Qua phân tích tình hình tài chính giúp cho các nhà phân tích đánh giáchính xác, đầy đủ tình hình phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn, nguồn vốn,khả năng sinh lợi, hiệu quả của hoạ
Trang 1Lời Mở Đầu
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Nền kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, bước đầu đã có tích lũy, đời sống của người lao động ngày một nâng cao Chúng ta đã tạo được đà để tiếp tục đẩy nhanh quá trình đổi mới.
Những thành tựu đó gắn liền với vai trò của các doanh nghiệp nhà nước, bộ phận quan trọng nhất của thành phần kinh tế nhà nước.
Để đảm bảo cho các doanh nghiệp tồn tại và phát triển đi lên trong cơ chế mới Đòi hỏi các nhà quản lý tài chính các đối tượng có liên quan phải nắm vững tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua các báo cáo kế toán Đây là vấn đề quan trọng có ý nghĩa trong việc quyết định đầu tư, cho vay của các nhà đầu tư.
Đồng thời nó là công cụ để các nhà quản lý, quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nắm được mọi vấn đề, để có thể khai thác phát huy những ưu điểm, khắc phục những nhược điểm trong sản xuất kinh doanh, nhằm đạt được mục đích tối đa hóa lợi nhuận Hơn nữa, nó cũng là những thông tin quan trọng giúp cho các cơ quan quản lý cấp trên biết được thực trạng của hoạt động tài chính, xác định rõ nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, để có căn cứ đặt ra những biện pháp hữu hiệu cho từng đối tượng và có những quyết định đúng, cần thiết để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh tế.
Việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phải thận trọng, phải xem xét mọi vấn đề có liên quan để đưa ra những kết luận chính xác không chủ quan.
Với phương châm đó cùng với sự nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề này, với những kiến thức đã được học và nghiên cứu tài liệu
Trang 2thông tin, em đã chọn đề tài “Lập kế hoạch tài chính tại Công ty sản xuất – gia công hàng xuất khẩu 30/04 Tây Ninh”, đưa ra những nhận xét kiến nghị các giải pháp trong quá trình sử dụng vốn, sử dụng các nguồn lực của công ty, góp phần vào công tác thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh của công ty:
Năng suất – chất lượng – hiệu quả.
Quá trình phân tích tình hình tài chính của công ty do thực tế và lý luận còn có khoảng cách chưa có sự đồng nhất cao Bên cạnh đó kiến thức của bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi sự sai sót Rất mong sự giúp đỡ, hướng dẫn, góp ý, phê bình của các thầy, cô giáo và Ban giám đốc Công ty để khoá luận của em được hoàn thiện và mang tính hữu ích cao.
PHẦN I
Trang 3PHÂN TÍCH VÀ LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH
TẠI DOANH NGHIỆP
I PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP
1 Khái niệm phân tích tài chính :
Phân tích tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra đối chiếu so sánh số liệuvề tình hình tài chính hiện hành với quá khứ, nhằm mục đích đánh giá dự tính cácrủi ro tiềm năng trong tương lai phục vụ cho các quyết định tài chính và đánh giádoanh nghiệp một cách chính xác
Phân tích tài chính là một bộ phận không thể thiếu được trong việc phântích các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vì phân tích tài chính là tất cả cácmối quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức tiền tệ phát sinh trong quá trình hìnhthành và sử dụng các quỹ tiền tệ tồn tại khách quan Mặt khác, phân tích tài chínhdoanh nghiệp còn là vấn đề quan tâm của những người bên ngoài có quan hệ vớidoanh nghiệp như ngân hàng, những người cho vay…
2 Mục đích phân tích tài chính:
Với sự vận động tất yếu của nền kinh tế thị trường cùng với sự quản lý
vĩ mô của nhà nước, nhu cầu bức xúc đặt ra cho các nhà quản lý, các đối tượng cóliên quan phải suy nghĩ tìm mọi biện pháp để hoạt động đảm bảo cho doanh nghiệptồn tại và phát triển đi lên trong cơ chế mới Do vậy, đòi hỏi họ phải nắm vững tìnhhình tài chính của doanh nghiệp thông qua các báo cáo kế toán
Qua phân tích tình hình tài chính giúp cho các nhà phân tích đánh giáchính xác, đầy đủ tình hình phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn, nguồn vốn,khả năng sinh lợi, hiệu quả của hoạt động kinh doanh, đánh giá những triển vọngcũng như những rủi ro trong tương lai của doanh nghiệp để từ đó đề ra các các biệnpháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp
Việc phân tích tài chính có ý nghĩa trong việc quyết định đầu tư cho vaycủa các nhà đầu tư ngân hàng, các nhà quản lý, chủ sở hữu và các cơ quan tài chínhkhác Mỗi đối tượng này quan tâm và nhận định dưới nhiều khía cạnh khác nhau vềtình hình tài chính của doanh nghiệp để phục vụ cho những mục đích của mình
Trang 43 Phương pháp phân tích tài chính
*Khái niệm : Phương pháp phân tích tài chính là cách thức chung để đi sâuvào xem xét, giải thích và rút ra kết luận về một hiện tượng và quá trình hoạt độngkinh tế nào đó trong doanh nghiệp
Để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, có thể sử dụng nhiềuphương pháp phân tích khác nhau
3.1 Phương pháp so sánh
Là phương pháp chủ yếu sử dụng trong phân tích hoạt động kinh tế.Phương pháp so sánh đòi hỏi các chỉ tiêu phải có cùng điều kiện, có tính so sánhđược để xem xét, đánh giá, rút ra kết luận về hiện tượng và quá trình kinh tế
Các điều kiện có thể so sánh được của chỉ tiêu kinh tế như sau:
+ Thống nhất về nội dung phản ảnh
+ Thống nhất về phương pháp tính toán
+ Số liệu thu nhập được của các chỉ tiêu kinh tế phải có cùng khoản thờigian tương ứng
+ Các chỉ tiêu kinh tế phải có cùng đại lượng biểu hiện (đơn vị đo lường)Tùy theo mục đích yêu cầu phân tích các chỉ tiêu kinh tế mà sử dụng cáckỹ thuật so sánh thích hợp
Các loại phương pháp so sánh như sau:
So sánh tuyệt đối
Được thực hiện bằng phép trừ giữa các mức độ của chỉ tiêu đang xem xét ởcác kỳ khác nhau So sánh về số tuyệt đối phản ảnh biến động về mặt qui mô hoặckhối lượng, giá trị của chỉ tiêu phân tích trong khoản thời gian và địa điểm cụ thể.Số tuyệt đối là cơ sở để tính các giá trị khác
So sánh tương đối
Số tương đối là mức độ biểu hiện quan hệ so sánh giữa 2 chỉ tiêu kinh tếcùng loại nhưng khác nhau về điều kiện thời gian và không gian, hoặc giữa 2 chỉ
Trang 5tiêu khác loại nhưng có quan hệ với nhau về ý nghĩa nghiên cứu Về nội dung, sốtương đối phản ánh quan hệ so sánh giữa 2 chỉ tiêu kinh tế, 2 chỉ tiêu này có thểcùng loại nhưng khác nhau về điều kiện thời gian và không gian.
So sánh hệ số kỳ này với kỳ trước qua đó xem xét xu hướng thay đổi vềtình hình tài chính của doanh nghiệp
So sánh với các hệ số trung bình của các doanh nghiệp trong ngành đểđánh giá mức độ hiện trạng tài chính của doanh nghiệp hoặc so sánh với một doanhnghiệp khác trong ngành để rút ra những vấn đề cần thiết
3.2 Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp này được dùng xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tốđến các chỉ tiêu cần phân tích và chúng được biểu hiện trên một công thức chung,được sắp xếp theo một trật tự nhất định Phương pháp này sử dụng trên cơ sở giảđịnh các nhân tố này ảnh hưởng độc lập đến các chỉ tiêu cần phân tích
3.3 Phương pháp cân đối
Phương pháp cân đối được sử dụng rộng rãi trong hoạt động kinh doanhnhằm đánh giá toàn diện các quan hệ cân đối chung: cân đối giữa các mặt, cân đốitrong từng mặt nào đó, để phát hiện ra sự mất cân đối cần giải quyết, những hiệntượng vi phạm chính sách chế độ, những khả năng tiềm tàng có thể khai thác
3.4 Phương pháp phân tích theo chiều dọc và phân tích theo chiều ngang
Quá trình so sánh, xác định các tỷ lệ quan hệ tương quan giữa các dữ kiệncủa kỳ phân tích gọi là quá trình phân tích theo chiều dọc
Quá trình so sánh, phân tích, xác định các tỷ lệ và chiều hướng tăng, giảmcủa các dữ kiện trong nhiều kỳ khác nhau gọi là quá trình phân tích theo chiềungang
4 Nội dung phân tích tài chính của doanh nghiệp
Phân tích chung tình hình tài chính là đánh giá khái quát sự biến động cuối năm so với đầu năm về tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, đồng thời xem xét mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn nhằm rút ra nhận xét ban đầu về tình hình tài chính doanh nghiệp.
Trang 64.1 Phân tích tình hình tài chính qua Bảng cân đối kế toán
Qua bảng cân đối kế toán (BCĐKT) bước đầu sẽ giúp cho ta khái quátđược tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh là có khả quan haykhông, qua đó doanh nghiệp thấy rõ được thực chất của quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh và có thể dự đoán được khả năng phát triển hay suy thoái của mìnhtrong tương lai từ đó có những giải pháp hữu hiệu để giải quyết kịp thời
Việc nhận định khái quát tình hình tài chính trước hết cần căn cứ vào cácsố liệu đã phản ánh trong bảng cân đối kế toán để so sánh tổng số tài sản và tổng sốnguồn vốn giữa cuối năm so với đầu năm để đánh giá sự biến động về qui mô vốncủa doanh nghiệp đang sử dụng trong kỳ
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào sự tăng hay giảm đi của tổng tài sản và tổngnguồn vốn cuối năm với đầu năm qua BCĐKT thì ta chưa thể đánh giá sâu sắc quanhệ giữa các khoản mục của BCĐKT Vì vậy, ngoài việc xem xét tổng quát ta cầnphải đi sâu xem xét thêm bằng việc so sánh theo các chiều ngang, chiều dọc đểthấy được các quan hệ giữa các khoản mục trong qua BCĐKT
4.1.1 So sánh theo chiều ngang.
So sánh theo chiều ngang là xét mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốnnhằm đánh giá khái quát tình hình phân bổ, huy động và sử dụng các loại vốn vànguồn vốn nhằm đảm bảo cho nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
Để thấy được tình hình đảm bảo giữa vốn và nguồn vốn ta tiến hành nhưsau:
- So sánh tổng tài sản cuối năm và đầu năm để đánh giá sự biến động vềqui mô của doanh nghiệp, đồng thời so sánh giá trị, tỷ trọng của các bộ phận tài sản
- So sánh tổng nguồn vốn cuối năm để đánh giá mức huy động vốn, đảmbảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời so sánh với giátrị và tỷ trọng của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn
Theo quan điểm luân chuyển vốn xét về mặt lý thuyết thì nguồn vốn chủsở hữu của doanh nghiệp phải đảm bảo trang trải các hoạt động chủ yếu như: hoạtđộng sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư mà không phải đi vay hay chiếmdụng vốn Do vậy, ta có mối quan hệ cân đối sau:
Trang 7B.Nguồn vốn chủ sở hữu = (I+II+IV+(2+3)V+VI)A Tài sản +(I+II+III)B.Tài sản
Trong đó :
IA : Tiền
IIA : Các khoản đầu tư ngắn hạn
IVA : Hàng tồn kho
2VA : Chi phí trả trước
3VA : Chi phí chờ kết chuyển
VIA : Chi sự nghiệp
IB : Tài sản cố định
IIB : Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
IIIB : Xây dựng cơ bản dở dang
*Trường hợp 1 : Nếu sự cân bằng trên xảy ra thì nguồn vốn chủ sở hữucủa doanh nghiệp đủ đảm bảo trang trải cho hoạt động sản xuất kinh doanh củamình mà không cần phải đi vay hay chiếm dụng vốn của các đơn vị khác Song trênthực tế rất khó xảy ra quan hệ cân đối trên
*Trường hợp 2 : Vế bên trái > vế bên phải
Trường hợp này nguồn vốn chủ sở hữu đã sử dụng không hết vào sản xuấtkinh doanh mà bị các đơn vị khác chiếm dụng hoặc đơn vị tham gia liên kết Đểđánh giá một cách chính xác cần phải xem nguồn vốn bị các doanh nghiệp khácchiếm dụng có hợp lý không
*Trường hợp 3 : Vế bên trái < vế bên phải
Trường hợp này nguồn vốn chủ sở hữu không đủ trang trải cho hoạt độngsản xuất kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp nên tất yếu doanh nghiệp phải đivay hoặc chiếm dụng vốn của đơn vị khác
4.1.2 So sánh theo chiều dọc
Phân tích tình hình tài sản
Ngoài việc so sánh tổng số vốn cuối năm so với đầu năm, ta còn phải xemxét từng khoản tài sản của doanh nghiệp trong tổng số vốn để thấy được mức độ
Trang 8đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tùy loại hình kinhdoanh để xem xét tỷ trọng từng khoản vốn chiếm trong tổng số vốn là cao hay thấp.
Vậy phân tích tình hình tài sản là đánh giá sự biến động của các bộ phậncấu thành tổng số vốn của doanh nghiệp nhằm thấy được trình độ sử dụng vốn, việcphân bổ giữa các loại vốn trong giai đoạn của quá trình hoạt động kinh doanh cóhợp lý không, từ đó đề ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn củadoanh nghiệp
* Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
Xu hướng chung của sự phát triển sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp làtài sản lưu động tăng lên về số tuyệt đối, giảm về tỷ trọng trong tổng giá trị tài sản.Điều này thể hiện tài sản lưu động tăng lên phù hợp với sự gia tăng của tài sản cốđịnh, thể hiện trình độ quản lý sản xuất kinh doanh cao, tổ chức dự trữ vật tư hợp lý.Tuy nhiên để đánh giá chính xác sự biến động của tài sản lưu động, phải kết hợp sosánh với tỷ trọng tài sản lưu động trong sự phân bố giữa tài sản lưu động và tài sảncố định, kết hợp phân tích các bộ phận cấu thành tài sản lưu động, tốc độ lưuchuyển của vốn lưu động
- Vốn bằng tiền
Xu hướng chung vốn bằng tiền giảm là hoạt động tích cực vì không nên dựtrữ lượng tiền mặt và số dư tiền gởi ngân hàng quá lớn mà phải giải phóng nó đưavào sản xuất kinh doanh, tăng vòng quay vốn hoặc hoàn trả Tuy nhiên ở khía cạnhkhác, sự gia tăng vốn bằng tiền làm khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệpthuận lợi
- Đầu tư tài chính ngắn hạn
Là giá trị những khoản đầu tư có thời gian không quá một năm như giá trịcác chứng khoán ngắn hạn, giá trị góp vốn liên doanh, cho vay vốn ngắn hạn, Giátrị này tăng lên chứng tỏ doanh nghiệp này mở rộng liên doanh và đầu tư, nhưngđánh giá sự gia tăng này có tích cực hay không phải xem xét hiệu quả đầu tư tàichính này
- Các khoản phải thu
Là giá trị tài sản của doanh nghiệp bị các đơn vị khác chiếm dụng Cáckhoản phải thu giảm được đánh giá là tích cực nhất Tuy nhiên, cần chú ý rằng
Trang 9không phải lúc nào các khoản phải thu tăng lên là đánh giá không tích cực, mà cótrường hợp doanh nghiệp mở rộng các mối quan hệ kinh tế thì khoản này tăng lên làđiều tất yếu Vấn đề đặt ra là xem xét số vốn bị các đơn vị khác chiếm dụng có hợplý không.
- Hàng tồn kho
Hàng tồn kho tăng lên do qui mô sản xuất mở rộng, nhiệm vụ sản xuấttăng lên trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện tốt các định mức dự trữ thì đánhgiá là hợp lý
Hàng tồn kho tăng lên do dự trữ vật tư quá mức, sản phẩm dở dang, thànhphẩm tồn kho quá nhiều, không đủ phương tiện bảo quản và máy móc thiết bị đểsản xuất thì đánh giá là không tốt
Hàng tồn kho giảm do định mức dự trữ vật tư, thành phẩm, sản phẩm dởdang bằng các biện pháp như tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, tìm nguồn cung cấphợp lý, nhưng vẫn đảm bảo nhiệm vụ sản xuất kinh doanh thì đánh giá tích cựcnhưng Hàng tồn kho giảm do thiếu vốn để dự trữ vật tư hàng hoá, thì đánh giákhông tốt
* Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Tài sản cố định : xu hướng chung của quá trình sản xuất kinh doanh là tàisản cố định phải tăng về số tuyệt đối lẫn số tỷ trọng Điều này biểu hiện tốt vì quimô sản xuất mở rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật gia tăng, trình độ tổ chức sản xuấtcao, Tuy nhiên không phải lúc nào TSCĐ tăng lên đều đánh giá là tích cực, chẳnghạn có trường hợp đầu tư xây dựng nhà xưởng máy móc thiết bị quá nhiều nhưng lạithiếu nguyên liệu sản xuất, hoặc đầu tư nhiều nhưng không sản xuất do sản phẩmkhông tiêu thụ được, Đây là những biểu hiện không tốt
Để đánh giá được sự biến động của TSCĐ và đầu tư dài hạn, trước hết phảitính chỉ tiêu tỷ suất đầu tư và xem xét sự biến động của nó Chỉ tiêu tỷ suất đầu tưphản ánh tình hình đầu tư chiều sâu, tình hình trang bị xây dựng cơ sở vật chất kỹthuật, thể hiện năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp
TSCĐ&ĐTDHTỷ suất đầu tư dài hạn = x 100%
Tổng số tài sản
Trang 10Nhìn vào sự tăng lên của tỷ suất đầu tư các chủ doanh nghiệp sản xuất sẽthấy năng lực sản xuất có xu hướng phát triển Nếu các tình hình khác không đổi thìđây là hiện tượng khả quan, song nếu các chủ doanh nghiệp thuộc các ngành khácnhau như: thương mại, dịch vụ thì cần phải thận trọng trong việc xem xét tỷ suấtnày Nếu tỷ suất đầu tư của doanh nghiệp thương mại quá cao là chưa hợp lý (ngoạitrừ những doanh nghiệp mới bước vào hoạt động hoặc những doanh nghiệp cần phảiđổi mới toàn bộ trang thiết bị, xây dựng lại cơ sở vật chất )
- Đầu tư tài chính dài hạn
Là giá trị những khoản đầu tư dài hạn như giá trị các chứng khoán dài hạncó thời hạn > 1 năm, giá trị vốn góp liên doanh dài hạn, cho vay dài hạn
Giá trị đầu tư tài chính dài hạn tăng lên chứng tỏ doanh nghiệp mở rộngđầu tư ra bên ngoài, mở rộng liên doanh, liên kết Để đánh giá tính hợp lý của sựgia tăng này cần xem xét hiệu quả của việc đầu tư Nếu hiệu quả đầu tư tăng lên,đây là biểu hiện tốt
- Chi phí xây dựng cơ bản dở dang
Chi phí xây dựng cơ bản dở dang tăng lên có thể do doanh nghiệp đầu tưxây thêm cơ sở vật chất và tiến hành sửa chữa lớn TSCĐ trong điều kiện doanhnghiệp đang mở rộng qui mô sản xuất Đây là biểu hiện tốt nhằm tăng cường nănglực hoạt động của máy móc thiết bị Nhưng nếu chi phí xây dựng cơ bản tăng lên dotiến độ thi công công trình kéo dài, gây lãng phí vốn đầu tư thì đây là biểu hiệnkhông tốt
- Ký cược, ký quỹ dài hạn
Giá trị các khoản ký quỹ, ký cược phát sinh nhằm đảm bảo các cam kếtcủa các dịch vụ liên quan đến sản xuất kinh doanh được thực hiện đúng hợp đồng.Sự biến động khoản này có thể do thu hồi các khoản ký quỹ, ký cược hết thời hạnhoặc thực hiện thêm các khoản ký quỹ mới
Phân tích tình hình nguồn vốn
Phân tích tình hình nguồn vốn là đánh giá sự biến động các loại nguồn vốncủa doanh nghiệp nhằm thấy được tình hình huy động, tình hình sử dụng các loạinguồn vốn đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh, mặt khác thấy được thực trạng tàichính của doanh nghiệp Nội dung phân tích cụ thể như sau:
Trang 11* Nợ phải trả
Khoản nợ phải trả giảm về số tuyệt đối và số tỷ trọng trong khi tổng sốnguồn vốn của doanh nghiệp tăng lên Trường hợp này được đánh giá là tích cựcnhất, bởi thể hiện khả năng tự chủ về tài chính doanh nghiệp cao Tuy nhiên cầnchú ý rằng do quy mô sản xuất kinh doanh được mở rộng, nguồn vốn chủ sở hữutăng lên nhưng vẫn không đảm bảo cho nhu cầu Trong trường hợp này, khoản nợphải trả tăng lên về số tuyệt đối nhưng giảm về tỷ trọng vẫn đánh giá là hợp lý Đểđánh giá rõ hơn, ta xét từng khoản mục trong nợ phải trả
- Nguồn vốn tín dụng
+ Nguồn vốn tín dụng tăng do:
Doanh nghiệp mở rộng và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh gia tăng, trongkhi các nguồn vốn khác không đủ đáp ứng thì đánh giá hợp lý
Doanh nghiệp dự trữ quá mức vật tư hàng hoá hoặc do thành phẩm khôngtiêu thụ được vì chất lượng kém thì đánh giá không tốt
Doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn quá nhiều nên phải đi vay nhằm đảmbảo cho hoạt động sản xuất được thường xuyên liên tục, nói chung Đây là biểu hiệnkhông tốt, làm khó khăn tình hình tài chính của doanh nghiệp
+ Nguồn vốn tín dụng giảm do :
Qui mô và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh thu hẹp Đây là biểu hiện khôngtốt
Nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn đi chiếm dụng hợp lý tăng lên Nênđược đánh giá là biểu hiện tích cực bởi giảm đi được chi phí trả tiền vay ngân hàng.Còn nếu nguồn vốn đi chiếm dụng các đơn vị khác là không hợp lý mà tăng lên thìđánh giá không tốt, bởi nó sẽ ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp
Xu hướng chung, nguồn vốn tín dụng giảm về số tuyệt đối lẫn tỷ trọngtrong khi nguồn vốn chủ sở hữu và vốn chiếm dụng hợp lý tăng lên được đánhgiá làtích cực nhất
* Các khoản vốn chiếm dụng bao gồm các khoản : phải trả cho người bán,người mua trả tiền trước, thuế các khoản phải nộp nhà nước, phải trả công nhân
Trang 12viên, phải trả cho các đơn vị nội bộ, phải trả phải nộp khác và các khoản mục kháctrong BCĐKT.
Các khoản này tăng lên về số tuyệt đối, giảm về số tỷ trọng nếu do chiếmdụng hợp lý thì đánh giá là tích cực
Đối với nguồn vốn đi chiếm dụng các đơn vị khác cần phải chú ý rằng nếutình hình sản xuất kinh doanh được mở rộng, số vốn này tăng lên là tất yếu Vì vậykhi phân tích không chỉ nhìn vào số liệu cuối kỳ mà phải căn cứ vào từng trườnghợp theo từng chủ nợ khi phát sinh đến lúc thanh toán để xác định tình hình chiếmdụng có hợp lý không
Đối với khoản phải nộp ngân sách cần phải phân tích nguyên nhân nộpngân sách chậm trễ, đánh giá tình hình chấp hành kỷ luật nộp ngân sách cho Nhànước
Đối với các khoản thanh toán với CB-CNV cần phải xem xét việc thanhtoán đúng kỳ hạn không
* Nguồn vốn chủ sở hữu : đây là nguồn vốn cơ bản, chủ yếu chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Nguồn vốn chủ sở hữu tăng lên về số lượng tuyệt đối lẫn tỷ trọng đượcđánh giá tích cực, bởi vì tình hình tài chính của doanh nghiệp được biến động theo
xu hướng tốt, nó biểu hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng, tích lũy từ nội bộtăng thông qua việc bổ sung vốn từ lợi nhuận và quỹ phát triển kinh doanh, biểuhiện doanh nghiệp mở rộng liên doanh liên kết
Nguồn vốn tăng do ngân sách cấp phát (đối với DNNN) đây là nhân tốkhách quan Nếu nguồn vốn chủ sở hữu tăng do nguồn vốn xây dựng cơ bản, quỹ vàthu nhập chưa phân phối tăng đây là biểu hiện tích cực cho thấy khoản quỹ tích lũytừ một bộ doanh nghiệp gia tăng nhưng chưa được sử dụng Nếu nguồn vốn chủ sởhữu tăng lên về số tuyệt đối, giảm tỷ trọng Điều này có thể do nguồn vốn tín dụngtăng lên với tốc độ cao hơn Để đánh giá chính xác, cần kết hợp phân tích nguồnvốn đi chiếm dụng có hợp lý không Nếu nguồn vốn chủ sở hữu giảm do nguồn vốntự bổ sung giảm, vốn liên doanh giảm, vốn ngân sách giảm, Đây là biểu hiệnkhông tốt, chứng tỏ hiệu quả sản xuất liên doanh của doanh nghiệp giảm, tình hìnhtài chính của doanh nghiệp gặp khó khăn
Trang 13Để đánh giá chính xác hơn về khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp về mặttài chính cũng như mức độ tự chủ của doanh nghiệp trong kinh doanh hay những khókhăn mà doanh nghiệp sắp phải đương đầu thì ta có thể xét đến tỷ suất tự tài trợ củadoanh nghiệp Tỷ suất này càng cao thể hiện khả năng độc lập cao về mặt tài chínhhay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp càng tốt.
Tuy nhiên, bên cạnh tỷ suất tự tài trợ nhà phân tích còn phải xem xét đếncác khoản nợ của doanh nghiệp Nếu khoản nợ phải trả giảm về tuyệt đối lẫn sốtương đối trong khi tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp tăng lên, trường hợp nàyđược đánh giá là tích cực nhất, bởi thể hiện khả năng tự chủ cao về mặt tài chínhcủa doanh nghiệp Trường hợp quy mô doanh nghiệp được mở rộng, nguồn vốn chủsở hữu tăng lên nhưng vẫn không đảm bảo cho nhu cầu thì lúc này khoản nợ phải trảtăng lên về số tuyệt đối nhưng lại giảm về số tỷ trọng thì vẫn đánh giá là hợp lý,song cũng cần xem xét cụ thể tình hình thực tế ở từng doanh nghiệp
4.2 Phân tích tình hình tài chính qua bảng báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD).
BCKQKD là một báo cáo tài chính được các nhà phân tích rất quan tâm vì
nó cung cấp các số liệu về hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp đã thực hiệntrong kỳ Nó được sử dụng như một bảng hướng dẫn để dự tính xem doanh nghiệp sẽhoạt động ra sao trong tương lai
Phân tích BCKQHĐKD theo 2 phương pháp: so sánh theo chiều dọc vàphân tích theo chiều ngang
4 2.1 so sánh theo chiều ngang
So sánh các thay đổi về giá trị theo tỷ lệ phần trăm các khoản mục trongbáo cáo giữa kỳ này với kỳ khác Sự phân tích này cho phép xác định ngay cáckhoản mục thay đổi có tương ứng với thay đổi của doanh thu hay không
-Phân tích các khoản phải thu
Các khoản phải thu của doanh nghiệp bao gồm: Nợ phải thu, tạm ứng, cáckhoản ký quỹ, ký cược dài hạn, ngắn hạn
Để phản ánh trong tổng nguồn vốn được huy động thì có bao nhiêu phầntrăm vốn thực chất không tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh ta dùng chỉ tiêu
Trang 14tỷ lệ giữa tổng giá trị các khoản phải thu và tổng nguồn vốn, nếu tỷ lệ này tăng lênlà biểu hiện không tốt.
Ta có:
Tỷ lệ giữa tổng giá trị các khoản phải thu và tổng nguồn vốn
Tổng giá trị các khoản phải thu
Tổng nguồn vốn
So sánh tổng giá trị các khoản phải thu và giá trị từng khoản phải thu giữacuối năm so với đầu năm để thấy được sự tiến bộ trong việc thu hồi công nợ, nhưngđể tìm ra nguyên nhân ta cần đi sâu vào tình hình thực tế ảnh hưởng đến các khoảnphải thu và tính hợp lý của nó
- Phân tích các khoản phải trả
Phân tích các khoản phải trả ta phải so sánh tổng số nợ phải trả, từngkhoản nợ phải trả cuối năm và đầu năm để thấy khái quát tình hình chi trả công nợ
Để đánh giá rõ hơn tình hình công nợ và thanh toán ta cần phải so sánh sựbiến động giữa các khoản phải thu với các khoản phải trả cuối năm so với đầu năm
Ta có:
Tỷ lệ các khoản phải thu so với các khoản phải trả
Tổng số các khoản phải thu
Tổng số nợ phải trả
4.2.2-so sánh theo chiều dọc
Là xem xét mối quan hệ giữa từng khoản mục trên báo cáo với doanh thuthuần Phân tích này cho biết liệu có khoản thu nhập hay chi phí nào vượt quá khuônkhổ hay không Đồng thời cũng cho những lời giải đáp về tiềm năng và những yếukém của doanh nghiệp trong việc kiểm soát chi phí và hoàn thành chỉ tiêu về lợinhuận
4.3- Phân tích tình hình tài chính qua các tỷ số tài chính
4.3.1-Chỉ số thanh toán
Trang 15Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp có thể vừa là chủ nợ, vừalà con nợ, một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư là doanhnghiệp có khả năng trả các khoản nợ khi chúng đến thời hạn hay không Vì vậy cácdoanh nghiệp thường dựa vào chỉ tiêu khả năng thanh toán bao gồm chỉ tiêu về khảnăng thanh toán hiện thời, khả năng thanh toán nhanh……
4.3.1.1 Tỷ số thanh toán hiện hành
Để thỏa mãn yêu cầu thanh toán, doanh nghiệp dùng toàn bộ tài sản thuộcquyền quản lý và sử dụng của mình để thanh toán nợ tới hạn Nhưng đương nhiênkhông thể dùng tài sản cố định để thanh toán vì nó có thời gian thu hồi vốn lớn hơnthời gian đáo hạn Phần thời gian dùng để trả nợ chỉ có thể là tài sản lưu động vì nólà những tài sản có thể chuyển đổi được thành tiền trong vòng thời gian nhất định,thông thường là dưới một năm
Chỉ tiêu này là thước đo khả năng có thể trả nợ trong kỳ của doanh nghiệp, nó chỉ ra phạm vi, quy mô mà các yêu cầu của các chủ nợ được trang trải bằng những tài sản có thể chuyển đổi được thành tiền phù hợp với thời hạn trả nợ Đối với người cho vay qua chỉ tiêu này cho thấy mức độ an toàn của khoản cho vay.
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
Tỷ số thanh toán hiện hành =
Nợ ngắn hạn
Các nhân tố ở công thức trên được xác định như sau:
- Tài sản lưu động và đầu tư và ngắn hạn bao gồm các khoản vốn bằngtiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản lưu độngkhác
- Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm : vay ngắn hạn,vay dài hạn đến hạn trả và các khoản phải trả khác
Tỷ số thanh toán hiện hành cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản cóthể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Tỷ sốnày đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp
4.3.1.2-Tỷ số thanh toán nhanh
Trang 16Trên thực tế có rất nhiều loại hình doanh nghiệp cho nên thử nghiệm củachúng ta đòi hỏi phải có nhiều thay đổi để thực sự có tác dụng trong quá trình phântích các doanh nghiệp thuộc các ngành khác nhau Nhìn chung các doanh nghiệp cóqui mô hàng tồn kho nhỏ và dễ dàng thu lại số tiền bán hàng của mình thường hoạtđộng một cách an toàn hơn các doanh nghiệp có tỷ số thanh toán hiện hành cao,nhưng lại bán chịu sản phẩm của mình.
Ngoài tỷ số thanh toán hiện hành và vốn lưu động, người ta còn có nhiềuphương pháp để thử nghiệm tính chất thích hợp trong vị trí hiện tại của một doanhnghiệp những tài sản nào là tài sản quay vòng nhanh Đó là những tài sản có thểnhanh chóng đưa đến ngân hàng khi cần, chúng là những tài sản có thể nhanh chóngchuyển đổi thành tiền mặt Nó không bao gồm hàng tồn kho, bởi vì người ta cầnphải có thời gian bán chúng đi và có khả năng mất giá cao, nghĩa là nó có khả năngthanh toán kém nhất
Do đó hệ số thanh toán nhanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tài sản lưu động còn lại sau khi trừ đi giá trị hàng tồn kho so với tổng số nợ đến hạn (nợ ngắn hạn).
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn – Tồn kho
Tỷ số thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Tỷ số thanh toán nhanh đo lường mức độ đáp ứng nhanh của vốn lưu độngtrước các khoản nợ ngắn hạn khoản có thể dùng để trả ngay cho các khoản nợ đếnhạn Tỷ số này càng lớn, thể hiện khả năng thanh toán càng cao Tuy nhiên, tỷ sốquá lớn lại gây tình trạng mất cân đối của vốn lưu động, tập trung quá nhiều vàovốn bằng tiền, chứng khoán, ngắn hạn, các khoản phải thu có thể không có hiệuquả
4.3.1.3- Tỷ số thanh toán nhanh bằng tiền.
Là quan hệ giữa vốn bằng tiền so với một số nợ đến hạn
Hệ số khả năng Vốn bằng tiền
Thanh toán bằng tiền Nợ ngắn hạn
Trong đó:
- Vốn bằng tiền bao gồm : tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.Hệ số thanh toán bằng tiền thể hiện doanh nghiệp cần có sẵn tiền để thanh toán chocác khoản nợ đến hạn trả
Trang 17- Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải trả trong năm bao gồm : vay ngắn hạn,vay dài hạn đến hạn trả và các khoản phải trả khác.
4.3.2-Chỉ số hoạt động
Các tỷ số họat động đo lường họat động kinh doanh của một doanh nghiệp.Để nâng cao chỉ số hoạt độg các nhà quản trị phải biết là những tài sản chưa dùnghoặc không dùng không tạo ra thu nhập vì thế doanh nghiệp cần phải biết cách sửdụng chúng có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi Tỷ số hoạt động đôi khi còn gọi là tỷsố hiệu quả hoặc tỷ số luân chuyển
4.3.2.1- Vòng quay các khoản phải thu
Các khoản phải thu là những hóa đơn bán hàng chưa thu tiền về do doanhnghiệp thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưa thanh toán, khoảntrả trước cho người bán…
Số vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận việcthanh toán các khoản phải thu ….Khi khách hàng thanh toán tất cả các hóa đơn củahọ, khi đó các khoản phải thu quay được một vòng
Công thức :
Doanh thu bán chịu trong kỳ
Số vòng quay các khoản phải thu =
Các khoản phải thu
Tỷ số này còn được biểu hiện dưới dạng khác đó là tỷ số thu tiền bìnhquân
4.3.2.2-Kỳ thu tiền bình quân.
Nếu kỳ thu tiền bình quân thấp thì vốn của doanh nghiệp ít bị ứ đọng trong khâu thanh toán Tuy nhiên các khoản phải thu nhiều trường hợp cao hay thấp chưa thể có một kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại các mục tiêu của các chính sách của doanh nghiệp áp dụng như: doanh nghiệp tăng doanh thu bán chịu để mở rộng thị trường.
Số dư các khoản phải thuKỳ thu tiền bình quân = Doanh thu bán chịu bình quân 1 ngày
Trang 18Các khoản phải thu ở đây chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng dochính sách bán chịu hàng hoá của doanh nghiệp cho các doanh nghiệp khác.
Phân tích tỷ số này, ngoài việc so sánh giữa các năm, so sánh với cácdoanh nghiệp cùng ngành và so sánh tỷ số trung bình ngành, doanh nghiệp cần xemxét từng khoản phải thu để phát hiện những khoản nợ đã quá hạn trả và có biệnpháp xử lý
4.3.2.3- Vòng quay hàng tồn kho
Đây là một chỉ tiêu kinh doanh khá quan trọng vì dự trữ nguyên vật liệu làđể sản xuất, sản xuất hàng hoá là để tiêu thụ, nhằm đạt mức doanh thu và lợi nhuậncao trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường
Mức độ tồn kho của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc vào việc kết hợpcủa nhiều yếu tố như loại hình kinh doanh, chế độ cung cấp đầu vào, mức tiêu thụsản phẩm, thời vụ trong năm
Một phương pháp để đo lường tính chất hợp lý và cân đối của tồn kho là so sánh tồn kho với mức tiêu thụ trong năm để tính số vòng quay của hàng tồn kho.
Doanh thu thuần
Số vòng quay hàng tồn kho =
Hàng Tồn kho bình quân
Trong đó :
- Doanh thu thuần: Là doanh số bán ra của doanh nghiệp trong năm sau khitrừ đi các khoản giảm trừ như: chiết khấu, giảm giá, hàng bị trả lại và thuế giá trịgia tăng và thuế xuất khẩu
- Tồn kho được coi như là toàn bộ các loại tài sản như: nguyên vật liệutrong khâu dự trữ, chi phí sản xuất dở dang trong khâu sản xuất và thành phẩm trongkhâu lưu thông
- Vòng quay hàng tồn kho càng cao, càng chứng tỏ hàng tồn kho của doanhnghiệp được lưu chuyển nhanh, không gây ứ đọng, ngược lại doanh nghiệp dễ bị ứđộng vốn
Trang 19- Tuy nhiên, muốn chính xác hơn thì phương pháp tốt nhất để xác định mứctồn kho hợp lý là so sánh tỷ số này với tỷ số luân chuyển hàng tồn kho trung bình đểđánh giá.
4.3.2.4- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Chỉ tiêu này được sử dụng để đo lường việc sử dụng tài sản cố định đạt được hiệu quả như thế nào, cụ thể là một đồng vốn cố định (tài sản cố định) được đầu tư thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần, tỷ số này càng cao thì càng tốt.
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =
Tài sản cố định
Muốn đánh giá việc sử dụng tài sản cố định có hiệu quả không phải sosánh với các doanh nghiệp khác cùng ngành hoặc so sánh với chỉ tiêu trung bình củangành
4.3.2.5 Hiệu suất sử dụng vốn lưu động
Số lần luân chuyển vốn lưu động được tính bằng cách lấy doanh thu bán hàng thuần trong kỳ chia cho số dư bình quân vốn lưu động.
Doanh thu thuần Số lần luân chuyển vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quânChỉ tiêu này cho thấy cứ một đồng vốn lưu động bỏ ra thì có bao nhiêuđồng doanh thu thuần Số vòng quay càng cao chứng tỏ vốn lưu động luân chuyểncàng nhanh, tình hình tài chính của DN chuyển biến tốt, ngược lại DN cần xem xéttrình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý tài chính để có biện pháp tăngnhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động sao cho có hiệu quả Việc này có ý hết sứcquan trọng đối với DN, giúp doanh nghiệp giảm được lượng vốn trong kinh doanh,giảm được vốn vay nhưng vẫn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đượcliên tục, hoặc DN có thể mở rộng quy mô trên cơ sở vốn hiện có
4.3.2.6 Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản
Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản đo lường 1 đồng tài sản tham gia vào quátrình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Trang 20Doanh thu thuần Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản =
Toàn bộ tài sản
4.3.3 Chỉ số đòn bẫy tài chính
Tỷ số đòn bẫy đánh giá mức độ mà một doanh nghiệp tài trợ cho hoạt độngkinh doanh của mình bằng vốn vay
Các nhà cung cấp tín dụng căn cứ vào tỷ số đòn bẫy tài chính sẽ để ấn địnhmức lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp (vì doanh nghiệp càng có nhiều nợ vay,rủi ro về mặt tài chính càng lớn) Ơû các nước phát triển, người ta đánh giá được mứcđộ rủi ro này và tính vào lãi suất cho vay Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp càngvay nhiều thì lãi suất càng cao
Đối với doanh nghiệp, chỉ số đòn bẫy tài chính sẽ giúp nhà quản trị tàichính lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý nhất cho doanh nghiệp mình Qua chỉ số đònbẫy, nhà đầu tư thấy được rủi ro về tài chính cảu doanh nghiệp là một trong nhữngcăn cứ từ đó dẫn đến quyết định đầu tư của mình
Các tỷ số đòn bẫy thông thường là :
4.3.3.1 Tỷ số nợ trên tổng tài sản
Các chủ nợ thường thích một tỷ số nợ vừa phải, tỷ số nợ càng thấp thì độ
an toàn càng cao, họ có cơ sở đảm bảo món nợ của họ được thanh toán khi chúngđáo hạn
Khi tỷ số nợ quá cao tức là doanh nghiệp chỉ góp phần nhỏ trên tổng vốn thì rủi ro trong kinh doanh phần lớn chuyển sang chủ nợ gánh chịu, trong khi đó doanh nghiệp càng có lợi rõ rệt vì họ chỉ bỏ ra một lượng vốn đầu tư nhỏ nhưng lại được sử dụng một lượng tài sản lớn và khi doanh lợi vốn lớn hơn lãi suất tiền vay thì phần lợi nhuậän của họ gia tăng rất nhanh Mặt khác, khi tỷ số nợ cao thì mức độ an toàn trong kinh doanh càng kém vì chỉ cần một khoản nợ tới hạn không trả được rất dễ làm cho cán cân bằng, có thể dẫn đến nguy cơ phá sản.
Tổng nợTỷ số nợ trên tổng tài sản =
Tổng tài sảnTrong đó :
- Tổng nợ: Bao gồm toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn của doanhnghiệp cho đến thời hạn lập báo cáo, nợ ngắn hạn như là: các khoản phải trả, các
Trang 21khoản nợ tích lũy, các khoản vay ngắn hạn dưới một năm và các khoản nợ khác Nợdài hạn có thể là các khoản vay dài hạn của ngân hàng hay của các tổ chức khác, nợ
do phát hành trái phiếu, hoặc do mua hàng trả chậm
- Tổng tài sản: là toàn bộ tài sản hiện có và đang thuộc quyền quảnlý, sửdụng của DN đến thời điểm lập báo cáo, bao gồm tài sản lưu động và tài sản cốđịnh
Hệ số này nói lên kết cấu của DN Nếu tỷ số này quá cao phản ánh tìnhhình tài chính doanh nghiệp thiếu lành mạnh, mức độ rủi ro cao khi có những cơ hộiđầu tư hấp dẫn thì DN khó có thể huy động vốn bên ngoài Thông thường tỷ số kếtcấu nợ là chấp nhận được vào khoản 20% đến 50%
4.3.3.2 Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Tổng nợ
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu
Trong công thức trên, nếu tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu lớn hơn 1 Điều đócó nghĩa là công ty đã dùng một lượng vốn vay đáng kể Tuy nhiên, hầu hết cáckhoản vốn vay này lại là tín dụng thương mại phi lãi suất và những khoản phải trảngắn hạn Vì vậy để thấy được mức độ tài trợ bằng vốn vay một cách thường xuyên(qua đó thấy được rủi ro về mặt tài chính mà công ty phài chịu ), người ta dùng tỷ sốnợ nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu :
Nợ dài hạn
Tỷ số nợ dài hạn trên vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu
4.3.3.3 Tỷ số tự tài trợ
Để đánh giá nguồn vốn chủ sở hữu, trước hết phải tính ra chỉ tiêu tỷ suất tự tài trợ và xem xét sự biến động chỉ tiêu này, chỉ tiêu tỷ số suất tài trợ phản ánh khả năng tự chủ về mặt tài chính, từ đó cho thấy khả năng chủ động của doanh nghiệp trong những hoạt động của mình.
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ suất tự tài trợ = x 100%
Tổng nguồn vốn
Trang 224.3.3.4 Khả năng thanh toán lãi vay
Lãi nợ vay hàng năm là một khoản chi phí cố định và chúng ta muốn biếtcông ty sẵn sàng trả tiền lãi đến mức nào Cụ thể hơn, chúng ta muốn biết rằng liệuvốn đi vay có thể sử dụng tốt đến mức có thể đem lại những khoản lợi nhuận là baonhiêu và có đủ để bù đắp lại các chi phí về tiền lãi hay không.Tỷ số này được dùngđể đo lường mức độ mà lợi nhuận phát sinh do sử dụng vốn để đảm bảo khả năngtrả lãi vay như thế nào Nếu doanh nghiệp quá yếu về mặt này, các chủ nợ có thể điđến kiện tụng và có thể đi đến việc phá sản doanh nghiệp
Lãi trước thuế và lãi vayKhả năng thanh toán lãi vay =
Lãi vay Trong công thức trên, phần tử số phản ánh số tiền mà doanh nghiệp có thểđược sử dụng để trả lãi vay trong năm Ơû đây phải lấy tổng số lợi nhuận trước thuếvà lãi vay vì lãi vay được tính vào chi phí trước khi tính thuế lợi tức Phần mẫu số làlãi vay, bao gồm tiền lãi trả cho các khoản vay ngắn và dài hạn kể cả lãi do pháthành trái phiếu
4.3.4 Chỉ số sinh lợi
Chỉ số sinh lợi ( Tỷ suất lợi nhuận ) đo lường thu nhập của công ty với cácnhân tố khác tạo ra lợi nhuận như doanh thu, tổng tài sản, vốn cổ phần
Loại tỷ suất này bao gồm các chỉ tiêu sau :
4.3.4.1 Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu
Chỉ tiêu này nói lên 1 đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợinhuận Công thức :
Lợi tức sau thuế Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu =
Doanh thu thuần Nhân tố lợi tức sau thuế là phần lợi nhuận còn lại của doanh thu thuần saukhi đã khấu trừ tổng chi phí và thuế thu nhập
Trang 23Lợi tức sau thuế là phần lợi nhuận còn lại và thuộc về các chủ sở hữu.Thông thường lợi tức sau thuế được phân phối thành 2 phần: một phần để chia lợitức cho các sở hữu và một phần để lại để tái đầu tư dưới hình thức lợi nhuận để lại.
4.3.4.2 Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản
Chỉ tiêu này đo lường khả năng sinh lợi trên một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp Công thức :
Lợi tức sau thuế
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản = x100%
Tổng tài sản bình quân
Tuy nhiên khi tính chỉ tiêu này, có quan điểm là phần tỷ số cần phải cộngthêm tiền lãi nợ vay Bởi vì vốn của doanh nghiệp do 2 nguồn cung cấp là vốn tự cóvà nợ từ các chủ nợ nên doanh lợi tài sản phản ánh được năng suất của tài sản trongviệc tìm lợi nhuận cho các chủ sở hữu và chủ nợ Với quan điểm này, có lẽ phù hợpđối với những doanh nghiệp dịch vụ và thương mại vì các doanh nghiệp này sử dụngtỷ số nợ cao còn trường hợp của công ty điển hình được nêu ở đây là một doanhnghiệp sản xuất, đồng thời các con số trung bình của ngành được nêu ở đây cũngđược xác định bằng cách tính với công thức trên
4.3.4.3 Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu
Lợi tức sau thuế
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu = x 100%
Vốn chủ sở hữu bình quân
Sự khác nhau giữa tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lợi trênvốn chủ sở hữu là do doanh nghiệp có sử dụng vốn vay Nếu doanh nghiệp không cóvốn vay thì hai tỷ số này sẽ bằng nhau
II LẬP KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH
1/ Lập kế hoạch tài chính và sự cần thiết phải lập kế hoạch
Các giám đốc tài chính luôn quan tâm đến hiệu ứng tổng thể của quyếtđịnh đầu tư và quyết định tài trợ Tiến trình này được xem xét một cách khái quát vàđược gọi là “lập kế hoạch tài chính” và kết quả cuối cùng là bản “kế hoạch tàichính” Lập kế hoạch tài chính rất cần thiết bởi vì các quyết định đầu tư, tài trợ vàcổ tức luôn tương tác lẫn nhau và không nên được xem xét riêng lẻ Nói một cách
Trang 24khác, tổng hợp chung cả hai quyết định này có kết quả có thể có nhiều hơn hoặc íthơn cả hai phần cộng lại.
Kế hoạch tài chính là hệ thống kế hoạch liên quan đến các quyết định đầu
tư, quyết định tài trợ và các quyết định phân phối của doanh nghiệp
Kế hoạch tài chính cũng giúp cho các giám đốc tài chính tránh được nhữngbất ngờ và sẽ chủ động phản ứng như thế nào khi những sự kiện bất ngờ không thểtránh được xảy ra
Cuối cùng, kế hoạch tài chính giúp thiết lập những mục tiêu nhất quán đểkhuyến khích các giám đốc và cung cấp những tiêu chuẩn cho việc đo lường thànhquả hoạt động
2/ Cơ sở xây dựng kế hoạch tài chính
Kế hoạch không nên là phần công việc chỉ dành riêng cho các nhà làm kếhoạch Nếu không có sự tham gia của các cấp điều hành, kết quả kế hoạch sẽ khôngđáng tin cậy Cũng vậy, các kế hoạch tài chính nên liên quan chặt chẽ với kế hoạchkinh doanh của doanh nghiệp Một tập hợp các dự kiến tài chính sẽ ít có giá trị chohoạt động kinh doanh nếu các cấp điều hành không suy nghĩ về các quyết định sảnxuất và tiếp thị cần thiết để làm cho các dự kiến này trở thành thực sự
Để kế hoạch tài chính lập ra đảm bảo tính khoa học, linh hoạt và hiện thực
ta dựa vào một số điều kiện sau đây :
a-Sưu tầm và chỉnh lý lại các báo cáo tài chính năm trước : sưu tầm các
báo cáo tài chính trong những năm đã qua nhằm giúp cho tài chính doanh nghiệp có
cơ sở tiến hành phân tích và lập kế hoạch tài chính Tuy nhiên, điều cần lưu ý ở giaiđoạn này là các báo cáo tài chính cần phải được chỉnh lý lai cho phù hợp nhằm loạibỏ những nhân tố không hợp lý Chẳng hạn do doanh nghiệp đánh giá quá cao tàisản cố định và tài sản lưu động để thế chấp ngân hàng hoặc do hạch toán các khoảnchi phí phải trả….không hợp lý, do đó không phản ánh chính xác lợi nhuận trong kỳ
b-Kết hợp các bộ phận kế hoạch khác hoặc các phòng ban khác để lập kế
hoạch tài chính Có một số chỉ tiêu tài chính phụ thuộc rất lớn vào độ tin cậy do cácbộ phận khác xác định, lưu lượng tiền tệ thu vào qua các năm để đánh giá dự án đầu
tư phụ thuộc rất lớn vào nguồn số liệu và độ tin cậy của các chỉ tiêu doanh thu, chiphí do các bộ phận bán hàng và sản xuất kinh doanh lập
Trang 25c-Phải dựa trên các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật trung bình tiên tiến
để lập Mặc dù Nhà nước chủ trương mở rộng quyền tự chủ tài chính của doanhnghiệp, tuy nhiên, để cho các chỉ tiêu tài chính phản ánh hợp lý các kết quả dự kiếnthì việc tuân thủ các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật do cáccơ quan quản lý ban hành làđiều hết sức quan trọng Chẳng hạn mức chi tiêu quỹ tiền lương không được vượtquá mức tăng của tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ; mức khấu hao tài sản cốđịnh phải dựa vào khung khấu hao tối thiểu hay tối đa do Nhà nước qui định ; mứcchi tiêu chi phí quản lý và các định mức tiêu hao vật tư khác cũng phải dựa trênnhững qui định hiện hành
d-Phải dựa trên thị trường để xác định các tiêu chuẩn giá trị thích hợp, đặc
biệt là các chỉ tiêu quan trọng có thể làm sai lệch các quyết định tài chính như cácchỉ tiêu về lãi suất vay vốn, tỷ suất lợi nhuận bình quân, tỷ suất lợi nhuận trên giácổ phiếu, tỷ giá ngoại tệ, tỷ lệ lạm phát dự kiến…các chỉ tiêu này cần được tài chínhdoanh nghiệp xem xét, phân tích và thể hiện vào các kế hoạch tài chính thích hợp
3/ Kế hoạch tài chính bộ phận
3.1/ Kế hoạch doanh thu
Doanh thu là một chỉ tiêu tài chính quan trọng của doanh nghiệp chỉ tiêunày không những có ý nghĩa đối với bản thân DN mà còn có ý nghĩa đối với nềnkinh tế quốc dân
Doanh thu gồm hai bộ phận : doanh thu về bán hàng (thuộc về các hoạtđộng sản xuất kinh doanh chính và các hoạt động lao vụ, dịch vụ cho khách hàng)và doanh thu khác (doanh thu từ các hoạt động khác)
Về phương pháp lập kế hoạch doanh thu thì căn cứ vào các chỉ tiêu đã thựchiện từ những năm trước đó để lập kế hoạch cho năm tiếp theo
3.2/ Kế hoạch chi phí
Tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh là điều kiện đề hạ giá thành sảnphẩm.để quản lý tốt chi phí sản xuất kinh doanh hàng năm cùng với việc lập kếhoạch sản xuất, doanh nghiệp phải lập kế hoạch chi phí nhằm làm căn cứ để xácđịnh nhu cầu vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, xác định mục tiêu phấn đấucủa doanh nghiệp, phát hiện và động viên mọi khả năng tiềm tàng đưa vào sản xuấtkinh doanh Lập kế hoạch chi phí tức là dùng hình thức tiền tệ tính trước mọi chi phícho sản xuất kinh doanh của kỳ kế hoạch
Trang 263.3/ Kế hoạch vốn và nguồn vốn
Muốn sản xuất kinh doanh thì mỗi DN phải có đủ một lượng vốn nhất địnhvà để quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình thường, DN phải đảm bảovà phải có kế hoạch đối với vốn và nguồn vốn sản xuất kinh doanh của mình Hiệnnay các DN đang chủ động thực hiện đổi mới thay thế tài sản cố định trên nguyêntắc bảo toàn được đồng vốn và sử dụng đồng vốn có hiệu quả cao nhằm đáp ứngyêu cầu áp dụng tiến bộ kỹ thuật Do đó, các Giám đốc tài chính cần có kế hoạchhợp lý đối với vốn và nguồn vốn của mình
3.4/ Kế hoạch lợi nhuận và phân phối lợi nhuận
Lợi nhuận của DN phụ thuộc vào chất lượng hoạt động sản xuất kinhdoanh và trình độ quản lý của DN Do đó chỉ tiêu lợi nhuận có ý nghĩa quan trọngvà phân phối lợi nhuận hợp lý sẽ có tác dụng khuyến khích DN ngày càng phát huytinh thần trách nhiệm, ý thức làm chủ của DN góp phần tăng năng suất lao động đểkhông ngừng phát triển sản xuất kinh doanh
4/ Kế hoạch tài chính tổng hợp
Công tác quản lý tài chính là nhằm huy động, sử dụng đúng mục đích, tiếtkiệm mọi nguồn lực về lao động, vật tư, tiền vốn để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.Đó là quá trình tính toán vốn, tìm kiếm các phương án sử dụng vốn tối ưu, khai tháctriệt để các tiềm năng về kỹ thuật công nghệ, lao động, tiền vốn, thường xuyênkiểm tra và phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh …
Để công tác quản lý tài chính phát huy được hiệu quả cao nhất cần phảilập kế hoạch tài chính Kế hoạch tài chính chứa đựng những dự kiến nhu cầu vốn,nguồn trang trãi nhu cầu vốn, dự kiến thu về lợi nhuận và phân pjhối lợi nhuận đảmbảo cho DN hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, phù hợp với những biếnđộng của thị trường
-
Trang 27-TÌNH HÌNH THỰC TIỄN TẠI CÔNG TY SẢN XUẤT GIA CÔNG HÀNG XUẤT KHẨU 30/04 TÂY NINH
I- ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY SẢN XUẤT-GIA CÔNG HÀNG XUẤT KHẨU 30/04 TÂY NINH
1- Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty sản xuất gia công hàng xuất khẩu 30\ 4 Tây Ninh là công ty TNHH
1 thành viên, được thành lập trên cơ sở hợp nhất 04 xí nghiệp gia công thuộc kinhtế Đảng gồm : xí nghiệp sản xuất giày xuất khẩu Trâm Vàng, xí nghiệp sản xuấtgiày xuất khẩu 30/4 Tây Ninh/, xí nghiệp sản xuất giày dép xuất khẩu Tây Ninh
Cơ cấu tổ chức của công ty gồm: Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc công ty
Tên đầy đủ: công ty TNHH 1 thành viên sản xuất gia công hàng xuất khẩu30/4 Tây Ninh
Tên gọi tắt : công ty sản xuất gia công hàng xuất khẩu 30/4
Tên giao dịch quốc tế :30/ 4production, process export co.ltd
Tên viết tắt: prodexco
Địa chỉ trụ sở chính công ty : quốc lộ 22B, ấp trâm vàng, xã thanh phước,huyện gò dầu, tỉnh Tây Ninh
Tài khoản của công ty :710A –00145 ngân hàng công thương tây ninh Điện thoại :066-855695-853475, 853474
Fax : 066-514136
Ngành nghề kinh doanh : sản xuất gia công hàng xuất khẩu gồm :giày thểthao các loại, thêu ,ren, thủ công mỹ nghệ …
Giấy phép kinh doanh số : 45040000 đăng ký ngày 01\06\2004
Vốn cố định : 27 177 534 660 đồng theo báo cáo tài chính năm 2003
Tên và địa chỉ tổ chức chủ sở hữu công ty
Văn phòng tổ chức Tỉnh ủy tây ninh
Đại lộ 30/ 4, phường II,thị xã tây ninh, tỉnh tây ninh
PHẦN II
Trang 28Đầu tháng 6/ 2004 Công ty chính thức được thành lập Đây là mộït doanhnghiệp nhà nước hoạt động theo luật doanh nghiệp và điều lệ công ty Công tychịu sự quản lí trực tiếp của văn phòng tỉnh ủy Tây Ninh Công ty có tư cách phápnhân, có con dấu riêng, hoạch toán độc lập và được mở tài khoản tại ngân hàng đểgiao dịch theo quy định chung của nhà nước, các đơn vị thành viên công ty hoạchtoán nội bộ
Hiện nay thị trường tiêu thụ chính của công ty là thị trường Châu Aâu đặcbiệt là thị trường các nước khối EU chiếm 90%
Đối tác chính của công ty là Công Ty Kengshin Victory Co.Ltd (Đài Loan)
2- Chức năng và nhiệm vụ
2.1- Chức năng :
Công ty có chức năng là sản xuất gia công các mặt hàng có chất lượng cao,hình dáng mẫu mã đáp ứng được nhu cầu thị trường, đồng thời tạo ra các sản phẩmcó chất lượng cao để cạnh tranh với các doanh nghiệp trong và ngoài nước, khôngngoài mục tiêu và nhiệm vụ định hướng theo Xã hội chủ nghĩa, ổn định nền kinh tếđất nước, điều tiết nền kinh tế theo cơ chế thị trường dưới sự quản lí của nhà nước
Giải quyết việc làm cho xã hội, nâng cao tay nghề cho công nhân
Nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ công nhân viên
Thựïc hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước
Góp phần gia tăng GDP cho đất nước
3- Cơ cấu tổ chức – quản lý của công ty sản xuất gia công hàng xuất khẩu 30/04 Tây Ninh :
3.1- Cơ cấu tổ chức :
Trang 29Tổng số công nhân viên : 1947 người
Công nhân trực tiếp sản xuất :1906 người
Quản lí (cả ban giám đốc): 41 người
Trình độ quản lí như sau :
Đại học – cao đẳng : 7 người
Trung cấp : 7 người
Cấp III: 8 người
3.2 Bộ máy quản lý và hoạt động
Sơ Đồ Cơ Cấu Tổ Chức Bộ Máy Của Công Ty :
*Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban :
Hội đồng quản trị
Giám đốc
Phó giám đốc
VP Cty (XN trâm vàng)
Các phòng nghiệp vụ Quản đốc phân xưởng
Phân Xưởng dập I
Phòng Kế Toán
Phân Xưởng thành phẩm I,II
Phân Xưởng May I,II
Phó giám đốc Phó giám đốc
Trang 30Hội đồng quản trị :
Là cơ quan quản lý công ty có quyền nhân danh công ty để quyết dịnh mọivấn đề có liên quan tới quản lí, hoạt động, quyền lợi của công ty (trừ những vấn đềthuộc thẩm quyền của chủ sở hữu )
-Giám đốc :
+Là người đại diện theo pháp luật của công ty
+Là người trực tiếp lãnh đạo, điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanhcủa công ty, theo chế độ thủ trưởng, đồng thời chịu trách nhiệm trước hội đồngquản trị và pháp luật về việc lãnh đạo, điều hành công ty
-Các phó giám đốc: giúp giám đốc điều hành công ty theo sự phân công và
ủy quyền của giám đốc, đồng thời chịu trách nhiệm trước giám đốc về nhiệm vụđược giám đốc phân công, ủy quyền
-Các phòng nghiệp vụ :
Là bộ phận tham mưu giúp cho giám đốc trong việc quản lí, điều hànhnhững hoạt động do bộ phận mình phụ trách trực tiếp quan hệ giao tiếp với cácngành chức năngđịa phương Kiến nghị với ban giám đốc giải quyết những vấn đềliên quan đến quyền và lợi ích chung của đơn vị
Mỗi phòng nghiệp vụ có trưởng phòng, 1 đến 2 phó phòng và nhân viên làmcông tác nghiệp vụ
Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước ban giám đốc về toàn bộ hoạt độngcủa bộ phận mình quản lí, các phó trưởng phòng chịu trách nhiệm trước trưởngphòng về công việc được phân công
-Các phân xưởng sản xuất
Trực tiếp quản lí lao động trong phân xưởng
* Tổ chức bố trí lao động hợp lí theo quy định sản xuất
* Quản lí tốt vật tư, tài sản trong phân xưởng sản xuất
* Phối hợp với kĩ thuật của đối tác để điều hành sản xuất
*Thực hiện tốt chế độ báo cáo theo hướng dẫn của các phòng nghiệp vụ
*Có trách nhiệm tham gia thực hiện công tác phòng chống cháy nổ, vệ sinhmôi trường và an toàn lao động tại phân xưởng
*Mỗi phân xưỏng có một quản đốc và một phó quản đốc bộ phận thống kê
Trang 31*Bộ phận thống kê nắm rõ tình hình về số lượng chi tiết sản phẩm hoàn
thành của phân xưởng nơi mình phụ trách
3.2.1 Đặc điểm qui trình công nghệ
Công ty có qui trình công nghệ khép kín từ dập – may – thành phẩm
SƠ ĐỒ QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ
Chú thích :
Luân chuyển giữa các chứng từ
Mẫu thiết kế
Dập da thành các chi tiết Quá trình may
Hoàn tất sản phẩm may
Mẫu thiết kế
PX May
Mẫu thiết kế
Vô đế ,ép hông, lắp gót
Phân xưởng dập
Nguyên phụ liệu
Trang 32Phân công trong các phân xưởng
4- Thuận lợi - khó khăn và phương hướng của công ty trong tương lai
-Đơn vị có mặt bằng, nhà xưởng sản xuất rộng rãi, thông thoáng, cơ sở vậtchất kỷ thuật đáp ứng khả năng tổ chức sản xuất theo ngành nghề kinh doanh
-Được sự tín nhiệm và hợp tác có hiệu quả của phía đối tác trong quá trìnhthực hiện hợp đồng gia công
-Được sự quan tâm lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, các đoàn thể vữngmạnh, sự phối hợp đồng bộ giữa Đảng, Chính quyền và các tổ chức đoàn thể
-Có đội ngũ công nhân lao động tại địa phương, thuận tiện đi lại, đáp ứng nhucầu tuyển dụng, phù hợp với điều kiện sản xuất gia công mặt hàng giày
-Những khoản nợ tồn đọng, kéo dài của phía đối tác đã gây không ít khókhăn cho đơn vị về tình hình tài chính, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động SXKD
-Những đơn vị trực thuộc, có máy móc thiết bị do đối tác trang bị đã cũ kỷ,lạc hậu nhưng không được thay thế, đã dẫn đến năng suất lao động giảm
-Bộ máy quản lý đã từng bước sắp xếp lại nhưng vẫn chưa hợp lý, chưa ngangtầm với sự phát triển của đơn vị trong tình hình mới Công tác quản lý theo mô hình
Trang 33công ty TNHH một thành viên và các chi nhánh trực thuộc còn mới mẽ, bỡ ngỡ,phải vừa làm vừa học hỏi, vừa rút kinh nghiệm
-Việc các doanh nghiệp may mặc, da giày ra đời trên địa bàn (nhất là tại Khucông nghiệp Trảng Bàng) đã làm cho đội ngũ công nhân trong năm qua thườngxuyên biến động, gây ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức sản xuất, tay nghề công nhânkhông được nâng cao Trong khi đó, khách hàng đòi hỏi Kỹ thuật, chất lượng hànghoá ngày càng cao hơn
4.3- Phương hướng hoạt động của Công ty trong tương lai :
4.3.1 Đặc điểm của địa phương – nơi Cty đặt trụ sở
Thanh Phước là vùng nông thôn, nhân dân chủ yếu sống bằng nghề nông(80%), số còn lại sống bằng nghề thương nghiệp, dịch vụ và lao động làm thuê
Xã có tổng diện tích đất tự nhiên 2.471 ha Trong đó đất sản xuất nông nghiệplà 2.076 ha
Xã có 6 ấp với 3.786 hộ ,17.533 nhân khẩu
Xã có vị trí rất quan trọng có đường xuyên á đi ngang qua quốc lộ 22A khoảng6km
Phía Đông giáp xã Gia Bình –Trảng Bàng, Nam giáp Sông Vàm Cỏ Đông, Bắcgiáp Xã Phước Đông Phước Thạnh, Tây giáp Thị Trấn Gò Dầu
Trên địa bàn xã có công ty Hồng Phúc 100% vốn nước ngoài và 1 xí nghiệpliên doanh với nước ngoài nên có nhiều thuận lợi về hoạt động và giao lưu kinh tế tạoviệc làm cho nhân dân
4.3.2 Định hướng phát triển:
Từ trước đến nay công ty hoạt động theo mô hình là gia công Máy móc thiết
bị là do đối tác đầu tư nhưng hiện nay đã củ kĩ và lạc hậu Hướng trước mắt cần trang
bị thêm máy móc thiết bị hiện đại để phù hợp với trang thiết bị hiện có
Hiện nay hướng phát triển của công ty là đầu tư theo hướng tự chủ sản xuất(không còn phụ thuộc vào đối tác ) mà công tư tự tạo nguồn đầu vào và tìm thị trườngtiêu thu (đầu ra ) Muốn được như vậy thì công ty phải có đội ngũ cán bộ có tay nghềcao, máy móc thiết bị hiện đại, phải biết thâm nhập vào thực tế tìm thị trường.Thường xuyên tham gia các hội chợ triển lãm, đào tạo đội ngũû cán bộ kỹ thuật, từngbước thực hiện các mục tiêu đề ra( tự chủ sản xuất ) Đây sẽ là bước phát triển nhảyvọt của công ty
Trang 34II- PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY SẢN XUẤT – GIA CÔNG HÀNG XUẤT KHẨU 30/04 TÂY NINH :
1- Phân tích tình hình tài chính qua bảng cân đối kế toán
Phân tích báo cáo tài chính là đánh giá những gì đã thực hiện, dự kiến những
gì sẽ xảy ra, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp để tận dụng triệt để các điểmmạnh, khắc phục các điểm yếu Hay nói cách khác chúng ta làm cho các số liệutrên báo cáo tài chính nói lên được những gì doanh nghiệp đã đạt được, để người sửdụng có thể hiểu rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng như các mục tiêu, cácphương pháp hành động của nhà quản lý doanh nghiệp đó
Giới thiệu bảng cân đối kế toán tại Công ty sản xuất - gia công hàng XK30/04 Tây Ninh
(ngày 31/12/2004) Đơn vị tính : đồngNăm 2003 Năm 2004 Chênh lệch Khoản mục Số tiền % Số tiền % Số tiền %
Tài sản
A Tài sản lưu động và
đầu tư ngắn hạn
27.116.281.413 90,02 34.486.970.765 89,08 7.370.689.352 27,18
I Tiền 19.840.994.043 65,87 28.551.977.443 73,75 8.710.983.400 43,90 Tiền mặt 20.040.000 0,07 5.660.825 0,01 (14.379.175) -71,75 Tiền gởi 19.820.954.043 65,80 28.546.316.618 73,74 8.725.362.575 44,02
II Các khoản đầu tư tài
chính ngắn hạn.
1 Đầu tư chứng khoán
ngắn hạn.
2 Đầu tư ngắn hạn khác
3 Dự phòng giảm giá
đầu tư ngắn hạn.
III Các khoản phải thu 3.768.173.293 12,51 4.640.613.538 11,99 872.440.245 23,15
1 Phải thu khách hàng 2.399.535.508 7,97 857.680.311 2,22 (1.541.855.197) -64,26
2 Trả trước người bán 2.500.000 0,01 2.500.000
3 Thuế GTGT khấu trừ 205.611.198 0,68 156.731.772 0,40 (48.879.426) -23,77
4 Phải thu nội bộ
-Vốn KD các ĐV trực
thuộc