Khái niệm tội phạm Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểmcho xã hội được quy định trong luật hình sự do người có chức năng tráchnhiệm hình sự thực hiện một cá
Trang 1Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM VÀ PHẠM TỘI CÓ TỔ
CHỨC TRONG CÁC VỤ ÁN CÓ ĐỒNG PHẠM
1 Tội phạm
1.1 Khái niệm tội phạm
Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểmcho xã hội được quy định trong luật hình sự do người có chức năng tráchnhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý; xâm phạm độc lập chủquyền và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; xâm phạm đến chế độ chính trị, chế độkinh tế, văn hóa quốc phòng an ninh; trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợppháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự dotài sản, các quyền tự do, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnhvực khác của trật tự xã hội chủ nghĩa” Điều 8 khoản 1 Bộ luật hình sự 1999
1.2 Các dấu hiệu của tội phạm
Luật hình sự Việt Nam qui định người nào được xem là tội phạm khi
đủ bốn dấu hiệu sau:
1.2.1 Tính nguy hiểm cho xã hội
Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, quyếtđịnh những dấu hiệu khác của tội phạm Hành vi nào đó sở dĩ bị quy địnhtrong luật hình sự là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự vì nó có tínhnguy hiểm cho xã hội Tính nguy hiểm cho xã hội không những là căn cứphân biệt hành vi vi phạm khác mà còn là cơ sở đánh giá mức độ nghiêmtrọng nhiều hay ít của hành vi tội phạm và qua đó giúp cho việc cá thể hóatrách nhiệm hình sự được chính xác
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có tính khách quan, khôngphục thuộc vào ý muốn của nhà làm luật Với ý nghĩa là thuộc tính kháchquan của tội phạm, tính nguy hiểm cho xã hội hoàn toàn có thể được conngười nhận thức và nhận thức đúng Do vậy, khi khẳng định một hành vinguy hiểm cho xã hội là tội phạm là không có nghĩa đó là sự áp đặt một ýmuốn chủ quan của con người mà đánh giá tổng thể các yếu tố khách quan vàchủ quan ảnh hưởng đến tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm của nhà làmluật các yếu tố này bao gồm:
- Tính chất khách thể;
- Tính chất của hành vi khách quan;
Trang 2- Tính chất và mức độ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội;
- Tính chất và mức độ lỗi;
- Động cơ và mục đích của người có hành vi phạm tội;
- Thời gian và địa điểm, hoàn cảnh thực hiện tội phạm;
- Nhân thân người phạm tội;
- Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1.2.2 Tính trái pháp luật
Là dấu hiệu đòi hỏi cần phải có ở hành vi bị coi là phạm tội Tính tráipháp luật là cơ sở đảm bảo cho đường lối đấu tranh, phòng chống tội phạmthống nhất, là động lực thúc đẩy của các cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung,sửa đổi luật theo sát sự thay đổi của tình hình biến động của xã hội Nó là dấuhiệu thể hiện về mặt hình thức pháp lý thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội.Tính trái pháp luật tuy là dấu hiệu về mặt hình thức nhưng vẫn có tính độc lậptương đối và có ý nghĩa quan trọng Nếu chỉ coi trọng dấu hiệu tính nguyhiểm cho xã hội của tội phạm thì sẽ dẫn đến tình trạng tùy tiện trong xử lýhình sự Ngược lại, nếu quá coi trọng tính trái pháp luật thì dẫn đến tình trạngxác định tội phạm một cách hình thức, máy móc Do đó, Điều 8 khoản 4 Bộluật hình sự quy định “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưngtính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm”
Và tính trái pháp luật có quan hệ biện chứng với tính nguy hiểm cho xã hội
Trong Bộ luật hình sự Việt Nam, tính có lỗi được nêu trong định nghĩa
về tội phạm là dấu hiệu độc lập với tính nguy hiểm cho xã hội nhưng khôngphải để tách tính có lỗi ra khỏi tính nguy hiểm cho xã hội mà để nhấn mạnhtính chất quan trọng của tính có lỗi
Như vậy, Luật hình sự Việt Nam xem lỗi là một dấu hiệu của tội phạm
để thừa nhận lỗi là một nguyên tắc cơ bản trong luật hình sự Khi xác địnhhành vi có phải là tội phạm hoặc không cần dựa trên cơ sở thống nhất các yếu
tố khách quan và chủ quan Bởi vì, chúng ta áp dụng hình phạt không phải đểtrừng trị hành vi nguy hiểm cho xã hội mà nhằm mục đích cải tạo, giáo dục
Trang 3người phạm tội thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới.Hình phạt sẽ không đạt mục đích, thậm chí còn có tác dụng ngược lại nếuhình phạt được áp dụng đối với người không có lỗi.
1.2.4 Tính phải chịu hình phạt
Tính phải chịu hình phạt là một dấu hiệu bên ngoài của tội phạm cótính quy kết kèm theo các dấu hiệu khác của tội phạm Nó được xem là dấuhiệu của tội phạm bởi nó là một thuộc tính khách quan của tội phạm Chỉhành vi phạm tội mới phải là tất yếu phải bị áp dụng hoặc đe dọa áp dụnghình phạt Chính vì thế, trên thực tế có những hành vi phạm tội bị áp dụnghình phạt nhưng cũng có những hành vi phạm tội không bị áp dụng hình phạt
1.3 Phân loại tội phạm
1.3.1 Phân loại theo các căn cứ thuộc yếu tố chủ quan
Theo căn cứ này có các cách phân loại sau:
- Phân loại tội phạm dựa vào hình thức lỗi thì có tội phạm có lỗi cố ý vàtội phạm có lỗi vô ý
- Phân loại tội phạm dựa vào mục đích của tội phạm: chỉ tiến hành ởmột số chương
- Phân loại tội phạm dựa vào chủ thể của tội phạm: chủ thể tội phạmchỉ có thể là căn cứ phân loại tội phạm theo các quy định ở Điều 12 Bộ luậthình sự Bởi vì, chỉ những dấu hiệu của chủ thể được quy định với vai trò xácđịnh tội danh mới có thể làm căn cứ phân loại tội phạm
1.3.2 Phân loại theo các căn cứ thuộc yếu tố khách quan
- Phân loại tội phạm theo khách thể của tội phạm: Tội phạm được phânchia thành 14 nhóm tương ứng với 14 chương của các phần tội phạm Bộ Luậthình sự
- Phân loại tội phạm theo tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm: Tộiphạm được chia thành bốn nhóm là tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tộirất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng
2 Cấu thành tội phạm
2.1 Khái niệm
Mỗi trường hợp phạm tội cụ thể của loại tội phạm nhất định đều có nộidung biểu hiện riêng biệt ở cả bốn yếu tố Ví dụ: cũng là tội giết người nhưngnhững nội dung biểu hiện cụ thể của bốn yếu tố của tội phạm trong từngtrường hợp giết người đều có những nét riêng biệt, không trường hợp nàogiống hoàn toàn trường hợp nào Tuy khác nhau như vậy, nhưng tất cả cáctrường hợp phạm tội của loại tội nhất định đều có những nội dung biểu hiện
Trang 4giống nhau ở cả bốn yếu tố Những biểu hiện giống nhau đó được coi lànhững dấu hiệu chung có tính đặc trưng của loại tội nhất định Tổng hợpnhững dấu hiệu đó trong khoa học luật hình sự được coi là cấu thành tộiphạm.
Như vậy, cấu thành tội phạm là hệ thống các dấu hiệu cần và đủ đặctrưng cho từng tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự
2.2 Đặc điểm của cấu thành tội phạm
2.2.1 Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm
Tội phạm theo quy định luật hình sự Việt Nam phải được quy địnhtrong luật hình sự Nhà nước quy định tội phạm trong luật hình sự bằng cách
mô tả những dấu hiệu của cấu thành tội phạm và quy định những dấu hiệu đótrong luật Do vậy, tất cả những dấu hiệu của cấu thành tội phạm đều phải lànhững dấu hiệu đã được quy định trong luật hình sự
Những cơ quan áp dụng pháp luật không được phép thêm hoặc bớt dấuhiệu nào của cấu thành tội phạm mà chỉ được phép giải thích nội dung nhữngdấu hiệu đã được quy định
2.2.2 Các dấu hiệu cấu thành tội phạm có tính đặc trưng phổ biến:
Cấu thành tội phạm là khái niệm pháp lý của tội phạm cụ thể nên nóphải bao gồm tất cả những dấu hiệu cần và đủ để đặc trưng cho từng loại tộiphạm cụ thể Các dấu hiệu này vừa khái quát vừa rõ ràng, đồng thời phản ánhđược những nội dung thể hiện tính chất đặc trưng của một loại tội và đủ đểphân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác; giữa tội phạm với các hành vikhông phải là tội phạm
Tính đặc trưng phổ biến thể hiện ở chỗ khi kết hợp với nhau, các yếu tốnày vừa phản ánh đầy đủ bản chất, xã hội của một loại tội phạm vừa cho phépphân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác Như vậy thì không thể có haicấu thành tội phạm giống nhau Nhưng không có nghĩa một dấu hiệu nào đó
đã có ở cấu thành tội phạm của tội phạm này thì không có ở tội phạm khác.Cũng dấu hiệu đó, nhưng kết hợp với các dấu hiệu khác nhau trong những tộiphạm khác nhau
2.3 Phân loại cầu thành tộp phạm
2.3.1 Căn cứ theo tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Theo cách phân loại này, thì cấu thành tội phạm có các loại sau:
- Cấu thành tội phạm cơ bản: Là cấu thành tội phạm có ở mọi trườnghợp phạm tội của một loại tội thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của loại tộiphạm và cho phép phân biệt với các loại tội khác
Trang 5- Cấu thành tội phạm giảm nhẹ: là cấu thành tội phạm được hình thànhdựa trên các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản cùng với những yếu tốkhác khiến cho tội phạm giảm đi tính nguy hiểm cho xã hội.
- Cấu thành tội phạm tăng nặng: là cấu thành tội phạm được hình thànhdựa trên các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản cùng với các yếu tố kháckhiến cho tội phạm tăng tính nguy hiểm cho xã hội
2.3.2 Căn cứ theo đặc điểm cấu trúc của cấu thành tội phạm
Dựa vào các đặc điểm cấu trúc thì cấu thành tội phạm có các loại sau:
- Cấu thành tội phạm hình thức: là cấu thành có dấu hiệu của một kháchquan là hành vi nguy hiểm cho xã hội
- Cấu thành tội phạm vật chất: là cấu thành tội phạm có dấu hiệu củamặt khách quan không chỉ là hành vi nguy hiểm cho xã hội mà còn đòi hỏiphải có hậu quả xảy ra và mối quan hện nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó
- Cấu thành tội phạm cắt xén: là một djang đặc biết của cấu thành tộiphạm hình thức Cấu thành tội phạm loại này không phải phản ánh hành viphạm tội mà chỉ là những hành động nhằm thực hiện hành vi tội phạm màthôi
3 Khái niệm đồng phạm
Khái niệm đồng phạm trong luật hình sự là một vấn đề được nhiềungười quan tâm nghiên cứu, khoa học luật hình sự nghiên cứu vấn đề đồngnphajm dựa trên lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác –Lênin, do vậy đã nắm được bản chất đồng phạm trái với học thuyết tư sản.Đồng phạm là một trong những vấn đề quan trọng trong luật hình sự Dó đó,ngay sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, pháp luật hình sự của Nhà nước dânchủ nhân dân của ta đã qui định trách nhiệm hình sự đối với nhiều trường hợpđồng phạm cụ thể Ví dụ: Sắc lệnh 233 – SL ngày 17/11/1946 qui định rằng:
“Người phạm tội đưa hội lộ và nhận hối lộ có thể bị tịch thu nhiều nhất là ¾tài sản Những người đồng phạm cũng xử như trên” Sắc lệnh số 133 – SLngày 20/01/1953 và pháp luật ngày 30/10/1967 về việc trừng trị những ngườiphản cách mạng, đã qui định trường hợp phạm tội của nhiều người bao gồmnhững bọn chủ mưu, bọn cầm đầu, tổ chức, bọ xúi giục bọn tham gia tổ chứcphản cách mạng,.v.v
Nói chung, những quy định về đồng phạm trong những năm đầu củachính quyền dân chủ nhân dân đã phân biệt được rõ vai trò của những ngườiđồng phạm, đồng thời nêu rõ được trách nhiệm hình sự đối với chúng trongnhững trường hợp đồng phạm khác nhau, do đó đã phát huy được tác dụng
Trang 6tích cực trong việc trừng trị nghiêm khắc tội phạm trong những ngày đầuchính quyền cách mạng Tuy nhiên, sắc lệnh của Nhà nước ta đã quy định đốivới các tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm thể hiện rõ sựnghiêm khắc của Đảng và Nhà nước ta.
Các học giả tư sản khi nêu vấn đề đồng phạm đã đưa ra những quanđiểm sai lầm và không khoa học Theo họ thì tội phạm chỉ cần có từ hai ngườitrở lên cùng phạm tội thì gọi là đồng phạm Đây là quan điểm lệch lạc vàthiếu căn cứ bởi vì tội phạm mà thiếu mất mối quan hệ về cùng cố ý phạmpháp với nhau, thì không thể hình thành đồng phạm được Nếu chỉ có một sốngười ngẫu nhiên thực hiện tội phạm không có mối quan hệ cùng cố ý thựchiện tội phạm, thì chỉ là hình thức tội phạm riêng lẽ của nhiều người, chứkhông phải là đồng phạm Khoản 1 Điều 20 BLHS năm 1999 định nghĩa đồngphạm như sau: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thựchiện một tội phạm”
Đồng phạm là là hình thức phạm tội đặc biệt, thể hiện qui mô và tínhchất nguy hiểm hơn của tội phạm khi thực hiện tội phạm riêng lẽ thể hiện nhưsau: tinh vi hơn, táo bạo hơn, liều lĩnh hơn Trong thực tế, với những tội phạmrất nghiêm trọng, đặc biết nghiêm trọng thường thực hiện dưới hình thứcđồng phạm Cơ sở và phạm vi trách nhiệm hình sự trong đồng phạm có điểmkhác so với trường hợp phạm tội riêng lẽ và do vậy có những điều luật riêngquy định bổ sung về trách nhiệm hình sự của đồng phạm và quy định nhữngnguyên tắc xử lý riêng biệt cho trường hợp phạm tôi này
Quan điểm về đồng phạm trên đây là khoa học và phù hợp với hiệntượng phạm tội trong thực tế, nó nói lên một cách thỏa đáng dấu hiệu pháp lýcủa đồng phạm, thể hiện hai mặt thống nhất khách quan và chủ quan của hành
vi đồng phạm đó là:
- Về mặt khách quan: phải có hai người trở lên tham gia thực hiện tộiphạm có cùng chung hành động phạm tội
- Về mặt chủ quan: thì hành động phải là cố ý (trực tiếp, gián tiếp), tức
là cùng chung ý chí với nhau
3.1 Về mặt khách quan
Về mặt khách quan đòi hỏi có hai dấu hiệu:
- Có hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện về chủ thểcủa tội phạm;
- Những người này phải cùng thực hiện tội phạm
3.1.1 Về dấu hiệu thứ nhất
Trang 7Đồng phạm phải có ít nhất hai người và hai người này phải có điều kiệncủa chủ thể của tội phạm Đó là điều kiện có năng lực trách nhiệm hình sự vàđạt đến tuổi luật định.
3.1.2 Dấu hiệu thứ hai
Cùng thực hiện tội phạm có nghĩa là người đồng phạm phải tham giavào tội phạm với trong bốn hành vi sau:
- Hành vi thực hiện tội phạm (thực hiện hành vi được mô tả trong cấuthành tội phạm) Người có hành vi này là người thực hành;
- Hành vi tổ chức thực hiện tội phạm ( tổ chức thực hiện hành vi mô tảtrong cấu thành tội phạm) Người có hành vi ngày gọi là người tổ chức;
- Người xúi giục người khác thực hiện tội phạm (xúi giục người khácthực hiện hành vi trong cấu thành tội phạm) Người có hành vi này gọi làngười xúi giục
- Hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm (giúp sức người khácthực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm) Người có hành vinày gọi là người giúp sức
Nếu không có một trong những hành vi trên thì không thể coi là cùngthực hiện tội phạm, do vậy, cũng không thể coi là người đồng phạm Trung vụ
án đồng phạm có thể có đủ bốn hành vi tham gia nhưng chỉ cũng có một loạihành vi Người đồng phạm có thể tham gia với một loại hành vi nhưng cũng
có thể tham gia với nhiều loại hành vi khác nhau Họ có thể tham gia từ đầunhưng cũng có thể tham gia khi tội phạm xảy ra nhưng chưa kết thúc
Bằng những hành vi cụ thể như vậy, những người tham gia vụ án đồngphạm đều có hành vi nguy hiểm cho xã hội Những hành vi đó được thực hiệntrong mối liên kết thống nhất với nhau Hành vi của mỗi người là điều kiện hỗtrợ cho sự hoạt động chung Có thể tất cả những người đồng phạm đều cùngtrực tiếp thực hiện tội phạm Tổng hợp hành vi của họ tạo thành hành vi phạmtội có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm nhất định Nhưng cũng có thể chỉ mộthoặc một số người trực tiếp thực hiện Tội phạm là kết quả chung do hoạtđộng chung của tất cả những người tham gia vào việc thực hiện đưa lại Giữahành vi của mọi người là hậu quả của tội phạm đều có mối quan hệ nhân quả.Hành vi của người thực hành là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quảcủa hành vi của những người khác (tổ chức, xúi giục, giúp sức) thông quahành vi của người thực hành mà gây ra hậu quả
3.2 Về mặt chủ quan
Trang 8Về chủ quan đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạmđều có lỗi cố ý Ngoài ra, đối với những tội có dấu hiệu mục đích phạm tội làdấu hiệu bắt buộc, đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện phải cómục đích đó.
3.2.1 Dấu hiệu lỗi
Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạmkhông chỉ cố ý với hành vi của mình và còn biết mong muốn sự cố ý tham giacủa người đồng phạm khác Lỗi cố ý trong đồng phạm thể hiện hai mặt lý trí
và ý chí như sau:
3.2.1.1 Về ý chí
Những người đồng phạm cùng mong muốn có hành động chung vàcùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh Nhữngtrường hợp không mong muốn có sự liên kết hành vi để cùng gây ra hậu quảnguy hiểm cho xã hội như trường hợp nhiều người cùng lấy trộm tài sản củangười khác giữa họ không có sự rủ rê nhau là trường hợp phạm tội riêng lẽ.Cũng là trường hợp phạm tội riêng lẽ khi các hậu quả mà những người cóhành vi nguy hiểm cho xã hội mong muốn không đồng nhất với nhau
3.2.1.2 Lý trí:
Mỗi người đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội màkhông biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội với mình Nếuchỉ biết mình có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không biết người kháccũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội với mình thì chưa thỏa mãn dấu hiệu
cố ý đồng phạm và do vậy chưa phải là đồng phạm Mỗi người đồng phạmcòn thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hình vi của mình cũng nhưhậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện
3.3 Dấu hiệu về mục đích
Ngoài hai dấu hiệu cùng thực hiện và cùng cố ý, đồng phạm còn đòihỏi dấu hiệu cùng mục đích trong trường hợp đồng phạm những tội có mụcđích là dấu hiệu bắt buộc Ví dụ: Đồng phạm các tội phạm an ninh quốc giađược coi cùng mục đích khi những người tham gia đều có chung mục đíchphản ánh trong cấu thành tội phạm hoặc biết rõ và tiếp nhận mục đích đó.Trường hợp người chở thuê người khác ra nước ngoài, mặc dù biết rõ người
ấy có mục đích chống lại chính quyền nhân dân là ví dụ biết rõ và tiếp nhậnmục đích của nhau
Nếu không thỏa mãn dấu hiệu cùng mục đích sẽ không có đồng phạm.Trong trường hợp này, những người tham gia phải chịu trách nhiệm hình sự
Trang 9độc lập với nhau Ví dụ: A thuê B giết cán bộ với mục đích chống lại chínhquyền nhân dân nhưng B không biết rõ mục đích đó trường hợp này không cóđồng phạm khủng bố (Điều 84 BLHS).
- Người chủ mưu là người đề ra âm mưu, phương hướng hoạt động chonhóm đồng phạm Người chủ mưu có thể trực tiếp điều khiển hoạt động của
tổ chức nhưng cũng có thể không
- Người chỉ huy là người điều khiển trực tiếp các nhóm đồng phạm có
vũ trang hoặc bán vũ trang
Người tổ chức có thể tham gia hoặc trực tiếp tham gia vào thực hiện tộiphạm cùng những người đồng phạm khác Họ biết rõ tính chất phạm tội củamình và của người đồng phạm, cũng như biết rõ chiều hướng chủ yếu cáchành vi của từng người đồng phạm, thậm chí còn nắm cả chi tiết của việc thựchiện tội phạm do những người đồng phạm tiến hành Tuy nhiên, người tổchức không phải chịu trách nhiệm hình sự với những tội phạm do người đồngphạm khác thực hiện nằm ngoài sự chỉ đạo, điều hành của họ, nằm ngoài kếhoạch chung của tội phạm
4.2 Người thực hành
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm (khoản 2 Điều
20 BLHS)
Trường hợp thứ nhất là trường hợp tự mình thực hiện hành vi được mô
tả trong cấu thành tội phạm, như trực tiếp cầm dao đâm nạn nhân,… Vớitrường hợp này, không đòi hỏi mỗi người thực hành phải thực hiện đầy đủ cáchành vi đã mô tả trong cấu thành tội phạm, nhưng tổng hợp hành vi củanhững người thực hiện trực tiếp phải thỏa mãn các dấu hiệu đã được nêutrong cấu thành tội phạm
Trường hợp thứ hai, người thực hành không tự mình thực hiện màthông qua người khác để những người này thực hiện các hành vi được mô tả
Trang 10trong cấu thành tội phạm nhưng theo luật bản thân người này lại không chịutrách nhiệm hình sự như:
- Họ là những người không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc chưađạt đến tuổi luật định;
- Họ là người bị cưỡng bách tinh thần mà phải thực hiện nên được loạitrừ trách nhiệm hình sự;
- Họ không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý do sai lầm Ví dụ: A muốn giết B
đã bố trí thi bắn súng với C, để C vô ý bắn trung B
Tuy nhiên, với một số loại tội phạm không thể xảy ra ở trường hợp thứhai vì đòi chủ thể phải tự mình thực hiện tội phạm như hiếp dâm (Điều 111)
Trong đồng phạm, người thực hành được coi là vị trí của người thựchành Những người đồng phạm khác Trách nhiệm hình sự của họ đều phụthuộc vào hành vi của người thực hành, không có người thực hành, hậu quảvật chất chưa xảy ra, mục đích tội phạm chưa đạt được
4.3 Người xúi dục
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thựchiện tội phạm (khoản 2 Điều 20 BLHS) Đặc điểm của người xúi giục là tácđộng đến tư tưởng và ý chí của người khác, khiến người này phạm tội Ngườixúi giục có thể là người ghĩ ra việc phạm tội và thúc đẩy cho tội phạm đóđược thực hiện thông qua người khác Do vậy, có thể gọi người xúi giục là “Tác giả tinh thần” của tội phạm Nhưng người xúi giục cũng không có thể chỉ
có tác động thúc đẩy người khác thực hiện ý định phạm tội đã có Người xúigiục cũng có thể cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm nhưng cũng cóthể không Sự xúi giục có thể được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn như kíchđộng, lôi kéo, cưỡng ép, dụ dỗ, lừ phĩnh Trong vụ án cụ thể, việc nghiên cứucác thủ đoạn của người xúi giục là cần thiết, một mặt để xác định là chínhnhững biện pháp ấy đã tác động đến người xúi giục, đưa người này đến chổphạm tội Mặt khác chũng để thấy là người bị xúi giục tuy có bị thúc đẩynhưng tự ý mình phạm tội
Hành vi xúi giục phải trực tiếp, nghĩa là kẻ xúi giục phải nhằm vào mộthoặc một số người nhất định Việc truyền bá, phổ biến, gieo rắc những tưtưởng xấu cho một người hoặc một số người khiến cho những người này đivào con đường phạm tội cũng không phải là hành vị xúi giục trong đồngphạm mà chí có cấu thành tội phạm độc lập khác như: dụ dỗ, ép buộc,…Người chưa thành niên phạm pháp (Điều 252 BLHS)
Trang 11Về mặt chủ quan, cần xác định người xúi giục có ý định rõ ràng thúcthẩy người khác phạm tội Những người có lợi nói hoặc việc làm có thẻ làmảnh hưởng đến việc phạm tội của người khác nhưng không có ý định thúc đẩyngười này phạm tôi thì không phải là người xúi giục.
Hành vi xúi giục có mức độ nghiêm trọng khác nhau, tuy bản chất củangười xúi giục và người bị xúi giục cũng như tùy mối quan hện giữa họ vớinhau Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, tôn giáo, tín ngưỡng, sự nhẹ dạ của ngườichưa thành niên để thúc đẩy họ phạm tôi là những trường hợp nghiêm trọng
về mặt tinh thần thường biểu hiện như hứa sẽ che dấu tội phạm, sẽ đem lại lợiích nhất định như đề bạt, tăng lương, cho người phạm tội
Hành vi giúp sức thường thông qua hành động nhưng cũng có trườnghợp không bằng hành động (khi người đó có nghĩa vụ pháp lý pháp lý phảihành động) trường hợp này người giúp sức có ý không hành động và qua đó
đã loại trừ trở ngại khách quan tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tộiphạm
Hành vi giúp sức thông thường thực hiện trước khi người thực hành bắttay vào hoạt động nhưng cũng có trường hợp tham gia khi tội phạm đang tiếnhành
5 Các hình thức của đồng phạm
Xác định các hình thức đồng phạm có ý thức rất nghiêm trọng đối vớicông tác xét xử cũng như công tác nghiên cứu khoa học, nhằm phân biệt đượctính chất đặc thù, phức tạp của các loại đồng phạm Do đó, có thể tập trungmũi nhọn của cuộc đấu tranh chống tội phạm vào những kẽ phạm tội và hành
vi phạm tội có tính chất nguy hiểm lớn nhất, xâm phạm đến chế độ xã hội,đến trựt tự pháp luật Để phân biệt được hình thức đòng phạm cần xét đếnbiểu hiện chủ yếu của việc “Cùng chung cố ý phạm tội” Khoa học luật hình
sự căn cứ vào những đặc điểm của mối quan hệ giữa những người đồng phạm
về mặt chủ quan và khách quan để phân loại các hình thức đồng phạm
Căn cứ vào những đặc điểm về mặt chủ quan có thể phân biệt đồngphạm làm hai loại là: đồng phạm không có thông mưu trước Căn cứ vào
Trang 12nhưng đặc điểm về mặt khách quan có thể phân đồng phạm làm hai loại: đồngphạm giản đơn và đồng phạm phức tạp.
5.1 Phân loại theo dấu hiệu chủ quan
Theo dấu hiệu này, đồng phạm gồm hai hình thức là đồng phạm không
có thông mưu trước và đồng phạm có thông mưu trước
5.1.1 Đồng phạm không có thông mưu trước
Đồng phạm không có thông mưu trước là hình thức đồng phạm trong
đó không có sự thỏa thuận, bàn bạc với nhau giữa những người đồng phạmhoặc có thỏa thuận nhưng không đáng kể
Hoạt động của những người đồng phạm thực hiện dưới các hình thứckhác nhau Chẳng hạn, những người đồng phạm có thể cùng trực tiếp thựchiện hành vi phạm tội và tổng hợp những hành động của họ tạo thành hành viphạm tội Ví dụ: A bắt được nên C và D rủ nhau đến xem và đánh B đến chết.Nếu căn cứ vào hành vi thì đây là loại đồng phạm không có thông mưu trước,được thể hiện trên hành vi của mỗi người đều cùng cố ý tham trực tiếp vàoviệc thực hiện tội phạm, không ai giữ vai trò người xúi giục, người giúp sức.Còn mối quan hệ giữa các hành vi, các hình thức liên hệ giữa những ý địnhcùng phạm tội, thì họ không có sự bàn bạc, thỏa thuận về âm mưu thủ đoạnphạm tội
So với hình thức đồng phạm có thông mưu trước thì đồng phạm không
có thông mưu trước nói chung ít nguy hiểm hơn vì những người đồng phạmchưa có thời gian bàn bạc kế hoạch phối hợp hành động với nhau
5.1.2 Đồng phạm có mưu trước:
Đồng phạm có thông mưu trước là hình thức đồng phạm trong đónhững người đồng phạm đã có sự thỏa thuận, bàn bạc trước với nhau về tộiphạm cùng thực hiện
Tội phạm thực hiện dưới hình thức đồng phạm có đồng mưu trước làmột hình thức phạm tội rất phức tạp và thường tính chất nguy hiểm cho xã hộicao hơn so vối đồng phạm giản đơn Do giữa can phạm có sự bàn bạc, thốngnhất với nhau về kế hoạch, âm mưu đồng thời cũng giúp đỡ nhau về mặt tinhthần, phương pháp phạm tội có sự bàn bạc nên có thể xảo huyệt hơn, hậu quảthiệt hại mà chúng gây ra cũng rất nghiêm trọng Bởi vì tội phạm do mộtngười gây ra chỉ được coi là cấu thành tội phạm độc lập hậu quả phạm tội chỉ
do ý chí và hành động của một người gây ra Còn khi có yếu tố về số lượng,tức là hai người trở lên tham gia, thì mới có bàn bạc, cùng nhau hành độngphạm tội
Trang 135.2 Phân loại đồng phạm dấu hiệu khách quan
Đồng phạm được chia thành hai hình thức đồng phạm giản đơn và đồngphạm phức tạp
5.2.1 Đồng phạm giản đơn
Đồng phạm giản đơn dưới hình thức đồng phạm này những người đồngphạm đều trực tiếp thực hiện tội phạm Do đó, hành vi của mỗi người đều lànguyên nhân trực tiếp của việc pháp sinh hậu quả tội phạm Tức là nhữngngười đồng phạm đều tham gia thực hiện hành vi phạm tội được mô tả trongcấu thành tội phạm
Trên cơ sở lý luận về nhân quả, ta thấy rằng những hành vi không gópphần vào việc đưa lại hậu quả tội phạm thì không thể coi là đồng phạm được
Ví dụ trong trường hợp giúp sức xảy ra sau khi phạm tội, đã thực hiện che dấutội phạm, thủ tiêu tang vật,…thì không thể coi đây là hành vi đồng phạmđược, trừ khi chúng với người thực hành có hứa hẹn trước với nhau, bởi vì sựhứa hẹn trước đó sẽ đem lại cho người thực hành một sự khuyến khích, mộtđộng lực thúc đẩy họ thực hiện tội phạm
Đồng phạm phức tạp là hình thức đồng phạm trong đó có một hoặc một
số người tham gia giữ vai trò người thực hành còn những người đồng phạmkhác giữ vai trò xúi giục, tổ chức hay giúp sức Do đó sự phân định rõ vai tròcủa từng đồng phạm trong quá trình thực hiện tội phạm, nên hậu quả tội phạm
là kết quả chung do hoạt động của tất cả những người tham gia vào tội phạmđưa lại Bất cứ một hành động hoặc một sự không hành động nào của ngườiđồng phạm đã tham gia vào tội phạm đều có hệ nhân quả với người thực hành
vi phạm tội của người đồng phạm (người xúi giục, giúp sức…) đều có mốiquan hệ nhân quả trực tiếp hoặc gián tiếp đến hậu quả phạm tội do nhữnghành vi đó gây nên
6 Phạm tội có tổ chức
Phạm tội có tổ chức là trường hợp đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽgiữa những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 3 Điều 20 BLHS) Phạmtội có tổ chức là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽvới nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện một tội phạm dưới sự điều khiểuthống nhất của người cầm đầu Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm,
có sự phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia, trong đó mỗingười thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển củangười cầm đầu
Trang 14Đặc điểm có sự cấu kết chặt chẽ của đồng phạm có tổ chức vừa thểhiện đặc điểm của dấu hiệu chủ quan vừa thể hiện đặc điểm của dấu hiệukhách quan, vừa thực hiện mức độ liên kết về mặt chủ quan vừa thể hiện mức
độ phân hóa vai trò, nhiệm vụ cụ thể về mặt khách quan của những ngườiđồng phạm Trong đồng phạm có tổ chức, giữa những người đồng phạm vừa
có sự liên kết chặt chẽ với nhau vừa có sự phân hóa vai trò, phân công nhiệm
vụ tương đối, rõ rệt, cụ thể Với tính chất như vậy, đồng phạm thường cónhững đặc điểm như sau:
- Nhóm phạm tội được hình thành với phương hướng hành động có tínhlâu dài, bền vững Trong nhóm tồn tại quan hệ chỉ huy – phục tùng Mỗingười đồng phạm đều chịu sự điều khiển chung thống nhất, đều coi và sửdụng tổ chức phạm tội như công cụ sức mạnh trong hoạt động phạm tội củamình
- Trong hoạt động, nhóm phạm tội có sự chuẩn bị chu đáo, đầy đủ vềmọi mặt cho việc thực hiện cũng như cho việc che giấu tội phạm với phươngpháp, thủ đoạn thường tinh vi, xảo huyệt,…
Với đặc điểm như vậy, đồng phạm có tổ chức có nhiều khả năng chophép phạm tội liên tục, nhiều lần, gây nhiều hậu quả lớn, rất lớn hoặc đặc biệtlớn Trong thực tế, sự cấu kết chặt chẽ trong đồng phạm có tổ chức thườngđược thực hiện dưới các dạng:
- Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như:băng, ổ, trộm cướp,…
- Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một
kế hoạch được thống nhất như chuyên cùng nhau đi trộm cắp
- Những người đồng phạm tuy chỉ thực hiện tội phạm một lần nhưng tổchức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch đã được tính toán kỷ, chu đáo, có
sự chuẩn bị phương tiện hoạt động, kế hoạch che dấu tội phạm,…
Ở hình thức phạm tội có tổ chức, những người đồng phạm đều hoạtđộng theo tổ chức, coi là sử dụng tổ chức phạm tội của mình như một công cụsức mạnh Vì vậy, với hình thức phạm tội này cho phép người phạm tội thựchiện tinh vi hơn, gây ra hậu quả tội phạm lớn hơn và che giấu tội phạm dễdàng hơn so với các trường hợp đồng phạm khác Chính vì tính nguy hiểmcao như vậy, nên đồng phạm có tổ chức đã được BLHS năm 1999 là tình tiếttăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 48) và trong nhiều trường hợp được quyđịnh là tình tiết tăng nặng định khung của nhiều cấu thành tội phạm
7 Phân biệt đồng phạm và phạm tội có tổ chức
Trang 15Trong các nhà luật học hiện nay cũng có nhiều quan điểm khác nhau vềhình thức đồng phạm đặc biệt.
- Quan điểm thứ nhất cho rằng phạm tội có tổ chức chỉ là một loại đồngphạm có thông mưu trước, trong đó gồm có một nhóm người trở lên liên kếtvới nhau trước khi phạm tội theo tác giả quan điểm này không phù hợp vớiviệc phân chia các hình thức đồng phạm thành đồng phạm thường và đồngphạm đặc biệt theo Điều 20 BLHS Vì vậy, mặc nhiên công nhận đồng phạmthường thành đồng phạm đặc biệt và do đó dẫn đến xét xử, trừng trị kẻ phạmtội không được chính xác, khách quan Có những trường hợp nếu căn cứ vàohình thức cấu kết và mức độ nặng nhẹ của đồng phạm, thì chỉ có thể trừngphạt ở mức độ trung bình không đúng nguyên tắc xử lý tội phạm theo đoạn 2khoản 2 điều 3 BLHS Đây có thể nói xem hình thức đồng phạm theo nguyêntắc cào bằng không phân hóa trách nhiệm hình sự cụ thể dẫn đến quyết địnhhình phạt không đúng theo tinh thần quy định tại Điều 45 BLHS
- Lại có ý kiến cho rằng, phạm tội có tổ chức tồn tại liên tục và phamtội liên tiếp trong thời gian dài Quan điểm này hình dung tổ chức phạm tộimột cách quá chặt chẽ Như vậy, chỉ có một số tổ chức đảng phái, phản cáchmạng mới xem là tội có tổ chức, còn những trường hợp đồng phạm khác trongtội hình sự không coi là phạm tội tổ chức Như vậy lại dẫn đến tình trạng quáthu hẹp đối với trừng phạt nghiêm khắc các hành vi phạm tội vấn đề quantrọng được đặt ra là cần xác định phạm tội có tổ chức là thế nào? Phạm tội có
Phạm tội có tổ chức có mối quan hệ tổ chức chặt chẽ giữa tên chỉ huy
và đòng bọn và trong mọi trường hợp phạm tội có tổ chức đều có sự cùng cố
ý phạm tội Đó là dấu hiệu quan trọng cần phải có của đồng phạm Mối quan
hệ đó phát sinh và tồn tại trước, trong và sau khi phạm tội Mối quan hệ đóthể hiện rất rõ vai trò của từng tên trong nhóm phạm tội có tổ chức Ví dụ: tênchủ mưu đưa ra ý đồ, phương hướng, thủ đoạn hoạt động và điều kiện hoạtđộng của tổ chức phạm tội Còn đứng ra tổ chức phạm tội, vạch ra phương
Trang 16hướng và kế hoạch để thực hiện tội phạm, là do kẻ cầm đầu tổ chức, bọn taysai đắc lực là những tên hăng hái, liều lĩnh Trong mối quan hệ tổ chức phạmtội chúng là kẻ thực hiện kế hoạch, mệnh lệnh tên cầm đầu Sự phân công cácvai trò riêng biệt của người giúp sức, xúi giục, thực hành trong đồng phạmđặc biệt không rõ ràng như trong đồng phạm thường Nếu có thì chỉ là giúp
đở lẫn nhau để thực hiện tội phạm
Đồng phạm đặc biệt là một hình thực phạm tội nguy hiểm cao nên việcnghiên cứu tìm hiểu đồng phạm đặc biệt và đồng phạm thường là vấn đề rấtquan trọng nhằm trừng trị thích đáng kẻ tội phạm và ngăn chặn những hành viphạm tội Trong luật hình sự trước đây đã có những điều khoản qui định việctrừng trị các tội phản cách mạng có tổ chức là trường hợp cần xử phạt nặng
Chương 2
Trang 17TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NGƯỜI PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC
TRONG VỤ ÁN CÓ ĐỒNG PHẠM
1 Một số vấn đề liên quan đến xác định phạm tội có tổ chức trong đồng phạm
1.1 Vấn đề chủ thể đặc biệt trong phạm tội có tổ chức
Đối với những tội danh đòi hỏi chủ thể đặc biệt chỉ cần người thựchành có những đặc điểm của chủ thể đó Những chủ thể khác không nhất thiếtphải có những đặc điểm của chủ thể đặc biệt Ví dụ: Trong vụ án tham ô,người thực hành phải là người có chức vụ quyền hạn liên quan đến tài sản cònnhững người đồng phạm khác (người xúi giục, giúp sức, tổ chức) có thể bất
cứ người nào
1.2 Vấn đề xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm
- Nếu những người đồng phạm không thực hiện tội phạm được đếncùng do những nguyên nhân khách quan thì người thực hành ở giai đoạn nào,
họ phải chịu trách nhiệm hình sự đến đó
- Nếu người bị xúi giục không nghe theo sự xúi giục không có kết quảthì chỉ riêng người xúi giục phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã xúi giục
- Nếu người giúp sức người khác thực hiện tội phạm nhưng người nàykhông thực hiện tội phạm có hoặc không sử dụng sự giúp sức thì người giúpsức phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giúp sức ví dụ; canh gác giúp ngườikhác buôn bán thuốc phiện nhưng thực tế không có thuốc phiện mà chỉ là sựlừa đảo Trong trường hợp này người giúp sức phải chịu trách nhiệm hình sựmua bán trái phép chất ma túy (Điều 194 BLHS)
1.3 Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có tổ chức trong đồng phạm
Trong vụ án đồng phạm, khi có tự ý nữa chừng chấm dứt việc phạm tộicủa một người hay một số người thì việc miễn trách nhiệm hình sự chỉ được
áp dụng đối với bản thân người tự ý nữa chừng chấm dứt việc pham tội Đốivới người thực hành, vấn đề tự ý nữa chừng chấm dứt việc phạm tội cũng nhưtrường hợp phạm tội riêng lẻ Khi người thực hành tự ý nửa chừng chấm dứtviệc phạm tội thì chỉ riêng họ được miễn trách nhiệm hình sự Những ngườiđồng phạm khác phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm họ đã tham gia ởgiai đoạn chuẩn bi hoặc chưa đạt, tùy thuộc vào ở thời điểm mà người thựchành tự ý nửa chừng chất dứt việc phạm tội