* Vận chuyển bê tông: - Công tác vận chuyển RCC bằng ô tô tự đổ - Khi sử dụng ô tô tự đổ để vận chuyển bê tông, đường xe chạy được làm bằng phẳng, ô tô trước khi chạy vào khối đổ được rử
Trang 1ĐỀ CƯƠNG CÔNG NGHỆ BÊ TÔNG NÂNG CAO
1 Trình bày trình tự công nghệ thi công bê tông đầm lăn?
2 Nội dung kiểm soát chất lượng việc thi công bê tông đầm lăn?
3 Vấn đề nhiệt? Nguyên nhân biện pháp phòng ngừa vấn đề nhiệt trong thi công bê tông đầm lăn?
4 Liên hệ sự giống và khác nhau giữa thi công bê tông thường và bê tông đầm lăn?
5 Ưu nhược điểm của bê tông đầm lăn?
6 Tóm tắt công nghệ thi công cầu bê tông bằng công nghệ bê tông đúc hẫng? Nêu rõ các yêu cầu quản lý chất lượng trong thi công bê tông? Phân tích
rõ nội dung của công đoạn hạp long (thi công đốt cuối)?
TRẢ LỜI
Câu 1: Trình bày trình tự công nghệ thi công bê tông đầm lăn
Bằng kinh nghiệm và kiến thức của bản thân sau khi đi thực tế tìm hiểu công nghệ thi công bê tông đầm lăn tại nhà máy thủy điện Trung Sơn, Xã Trung Sơn, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, được sự giảng dạy nhiệt tình về môn
“Công nghệ xây dựng công trình bê tông nâng cao” của thầy GS.TS Vũ Thanh
Te em xin được trình bày trình bày trình tự công nghệ thi công bê tông đầm lăn như sau:
Sơ đồ công nghệ thi công bê tông đầm lăn (RCC)
Trang 21 Ở trạm trộn:
- Tiến hành trộn thử một cối trộn trên cơ sở cấp phối đã được khấu trừ
độ ẩm của vật liệu và tiến hành ngay việc đo nhiệt độ vữa, đo độ công tác Vc, nếu không đạt yêu cầu phải đổ bỏ và điều lại cấp phối Sau khi đã tính toán hiệu chỉnh cấp phối đạt yêu cầu thì chính thức phát lệnh thi công Trong quá trình thi công, nhiệt độ và Vc được kiểm tra thường xuyên
- Tất cả cấp phối thực tế của từng cối trộn đều được lưu trữ trong máy tính, tài liệu này là bộ phận của hồ sơ nghiệm thu bàn giao công trình
2 Tổ chức thi công mặt đập:
* Công tác chuẩn bị:
- Xe vận chuyển được rửa sạch trước khi vào trạm trộn Các máy ủi, đầm, máy cắt khe đều được rửa sạch và vào chờ trong khối đổ
- Hệ thống trộn vữa, máy đầm cho BT biến thái cùng vật tư sẵn sàng
- Hệ thống phun sương phải được chuẩn bị cho những ngày nắng, nhiệt
độ môi trường cao
- Chuẩn bị sẵn bạt che, dùng để che khi nắng tránh mất nước bề mặt lớp
đổ hoặc che mưa để tránh tăng nước làm hỏng RCC
- Rải vữa liên kết
- Tất cả các xe trước khi đi vào khối đổ đều phải rửa sạch lốp và gầm xe,
đi vào lần nào phải rửa lần ấy
* Tổ chức lực lượng thủ công:
Nhân lực thủ công được chia theo ca, tất cả được chỉ huy bởi 2 cán bộ
kỹ thuật làm trưởng ca Nhân lực và được bố trí vào các vị trí: rửa xe, trộn và vận chuyển vữa cho BT biến thái, xử lý RCC của lớp rải, đầm BT biến thái, bù vữa RCC cho các vị trí lõm và những nơi máy ủi không san tới được và phụ cắt khe Nhiệm vụ của cán bộ kỹ thuật là điều hành mọi hoạt động trong ca theo phương án đổ đã chọn, giải quyết các vấn đề phát sinh, ghi chép cập nhật số liệu của khối đổ đang thi công
* Công tác trộn RCC
- Sử dụng trạm trộn kiểu cưỡng bức để tạo chất lượng RCC đồng đều và
ổn định
- Hệ thống cân đong của trạm nhạy, chính xác, độ tin cậy cao
- Lắp thiết bị đo nhanh lượng ngậm nước của cốt liệu hạt mịn và có khả năng tự điều chỉnh lượng nước trộn tương ứng
- Nạp vật liệu theo trình tự: Cát, dăm, xi măng, tro bay, nước và phụ gia hóa học (được xác định thông qua thí nghiệm hiện trường) trộn trong thời gia 90 giây
Trang 3- Trong quá trình trộn RCC liên tục xem xét phiếu in kết quả thực tế của
mẻ trộn, nếu sai số vượt quá trị số cho phép thì phải hiệu chỉnh lại hệ thống cân đo của trạm trộn
- Lượng nước trong dung dịch chất phụ gia được khấu trừ trong lượng dùng nước của cấp phối RCC
* Vận chuyển bê tông:
- Công tác vận chuyển RCC bằng ô tô tự đổ
- Khi sử dụng ô tô tự đổ để vận chuyển bê tông, đường xe chạy được làm bằng phẳng, ô tô trước khi chạy vào khối đổ được rửa sạch bánh xe để
đề phòng xe mang chất bẩn vào trong khối đổ Khi xe chạy trong khối đổ tránh những thao tác như phanh gấp, rẽ (cua) gấp để khỏi làm hỏng chất lượng bề mặt lớp bê tông Thùng xe tự đổ được trang bị che nắng, che mưa để giảm thiểu ảnh hưởng của nắng gió đối với chất lượng vữa bê tông
* Công tác Rải và san RCC:
- Tiến hành đổ và san theo từng dải, hết dải này đến dải khác và thi công theo một hướng nhất định (từ thượng lưu về hạ lưu hoặc ngược lại)
- Hướng đường vào khối đổ luôn luôn nằm ở vị trí thi công sau cùng
- Tại nơi phân danh giữa CP2 và CP3 luôn được san chính xác, đặc biệt không được thiếu CP2
- Trong quá trình đổ luôn tránh hiện tượng phân tầng (cốt liệu lớn tập trung ở chân đống được thủ công xúc lên, trộn lại trước khi máy ủi san)
- Chiều dày san 1 lớp là (34 - 35)cm, sau khi đầm chặt chiều dày còn 30 cm
- Khi đổ lớp tiếp theo đảm bảo chắc chắn lớp trước chưa đến thời gian ninh kết, nếu là mặt “lạnh” thì ngừng thi công và xử lý như với 1 khối đổ mới
- Những nơi không san được bằng cơ giới được san bằng thủ công
* Công tác đầm RCC
- Đầm RCC được thực hiện ngay sau khi san xong dải
- Phương pháp đầm chỉ đầm tiến, lùi, hướng đầm theo hướng tim đập Đầm đường nào đủ lượt mới sang đường đầm khác, tốc độ đầm 1 đến 1,5 km/h, số lần đầm là 12 lần theo công thức 2+8+2, tức là 2 lần đầm đầu tiên đầm tĩnh (không rung) sau đó đầm 6 lượt rung và cuối cùng là 2 lượt tĩnh (số lượt đầm được xác định thông qua thí nghiệm hiện trường)
- Đường đầm bên cạnh gối lên đường đầm trước ít nhất 10cm
- Tại 2 đầu dải đổ vì máy đầm không đầm qua đủ 2 bánh nên tính đầm thêm lượt cho đủ độ chặt
* Thi công bê tông biến thái
- Bê tông biến thái chủ yếu dùng vào các vị trí không có thể đầm lăn được như tiếp giáp mặt bê tông cũ, mặt ván khuôn, chỗ có cốt sắt dày đặc, chỗ chôn sẵn vật chắn nước, chung quanh hành lang
Trang 4- Bê tông biến thái được thi công dần từng lớp theo cùng bê tông đầm lăn, chiều dày lớp của bê tông biến thái cũng giống với chiều dày san phẳng khối đổ
- Thi công bê tông biến thái sử dụng phương pháp thêm vữa, trước tiên san bê tông cho bằng chiều dày của lớp đổ đầm lăn, tạo lỗ, rót vữa vào trong
lỗ và dùng đầm dùi đầm đều đặn cho tới khi bề mặt bê tông biến thái nổi vữa
* Cắt khe co giãn:
- Khe co giãn được tạo thành bằng biện pháp: dùng lưỡi cắt có mô tơ rung hỗ trợ lắp trên cần máy đào để cắt với nguyên tắc cắt khe đảm bảo đúng
vị trí khe co giãn thiết kế, lớp nào cắt lớp đó, sau khi cắt xong, cho tấm nhựa vào để tạo ngăn cách
* Bảo dưỡng RCC :
- Xây dựng hệ thống ống bơm nước từ dưới sông lên bồn chứa và hệ thống ống tự chảy xuống khối đổ đảm bảo luôn đủ nước phục vụ công tác bảo dưỡng Ngoài ra còn sử dụng biện pháp phun sương và bao tải dưỡng hộ
- Sau khi bê tông RCC vừa ninh kết, bắt đầu dưỡng hộ giữ ẩm không cho khô trắng mặt Đối với khe thi công nằm ngang và khe lạnh, việc tưới nước dưỡng hộ cần duy trì cho đến khi bắt đầu đổ bê tông RCC lớp trên hoặc 28 ngày tùy theo điều kiện nào đến trước Đối với những mặt bê tông lộ ra ngoài vĩnh viễn thời gian dưỡng hộ không dưới 28 ngày
Câu 2 Nội dung kiểm soát chất lượng việc thi công bê tông đầm lăn?
Đánh giá chất lượng RCC thông qua các công tác thí nghiệm kiểm tra Công tác thí nghiệm kiểm tra hiện trường bao gồm: Thí nghiệm kiểm tra chất lượng vật liệu đầu vào: như xi măng, tro bay, cát , dăm thí nghiệm kiểm tra hỗn hợp RCC chưa đông kết bao gồm: thí nghiệm kiểm tra độ công tác Vc, thời gian ninh kết, dung trọng đầm chặt tại hiện trường thí nghiệm kiểm tra cường độ và độ chống thấm
1 Quản lý chất lượng vật liệu :
Công tác khống chế chất lượng vật liệu để thi công RCC lên đập bao gồm các vật liệu sau: Xi măng , cát, đá dăm, tro bay và phụ gia hoá học
* Xi măng
Việc kiểm tra khống chế chất lượng xi măng bao gồm các công tác sau:
- Xi măng luôn có chất lượng ổn định, cung ứng kịp thời để chủ động trong thi công
- Tính toán lập nhà kho chứa xi măng phù hợp, kho chứa xi măng đảm bảo khô ráo, tránh dột …
- Mỗi lô xi măng nhập về, đều có chứng nhận chất lượng thông qua phiếu kiểm tra của nhà sản xuất đồng thời phòng thí nghiệm kiểm tra lại chất lượng xi măng của lô xi măng mới nhập
* Cát
Trang 5Các mục kiểm tra chủ yếu của cát là modun độ mịn, tỷ lệ ngậm nước và độ
ẩm Nếu dùng cát nhân tạo thì phải kiểm tra hàm lượng hạt nhỏ (< 0.075mm), bởi
vì hàm lượng cát nhỏ thay đổi sẽ làm thay đổi dung trọng của bê tông đầm lăn
Mỗi ngày kiểm tra ít nhất 1 lần modun độ mịn của cát, nếu kết quả kiểm tra chênh lệch với trị số đã cho ±2% trở lên thì phải điều chỉnh lại tỷ lệ cấp phối
Lượng nước của bê tông đầm lăn ảnh hưởng đến dung trọng và cường độ của bê tông đầm lăn, vì thế kiểm tra tỷ lệ ngậm nước của cát là vô cùng quan trọng Qua các tài liệu đo được cho thấy, tỷ lệ ngậm nước thay đổi 0.5% thì trị
số VC của hỗn hợp thay đổi 6~8s, thay đổi 1% thì VC thay đổi 13~15s Việc kiểm tra hàm lượng nước của cát phải liên tục tiến hành để kịp thời điều chỉnh việc cấp nước trộn được chuẩn xác
Lượng ngậm nước của cát phải ổn định Thiết kế bãi chứa cần xét tới điều kiện thoát nước của đống cát và đủ thời gian cho cát thoát nước, cố gắng sao cho
tỷ lệ nước của cát < 6% Vì nếu hàm lượng nước lớn hơn 6% thì sự dao động của tỷ lệ nước sẽ lớn và sẽ ảnh hưởng đến trị số VC Khi nước của cát dao động trên ±0.5% thì phải điều chỉnh lượng nước dùng
* Đá dăm
Đường kính vượt quá của các cấp đá phải khống chế trong phạm vi cho phép Tỷ lệ nước bề mặt của đá dao động trên ±0.2% thì phải điều chỉnh lượng nước trộn
Áp dụng sàng để kiểm tra đường kính quá cỡ, qui cách mắt sàng và tiêu chuẩn đánh giá đường kính quá cỡ theo tiêu chuẩn qui định
Kiểm tra tỷ lệ ngậm nước chủ yếu tiến hành với loại đá nhỏ
* Tro bay
- Tro bay được coi như một thành phần trong toàn bộ khối lượng chất kết dính của cấp phối, mặt khác tro bay cũng được coi là chất độn cải thiện bề mặt bê tông đầm lăn khi đầm khi xét tới hệ số Vp/Vm
- Tro bay được kiểm tra theo từng lô, bảo quản như xi măng Đặc biệt luôn khống chế độ ẩm của tro bay trước khi đưa vào sử dụng để tránh trường hợp tro bay hút ẩm vón cục, làm tắt đường dẫn khi trạm trộn vật hành, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ thi công bê tông đầm lăn
* Phụ gia hoá học
Theo dõi thời gian bảo quản chất phụ gia, ngày nhập kho Nơi để phải thông thoáng khô ráo Chất phụ gia đã pha chế chuẩn bị dùng phải bảo quản tránh mưa, nắng và ô nhiễm Sau mỗi lần pha chế phải định kỳ kiểm tra lại nồng
độ Trong thi công cứ mỗi ca lại lấy mẫu kiểm tra tỷ trọng của dung dịch, xác định nồng độ thực tế Khi nồng độ thay đổi ±5% thì phải điều chỉnh lượng trộn dung dịch
2 Quản lý chất lượng trong quá trình sản xuất bê tông
Trang 6- Trong quá trình sản xuất , việc khống chế chất lượng của hỗn hợp bê tông đầu tiên phải kể đến là yêu cầu cân đo, đong đếm chính xác
- Bê tông đầm lăn rất nhạy cảm với nước, việc đong đo nước yêu cầu chặt chẽ hơn bê tông thường
- Dụng cụ đo, số lần kiểm nguyên vật liệu và dung sai cho phép theo bảng sau:
- Thời gian trộn đầy đủ là điều kiện cơ bản đảm bảo cho chất lượng bê tông Mỗi ca kiểm tra thời gian trộn không được ít hơn 4 lần Khi cần có thể kiểm tra độ đồng đều của hỗn hợp Lấy mẫu ở bộ phận đầu, cuối của máy trộn, mỗi lần lấy mẫu thử không ít hơn 30kg, tiêu chí của trộn đều là:
+ Dùng phương pháp rửa để xác định tỷ lệ phần trăm của cốt liệu thô, trị
số chênh lệch của hai mẫu thử phải ít hơn 10%
+ Với phương pháp phân tích dung trọng vữa cát xác định dung trọng, trị số chênh lệch không được lớn hơn 30kg/m3
3 Khống chế chất lượng mặt khoảnh đổ
Khống chế chất lượng khoảnh đổ chủ yếu gồm các nội dung sau:
- Khống chế các công việc đổ đống, san, đầm lăn
+ Giảm bớt sự phân ly của cốt liệu:
+ Khống chế chiều dày lớp đổ:
+ Giảm bớt sự phá hoại và ô nhiễm mặt tầng:
+ Nắm chắc thời gian giãn cách
- Kiểm tra hiện trường thời gian ninh kết ban đầu của bê tông đầm lăn
- Khống chế mức khô, ướt của hỗn hợp bê tông đầm lăn: Mức độ khô ướt phù hợp của hỗn hợp bê tông đầm lăn là điều kiện tiên quyết của việc đầm chặt
Để nắm vững trị số VC của hỗn hợp trong khoảng đổ có thể đặt máy đo VC trên mặt bê tông, cũng có thể dùng máy phóng xạ đo mật độ hạt để xác định tỉ lệ nước của hỗn hợp Nhanh nhất vẫ là dùng mắt quan sát dựa vào kinh nghiệm để phán đoán
- Kiểm tra và khống chế mức độ đầm chặt: Chỉ khi nào bê tông đầm lăn đạt đến trình độ đầm chặt quy định thì bê tông mới có được cường độ, tính chống thấm và mô đuyn đàn hồi thiết kế Theo nghiên cứu của Liên Xô trước đây cho rằng, khi độ đầm chặt của bê tông đầm lăn giảm 1% thì cường độ bê tông giảm 8~10% Tài liệu đo đạc của Nhật Bản chứng minh rằng, độ đầm chắc của bê tông đầm lăn giảm 1% thì cường độ niên hạn 90 ngày giảm đi 2MPa
Tên vật liệu Nước Xi măng, tro bay Cốt liệu thô, mịn Chất phụ gia Dung sai cân
Số lần kiểm
Trang 7Qua đó có thể thấy độ đầm chặt ảnh hưởng vô cùng lớn đến tính chất cơ lý của
bê tông đầm lăn, và phải coi đây là một chỉ tiêu chủ yếu của chất lượng bê tông đầm lăn
- Dùng máy đo mật độ hạt để đo dung trọng đầm chặt: Kiểm tra chất lượng đầm chặt hiện trường của bê tông đầm lăn thường hay dùng máy đo hạt Theo nguyên lý đo và tham số đo thì có thể chia máy đo hạt thành: Máy đo phóng xạ đơn; máy đo phóng xạ kép; đo trên bề đất thì gọi là kiểu bề mặt; khoan
lỗ để đo dưới đất gọi là kiểu tầng sâu; máy có thể đồng thời thay đổi theo chiều sâu thì gọi là kiểu phân tầng
- Dùng đồng hồ đo đầm chặt để khống chế dung trọng đầm chặt: Dùng máy đo mật độ hạt để đo dung trọng của bê tông đầm lăn chỉ hạn chế ở điểm đo một phần cục bộ, không thể khống chế được một diện tích rộng của bê tông đầm lăn Vì vậy, Trung Quốc đã nghiên cứu chế tạo ra máy đo đầm chặt để khống chế chất lượng đầm chặt của bê tông đầm lăn trên toàn mặt bãi thi công Máy đo gia tốc được lắp trên trục bánh xe rung, máy đo đầm chặt coi bánh xe rung là chi tiết đo lường để đo độ đầm chặt của bê tông đầm lăn
Câu 3 Vấn đề nhiệt? Nguyên nhân biện pháp phòng ngừa vấn đề nhiệt trong thi công bê tông đầm lăn?
Bê tông sau khi đã đổ vào khối đổ, nhiệt độ trong khối đổ sẽ không ngừng tăng lên do xi măng thuỷ hoá Sau đó do toả nhiệt, nhiệt độ trong khối đổ sẽ giảm dần đến nhiệt độ ổn định Bê tông đầm lăn sử dụng ít xi măng hơn bê tông truyền thống, vì thế nhiệt lượng thủy hóa trong khối bê tông đầm lăn nhỏ hơn Tuy nhiên, do đặc điểm thi công nhanh làm cho bê tông vùng giữa làm việc ở chế độ gần như đoạn nhiệt, không đủ thời gian để bê tông phát tán nhiệt cần thiết trước khi thi công lớp tiếp theo Bê tông đầm lăn thường được thi công trên một diện tích rộng nên khả năng hấp thụ bức xạ mặt trời nhiều hơn, góp phần làm công trình nóng lên Mặt khác, bê tông đầm lăn thông thường được thi công trên toàn bề mặt, không phân chia khối nhỏ nên sự kiềm chế biến dạng giữa bê tông với nền móng hoặc giữa bê tông cũ và bê tông mới lớn hơn Khi có sự thay đổi nhiệt độ sẽ làm cho bê tông bị co dãn, biến dạng và do sự kiềm chế biến dạng như trên sẽ sinh ra ứng suất trong khối bê tông, khi ứng suất kéo vượt quá cường độ kháng kéo của bê tông thì sinh ra nứt
Sự thay đổi nhiệt độ của khối bê tông:
Trong quá trình bê tông đông cứng, do sự thủy hoá của xi măng đã sinh ra lượng nhiệt rất lớn, làm cho nhiệt độ trong khối bê tông tăng cao, do tính chất dẫn nhiệt của bê tông kém nên nhiệt lượng sinh ra tập trung vào trong khối bê tông làm tăng nhiệt độ trong bê tông gây ra chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài khối bê tông Nhiệt độ trong khối bê tông cao hơn nhiệt độ môi trường bên ngoài khối bê tông Theo thời gian, nhiệt độ trong khối bê tông sẽ giảm dần, tới mức ổn định Quan sát thực tế thấy rằng: sự giảm dần nhiệt độ tự nhiên của bê tông kéo dài tới vài chục năm Sau khi nhiệt độ đã giảm xuống tới mức ổn định thì chỉ có vài mét ngoài vỏ của khối bê tông nhiệt độ lên xuống, thay đổi theo nhiệt độ môi trường bên ngoài Quá trình thay đổi nhiệt độ của bê tông khối lớn có thể chia làm 3 thời
Trang 8kỳ: tăng nhiệt, giảm nhiệt, ổn định nhiệt Thời gian để nhiệt độ trong khối bê tông đạt đến nhiệt độ ổn định phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố
Nứt do nhiệt và ứng suất nhiệt:
Nhiệt lượng thuỷ hoá xi măng trong bê tông nếu không kịp thời tán phát mà tích tụ lại sẽ làm cho nội bộ bê tông thể tích lớn phát sinh tăng nhiệt tương đối cao
Sự thay đổi nhiệt độ của khối bê tông làm cho nó biến đổi hình dạng và sinh ra ứng suất Bê tông đã cứng trong quá trình nhiệt tăng lên hình thành áp suất nén nhưng trong quá trình hạ nhiệt lại phát sinh co ngót Khi co ngót bị ràng buộc, trong nội bộ
bê tông phát sinh ứng suất kéo Khi ứng suất kéo vượt quá cường độ kháng kéo, bê tông phát sinh khe nứt Loại ứng suất do nhiệt độ dẫn đến gọi là ứng suất nhiệt Khe nứt nhiệt hạ thấp tính hoàn chỉnh kết cấu của bê tông, tính chống thấm và tính vững bền, làm cho toàn bộ độ an toàn của kết cấu bị hạ thấp
Nguyên lý khống chế nhiệt độ đập bê tông
Tuỳ theo từng loại vết nứt mà có nguyên tắc khống chế nhiệt phù hợp Muốn đề phòng loại vết nứt do bị ràng buộc nơi gần nền đá hoặc nơi bê tông cũ thì nguyên tắc chính là phải giảm thấp nhiệt độ cao nhất của bê tông làm cho nhiệt độ chênh lệch giữa nhiệt độ ổn định và nhiệt độ cao nhất được thu nhỏ lại Muốn đề phòng loại khe nứt bề mặt do các ràng buộc bên trong, vấn đề chủ yếu là phải loại bỏ triệt để nhiệt độ bậc thang, giảm bớt chênh lệch nhiệt độ bên trong và bên ngoài chứ không phải hạ thấp nhiệt độ tuyệt đối của bê tông Chính
vì thế khống chế nhiệt ở bê tông có hai nội dung sau đây: Một là giảm thiểu chênh lệch nhiệt độ giữa nhiệt độ cao nhất của bê tông với nhiệt độ ổn định Mặt khác còn phải làm cho nhiệt độ các điểm đều đặn không hình thành dốc đứng Yêu cầu thứ ba là làm cho thân đập nhanh chóng đạt đến nhiệt độ ổn định cuối cùng để tiến hành xử lý bịt khe, làm mất sự đe doạ ứng suất nhiệt tương đối lớn phát sinh trở lại
Biện pháp cơ bản về khống chế nhiệt trong thi công đập bê tông đầm lăn:
Để đề phòng xuất hiện vết nứt trong thân đập bê tông cần thiết áp dụng các biện pháp khống chế nhiệt độ Biện pháp khống chế nhiệt độ trong thi công đập bê tông đầm lăn rất nhiều, đều có ý nghĩa quan trọng cả, nên căn cứ vào điều kiện cụ thể tổ hợp sử dụng
Trong thân đập bê tông bố trí khe co dãn ngang với khoảng cách thích hợp để đổ bê tông, phù hợp với tính toán bố trí khe nhiệt, làm giảm nhẹ tác dụng ràng buộc, giảm ứng suất nhiệt và tránh được phát sinh khe nứt
Trên cơ sở thoả mãn các loại chỉ tiêu thiết kế khác, sử dụng loại bê tông ít chất kết dính để cố gắng hạn chế lượng sử dụng xi măng nhỏ nhất, dùng loại xi măng
có lượng toả nhiệt ít hoặc tốc độ toả nhiệt chậm, các loại chất độn hoạt tính như tro bay, puzơlan… để thay thế một phần xi măng nhằm giảm nhiệt độ cao nhất trong bê tông
Tiến hành đổ bê tông tầng mỏng, trước khi đổ bê tông tầng trên phải ngừng một số ngày thích đáng để trong thời gian đó xúc tiến toả nhiệt tự nhiên, có thể làm cho đại bộ phận thuỷ hoá nhiệt từ mặt lộ ra được phát tán, từ đó có thể hạn
Trang 9chế nhiệt cao nhất mà không cần dùng đến ống nước làm lạnh Khi tiến độ thân đập thi công tương đối chậm, hiệu quả của những biện pháp này càng tốt
Sắp xếp hợp lý tiến độ đổ bê tông để có thể lợi dụng được thời đoạn mùa nhiệt độ thấp để đổ bê tông nhất là đối với bộ phận phía dưới đập có chiều rộng lớn và phụ cận mặt tiếp giáp nền đá chịu sự ràng buộc tương đối lớn, nên tiến
Để hạ thấp nhiệt độ vữa bê tông khi đổ và hạ thấp nhiệt độ cao nhất của bê tông khi cần thiết cần dùng phương pháp phù hợp (hệ thống làm lạnh cốt liệu, che mát, tưới nước cốt liệu, dùng nước lạnh hoặc nước đá để trộn…) để làm lạnh trước cho một bộ phận hoặc toàn bộ vật liệu; nếu vữa bê tông phải vận chuyển
xa, cần thiết phải có biện pháp che phủ tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời, đề phòng nhiệt lượng xâm nhập ngược vào.hành đổ bê tông vào thời gian nhiệt độ bên ngoài tương đối thấp
Dùng biện pháp phun nước làm ẩm ướt mặt bê tông để dưỡng hộ, đặc biệt khi trời nắng nóng cần thực hiện tốt việc dưỡng hộ để tránh tình trạng nhiệt lượng quay lại
Đập bê tông đầm lăn sử dụng lượng xi măng ít so với bê tông truyền thống nhưng do điều kiện thi công liên tục trên diện rộng nên lượng nhiệt thuỷ hoá trong
bê tông không đủ điều kiện phát tán ra ngoài mà bị tích tụ trong đập, làm cho nhiệt
độ trong đập bê tông tăng khá cao Do đó, vấn đề kiểm soát và khống chế nhiệt độ khi thiết kế, thi công đập bê tông đầm lăn là hết sức quan trọng và có những đặc điểm rất riêng biệt so với bê tông truyền thống, cần phải được quan tâm đúng mức Kết quả của bài toán nhiệt sẽ là cơ sở tin cậy và khoa học để quyết định các giải pháp phòng chống nứt do nhiệt thủy hóa của chất kết dính cũng như sự biến đổi của nhiệt độ môi trường xung quanh và một số nhân tố khác
4 Liên hệ sự giống và khác nhau giữa thi công bê tông thường và bê tông đầm lăn?
a Giống nhau:
- Sử dụng nguyên vật liệu tương tự như bê tông thường
b Khác nhau:
- Do Bê tông thường có độ sụt còn BTĐL thì không có nên bê tông thường được đầm chặt bằng thiết bị rung đưa vào trong lòng khối đổ, bê tông đầm lăn (BTĐL) được làm chặt bằng thiết bị rung lèn từ mặt ngoài (lu rung)
- Việc đầm lèn bê tông bằng lu rung cho phép sử dụng hỗn hợp bê tông khô, ít chất kết dính hơn so với bê tông thường nhờ vậy đối với một số đập và đường bê tông, thi công bằng công nghệ này nhanh hơn và rẻ hơn so với dùng công nghệ đổ bê tông truyền thống
- Khác với bê tông thường BTĐL có tỷ lệ cát lớn, lường xi măng cần tương đối ít, thông thường độ thêm chất độn khối lượng lớn
- BTĐL: phương pháp thi công không phức tạp, lượng dùng xi măng thấp,
có thể sử dụng một số sản phẩm phụ hoặc phế thải công nghiệp giúp hạ giá thành vật liệu so với bê tông xi măng thông thường, tốc độ thi công nhanh
Trang 10- BTĐL Thi công nhanh, giảm được thời gian xây dựng so với bê tông thường
- BTĐL Sử dụng ván khuôn ít hơn so với bê tông thường
- Khác với Bê tông thường thì BTĐL phụ thuộc nhiều vào thời tiết, nền nhiệt độ nơi đổ bê tông
- Thời gian ninh kết đạt cường độ của BTĐL phát triển chậm hơn so với
bê tông thường
Câu 5 Ưu nhược điểm của bê tông đầm lăn
*) Ưu điểm:
- Ưu điểm nổi bật là giảm được đáng kể số lượng xi măng trong 1m3 bê tông , do vậy giảm được nhiệt phát sinh trong khối bê tông là nguyên nhân chính gây nứt nẻ bê tông
- Thi công nhanh, giảm được thời gian xây dựng so với bê tông thường (so sánh trong cùng điều kiện công trình xây dựng và hoàn tất công tác chuẩn bị)
- Có thể thi công liên tục nếu thiết kế khoảnh đổ và tổ chức thi công hợp lý
- Sử dụng ván khuôn ít hơn so với bê tông thường
- Giảm giá thành công trình so với bê tông thường, có thể từ 15%-20%
*) Nhược điểm:
- Do bê tông khô, ít xi măng, dễ bị phân ly vật liệu vữa BTĐL khi vận chuyển, đổ, san, ủi, đầm nén, dẫn đến làm chất lượng bê tông không đều, thậm chí suy giảm không đạt cường độ thiết kế
- Phụ thuộc nhiều vào thời tiết, nền nhiệt độ nơi đổ bê tông
- Thời gian ninh kết đạt cường độ thiết kế khá lâu thông thường từ 90-120 ngày thậm chí 180 ngày sau đổ bê tông
- Phụ thuộc vào trạm trộn và nguồn cung cấp phụ gia tro bay
Câu 6 Tóm tắt công nghệ thi công cầu bê tông bằng công nghệ bê tông đúc hẫng? Nêu rõ các yêu cầu quản lý chất lượng trong thi công bê tông? Phân tích rõ nội dung của công đoạn hạp long (thi công đốt cuối)?
Tóm tắt công nghệ thi công cầu bê tông bằng công nghệ đúc hẫng:
Phương pháp đúc hẫng là quá trình xây dựng kết cấu nhịp dần từng đốt theo sơ đồ hẫng cho tới khi nối liền thành các kết cấu nhịp cầu hoàn chỉnh Có thể thi công hẫng từ trụ đối xứng ra 2 phía hoặc hẫng dần từ bờ ra Phương pháp này có thể áp dụng thích hợp để thi công các kết cấu nhịp cầu liên tục cầu dầm hẫng, cầu khung hoặc cầu dây xiên có dầm cứng BTCT Đối với cầu dầm có thể xây dựng nhịp dài từ 70 - 240m, nếu là cầu dây xiên dầm cứng có thể vợt nhịp
từ 200 - 350m
- Biện pháp thi công các khối của dầm hẫng