Chỉ trong một số trường hợp, việc đăng tải hình ảnh gây ảnh hưởng đến tên tuổi, danh dự, nhân phẩm của người đó thường không được đăng tải hoặc có được đăng tải thì sẽ làm nhòe khuôn mặt
Trang 1
A – Mở đầu
Giá trị nhân thân là những giá trị gắn liền với cá nhân mỗi con người, chúng tồn tại không phụ thuộc vào mức độ và tính chất điều chỉnh của quy phạm pháp luật Trong những năm gẫn đây, dưới ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc tế, … hệ thống các quyền nhân thân trong pháp luật các nước ngày càng được mở rộng Theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 thì các quyền nhân thân bao gồm những quyền được quy định từ Điều 26 đến Điều 51 Qua đó,
đã điều chỉnh những người với người về một giá trị nhân thân của cá nhân hoặc tổ chức Đặc biệt, những quyền thể hiện sự tự do cá nhân, bí mật riêng
tư của mỗi người luôn được mọi người quan tâm đến Vậy đối với hình ảnh của mỗi người thì sẽ có những quy định ra sao ? Bản thân cá nhân có quyền
gì đối với hình ảnh của mình ? Để trả lời cho những câu hỏi trên em đã lựa
chọn đề số 3 cho bài tập lớn của mình: “Hình ảnh và quyền đối với hình ảnh của cá nhân”.
B – Nội dung
I – Hình ảnh
1 Khái niệm về hình ảnh
Trên thực tế hiện nay, khi tìm kiếm định nghĩa về hình ảnh, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng chưa có một định nghĩa nào thật sự ngắn gọn dễ
hiểu đối với khái niệm này Việc hiểu “hình ảnh” là gì phụ thuộc chủ yếu
vào từng lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có một cách thức định nghĩa riêng phù hợp với chuyên môn chính của ngành đó Theo từ điển Tiếng Việt, của ngôn ngữ học 2000, giải thích hình ảnh
“là hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí tụ quang học (như máy
ảnh) hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động trong cách diễn đạt” Trong triết học, hình ảnh được
Trang 2coi “là sự phản ánh khách thể, đối tượng vào ý thức con người Ở trình độ
cảm tính, hình ảnh là những cảm giác, tri giác và biểu tượng; ở trình độ tư duy, đó là những khái niệm, phán đoán và suy luận Về mặt nguồn gốc, hình ảnh là khách quan; về cách nhận thức tồn tại, hình ảnh là chủ quan Hình thức thể hiện vật chất của hình ảnh là các hành động thực tiễn, ngôn ngữ, các mô hình kí hiệu khác nhau”
Đối với định nghĩa của triết học, ta thấy rằng các nhà triết học đã chỉ
ra được những thuộc tính cơ bản của hình ảnh nhưng vẫn là sự phân tích trên từng mặt riêng biệt Điều này có sự khác biệt tương đối với các định nghĩa
hình ảnh của nhiếp ảnh và mỹ thuật Nếu như nhiếp ảnh coi “hình ảnh” là
sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức sự vật bằng mắt và chỉ gồm hai yếu tố cơ bản là hình dáng của vật thể và sắc độ của hình ảnh Thì mỹ thuật
lại xem “hình ảnh” như là sự diễn tả hay tái hiện một vật, một người trong
nghệ thuật tạo hình Qua những định nghĩa trên, ta có thể tạm hiểu hình ảnh chính là sự sao chép qua lại những hình ảnh, biểu tượng, có thể được nhận thức bằng chính tư duy của con người hoặc bằng các cách thức sao chụp nguyên mẫu Tuy nhiên Hình ảnh không tồn tại độc lập với đội tượng của
sự phản ánh Mặc dù hình ảnh khách quan về mặt nội dung khi phản ánh chân thực đối tượng song hình ảnh không bao giờ có thể hàm chứa hết các thuộc tính và quan hệ của đối tượng, nguyên mẫu Hình ảnh không chỉ đơn thuần là sự sao chép nguyên mẫu mà qua sự sao chụp đó còn phải gây được
sự chú ý với con mắt nhìn, thể hiện nội dung, lột tả được tinh thần của vật mẫu, thể hiện cá tính nghệ thuật và dấu ấn riêng
2 Hình ảnh cá nhân
a) Khái niệm hình ảnh của cá nhân
Khái niệm “hình ảnh của cá nhân” bao gồm mọi hình thức tác phẩm
ghi lại hình dáng của con người cụ thể như chụp, ảnh vẽ, ảnh họa chép và suy luận rộng ra có thể cả bức tượng của cá nhân đó nữa Đúng về mặt
“quyền sở hữu trí tuệ” thì bức ảnh, tấm hình, pho tượng đều là loại hình tác
Trang 3phẩm, người sử dụng tác phẩm trước hết phải xin phép người chủ bản quyền (chủ sở hữu quyền tác giả) và trả cho họ một khoản lợi ích vật chất, đồng thời phải trả thù lao, nhuận bút cho người sáng tác (người chụp ảnh, sao chép, họa hình…) Nhưng đứng về mặt “quyền nhân thân của con người” thì
ai muốn sử dụng hình ảnh của cá nhân đều phải được sự đồng ý của người
đó
b) Những đặc điểm của hình ảnh cá nhân
Hình ảnh cá nhân không có sẵn khi con người được sinh ra, mà được hình thành dần do ngoại hình, vóc dáng, cách ăn mặc … hay cách đối nhân,
xử thế và những hành vi khác của cá nhân đó đối với những người xung quanh
Hình ảnh cá nhân của một cá thể được mọi người tiếp nhận và tự hình thành riêng trong tư duy mỗi người Vậy nên, sẽ có thể tồn tại rất nhiều
những “hình ảnh cá nhân” khác nhau về cùng một con người.
Hình ảnh cá nhân có thể thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào chính ngoại hình và tính cách của mỗi cá nhân cũng như quan điểm của những người xung quanh hay xã hội
Hình ảnh của cá nhân có thể được hiểu là sự tái hiện lại vẻ bề ngoài của một người bằng cách thức nào đó có thể ghi lại và gây ấn tượng thị giác cho những người khác Khi được mọi người nhìn vào hình ảnh tái hiện đó có thể nhận diện được rằng đó là ai Ví dụ: Trong một phỏng vấn với báo Vedomosti, nhà doanh nghiệp người Nga Oleg Trinkov có nói rằng, trong các cuộc công cán nước ngoài ông thường mua vé máy bay hạng thường, nhưng trên các chuyến bay nội địa từ Moscow đi các thành phố thuộc Nga hoặc SNG thì ông lại dùng vé hạng nhất hoặc chí ít cũng là hạng business Ông nói rằng tại nước Nga có quá nhiều người biết đến ông bếu người ta nhìn thấy ông ngồi ở một khoang rẻ tiền, rất có thể người ta nghĩ đến khả năng kinh doanh kém cỏi của ông Và theo Oleg Trinkov thì trong rất nhiều trường hợp, hình ảnh của nhà doanh nghiệp đóng một vai trò rất quan trọng
Trang 4“Hình ảnh cá nhân có thể là công cụ hỗ trợ đắc lực cũng có thể gây ảnh hưởng xấu cho bạn nếu bạn không biết cách sử dụng hiệu quả Mỗi khi bạn gặp một ai đó, người ta có thể đánh giá vị trí của bạn dựa trên hình thức và thái độ của bạn Vì vậy, cần thể hiện một hình ảnh chuyên nghiệp của bản thân, nhất là trong những cuộc gặp gỡ đầu tiên” (Lynne Maark –
chủ tịch Viện ảnh London, Jeffrey Jones – giám đốc Human Factor International và Sonya Barnes – chủ tịch Công ty tư vấn hình ảnh Harris và Barnes)
Do đó, hiện nay pháp luật đã bắt đầu đặt ra những quy định cụ thể về đối với hình ảnh Vậy quyền đối với hình ảnh của cá nhân là gì?
II – Quyền đối với hình ảnh của cá nhân
1 Quyền đối với hình ảnh của cá nhân là một quyền nhân thân liên quan đến cá biệt hóa cá nhân
Quyền nhân thân là một khái niệm pháp lý điều chỉnh quyền năng dân sự của cá nhân được pháp luật ghi nhận Quyền nhân thân gắn liền với những giá trị tinh thân của con người về nguyên tắc không thể chuyển giao cho người khác
Một xã hội tiến bộ, phát triển bao nhiêu thì quyền nhân thân của cá nhân càng được pháp luật tôn trọng và mở rộng bấy nhiêu Cùng với sự phát triển của đất nước, quyền nhân thân của cá nhân cũng ngày càng được công nhận
và bảo vệ cao hơn trong pháp luật Việt Nam Căn cứ vào nội dung các quyền nhân thân, quyền nhân thân của cá nhân có thể phân loại thành ba nhóm sau đây:
• Quyền nhân thân cá biệt hóa cá nhân như quyền của cá nhân đối với
họ tên, hình ảnh, dân tộc;
• Quyền nhân thân được ghi nhận và bảo đảm thực hiện phụ thuộc vào chế độ chính trị - xã hội như quyền được bảo đảm an toàn về tính
Trang 5mạng, sức khỏe; quyền của cá nhân đối với danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền của cá nhân đối với bi mật đời tư, …
• Quyền nhân thân thể hiện sự tự do của cá nhân như quyền hiến bộ phận cơ thể, quyền hiến xác, bộ phận trên cơ thể sau khi chết, quyền
tự do nghiên cứu, sáng tạo …
Trong các quyền nhân thân thì quyền nhân thân mang tính cá biệt hóa cá nhân thể hiện rất rõ đặc trưng của luật Dân sự Cùng với quyền của cá nhân đối với họ tên và dân tộc, quyền đối với hình ảnh thuộc quyền nhân thân cá biệt hóa của cá nhân Đây là những quyền nhân thân tuyệt đối, gắn liền với bản thân cá nhân đó Quyền nhân thân cá biệt hóa cá nhân là những quyền nhân thân ghi nhận những đặc điểm của mỗi cá nhân, là cơ sở để xác định những dấu hiệu cơ bản của quyền cá biệt hóa của cá nhân trong quan hệ xã hội nói chung và trong quan hệ dân sự nói riêng Quyền cá biệt hóa chủ thể được thể hiện dưới hình thức các công cụ cá biệt hóa khác nhau Tập hợp các công cụ cá biệt hóa đó ở mỗi chủ thể sẽ tạo ra sự hình dung bên ngoài về
chủ thể đó khác biệt với các chủ thể khác Quyền “thể hiện mình” được bảo
vệ một cách tuyệt đối trước sự xâm phạm của bất kỳ chủ thể nào khác và được bảo vệ theo yêu cầu của chủ thể có quyền Chính vì lý do đó, mà đại đa
số các giấy tờ tùy thân hoặc các bằng cấp cá nhân bao giờ cũng có ảnh bên cạnh họ tên của cá nhân Điều này lý giải tại sao hình ảnh của cá nhan có vai trò quan trọng trong việc nhận biết, nhận dạng một cá nhân và là một trong những yếu tố không thể thiếu của quyền cá biệt hóa chủ thể Khi tham gia quan hệ mỗi cá nhân độc lập với nhau và độc lập với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật Việc phân biệt cá nhân này với cá nhân khác và phân biệt
cá nhân với chủ thể khác của quan hệ pháp luật không những có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật Dân sự nói riêng
2 Quyền đối với hình ảnh của cá nhân trong Bộ luật dân sự 2005
Trang 6Điều 31 Bộ luật Dân sự 2005 quy định “Quyền của cá nhân đối với hình
ảnh:
1 Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
3 Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác.
4 Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”.
Qua Điều 31 BLDS nhận thấy rằng khung pháp lý chưa đưa ra khái niệm quyền đối với hình ảnh của cá nhân Đây được xem là một trong những khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp có liên quan tới hình ảnh của cá nhân Quyền đối với hình ảnh có thể là quyền của cá nhân đối với diện mạo bên ngoài của mình như hình dáng khuôn mặt, cử chỉ điệu bộ Ngay cả hình ảnh chụp một người
từ phía sau vẫn có thể vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh nếu qua hình ảnh đó có thể nhận ra người này nhờ vào hình thể, tư thế và kiểu tóc của người đó Hoặc quyền đối với hình ảnh của cá nhân có thể hiểu là hình ảnh được tạo nên bởi sự công nhân của công chúng và gắn liền với hình ảnh của cá nhân; như hình ảnh người đàn bà đẹp gắn liền với nữ diễn viên Julia Robert BLDS chỉ đưa ra một khía cạnh của quyền đối với hình ảnh, quy định mọi cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình mà không quy định rõ quyền đối với hình ảnh là như thế nào Nhưng có thể thấy theo bản chất pháp lý thì cách hiểu thứ nhất về quyền đối với hình ảnh hợp lý với khái niệm quyền nhân thân của cá nhân Vì quyền nhân thân của cá nhân là quyền
mà mọi cá nhân đều có quyền hưởng Còn cách hiểu quyền đối với hình ảnh được công chúng công nhận thì chỉ giới hạn trong một bộ phận cá nhân trong xã hội, ở đây chỉ là những người nổi tiếng bao gồm diễn viên, nhà chính trị, … Quyền đối với hình ảnh là quyền tuyệt đối của cá nhân nên chỉ
Trang 7có cá nhân đó mới có quyền quyết định việc thay đổi hình ảnh hay vẻ bề ngoài của mình; như kiểu tóc, trang điểm khuôn mặt, phong cách thời trang
là sự lựa chọn của chính cá nhân đó (trừ những người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì việc làm này phải có sự đồng ý của người đại diện của họ là cha, mẹ, vợ chồng, con…) Hình ảnh thường để lại dấu ấn nhiều hơn trong trí nhớ của con người; như một vị tiến sĩ được ghi danh thì người ta chỉ biết tên của tiến sỹ đó mà không biết được mặt của người đó như thế nào, nên thường khi đưa tên tuổi của một ai đó, cơ quan báo chí thường đăng kèm với hình ảnh của người đó để mọi người biết được người này là vị tiến sĩ được nhắc đến Chỉ trong một số trường hợp, việc đăng tải hình ảnh gây ảnh hưởng đến tên tuổi, danh dự, nhân phẩm của người đó thường không được đăng tải hoặc có được đăng tải thì sẽ làm nhòe khuôn mặt để nhằm tránh được sự quấy nhiễu, làm phiền của xã hội đối với người đó; như hình ảnh của cô gái HIV nói về cuộc đời của cô; hình ảnh cháu bé bị
kẻ xấu xâm hại tình dục…
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu quyền đối với hình ảnh của cá
nhân là “quyền gắn liền với cá nhân liên quan đến việc tạo dựng, sử dụng
và cho phép sử dụng hình ảnh theo ý chí của chính cá nhân đó”.
3 Phương thức bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân
Thông thường, trong trường hợp quyền đối với hình ảnh của cá nhân bị xâm phạm thì trước hết cá nhân tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ Biện pháp tự bảo vệ là biện pháp thể hiện tính định đoạt cao nhất của chủ thể Vì biện pháp này tôn trọng quyền định đoạt của chủ thể và trong chừng mực nhất định, biện pháp này cũng nhanh chóng ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm Biện pháp tự bảo vệ cho phép chủ thể bị xâm phạm quyền đối với hình ảnh được áp dụng những biện pháp nhất định để bảo vệ quyền của mình Các biện pháp cụ thể mà chủ thể bị xâm phạm quyền đối với hình ảnh
có thể lựa chọn áp dụng là: yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm phải công nhận quyền của cá nhân bị xâm phạm; buộc người có hành vi xâm
Trang 8phạm phải xin lỗi, cải chính công khai; yêu cầu người có hành vi xâm phạm phải bồi thường thiệt hại; yêu cầu chủ thể có hành vi xâm phạm phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự khác Cá nhân bị xâm phạm có quyền với hình ảnh của mình có thể sử dụng các biện pháp này bằng cách trực tiếp gặp chủ thể
có hành vi xâm phạm hoặc sử dụng các phương thức khác như: gọi điện thoại, gửi thư qua bưu điện, fax, …; Hoặc tiến hành những hành vi cụ thể để bảo vệ quyền của mình Người bị xâm phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh có thể lựa chọn áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khác để tự bảo vệ
mình Theo quy định tại Điều 25 BLDS 2005 thì “khi quyền nhân thân của
cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:
1 Tự mình cải chính
2 Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm; xin lỗi, cải chính công khai;
3 Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại”.
Quyền đối với hình ảnh là một quyền nhân thân của cá nhân nên khi quyền về hình ảnh của cá nhân bị xâm phạm thì người bị xâm phạm cũng có quyền:
• Tự cải chính: Tự mình cải chính được thực hiện sau khi có hành vi xâm phạm quyền đối với hình ảnh và tuân theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định “Cải chính” là chữa cho đúng sự thật và tuyên bố trước đông người Tự mình cải chính là biện pháp bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân bị xâm phạm được áp dụng trong trường hợp người có hành vi trái pháp luật đưa ra những hình ảnh không đúng; xúc phạm tới danh dự, nhân phẩm của cá nhân Đây là biện pháp cho phép người có quyền nhân thân đối với hình ảnh bị xâm phạm kịp thời bảo vệ quyền nhân thân của mình., hạn chế được hậu quả về vật chất
và tinh thần do những hình ảnh không đúng sự thật gây ra Người có
Trang 9quyền đối với hình ảnh bị xâm phạm có thể cải chính trực tiếp bằng trình bày trước đám đông hoặc cải chính gián tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí Hiệu quả của biện pháp tự cải chính là cao vì bản thân chủ thể trực tiếp đính chính lại những thông tin, hình ảnh liên quan đến bản thân mình đã giải tỏa được sự nguy hoặc của dư luận và công chúng Ngược lại, nếu cải chính không trung thực sẽ nhận được sự chê trách từ phía dư luận và công chúng
• Yêu cầu người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm
• Yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại về vật chất
và tinh thần cùng các chi phí như: Chi phí hợp lý để hạn chế khắc phục thiệt hại; thu thập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; tiền bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị xâm phạm
4 Chế tài đối với người xâm phạm quyền đối với hình ảnh của cá nhân
Hiện nay, pháp luật dân sự quy định các biện pháp bảo vệ và khôi phục các quyền nhân thân của công dân Theo đó, người xâm phạm quyền nhân thân của người khác thì dù cố ý hay vô ý thì đều có nghĩa vụ phải chấm dứt hành vi xâm phạm; xin lỗi, cải chính công khai; nếu xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín thì phải bồi thường bằng một khoản tiền bù đắp tổn thất
về tinh thần cho người bị xâm phạm
Nếu chỉ xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín thì bồi thường thiệt hại tinh thần tối đa bằng 10 tháng lương tối thiểu (do Chính Phủ quy định trong từng thời kỳ) Nếu việc xâm phạm gây ảnh hưởng đến sức khỏe, thiệt hại tính mạng, người bị xúc phạm lo lắng, buồn phiền sinh ra bệnh tật, tử tự, …
Trang 10thì riêng mức bồi thường thiệt hại về tinh thần có thể đến tối đa 60 tháng lương tối thiểu
Theo luật, không nhất thiết phải gây ra thiệt hại mới bị coi là vi phạm quyền nhân thân, mà kể cả trường hợp không có thiệt hại, thậm chí còn làm lợi cho người có hình ảnh đó, cũng bị coi là vi phạm quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh nếu sử dụng hình ảnh của họ mà không có sự đồng ý của họ
Việc xâm phạm quyền nhân thân của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nếu ở mức độ thấp, tính nguy hiểm chưa đáng kể thì có thể bị Nhà nước xử lý hành chính; nếu nguy hiểm cho xã hội ở mức độ đáng kể thì người thực hiện hành vi ấy có thể bị xử lý hình sự theo các tội danh quy định trong Bộ luật hình sự như: Tội làm nhục người khác (Điều 121), Tội vu khống (Điều 122), Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226), …
III – Thực trạng vấn đề hình ảnh và quyền đối với hình ảnh cá nhân ở nước ta hiện nay
1 Những vụ việc vi phạm hình ảnh cá nhân với mục đích quảng cáo, tuyên truyền:
- Tháng 2/2004, Công ty Điện toán và Truyền số liệu VDC (Tổng Công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam) dùng không xin phép ảnh
“Hai bà cháu” trên thẻ gọi điện thoại 1717 Đây là bức ảnh được nghệ sĩ
Mạnh Đan chụp năm 1982 Sau đó, VDC phối hợp với đơn vị thiết kế nẫu đến, gặp gia đình thân nhân người được chụp ảnh để nhận lỗi, thỏa thuận bồi thường …
- Đầu năm 2004, gia đình bé Minh Khôi kiện Công ty Biti’s, đòi bồi thường thiệt hại 154 triệu đồng vì Biti’s dùng trái phép ảnh của bé Minh Khôi in trên bìa lịch, tập quảng cáo Tháng 9/2004, TAND quận 6 (TP.HCM) buộc Biti’s phải xin lỗi công khai gia đình bé Khôi, chấm dứt vô