổ phiếu là “chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ
xác nhận quyền sở hữu một hoặc một phần của công ty đó Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên” Như vậy, cổ phiếu trên thực tế là giấy chứng nhận
quyền sở hữu cổ phần của cổ đông, trong trường hợp cổ phiếu tồn tại dưới dạng bút toán ghi sổ đó là cơ sở để xác định phần quyền sở hữu của cổ đông
Thông thường các CTCP đều phân cổ phiếu thành “cổ phiếu thường” và
“cổ phiếu ưu đãi” Cổ phiếu ưu đãi bao gồm cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ
phiếu ưu đãi cổ tức, cổ đãi ưu đãi hoàn lại ghi nhận cổ đông ưu đãi hơn cổ đông phổ thông trong một số quyền như nhận cổ tức với mức ưu đãi, tỷ lệ biểu quyết cao hơn, được hoàn lại cổ phần nhưng đồng thời cũng bị hạn chế một số quyền như: không được tự do chuyển nhượng cổ phần, không có quyền bầu cử, ứng cử,
…
b Quy định của pháp luật về việc phát hành cổ phiếu
Phát hành cổ phiếu là việc chào bán cổ phần của CTCP cho người đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của công ty Kết quả của việc chào bán cổ phần sẽ đảm bảo huy động vốn điều lệ trong quá trình thành lập công ty hoặc sẽ làm tăng vốn điều lệ của công ty khi công ty đang trong quá trình hoạt động
Việc phát hành cổ phiếu có thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông hiện có hoặc có thể dẫn tới sự thay đổi vị thế của từng cổ đông Do vậy việc quyết định bán loại cổ phần, số lượng mỗi cổ phần chào bán sẽ do Đại hội đồng
cổ đông quyết định còn Hội đồng quản trị quyết định thời điểm bán, phương thức
và giá chào bán
Phát hành cổ phiếu có thể diễn ra nhiều lần Có thể chia thành các trường hợp: phát hành cổ phiếu lần đầu để huy động vốn thành lập công ty và phát hành
cổ phiếu trong quá trình hoạt động công ty
Phát hành cổ phiếu lần đầu khi thành lập công ty:
Trang 6Khi thành lập, CTCP phải huy động vốn góp từ các cổ đông Theo quy định thì các cổ đông sang lập phải cùng nhau đăng kí mua ít nhất 20% tổng số cổ phần được chào bán Trong trường hợp các cổ đông sáng lập không đăng kí mua hết số
cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần còn lại phải được chào và bán hết trong thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận kinh doanh
Vì vậy, tối thiểu các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ 20% số cổ phiếu
dự tính phát hành, số cổ phiếu còn lại sẽ được phát hành để huy động đủ số vốn điều lệ Các cổ đông sáng lập phải thực hiện nguyên tắc nhất trí về số lượng cổ
phần, laoij cổ phần dự kiến chào bán Theo Điều 89 LDN 2005 quy định: “Cổ
phần, trái phiếu của CTCP có thể được mua bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác quy định tại Điều lệ công ty và phải được thanh toán đủ một lần” Đối với tài sản góp vốn không phải tiền Việt Nam,
ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng thì được định giá (do các cổ đông sáng lập thực hiện theo nguyên tắc nhất trí) Trách nhiệm của những cổ đông sáng lập về tính chính xác, trung thực đối với giá trị tài sản góp vốn được giới hạn trong phạm vi các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty tại thời điểm kết thúc định giá Những người cam kết mua cổ phần còn phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty theo đúng quy định của pháp luật quy định tại Điều 29 Luật doanh nghiệp 2005
Phát hành cổ phiếu trong quá trình hoạt động của công ty:
Trong quá trình hoạt động, cổ phiếu cũng trở thành một trong những phươn tiện để huy động vốn rất hiệu quả Việc phát hành thêm cổ phiếu sẽ làm tăng vốn chủ sở hữu của công ty tạo ra một lá chắn chống lại sự phá sản công ty, làm tăng
độ tín nhiệm của công ty Đây thực chất là việc công ty chào bán cổ phần để huy động vốn Theo pháp luật Việt Nam, phát hành cổ phiếu có thể thực hiện bằng hai phương thức: phát hành riêng lẻ và phát hành rộng rãi ra công chúng
Phát hành riêng lẻ: là hình thức phát hành trong đó cổ phiếu có thể được bán cho phạm vi một số người nhất định với số lượng hạn chế, thông thường bán cho những người trong công ty Luật doanh nghiệp 2005 lần đầu tiên đưa ra quy định về việc công ty phát hành thêm cổ phần phổ thông và chào bán
cổ phần đó cho tất cả các cổ đông theo tỉ lệ cổ phần hiện có tại công ty (Điều 87 Luật doanh nghiệp 2005) Quy định này thực sự có một bước phát triển hơn so với Luật doanh nghiệp trước đó Tuy nhiên, trình tự thủ tục, điều kiên, … chào bán cổ phiếu riêng lẻ Luật doanh nghiệp không trực tiếp quy định mà do Chính phủ có hướng dẫn cụ thể
Phát hành cổ phiếu ra công chúng: là phương thức phát hành trong
đó cổ phiếu được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn cổ phiếu phát hành đạt được một tỉ lệ quy định và phải dành một tỉ lệ nhất định cho các nhà đầu
tư nhỏ Theo khoản 6 Điều 87 Luật doanh nghiệp 2005, điều kiện, phương thức
Trang 7và thủ tục chào bán cổ phần ra công chúng thực hiện theo quy định của Luật chứng khoán Ngoài ra, công ty còn phải thực hiện chế độ báo cáo, công bố thông tin và chịu sự giám sát chặt chẽ theo quy định của pháp luật Điều đó xuất phát từ
lí do để cổ phần hay trái phiếu của công ty phát hành ra không phải là sản phẩm của trò lừa đảo hoặc của chủ thể có dự án đầu tư kém hiệu quả, gây lãng phí cho nền kinh tế, đồng thời bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư
CTCP muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng phải đảm bảo các yêu cầu về vốn, thời gian hoạt động, đội ngũ quản lý, hiệu quả sản xuất kinh doanh và tính khả thi của các dự án trong tương lai, được quy định rõ trong khoản 1 Điều 12
Luật chứng khoán 2006: “Điều kiện chào bán cổ phần ra công chúng phải đảm
bảo các điều kiện sau:
a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ tại thời điểm đăng kí chào bán từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị trên sổ kế toán;
b) Hoạt động kinh doanh của công ty năm liền trước năm chào bàn phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng kí chào bán;
c) Có phương án phát hành và phương án sử dụng thu hút được
từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua”.
Việc quy định như vậy nhàm đảm bảo số lượng và chất lượng cổ phiếu của CTCP và chỉ ở loại hình CTCP mới có điều này, hơn nữa việc chuyển nhượng cổ phần tự do càng tạo ra sức hút lớn đối với các nhà đầu tư
Không chỉ huy động vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu, CTCP còn được quyền huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu và các hình thức tín dụng khác
2 Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu
a Khái niệm và đặc điểm của trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán ghi nợ được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, có thể chuyển nhượng được trong đó ghi nhận một khoản vay trung hạn và dài hạn của CTCP Người sở hữu trái phiếu có mệnh giá giống nhau thì có trái quyền giống nhau Bằng việc phát hành trái phiếu CTCP có thể có được những số tiền lớn mà không gặp các khó khăn vì người sở hữu trái phiếu chỉ là một chủ nợ, cổ đông của CTCP sẽ không tăng thêm và không đảo lộn thành viên trong các phiên họp Đại hội đồng cổ đông Lãi suất trả cho các khoản vay có thể thấp hơn lãi suất ngân hàng và công ty cũng dễ dàng duy trì sự tồn tại của mình trước nhiều chủ nợ thay vì một chủ nợ duy nhất là Ngân hàng Mặt khác, khoản tiền lãi này được trừ vào lợi tức chịu thuế, một đặc điểm thuận lợi cho CTCP Với tư cách là một loại chứng chỉ xác nhận lợi ích tài sản, trái phiếu là phần thứ hai trong cơ cấu vốn của công ty có liên quan đến việc hình thành thị trường chứng khoán
Trái phiếu của công ty phát hành có đặc điểm:
Trang 8 Trái phiếu có thời gian đáo hạn Khi đến thời điểm đáo hạn, người chủ sở hữu trái phiếu được hoàn trái
Trái phiếu có lợi tức cố định, tiền lãi phải trả cho chủ sở hữu không phụ thuộc vào mức lợi nhuận của công ty Có nghĩa là kết quả sản xuất kinh doanh của công ty không ảnh hưởng đến lợi ích của người sở hữu trái phiếu
Người sở hữu trái phiếu không có quyền tham gia biểu quyết các vấn đề của công ty
Trái phiếu đem lại cho người chủ sở hữu quyền ưu tiên về phân chia lợi nhuận cũng như quyền ưu tiên về phân chia tài sản khi công ty giải thể hoặc phá sản
Trái phiếu có thể tự do chuyển nhượng trên thị trường chứng khoán Khác với các hình thức vay nợ khác, trái phiếu có khả năng trao đổi Chủ sở hữu trái phiếu cho công ty phát hành vay vốn bằng mua trái phiếu, có quyền giữ lại hoặc bán đi bất cứ lúc nào mà không phải chờ đến kì thanh toán Còn trong trường hợp khi ngân hàng cho vay một khoản tiền thì ngân hàng phải ghi vào trong sổ sách
và lưu giữ cho tới khi khoản nợ đó được thanh toán, do đó có mối quan hệ rằng buộc hơn giữa người đi vay và người cho vay Bằng cách này, trái phiếu tạo điều kiện cho công ty phát hành có thể vay dài hạn trong khi người sở hữu trái phiếu vẫn có thể thu hồi vốn bất cứ khi nào với điều kiện có sự tồn tại và hoạt động của thị trường chứng khoán thứ cấp
b Quy định của pháp luật về huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu
Phát hành trái phiếu là cách thức vay vốn, theo đó người vay phát hành một chứng chỉ thường là với một mức lãi suất xác định, đảm bảo thanh toán vào một thời hạn xác định trong tương lai Người mua trái phiếu sẽ trở thành chủ nợ của công ty, nhận được một mức lãi suất cố định và thanh toán khoản vay khi đáo hạn Phát hành trái phiếu là một trong những cách thức vay vốn quan trọng của CTCP Kết quả của việc phát hành trái phiếu sẽ làm tăng vốn vay của công ty Phương thức huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu là phương thức
ưu việt dành cho những CTCP có dự án kinh doanh dài hạn với một mức lãi suất thích hợp nhỏ hơn lãi suất công ty phải đi vay ngân hàng nhưng lại cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm để thu hút các nhà đầu tư Điều này vừa có lợi cho công ty phát hành cũng như các nhà đầu tư tự do bỏ qua chi phí trung gian
Điều kiện phát hành trái phiếu của CTCP được quy định cụ thể trong Khoản
2 Điều 12 Luật chứng khoán 2006 cũng tương tự như các điều kiện để phát hành
cổ phiếu, ngoài ra công ty còn phải cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư và các điều kiện khác Cũng giống như phát hành cổ phiếu CTCP cũng phải lập hồ sơ nộp lên Ủy ban chứng khoán nhà nước
Trang 9để được cấp giấy phép phát hành Trong hồ sơ, đáng chú ý có bản cáo bạch mà CTCP phải đưa ra, nội dung của bản cáo bạch gồm các thông tin về cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty, hoạt động kinh doanh, tài sản, tình hình tài chính, các báo cáo tài chính của công ty trong hai năm gần nhất, các thông tin về đợt chào bán, … Trong trường hợp CTCP phát hành trái phiếu có đảm bảo thì phải nêu rõ
tỉ lệ đảm bảo và liệt kê chi tiết tài sản đảm bảo trong hồ sơ xin phép phát hành và
có tài liệu hợp lệ để chứng minh tài sản đảm bảo đó thuộc quyền sở hữu của mình hoặc của người thứ ba (trong trường hợp bảo lãnh) và có đủ giá trị thanh toán trái phiếu
Công ty phát hành trái phiếu chuyển đổi: phải nêu rõ điều khoản mua hoặc chuyển đổi trong hồ sơ xin phép phát hành: điều kiện, thời hạn tiến hành mua hoặc chuyển đổi, tỷ lệ chuyển đổi và phương pháp tính giá mua hoặc giá chuyển đổi, phương pháp đền bù thiệt hại trong trường hợp công y phát hành trái phiếu không phát hành cổ phiếu để đáp ứng quyền mua hoặc chuyển đổi và các điều kiện khác nếu có Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Ủy ban chứng khoán nhà nước phải cấp giấy phép phát hành cho công ty, trong trường hợp không cấp phải nêu rõ lý do bằng văn bản
Huy động vôn thông qua phát hành trái phiếu và cổ phiếu là hai hình thức huy động rất hiệu quả đối với CTCP, đặc biệt là các công ty lớn Tuy nhiên, không phải CTCP nào cũng có khả năng hoặc đủ điều kiện để huy động vốn bằng hai hình thức này do vậy CTCP còn có thể huy động vốn thông qua hai hình thức nữa đó là tín dụng ngân hàng và tín dụng thuê mua
3 Huy động vốn thông qua các hình thức tín dụng
a Quy định của pháp luật về huy động vốn thông qua hình thức tín dụng ngân hàng
Huy động vốn thông qua hình thức tín dụng ngân hàng là hình thức huy động vốn phổ biến được các doanh nghiệp nói chung và CTCP nói riêng áp dụng trên thực tế Thông qua hình thức này, CTCP có thể có được các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đáp ứng được yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh Việc huy động vốn thông qua hình thức tín dụng ngân hàng có nhiều thuận lợi hơn đối với các công ty có uy tín, có quan hệ lâu dài với ngân hàng Bên cạnh đó, cơ chế cho vay hiện nay đang tạo cho việc huy động vốn qua ngân hàng có ưu điểm, ưu việt hơn mà huy động vốn bằng trái phiếu không có như khi vay ngân hàng nếu đến hạn trả công ty chưa có khả năng trả nợ thì có thể xin gia hạn nợ Trong khi nếu công ty phát hành trái phiếu thì phải có nghĩa vụ hoàn trả các khoản lãi và gốc khi trái phiếu đến hạn thanh toán
Để huy động vốn thông qua hình thức tín dụng ngân hàng, công ty phải đáp ứng được các điều kiện nhất định như có tình hình tài chính lành mạnh, có phương án sử dụng vốn khả thi và có tài sản bảo đảm cho khoản vay bằng biện
Trang 10pháp cầm cố, thế chấp hoặc được bên thứ ba bảo lãnh bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng trừ trường hợp công ty được ngân hàng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản Công ty vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận; hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
Có hai hình thức cho vay vốn là vay có bảo đảm và vay không bảo đảm
Vay có bảo đảm là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng mà theo đó nghĩa
vụ trả nợ của CTCP được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của công ty hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba Tài sản bảo đảm tiền vay là tài sản của công ty, tài sản hình thành từ vốn vay và tài sản của bên bảo lãnh dùng để bảo đảm bằng tài sản là biện pháp hữu hiệu để ngân hàng dễ dàng thu hồi vốn cho vay đồng thời khuyến khích CTCP hoạt động có hiệu quả
Thế chấp tài sản vay vốn ngân hàng là việc CTCP dùng tài sản (bất động sản thuộc sở hữu của mình) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng Tài sản dùng để thế chấp là những tài sản có giá trị lớn và khó chuyển dịch được Chính vì đặc điểm này mà ngân hành thường quản lí tài sản thế chấp thông qua giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Cầm cố tài sản vay vốn ngân hàng là việc CTCP có nghĩa vụ giao tài sản (động sản thuộc sở hữu của mình) cho ngân hàng để đảm bảo thực hiện nghĩa
vụ trả nợ Khi cầm cố tài sản, công ty có nghĩa vụ giao tài sản cho ngân hàng, nếu tài sản có đăng kí quyền sở hữu thì giữa ngân hàng và công ty có thể thỏa thuận tài sản do công ty giữ hoặc giao cho bên thứ ba giữ, ngân hàng sẽ quản lí gián tiếp tài sản đó thông qua bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản
Bảo lãnh vay vốn ngân hàng là việc bên thứ ba (pháp nhân hoặc cá nhân) thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho CTCP nếu khi đến hạn trả nợ mà công
ty không trả số nợ nợ vay cho ngân hàng Bên bảo lãnh chỉ được bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình Ngân hàng và bên bảo lãnh có thể thỏa thuận biện pháp cầm cố, thế chấp tài sản của bên bảo lãnh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
Khi vay vốn có các biện pháp bảo đảm bằng tài sản trên, công ty và ngân hàng phải lập hợp đồng bảo đảm Hợp đồng bảo đảm có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền Việc kiểm tra tính hợp pháp và điều kiện của tài sản đảm bảo tiền vay do ngân hàng thực hiện Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc CTCP dùng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với ngân hàng Tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản của CTCP mà giá trị tài sản được tạo nên bởi một phần hoặc toàn bộ khoản vay