1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRỊ TĂNG ÁP ĐỘNG MẠCH PHỔI SAU PHẪU THUẬT TIM: KINH NGHIỆM TỪ ILOPROST VÀ SILDENAFIL

8 321 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 282,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐIỀU TRỊ TĂNG ÁP ĐỘNG MẠCH PHỔI SAU PHẪU THUẬT TIM: KINH NGHIỆM TỪ ILOPROST VÀ SILDENAFIL Lê Trung Hiếu*, Phan Kim Phương**, Phạm Nguyễn Vinh* TÓM TẮT Cơn tăng áp động mạch phổi là 1

Trang 1

ĐIỀU TRỊ TĂNG ÁP ĐỘNG MẠCH PHỔI SAU PHẪU THUẬT TIM:

KINH NGHIỆM TỪ ILOPROST VÀ SILDENAFIL

Lê Trung Hiếu*, Phan Kim Phương**, Phạm Nguyễn Vinh*

TÓM TẮT

Cơn tăng áp động mạch phổi là 1 trong những yếu tố nguy cơ cao góp phần làm gia tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong cho các bệnh nhân sau phẫu thuật tim, nhất là các trẻ nhỏ mắc bệnh tim bẩm sinh Iloprost và Sildenafil gần đây đã được công nhân như là những thuốc dãn mạch phổi dùng trong điều trị tăng áp phổi

Mục tiêu: Nhằm đánh giá hiệu quả phối hợp của iloprost và sildenafil trong điều trị tăng áp phổi sau phẫu

thuật tim

Phương pháp: Chúng tôi tổng kết 50 ca hậu phẫu tim có tăng áp phổi, sử dụng phối hợp Iloprost và

Sildenafil theo guidelines của ACCP Trong đó có 40 trường hợp trẻ em được điều trị với iloprost truyền tĩnh mạch, 10 trường hợp trẻ được điều trị với iloprost phun khí dung Dùng phép kiểm t student ghép cặp để so sánh

sự khác biệt về áp lực phổi trước và sau khi dùng iloprost

Kết quả: Nhóm iloprost truyền tĩnh mạch áp lực động mạch phổi trung bình giảm từ 42 ± 5mmHg xuống

còn 30,5 ± 4,6mmHg (p<0,05) Trong khi đó, huyết áp trung bình của bệnh nhân giảm từ 67,5 ± 4,5mmHg xuống còn 56,6 ± 6,25mmHg (p<0,05) Nhóm iloprost phun khí dung: áp lực động mạch phổi trung bình giảm từ

42 ± 5mmHg xuống còn 32,2 ± 6,4 mmHg (p<0,05) Trong khi đó, huyết áp trung bình của bệnh nhân giảm từ 65,5 ± 5,45mmHg xuống còn 61,5 ± 3,25mmHg (p<0,05)

Kết luận: Iloprost cả dạng truyền tĩnh mạch và dạng phun khí dung đều chứng tỏ có hiệu quả trong điều trị

tăng áp phổi sau mổ Việc phối hợp Iloprost và Sildenafil đúng cách sẽ mang lại hiệu quả khá tốt trên lâm sàng, nhất là các bệnh nhân sau phẫu thuật tim có tăng áp phổi

Từ khóa: Tăng áp động mạch phổi, phẫu thuật tim, Iloprost, Sildenafi l.

ABSTRACT

MANAGEMENT PULMONARY HYPERTENSION AFTER CARDIAC SURGERY: EXPERIENCES FROM ILOPROST AND SILDENAFIL

Le Trung Hieu, Phan Kim Phuong, Pham Nguyen Vinh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 13 - Supplement of No 6 - 2009: 25 - 31

Pulmonary hypertension crisis (PHC) is one of high rish factors which increases morbidity and mortality in perioperative cardiac patients Recently, Iloprost and Sildenafil have approved as pulmonary vasodilators and used in treatment of pulmonary hypertension

Objectives: Evaluating effectiveness in combination Iloprost and Sildenafil in management PAH after

cardiac surgery

Methods: Our review on 50 cardiac surgery cases with pulmonary hypertension, treated with iloprost and

silldenafil according to ACCP guidelines 40 cases treated with intravenous iloprost, 10 cases treated with inhaled iloprost The paired Student’s t test was used to compare the pulmonary arterial pressure differences between pre and post iloprost treatment

Results: In intravenous iloprost group, mPAP decreases from 42 ± 5mmHg to 30.5 ± 4,6mmHg (p<0.05),

MAP decreases from 67.5 ± 4.5mmHg to 56.6 ± 6.25mmHg (p<0.05) In inhaled iloprost group, mPAP decreases

* Bệnh viện tim Tâm Đức, ** Viện tim TPHCM

Địa chỉ liên lạc: BS Lê Trung Hiếu, ĐT: 0958864430, Email: bsletrunghieu@yahoo.com.vn

Trang 2

from 42 ± 5mmHg to 32.2 ± 6.4 mmHg (p<0.05), MAP decreases from 65.5 ± 5.45mmHg to 61.5 ± 3.25mmHg (p<0.05)

Conclusion: Both of intravenous and inhaled iloprost are effectively in treatment of perioperative pulmonary

hypertension crisis Combination of iloprost and sildenafil will bring good results in control of pulmonary hypertension

Key words: Pulmonary hypertension crisis, cardiac surgery, Iloprost, Sildenafil

MỞ ĐẦU

Tăng áp phổi là 1 vấn đề rất thường gặp

trong các khoa hồi sức tim mạch Mặc dù gần

đây có nhiều biện pháp điều trị mới được đề cập

đến, tuy nhiên việc kiểm soát ổn định áp lực

động mạch phổi ở những bệnh nhân nặng có

tăng áp phổi vẫn còn là 1 thách thức Việc điều

trị đúng đắn và phù hợp tùy thuộc nhiều vào

bệnh lý gốc và mức độ nặng của tăng áp phổi

ảnh hưởng trên huyết động

Mục tiêu nghiên cứu

Nhằm đánh giá hiệu quả phối hợp của

iloprost và sildenafil trong điều trị tăng áp phổi

sau phẫu thuật tim

Cơ chế bệnh sinh

Ngày nay, người ta cho rằng ở hệ mạch máu

phổi luôn có sự cân bằng giữa các chất được tiết

ra từ lớp nội mạc gây co mạch và dãn mạch,

giữa các chất phân bào và chống phân bào Bất

kỳ 1 yếu tố nào làm rối loạn sự cân bằng này sẽ

gây ra tăng áp phổi Các yếu tố đó có thể kể ra

như sau: giảm oxy máu, toan máu, các hóa chất

trung gian gây viêm, tình trạng tăng lưu lượng

máu lên phổi do shunt trái phải, và sự lắng tụ

fibrin từ các mảng huyết khối

Tăng áp phổi được xác định khi áp lực

động mạch phổi thì tâm thu trên 35mmHg,

hoặc khi áp lực động mạch phổi trung bình

trên 25mmHg lúc nghỉ hoặc trên 30mmHg lúc

vận động

Việc tăng áp lực trên hệ mạch máu phổi sẽ

làm tăng sức cản mạch máu phổi, lâu dần sẽ làm

dày thất phải và suy thất phải Trong 1 nghiên

cứu của Vizza(1) và cộng sự, tỷ lệ suy thất phải

(định nghĩa khi EF thất phải <45%) đặc biệt cao

trên nhóm tăng áp phổi so với nhóm bệnh phổi

giai đoạn cuối

Việc tăng áp phổi lâu ngày sẽ làm biến đổi cấu trúc mạch máu phổi, hay còn gọi là hiện tượng “vascular remodeling” Bình thường, các tiểu động mạch phổi có thành mỏng, khi tăng áp phổi lâu ngày, có hiện tượng tăng sinh các tế bào

cơ trơn thành mạch, đồng thời lớp ngoại mạc cũng dày lên do các nguyên bào sợi tăng sinh làm tăng sinh lóp mô liên kết Hậu quả là thành mạch dày lên Đây là cơ chế bảo vệ của thành mạch đối với hiện tượng tăng áp lực trong lòng mạch

Hình 1: Sinh lý bệnh tăng áp phổi

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trẻ em trong giới hạn tuổi từ 03 tháng tuổi –

10 tuổi mắc bệnh tim bẩm sinh có tăng áp động mạch phổi nặng được phẫu thuật tại bệnh viện tim Tâm Đức, với áp lực phổi trung bình trước

mổ là 42±5mmHg Chúng tôi đánh giá áp lực phổi trước mổ bằng siêu âm Doppler và bằng phương pháp đo trực tiếp trên động mạch phổi trên phẫu trường trong lúc mổ Sau khi được phẫu thuật sửa chữa những khiếm khuyết trong

Trang 3

tim, chúng tôi đánh giá lại áp lực động mạch

phổi ngay sau khi ngưng tuần hoàn ngoài cơ thể,

và đặt catheter theo dõi áp lực phổi liên tục tại

hồi sức đồng thời với theo dõi huyết áp động

mạch xâm lấn liên tục Nếu áp lực phổi trung

bình ≥ 30mmHg thì bệnh nhân được điều trị như

sau:

- Phun khí dung Iloprost liều mỗi lần 25

ng/kg/phút, dùng 6 – 9 lần/ngày (phun 10 phút)

- Hoặc truyền Iloprost liên tục qua tĩnh mạch

trung tâm với liều 1 – 3ng/kg/phút

- Sau đó khi bệnh nhân hấp thu được hoặc

khi uống được thì dùng Sildenafil với liều 0.25 –

1 mg/kg/lần uống 4 lần/ngày

Khi đã dùng Sildenafil được 2 ngày thì giảm

dần Iloprost tới lúc ngưng hẳn, tiếp tục duy trì

Sildenafil

KẾT QUẢ

Từ tháng 07/2006 – 07 2009, có 50 trẻ em mắc

tim bẩm sinh có tăng áp phổi với áp lực phổi

trung bình trước mổ là 42±5mmHg được phẫu

thuật và được điều trị tăng áp phổi sau mổ với

phương pháp nêu trên Trong đó có 40 trường

hợp trẻ em được điều trị với iloprost truyền tĩnh

mạch, 10 trường hợp trẻ được điều trị với

iloprost phun khí dung Kết quả:

Nhóm iloprost truyền tĩnh mạch

Áp lực động mạch phổi trung bình giảm từ

42 ± 5mmHg xuống còn 30,5 ± 4,6mmHg

(p<0,05) Trong khi đó, huyết áp trung bình của

bệnh nhân giảm từ 67,5 ± 4,5mmHg xuống còn

56,6 ± 6,25mmHg (p<0,05)

Nhóm iloprost phun khí dung

Áp lực động mạch phổi trung bình giảm từ

42 ± 5mmHg xuống còn 32,2 ± 6,4 mmHg

(p<0,05) Trong khi đó, huyết áp trung bình của

bệnh nhân giảm từ 65,5 ± 5,45mmHg xuống còn

61,5 ± 3,25mmHg (p<0,05)

BÀN LUẬN

Hiện nay trên thế giới có nhiều phương

pháp điều trị tăng áp phổi Có thể kể ra đây 1 số

phương pháp thông dụng như sau:

Thông khí cơ học

Thông khí cơ học kết hợp với việc cho bệnh

nhân an thần đầy đủ được xem là 1 trong những biện pháp kiểm soát tăng áp phổi Tuy nhiên, nếu điều chỉnh không tốt thể tích khí lưu thông (Tidal Volume) và nhất là áp lực dương PEEP thì

có thể làm tăng kháng lực mạch máu phổi, và làm cho tình trạng suy thất phải trầm trọng thêm Người ta khuyến cáo rằng nên kiểm soát thông khí cho những bệnh nhân tăng áp phổi với tidal volume và PEEP tương đối thấp, nhưng tránh không được để xảy ra tình trạng ứ đọng thán khí (hypercapnia) vì như vậy sẽ làm tăng

áp lực phổi Trong 1 nghiên cứu trên 18 bệnh nhân phẫu thuật mạch vành, người ta thấy rằng tăng thán khí sẽ làm tăng sức cản mạch máu phổi 54% và làm tăng áp lực phổi trung bình lên 30%

Các thuốc inotrope

Trong các thuốc inotrope, chỉ có Dobutamine

và Milrinone là 2 thuốc có tác dụng giảm sức cản mạch máu phổi

Dobutamine: Nhiều nghiên cứu(6,2) khuyên rằng liều dùng dobutamine trong tăng áp phổi không nên vượt quá 5µg/kg/phút và nên phối hợp với các thuốc dãn mạch phổi khác

Milrinone: Milrinone là chất ức chế men

phosphodiesterase-3, vừa có tác dụng inotrope, vùa làm dãn mạch Khi phối hợp với Nitric oxide, người ta thấy Milrinone có tính dãn mạch phổi chọn lọc trên những trẻ em được phẫu thuật tim bẩm sinh Tuy nhiên, vì Milrinone có tác dụng dãn mạch nên nó cũng làm giảm huyết

áp, vì vậy nên thận trọng khi dùng nhất là trong những trường hợp huyết động không ổn định

Các thuốc dãn mạch phổi

Nitric Oxide (NO)

No dùng qua đường hô hấp đã chứng minh được hiệu quả trên tăng áp phổi trong nhiều nghiên cứu Trong tăng áp phổi lâu ngày, NO làm giảm đáng kể áp lực động mạch phổi trung bình (mPAP) và sức cản mạch máu phổi (PVR)

mà không làm ảnh hưởng trên sức cản mạch

Trang 4

máu ngoại vi (SVR) và cung lượng tim (CO)(16)

Tuy vậy, sử dụng NO cũng cần chú ý đến

những biến chứng, nhất là tình trạng

Methemoglobin máu khi dùng NO kéo dài với

nồng độ thuốc cao Và khi ngưng thuốc phải

giảm dần nồng độ thuốc, không ngưng thuốc

đột ngột tránh hiện tượng tăng áp phổi dội

ngược (rebound)

Iloprost

Đề cập sau

Sildenafil

Đề cập sau

Bosentan

Bosentan là thuốc đối kháng receptor

endothelin, có tác dụng làm dãn mạch phổi và

chống lại sự tăng sinh quá phát cơ trơn thành

động mạch phổi Nhiều nghiên cứu lâm

sàng(7,8) chứng minh bosentan có hiệu quả làm

giảm áp lực động mạch phổi, giảm PVR, cải

thiện huyết động học cho bệnh nhân, cải thiện

khả năng vận động, cải thiện khả năng sống còn

Theo guidelines mới đây của ACCP về điều trị

tăng áp phổi, người ta khuyến cáo dùng

bosentan cho các bệnh nhân NYHA III – IV mà

không dùng được ức chế canxi Tuy nhiên hiện

tại giá thành bosentan ở Việt Nam vẫn còn khá

cao, điều này làm cho bệnh nhân khó tiếp cận

được với điều trị

Các biện pháp khác

Oxygen

Oxygen có thể làm giảm áp lực phổi và cải

thiện cung lượng tim trên những bệnh nhân

tăng áp phổi Trên những bệnh nhân nặng ở

ICU, tình trạng giảm oxy máu có thể làm co

thắt các mạch máu phổi, làm nặng thêm tình

trạng tăng áp phổi Do đó, cần chú ý cung cấp

oxy đầy đủ trên các bệnh nhân có tăng áp phổi

Lợi tiểu

Thuốc lợi tiểu từ lâu được xem như là 1

thuốc kinh điển để điều trị các trường hợp tăng

áp phổi, cho dù tăng áp phổi do bệnh lý mạch

máu phổi hay do suy thất trái Mục tiêu của việc dùng thuốc lợi tiểu là để giảm tải tình trạng ứ dịch trên thất phải khi thất phải đã căng dãn và suy giảm chức năng do tăng áp phổi

Digoxin

Điều trị Digoxin trên những bệnh nhân suy tim phải do tăng áp phổi hiện còn nhiều tranh cãi Trong 1 nghiên cứu(13) trên 17 bệnh nhân bị tăng áp phổi nguyên phát được điều trị với Digoxin, người ta thấy cung lượng tim có cải thiện một phần và lượng catecholamine trong máu giảm, nhưng kháng lực mạch máu phổi không thay đổi và mPAP lại tăng Hơn nữa, do

có nhiều thuốc hiệu quả hơn Digoxin để điều trị suy thất phải và nhịp nhanh kịch phát trên thất, nên Digoxin ít được sử dụng cho mục đích này trong ICU

Thuốc ức chế Canxi:

Không có nghiên cứu nào ủng hộ cho việc dùng thuốc ức chế Canxi cho những bệnh nhân tăng áp phổi đang nằm ở khoa hồi sức, bởi vì chính tác dụng inotrope âm tính của nó có thể làm nặng thêm tình trạng suy tim phải Tuy nhiên, ức chế Canxi được dùng để điều trị tăng

áp phổi mãn tính Sử dụng loại thuốc này có thể giúp kiểm soát nhịp tim, nhưng cần tránh dùng các thuốc có tác dụng inotrope âm tính quá mạnh như Verapamil

Kháng đông Warfarin

Warfarin được khuyến cáo và sử dụng rộng rãi trên bệnh nhân tăng áp phổi Có nhiều

lý do để dùng Warfarin: các bệnh nhân tăng áp phổi thường có tình trạng tăng đông, giải phẫu bệnh lý các trường hợp tăng áp phổi cho thấy

có tỷ lệ cao huyết khối tại chỗ Có 2 nghiên cứu hồi cứu(4,12) cho thấy những bệnh nhân có dùng thuốc kháng đông có tỷ lệ sống còn cao hơn những bệnh nhân không dùng kháng đông Khi dùng Warfarin, nên giữ INR trong khoảng

từ 2 – 2,5

Trang 5

Hình 2: Cơ chế tác dụng của những thuốc dãn mạch

phổi

TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY Ở VIỆT

NAM

Trong điều kiện hiện tại ở Việt Nam, ngoài

Milrinone, chỉ có 2 thuốc là khả dĩ có thể sử

dụng trong hồi sức để điều trị tăng áp động

mạch phổi là Iloprost và Sildenafil

Iloprost

Iloprost co thể sử dụng dưới 2 dạng là

truyền tĩnh mạch và phun khí dung là thuốc

thuộc nhóm prostacyclin Gần đây có nhiều

nghiên cứu chứng minh Iloprost có hiệu quả

trên mPAP và trên PVR, cũng như làm cải thiện

cung lượng tim và thuốc đã chứng tỏ có hiệu

quả khi dùng dưới cả 2 dạng: khí dung và

truyền tĩnh mạch

Dạng truyền tĩnh mạch

Trong một nghiên cứu hồi cứu trên 45 bệnh

nhân tăng áp phổi nguyên phát từ 1995 – 2002

(trong đó có 35 nữ, tuổi trung bình 45) dùng

Iloprost truyền tĩnh mạch 42 trong số 45 bệnh

nhân được tiến hành thông tim đo các chỉ số

huyết động học trước và sau khi dùng Iloprost

như: CI(cardiac index), PVR(pulmonary vascular

resistance), mPAP(mean pulmonary arterial

pressure), MAP(mean arterial pressure) và

SvO2 Kết quả cho thấy liều Iloprost lý tưởng

trong nghiên cứu này là 1,5 ± 0,8 (0.5 – 4)

ng/kg/phút, với liều này người ta thấy CI, PVR,

PAPm và SvO2 cải thiện một cách đáng kể

(p=0,001) và huyết áp trung bình MAP hầu như

không thay đổi (80 mmHg so với 77mmHg sau

điều trị, p=0,11)(5)

Dạng iloprost truyền tĩnh mạch trong nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ giảm tỷ lệ tử vong trên các bệnh nhân tăng áp phổi nặng Tuy nhiên, khi dùng qua đường truyền tĩnh mạch, thuốc có thể ảnh hưởng đến huyết áp, nhất là trong những trường hợp huyết động không ổn định Ngoài

ra, dùng lâu ngày có thể xảy ra tình trạng dung nạp thuốc và tình trạng nhiễm trùng catheter nên ít nhiều cũng có những hạn chế nhất định

Dạng phun khí dung

Trong nghiên cứu AIR-Study(9) (Aerolized Iloprost Randomized), người ta so sánh hiệu quả khi dùng iloprost dạng hít liều 2,5 - 5µg/kg/lần (dùng 6 – 9 lần/ngày, trung bình 30 µg/ngày) so với placebo Tổng số có 203 bệnh nhân tăng áp động mạch phổi nặng với NYHA III-IV tham gia nghiên cứu Tiêu chí của nghiên cứu này đạt được khi sau 12 tuần điều trị, NYHA tăng ít nhất

1 bậc hoặc chiều dài đoạn đường mà bệnh nhân

đi bộ trong 6 phút tăng ít nhất 10%, mà không có những rối loạn lâm sàng nguy hiểm Kết quả có 16,8% số bệnh nhân dùng iloprost đạt được tiêu chí nghiên cứu, so với nhóm chứng placebo là 4,9% (p=0,007) Chiều dài đoạn đường đi bộ trong 6 phút tăng 36,4m ở nhóm iloprost (p=0,004) Các chỉ số huyết động học cải thiện rất đáng kể sau 12 tuần điều trị thở khí dung iloprost (p<0,001), trong khi nhóm chứng các chỉ

số huyết động học đều xấu hơn Ngoài ra, các lợi ích lâm sàng khác của điều trị iloprost là cải thiện NYHA (p=0,03), cải thiện tình trạng khó thở (p=0,015), và cải thiện chất lượng cuộc sống (p=0,026) (Hình 3)

Về hiệu quả lâu dài của iloprost, nghiên cứu AIR-2(10) tiến hành trên 63 bệnh nhân có NYHA

II – IV điều trị khí dung iloprost trong 2 năm Nghiên cứu xác nhận độ an toàn trong chỉ định

và cải thiện khả năng vận động của iloprost Tuy nhiên, kết quả quan trọng của nghiên cứu này lại nằm ở chỗ iloprost có thể cải thiện khả năng sống còn lâu dài cho bệnh nhân Khả năng sống còn của các bệnh nhân trong nghiên cứu lên đến 91,4% so với tỷ lệ dự đoán là 63,1%

Trang 6

Cần lưu ý dạng iloprost khí dung chỉ có

hiệu quả khi sử dụng với những bộ phun khí

dung nebulizer đạt tiêu chuẩn cho kích cỡ của

hạt phun sương là 3,5µm Có thể dùng bộ

phun khí dung sử dụng sóng siêu âm như

Opti-Neb, Co NEBU-TEC med Product hoặc

Multisonic, Otto Schill GmbH & Co KG,

Probstzella Ngày nay, có 1 số bộ phun khí

dung được gắn với máy thở và có thể trigger

vào thời kỳ hít vào của bệnh nhân để đưa

thuốc vào đường hô hấp bệnh nhân

Tóm lại, dựa trên nhiều bằng chứng có được,

iloprost dạng khí dung dùng điều trị tăng áp

phổi an toàn, hiệu quả và dung nạp tốt Một

nhược điểm của nó là thời gian tác dụng tương

đối ngắn, cần phải sử dụng 6 – 9 lần/ngày, điều

này gây khó khăn ít nhiều trong điều trị Hơn

nữa, hiệu quả trên huyết động của thuốc giảm

sau 30 -90 phút sau khi phun

Hình 3: Hiệu quả của iloprost khí dung và placebo

dựa trên quãng đường đi bộ trong 6 phút

Sildenafil

Sildenafil là chất ức chế men

phosphodiesterase-5 có hiệu quả trên huyết

động trong các trường hợp tăng áp phổi Mới

đây, Sildenafil đã được chấp thuận như là 1

trong những thuốc điều trị tăng áp phổi Trong 1

mô tả hồi cứu 8 trường hợp bệnh nhân người

lớn được sửa van 2 lá hoặc đặt dụng cụ hỗ trợ

thất có tăng áp phổi, người ta thấy rằng dùng

Sildenafil làm giảm đáng kể mPAP và PVR

nhưng chỉ làm giảm huyết áp không đáng kể

Trên những bệnh nhân ổn định, dùng

Sildenafil đơn độc hoặc phối hợp với NO hay

Iloprost đều giúp giảm mPAP và PVR và tăng

cung lượng tim Trên bệnh nhân tăng áp phổi nguyên phát, Sildenafil cũng giúp cải thiện cung lượng tim rất đáng kể Thêm vào đó, có vài tác giả còn cho rằng Sildenafil có thể cải thiện tuần hoàn phổi và tưới máu cơ tim sau phẫu thuật bắc cầu mạch vành

Tác giả Trachte(14) và cộng sự trong 1 báo cáo mới xuất bản gần đây đã cho thấy rằng sildenafil

có tác dụng dãn mạch phổi rất tốt khi sử dụng chung với những thuốc dãn mạch phổi khác cho những bệnh nhân tăng áp phổi sau phẫu thuật tim Tác giả dùng sildenafil với liều 25 – 50mg cho các bệnh nhân người lớn đã có sử dụng milrinone, nitroglycerine hoặc sodium nitroprusside truyền tĩnh mạch và NO nhằm cai các thuốc này Sau liều đầu tiên sildenafil 25 – 50mg, tác giả ghi nhận áp lực động mạch phổi trung bình giảm 20% sau 30 phút và 22% sau 60 phút (p<0,05) Sức cản mạch máu phổi PVR giảm 49% sau 30 phút và 44% sau 60 phút (p<0,05) Tác giả còn ghi nhận sildenafil không có ảnh hưởng trên cardiac index CI, trên huyết áp trung bình MAP và trên sức cản mạch máu hệ thống SVR Sildenafil không những có tác dụng dãn mạch phổi mà nó còn giúp cai dần các thuốc dãn mạch phổi khác dùng qua đường hô hấp hoặc truyền tĩnh mạch như NO, iloprost…

Ngoài ra, còn nhiều tác giả như Bentlin

MR(1), Nemoto S(9)… cũng có những báo cáo về việc sử dụng thành công sildenafil để điều trị tăng áp phổi sau mổ

KẾT LUẬN

Điều trị tăng áp động mạch phổi hiện vẫn còn là 1 thử thách cho các nhà lâm sàng trong ICU Để có được 1 phương cách điều trị thích hợp, chúng ta cần phải kiểm soát thông khí thật tốt, xác định rõ nguyên nhân gây tăng áp phổi

và xử trí các nguyên nhân này nếu có thể được Trong các thuốc dãn mạch phổi chọn lọc, NO đã được sử dụng từ lâu và có hiệu quả tốt Tuy nhiên, trong điều kiện hiện tại ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy chỉ có 3 loại thuốc khả dĩ có thể sử dụng tốt cho các bệnh nhân tăng áp phổi, nhất là cho các bệnh nhân hậu phẫu tim, đó là:

Trang 7

Milrinone, Iloprost và Sildenafil Trong đó,

iloprost cả dạng truyền tĩnh mạch và dạng phun

khí dung đều chứng tỏ có hiệu quả trong điều trị

tăng áp phổi sau mổ Việc phối hợp các thuốc

này đúng cách trong lâm sàng sẽ mang lại hiệu

quả khá tốt, trong điều kiện hiện tại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bentlin MR, Saito A, De Luca AK, et al: Sildenafil for

pulmonary hypertension treatment after cardiac surgery J

Pediatr (Rio J) 81:175-178, 2005

2 Bradford KK, Deb B, Pearl RG: Combination therapy with

inhaled nitric oxide and intravenous dobutamine during

pulmonary hypertension in the rabbit J Cardiovasc

Pharmacol 2000; 36:146–151

3 David B Badesch, Steve H Abman, Gregory S Ahearn,

Robyn J Barst, Douglas C McCrory, Gerald Simonneau and

Vallerie V McLaughlin Medical Therapy For Pulmonary

Arterial Hypertension: ACCP Evidence - Based Clinical

Practice Guidelines Chest 2004;126;35-62

4 Fuster V, Frye RL, Gersh BJ et al Primary pulmonary

hypertension: natural history and the importance of

thrombosis Circulation 1984;70:580-7

5 Higenbottam TW, Butt AY, Dinh-Xaun AT et al Treatment of

pulmonary hypertension with the continuous infusion of a

prostacyclin analogue, iloprost Heart 1998;79:175-179

6 Kerbaul F, Rondelet B, Motte S, et al: Effects of

norepinephrine and dobutamine on pressure load–induced

right ventricular failure Crit Care Med 2004; 32:1035–1040

7 Liu C, Cheng J Endothelin receptor antagonists for

pulmonary arterial hypertension Cochrane Database Syst

Rev 2005 Jan 25;(1):CD004434: 1–18

8 McLaughlin VV, Sitbon O, Badesch DB, et al Survival with

first-line bosentan in patients with primary pulmonary

hypertension Eur Respir J 2005; 25: 244–249

9 Nemoto S, Umehara E, Ikeda T, et al: Oral sildenafil citrate as

an effective alternate in the treatment of postoperative

pulmonary hypertensive crisis after congenital heart surgery

Kyobu Geka 57:842- 845, 2004

10 Olschewski et al., “Long-term survival in patients with

pulmonary hypertension inhaling iloprost”, Eur Heart

J(2003);24:p 482

11 Olschewski H, Simonneau G, Galie N et al Inhaled iloprost

for severe pulmonary hypertension NEJM 2002;347:322-329

12 Rich S, Kaufmann E, Levy PS: The effect of high doses of

calcium channel blockers on survival in primary pulmonary

hypertension NEJM 1992;327:76-81

13 Rich S, Seidlitz M, Dodin E, et al: The short-term effects of

digoxin in patients with right ventricular dysfunction from

pulmonary hypertension Chest 1998; 114: 787–79

14 Trachte AL, Lobato EB, Urdaneta F, et al Oral sildenafil

reduces pulmonary hypertension after cardiac surgery Ann

Thorac Surg 79:194-197, 2005

15 Vizza CD, Lynch JP, Ochoa LL, et al Right and left ventricular

dysfunction in patients with severe pulmonary disease Chest

1998;113:576–83

16 Vizza CD, Rocca GD, Roma AD, et al: Acute hemodynamic

effects of inhaled nitric oxide, dobutamine, and a combination

of the two in patients with mild to moderate secondary pulmonary hypertension Crit Care 2001; 5:355–361

Ngày đăng: 20/01/2016, 17:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sinh lý bệnh tăng áp phổi - ĐIỀU TRỊ TĂNG ÁP ĐỘNG MẠCH PHỔI SAU PHẪU THUẬT TIM: KINH NGHIỆM TỪ ILOPROST VÀ SILDENAFIL
Hình 1 Sinh lý bệnh tăng áp phổi (Trang 2)
Hình 2: Cơ chế tác dụng của những thuốc dãn mạch - ĐIỀU TRỊ TĂNG ÁP ĐỘNG MẠCH PHỔI SAU PHẪU THUẬT TIM: KINH NGHIỆM TỪ ILOPROST VÀ SILDENAFIL
Hình 2 Cơ chế tác dụng của những thuốc dãn mạch (Trang 5)
Hình 3: Hiệu quả của iloprost khí dung và placebo - ĐIỀU TRỊ TĂNG ÁP ĐỘNG MẠCH PHỔI SAU PHẪU THUẬT TIM: KINH NGHIỆM TỪ ILOPROST VÀ SILDENAFIL
Hình 3 Hiệu quả của iloprost khí dung và placebo (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w