Vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị trẻ bị suyễn nhập khoa cấp cứu bệnh viện Nhi Đồng 1 TPHCM trong thời gia
Trang 1ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC, LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
VÀ ĐIỀU TRỊ CƠN SUYỄN CẤP Ở TRẺ EM
Bạch Văn Cam*, Nguyễn Minh Tiến*, Nguyễn Hồng Việt**, Phạm Thị Ngọc Quỳnh**
TÓM TẮT
Mục tiêu: khảo sát đặc điểm dịch tể học, lâm sàng và điều trị trẻ bị suyễn nhập khoa cấp cứu bệnh viện Nhi
Đồng 1 Thành Phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 01/01/2005 đến 31/12/2007
Phương pháp: mô tả hồi cứu hàng loạt ca
Kết quả: Có 289 trẻ suyễn cơn cấp nhập khoa cấp cứu tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 trong thời gian 3 năm
01/01/2005 – 31/12/2007 , tuổi trung bình 4,9 tuổi, nhỏ nhất l 6 thng, lớn nhất 15 tuổi, tỉ lệ nam/nữ : 1,5/1 Tỉ lệ
trẻ có tiền sử gia đình dị ứng tương đối cao 54%, tỉ lệ trẻ có tiền sử cá nhân dị ứng 7,6% Lâm sàng biểu hiện
suyễn cơn nhẹ, trung bình, nặng, dọa ngưng thở lần lượt là 0,3%, 38,4%, 59,9%, 1,4% Đa số là suyễn bậc 1 (91,7%) và bậc 2 (6,9%) Tỉ lệ đáp ứng sau điều trị ban đầu với suyễn nhẹ – trung bình 79,5%, suyễn nặng – dọa
ngưng thở 83,6% Trẻ suyễn nặng không đáp ứng với điều trị ban đầu được xử trí thêm salbutamol, aminophylline và/hoặc magnesium sulfate truyền tĩnh mạch Tác dụng phụ chủ yếu là tim nhanh 4,5% và hạ kali máu 5,9% Không trường hợp tử vong được ghi nhận.
Kết luận: Để điều trị thành công cơn suyễn cấp, cần thiết phải cập nhật phác đồ điều trị Ngồi ra vấn đề giáo
dục, quản lý suyễn cần đặt ra rộng rãi hơn, hiệu quả hơn để giảm số trẻ có nguy cơ cao cũng như giảm tần suất cơn suyễn nặng giúp trẻ hòa nhập với cuộc sống hàng ngày
ABSTRACT
CLINICAL AND PARACLINICAL FINDINGS AND TREATMENT
ON ASTHMA ATTACK IN CHILDREN
Bach Van Cam, Nguyen Minh Tien, Nguyen Hong Viet, Pham Thi Ngoc Quynh
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 – Supplement of No 4 – 2008: 177 – 182
Objectives: explore features of demographic profile, symptoms and signs, treatment of asthmatic patients Methods: Retrospective descriptive study
Results: There were 289 children admitted with acute asthma attack at Emergency Department of
Children’s Hospital No.1 from January 1 st 2005 till December 31 st 2007 The average age was 4.9 year old, male/female: 1.5/1 The percentage of patient’s allergic history was 7.6% and patient’s family allergic history was 54% Clinical features: Mild, moderate, severe and respiratory arrest imminent asthma exacerbations were in turn 0.3%, 38.4%, 59.9% and 1.4% Satisfactory rate of initial treatment of moderate asthma exacerbation was 79.5%, and one of severe asthma exacerbation was 83.6% Patients with severe asthma attack unresponsive to initial treatment were added with intravenous salbutamol, aminophylline and/or magnesium sulfate No death was documented Common side-effects included tachycardia 4.5% and hypokalaemia 5.9%
Conclusion: It is necessary to up-to-date therapeutic guidelines for acute asthma attack and Besides, it is
essential to improve more effective education and management of asthmatic patients, helping them integrating daily life.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Suyễn là một trong những bệnh hô hấp mãn
tính thường gặp nhất ở trẻ em Tần suất suyễn
có chiều hướng gia tăng và đã trở thành một
trong những thách thức lớn đối với nền y tế toàn
cầu Trẻ bị suyễn cĩ thể ln cơn khĩ thở, gây ảnh hưởng đáng kể đến đời sống, sinh hoạt, học tập của trẻ, nặng hơn cơn suyễn trở nn nguy kịch với co thắt gần như tồn bộ đường thở, gây suy
hô hấp nặng đưa đến tử vong nếu không điều trị
* Bệnh viện Nhi đồng 1
** Trường đại học Phạm Ngọc Thạch
Trang 2cắt cơn kịp thời Vì thế, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Khảo sát đặc điểm dịch tễ
học, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị trẻ bị
suyễn nhập khoa cấp cứu bệnh viện Nhi Đồng 1
TPHCM trong thời gian từ 1/1/2005 đến
31/12/2007” nhằm rút ra một số nhận xét thực
tiễn giúp cho các bác sĩ lâm sàng xử trí hiệu quả
cơn suyễn ở trẻ em
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Khảo sát đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận
lâm sàng và điều trị trẻ bị suyễn nhập khoa cấp
cứu bệnh viện Nhi Đồng 1 Thành Phố Hồ Chí
Minh trong thời gian từ 1/1/2005 đến 31/12/2007
Mục tiêu chuyên biệt
- Xác định tỉ lệ đặc điểm dịch tễ học: tuổi,
giới tính, địa phương, tiền sử,
- Xác định tỉ lệ đặc điểm lâm sàng (thời gian
cơn suyễn, độ nặng cơn suyễn, bậc suyễn, triệu
chứng lâm sàng), cận lâm sàng (công thức máu,
X-Quang phổi, ion đồ, đường máu, khí máu
động mạch)
- Xác định tỉ lệ thành công điều trị cắt cơn
suyễn ban đầu, tiếp theo, tác dụng phụ và biến
chứng của bệnh suyễn
Ở trẻ bị suyễn cơn cấp nhập khoa cấp cứu
bệnh viện Nhi Đồng 1 Thành Phố Hồ Chí Minh
trong thời gian từ 1/1/2005 đến 31/12/2007
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Hồi cứu mô tả trường hợp bệnh
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân suyễn cơn cấp nhập khoa
cấp cứu bệnh viện Nhi Đồng 1 Thành Phố Hồ
Chí Minh trong thời gian từ 1/1/2005 đến
31/12/2007
Tiêu chuẩn loại trừ
Có dị tật bẩm sinh kèm theo: tim mạch (tim
bẩm sinh), hô hấp( dị tật bẩm sinh đường hô hấp
và tại phổi), thần kinh cơ hoặc có bệnh lý mãn
tính khác đi kèm: bại não, loạn sản phế quản-phổi, suy giảm miễn dịch
Thu thập dữ liệu bao gồm yếu tố dich tễ, đặc điểm lâm sàng (thời gian cơn suyễn, độ nặng cơn suyễn, bậc suyễn, triệu chứng lâm sàng), cận lâm sàng (công thức máu, X-Quang phổi, ion đồ, đường máu, khí máu động mạch), điều trị ban đầu (thở oxy, khí dung salbutamol ± ipratropium mỗi 20 pht trong 1 giờ + corticoid tồn thn, điều trị tiếp theo khí dung salbutamol ± ipratropium + salbutamol TTM hoặc diaphyllin TTM hoặc MgSO4 TTM) Dữ liệu được nhập vào máy tính và được xử lý bằng phần mềm thống
kê SPSS for windows 15.0
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian từ 1/1/2005 đến 31/12/2007 có
289 trẻ cơn suyễn cấp được đưa vào nghiên cứu với đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị như sau:
Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng
K ế t qu ả
Tu ổ i (n ă m) 4.9 ± 3,2 (6 tháng – 15 tu ổ i)
≤ 2 tu ổ i: 31,5%, ≤ 6 tu ổ i: 71%
Gi ớ i: Nam/n ữ 174 (60,2%)/115 (39,8%)
Ti ề n s ử d ị ứ ng cá nhân
và gia đ ình
22 (7,6%) / 36(12,5%)
Ti ề n s ử suy ễ n cá nhân
và gia đ ình
125 (43,3%) / /120 (41,5%)
Qu ả n lý suy ễ n 125 (43,4%)
Có tái khám/Không tái khám
75 (60%)/50(40%)
Th ờ i gian b ắ t đầ u khó
th ở đế n khi nh ậ p vi ệ n (gi ờ )
36,2 ± 3,8 12-24: 42,2%
Tri ệ u ch ứ ng lâm sàng
Nh ị p tim nhanh 87,5% R ố i lo ạ n tri giác 47,1%
Nh ị p th ở nhanh 99% Co kéo c ơ ứ c
đ òn ch ũ m
10,4%
Co lõm ng ự c n ặ ng 88,6% Ph ậ p ph ồ ng
cánh m ũ i
8,3%
Ng ồ i cúi đầ u ra tr ướ c 52,2% Ph ế âm gi ả m 15,5% Tím tái 3,8% SaO2 ≤ 91% 61,2%
Độ n ặ ng c ơ n suy ễ n:
nh ẹ /trung bình/n ặ ng/nguy k ị ch
1(0,3%) / 111(38,4%) / 173(59,9%) / 4(1,4%)
C ậ n lâm sàng
S ố l ượ ng b ạ ch c ầ u (/mm3)
15820,6 ± 3240,7
(10200-21400);
Trang 3K ế t qu ả
X quang ph ổ i Ứ khí ph ế nang: 256 (89,5%),
Kèm viêm ph ổ i: 67 (23,4%);
Tràn khí màng ph ổ i: 0
Na+ 129,3 ± 3,2 (126-139)
K+ 3,8 ± 0,4 (2,6 – 4,7);
< 3,5: 17 (13,6%) Ion đồ (mmol/L):
\Ca++ 1,12 ± 0,08 (0,92-1,26)
pH 7,36 ± 0,04 (7,32-7,43)
PCO 2 (mmHg) 33,8 ± 3,5 (26-48); ≥ 45: 10
PO 2 (mmHg) 69,2 ± 3,6 (56-98); < 60: 16
Khí máu
độ ng
m ạ ch
(n=52)
HCO 3 (mmol/L) 19,6 ± 4,6 (18,3-26)
Bảng 2: Đặc điểm điều trị
Đặ c đ i ể m K ế t qu ả
T ỉ l ệ đ áp ứ ng đ i ề u tr ị ban đầ u
Nh ẹ -Trung bình (n=112) 89 (79,5%)
N ặ ng-D ọ a ng ư ng th ở (n=177) 148 (83,6%)
Đ i ề u tr ị terbutaline/adrenaline TDD
trong suy ễ n nguy k ị ch
4 (4,5%)
T ỉ l ệ đ áp ứ ng đ i ề u tr ị ti ế p theo
Trung bình (n=23) 23 (100%)
N ặ ng-D ọ a ng ư ng th ở (n=29) 13 (44,8%)
S ử d ụ ng salbutamol TTM (n=17) 7/17
Th ờ i gian s ử d ụ ng salbutamol TTM
(gi ờ )
20,6 ± 4,2 (11-38)
S ử d ụ ng diaphyllin TTM (n=12) 6/12
Th ờ i gian s ử d ụ ng diaphyllin TTM
(gi ờ )
17,3 ± 4,2 (8-25)
S d ụ ng MgSO4 TTM/th ờ i gian s ử
d ng
7/18,4 ± 5,3
S d ụ ng kháng sinh 251 (86,9%)
Tác d ụ ng ph ụ : nh ị p tim nhanh/ đỏ
m ặ t/run c ơ /nôn ĩ i/khô đ àm/
/t ă ng huy ế t áp/t ă ng đườ ng huy ế t/h ạ
kali máu
13/1//1/1/3 /1/3/17
Th ờ i gian c ắ t c ơ n khó th ở (gi ờ ) 26,3 ± 6,4 (12-54)
T ỉ l ệ t ử vong 0 (0%)
BÀN LUẬN
Trong thời gian từ 1/1/2005 đến 31/12/2007 có
289 trẻ cơn suyễn cấp, tuổi trung bình 4,9 tuổi,
nhỏ nhất l 6 tháng, lớn nhất 15 tuổi, nam gặp
nhiều hơn nữ, gần một nửa số trường hợp có
tiền sử suyễn cá nhân và gia đình, tuy nhiên có
đến 40% trẻ không tái khám quản lý suyễn Vì
vậy trẻ thường nhập viện trong cơn suyễn nặng
– nguy kịch (61,3%) và nhập viện thường trễ với
thời gian trung bình từ lúc khó thở đến khi nhập
viện là 36,2 ± 3,8 giờ
Về biểu hiện lâm sàng, triệu chứng thường gặp như tim nhanh (87,5%), thở nhanh (99%), co lõm ngực (88,6%), trong khi các triệu chứng rối loạn tri giác (47,1%), tím tái (3,8%), ngồi cúi đầu
ra trước (52,2%), co kéo cơ ức đòn chũm (10,4%), phập phồng cánh mũi (8,3%) ít gặp hơn, nhưng cho thấy trẻ biểu hiện thiếu oxy máu nặng, cần can thiệp cắt cơn hiệu quả, kịp thời (bảng 1)
Về biểu hiện cận lâm sàng, đa số trẻ có trẻ có tình trạng ứ khí phế nang (89,5%), kèm viêm phổi bội nhiễm (23,4%) với biểu hiện số lượng bạch cầu tăng trên 15.000/mm3 (59,9%) Có 13,6% trẻ có biểu hiện hạ kali máu, biểu hiện bất thường trên khí máu động mạch (n=52) gồm 19,2% trẻ có biểu hiện toan hô hấp, 30,7% trẻ có biểu hiện thiếu oxy máu (bảng 1)
Về điều trị, đa số các trường hợp đáp ứng tốt với điều trị ban đầu bao gồm thở oxy, khí dung salbutamol có phối hợp khí dung ipratropium mỗi 20 phút trong giờ đầu hoặc không và corticoid đường toàn thân (79,5%, 83,6%) Trong một tổng quan hệ thống, Traver(13) đánh giá hiệu quả của β2 giao cảm khí dung so với TTM trong điều trị ban đầu cơn suyễn cấp nặng tại phòng cấp cứu, khuyến cáo không có bằng chứng ủng
hộ β2 giao cảm TTM trong điều trị ban đầu cơn suyễn cấp nặng mà thuốc lựa chọn ban đầu là 2
giao cảm khí dung vì có chọn lọc đường hô hấp, đạt được tác dụng giãn phế quản tối đa và ít tác dụng phụ vì khơng xm lấn Theo Plotnick LH(7)
chỉ định của kháng đối giao cảm chỉ áp dụng trong suyễn cơn nặng và suyễn cơn trung bình không đáp ứng điều trị ban đầu Kháng đối giao cảm không phải là thuốc lựa chọn cắt cơn đầu tiên vì thời gian tác dụng chậm và tác dụng giãn phế quản yếu hơn β2 giao cảm khí dung nên chỉ được dùng phối hợp Cơ chế kháng cholinergic gây ra tác dụng giãn phế quản giống atropine nhưng ít tác dụng phụ hơn, Ipratropium tuy có tác dụng phụ là làm khô chất xuất tiết và giãn mạch ngoại biên, nhưng nó không gây tác dụng phụ lên hệ thần kinh như atropine vì Ipratropium là amin bậc 4 không qua được hàng
Trang 4rào máu não, trong khi Atropin là amin bậc 3 có thể qua hàng rào máu não(12)
Sơ đồ 1: Diễn tiến của 52 ca không đáp ứng với điều trị ban đầu
Theo Rowe BH(10) sử dụng corticoid trong
vòng 1 giờ đầu sau nhập khoa cấp cứu lm giảm
bệnh nhân cơn suyễn nặng, dù không trực tiếp làm giãn cơ trơn phế quản, nhưng corticoid phục hồi lại độ nhạy cảm của các thụ thể đối với thuốc
+ +
+ +
52 ca không đáp ứng điều trị ban đầu
29 ca nặng-dọa ngưng thở
23 ca trung bình
ĐƯ tốt
23 ĐƯ tốt
4 ĐƯ tốt
7 ĐƯ
tốt
17 ca dùng Salbu TTM
12 ca dùng Amino TTM
Salbu+ Ipra,
Corticoid TM
9 dùng Amino
ĐƯ tốt
1 dùng MgSO 4
1 dùng MgSO 4
5 dùng Salbu
ĐƯ tốt
6 ĐƯ tốt
ĐƯ tốt
4 dùng MgSO 4
1 dùng MgSO 4
5 ĐƯ
tốt
ĐƯ tốt
Trang 5kích thích chọn lọc thụ thể β2, có nghĩa là cải
thiện khả năng đáp ứng với thuốc giãn phế quản
đã bị suy giảm sau một thời gian dùng 2 giao
cảm kéo dài Có 4 trường hợp suyễn nguy kịch
phải sử dụng terbutaline/adrenaline tiêm dưới
da ngay lúc nhập khoa cấp cứu Đây là động tác
cấp cứu nhanh, giúp dãn phế quản cấp thời
trước khi phun khí dung β2giao cảm
Điều trị tiếp theo sơ đồ 1 cho thấy 23 ca
(20,7%) cơn suyễn nhẹ-trung bình không đáp
ứng với điều trị ban đầu được điều trị như
suyễn nặng với phối hợp khí dung Salbutamol
và Ipratropium, corticoide TM, tất cả đều đáp
ứng tốt, 29 ca (16,4%) cơn suyễn nặng-nguy kịch
không đáp ứng với điều trị ban đầu có 3 lựa
chọn để điều trị thêm vào: Salbutamol TTM,
Aminophylline TTM, Magnesium sulfate TTM
tuỳ vào tuổi, tình trạng bệnh nhân, sự đáp ứng
với điều trị Cho đến nay chưa có công trình
nghiên cứu nào so sánh hiệu quả điều trị, tác
dụng phụ cũng như sự an toàn trong điều trị cắt
cơn suyễn cấp của 3 thuốc này
Trong 29 ca nặng không đáp ứng với điều
trị ban đầu có 17 ca dùng thêm Salbutamol
TTM để cắt cơn suyễn, tỉ lệ thành công với
Salbutamol TTM là 41,2% (7/17 ca) thấp hơn
nghiên cứu của B V Cam và N M Tiến(1)
63,2%, Bohn D(2) 69% Sự khác biệt này có thể
là do trẻ cơn nặng trong nghiên cứu của chúng
tôi tuổi < 2 chiếm tỉ lệ cao 31,5%, trẻ < 2 tuổi có
ít thụ thể β2 nên kém đáp ứng với Salbutamol
TTM Các nghiên cứu của Browne GJ(3), Bohn
D(2), áp dụng điều trị β2 giao cảm TTM cho
những trường hợp suyễn cơn nặng kéo dài cho
thấy rút ngắn diễn tiến lâm sàng cơn suyễn,
giảm nhu cầu khí dung β2 giao cảm
Trong 29 ca nặng không đáp ứng với điều trị
ban đầu có 12 ca điều trị thêm với
Aminophylline TTM, trong đó tỉ lệ đáp ứng là
50% (6/12 ca) Trong phân tích tổng quan hệ
thống Mitra A(5) đánh giá hiệu quả giãn phế
quản khi điều trị thêm Aminophylline TTM ở trẻ
suyễn cơn nặng đã được điều trị thông thường,
nhận thấy phối hợp thêm Aminophylline TTM
với 2 giao cảm khí dung và corticoid toàn thân giúp cải thiện được thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu, cải thiện lưu lượng đỉnh, tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa về giảm triệu chứng, số lần phun khí dung, tỉ lệ thở máy
và thời gian nằm viện Theo kinh nghiệm của chng tơi thường chọn diaphyllin TTM cho nhóm trẻ dưới 2 tuổi và salbutamol TTM cho nhóm trẻ trên 2 tuổi vì ở nhĩm ny cc cơ trơn phế quản trẻ
có đủ thụ thể β2 Nghiên cứu hệ thống ngẫu nhiên có đối chứng Salbutamol và Aminophylline TTM trong điều trị cơn suyễn nặng ở trẻ em, tác giả Roberts(8) nhận thấy không
có sự khác biệt về Salbutamol và Aminophylline TTM trong 2 giờ đầu Tuy nhiên, Aminophylline TTM được ưa dùng hơn vì giảm đáng kể thời gian nằm viện
Trong nghiên cứu của chúng tôi, cứ 7 trường hợp sử dụng thêm magnesium sulfate TTM đều cho kết quả đáp ứng tốt Sử dụng MgSO4 TTM điều tri cơn suyễn nặng được báo cáo đầu tiên bởi Rosello vào năm 1936 Từ đó MgSO4 được chứng minh là thuốc giãn phế quản và có hiệu quả trong các trường hợp lâm sàng nặng đe dọa tính mạng Rowe BH phân tích tổng quan hệ thống kết luận: các bằng chứng hiện nay không ủng hộ sử dụng thường qui MgSO4 TTM cho tất cả các bệnh nhân suyễn cơn nhập khoa cấp cứu MgSO4 dường như an toàn và hiệu quả cho bệnh nhân suyễn cơn nặng: cải thiện lưu lượng đỉnh, giảm tỉ lệ nhập viện Schiermeyer (11), Ciarallo(4) nhận thấy MgSO4 TTM cải thiện tình trạng lâm sàng
và giảm nhu cầu đặt nội khí quản, thông khí
cơ học ở bệnh nhân suyễn cơn nguy kịch Hiện nay các tác giả(9,10) đưa ra các cơ chế tác dụng của MgSO4 trên chức năng phổi: Mg++ có tác dụng ngăn cản sự di chuyển Ca++ qua màng tế bào, làm giảm hấp thu và phóng thích Ca++ của
cơ trơn phế quản, đưa đến giãn phế quản Nghiên này này khảo sát điều trị bệnh suyễn
từ 2005 đến 2007, phác đồ điều trị GINA lúc này, thuốc lựa chọn kế tiếp sau thất bại điều trị ban đầu là Salbutamol TTM hoặc
Trang 6Aminophylline TTM, sau đó mới tớí MgSO4
TTM Tuy nhiên từ cuối 2007 tổ chức GINA và
NHLBI đã đưa MgSO4 TTM là thuốc lựa chọn
đầu tiên dùng cho trẻ trn 1 tuổi sau thất bại
điều trị ban đầu cơn suyễn nặng, dọa ngưng
thở và chỉ cho một liều duy nhất 25-75mg/kg
Bệnh viện Nhi Đồng 1 đã bắt đầu áp dụng
phác đồ mới này từ đầu năm 2008
Tác dụng phụ ghi nhận như nhịp tim nhanh,
run cơ, nôn ói khi sử dụng salbutamol hay
diaphyllin TTM, đỏ mặt khi truyền magnesium
sulfate, hoặc khô đàm khi phun khí dung
ipratropium ít gặp (bảng 2) Cần lưu ý hạ kali
máu khi sử dụng salbutamol TTM gặp 17 trường
hợp trong số 22 trường hợp sử dụng (sơ đồ 1),
ngoài ra có thể do giảm cung cấp do bệnh nhân
ăn uống kém
Một vấn đề đáng quan tâm là sử dụng kháng
sinh trong điều trị suyễn cấp, tỉ lệ sử dụng
kháng sinh trong nghiên cứu của chúng tôi còn
cao 86,9% trong khi tỉ lệ viêm phổi bội nhiễm chỉ
23,4% Một trong lý do chính yếu cho việc chỉ
định kháng sinh rộng rãi là do trẻ dưới 2 tuổi
vẫn còn khó thở sau 2 lần khí dung Salbutamol
nên được chỉ định kháng sinh như viêm phổi
theo khuyến cáo hiện nay của tổ chức y tế thế
giới Trong một tổng quan hệ thống Graham(5)
đánh giá lợi ích của kháng sinh trong việc điều
trị cơn suyễn cấp Kết quả là dùng kháng sinh thì
cải thiện được thời gian nằm viện so với nhóm
placebo, không có đủ bằng chứng về hiệu quả
của việc sử dụng kháng sinh trong cơn suyễn
cấp mà không có dấu hiệu nhiễm trùng Do đó
việc sử dụng kháng sinh chỉ được khuyến cáo
khi có dấu hiệu nhiễm trùng: sốt và bạch cầu
tăng, thay đổi màu sắc đàm, X Quang có thâm
nhiễm phổi
Kết quả điều trị cho thấy thời gian cắt cơn
khó thở trung bình 26,3 ± 6,4 giờ, không tử vong
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy bức tranh
tương đối đầy đủ về đặc điểm dịch tễ lâm sàng,
cận lâm sàng và điều trị cơn suyễn cấp Điều trị
ban đầu với khí dung β2 giao cảm chủ lực giúp cải thiện phần lớn cơn suyễn cấp, điều trị tiếp theo có nhiều chọn lựa phối hợp trong đó MgSO4 TTM hiện được chọn lựa đầu tiên trước salbutamol và diaphyllin TTM Tuy nhiên suyễn
là bệnh lý mãn tính, về lâu dài, vấn đề giáo dục, quản lý suyễn cần đặt ra rộng rãi hơn, hiệu quả hơn để giảm số trẻ có nguy cơ cao cũng như giảm tần suất cơn suyễn nặng giúp trẻ hòa nhập với cuộc sống hàng ngày
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bạch Văn Cam và Nguyễn Minh Tiến (2002), “Hiệu quả của 2
truyền tĩnh mạch trong điều trị cơn suyễn nặng ở trẻ em”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu nhi khoa, Tr.25-31
2 Bohn D et al (1994) Intravenous salbutamol in the treatment
of status asthmaticus in children Critical care medicine;12:892-896
3 Browne GJ et al (1997) Randomized trial if intravenous salbutamol in management of acute severe asthma in children Lancet;349:301-5
4 Ciarallo, Brousseau D (2000), Higher-dose intravenous magnesium therapy for children with moderate to severe acute asthma, Am J Emerg Med; 14(3): 61-65
5 Graham Y (2001), antibiotics for acute asthma, Systematic review, The cochrane Library Issue 3:22-56
6 Mitra A, Bassler D (2005), Intravenous aminophylline for acute severe asthma in children over two years receiving inhaled bronchodilators, Systematic review, The cochrane Library Issue 1:26-61
7 Plotnick LH, Ducharme FM (2000) Combined inhaled anticholinergics and beta2-agonists for initial treatment of acute asthma in children Systematic review The cochrane Library Issue 2: 36-49
8 Robert et al (2001) Efficacy of IV theophylline in children with severe status asthmaticus Chest; 119(5):21-35
9 Rowe BH, Bretzlaff JA, Bourdon C, Bota GW, Camargo Jr CA (2000) Magnesium sulfate for treating exacerbations of acute asthma in the emergency department, Systematic review, The cochrane Library Issue 4:26-61
10 Rowe BH, Spooner C (2001), Early emergency department treatment of acute asthma with systemic corticosteroids, Systematic review, The cochrane Library Issue 1:22-64
11 Schiermeyer (1994), Rapid infusion of magnesium sulfate obviates need for intubation in status asthmaticus, Am J Emerg Med; 12(2): 164-166
12 Schuh et al (1995) Efficacy of frequent nebulized ipratropium bromide added to frequent high dose albuterol therapy in severe chilhood asthma J Pediatr;126:639-45
13 Travers et al.(2002) Intravenous beta 2-agonists for acute asthma in emergency department Systematic review, The cochrane Library Issue 3:23-68