Chính phủ Iceland cũng đóng cửa ngừng giao giao dịch thị tr ờng chứng khoán và quốc hữu hoá ngân hàng ngân hàng lớn của n ớc này.. Từ vài năm trước đó, giá nhà tăng cao cùng với việc đ
Trang 1chèng cña chÝnh phñ c¸c n íc
dù b¸o ¶nh h ëng §Õn ViÖt Nam
PGS.,TS NguyÔn §¾c H ng
Hµ Néi
Trang 2 Phần 1: Những mốc chớnh trong cuộc khủng hoảng
và nguyờn nhõn
Phần 2 : Cuộc khủng hoảng hình thành nh thế nào!
Phần 3: Các biện pháp giải cứu sự sụp đổ của các
định chế tài chính và thị tr ờng tài chính trên toàn cầu
Phần 4: Dự báo xu h ớng diễn biến của nền Kinh tế
Mỹ
Phần 5: Dự báo ảnh h ởng đến nền kinh tế Việt Nam
Trang 3 Từ đầu tháng 10-2008 đến nay, hầu khắp các thị tr ờng
chứng khoán trên toàn thế giới đ ợc đánh giá là sụt giảm mạnh nhất trong hàng chục năm qua bởi cuộc khủng
hoảng tài chính
Chỉ số Dow Jones chủ chốt của Mỹ từ mức 14.000 điểm
trong tháng 7-2006 sau khi giảm xuống d ới 9.000 điểm trong tháng 9-2008, đến tháng 10 và tháng 11-2008 chỉ xoay quanh mức 8.000 điểm Các chỉ số Nasdaq và S&P cũng lần l ợt giảm 35 – 40%
Trang 4 Tại châu Âu, trong tháng 10-2008 hàng loạt chỉ số chứng khoán
chủ chốt đã có mức rớt giá lớn nhất trong 1 ngày trong nhiều năm qua Cụ thể chỉ số DAX của Đức giảm 9,36%, FTSE100 giảm 10,2%, CAC-40 của Pháp giảm 8,49%, SMI của Thuỵ Sỹ giảm 8,04%; của Italia và Tây BanNha giảm gần 7% Sàn giao dịch
chứng khoán Viên của á o phải đóng cửa tạm ngừng giao dịch
sau khi lao dốc 10% Hai sàn giao dịch chứng khoán của Nga
cũng lại ngừng giao dịch Chính phủ Iceland cũng đóng cửa
ngừng giao giao dịch thị tr ờng chứng khoán và quốc hữu hoá
ngân hàng ngân hàng lớn của n ớc này Thị tr ờng chứng khoán
Rumania cũng phải tạm thời đóng cửa ngừng giao dịch.
Trang 5chính các nền kinh tế hàng thế giới đ ợc tổ chức và hàng loạt biện pháp tài
chính khẩn cấp đã đ ợc đ a ra để hỗ trợ cho các ngân hàng và tổ chức tài chính.Tại Mỹ chỉ trong tháng 10-2008, đã xuất hiện nhiều làn sóng bán tháo cổ
phiếu đã lan ra khắp các sàn chứng khoán trên toàn thế giới Tính riêng trong tháng 10-2008, ớc tính có khoảng 10.000 tỷ USD các khoản đầu t vào chứng khoán đã bị bốc hơi; đồng thời một loạt thị tr ờng chứng khoán trên thế giới đã
bị đóng cửa tạm thời ngừng giao dịch Giá dầu thô giảm mạnh từ mức kỷ lục
147 USD/thùng vào ngày 11-7-2008, đến ngày 12-11-2008 còn d ới 60 USD, giảm trên 60% chỉ trong có 3 tháng và đến ngày 20-11-2008 giảm xuống d ới
50 USD/thùng, thấp nhất trong 3,5 năm qua, hiện nay dao động quanh mức 52 – 53 USD/thùng
Th ơng mại toàn cầu trong 2 tháng gần đây giảm tới 8-10%, mức giảm lớn
nhất trong 20 năm qua
Trang 6 Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ tình trạng bong bóng của thị trường nhà đất ở Mỹ (tình trạng này diễn ra khoảng
năm 2005 - 2006) với những khoản vay dưới chuẩn có
nguy cơ rủi ro cao và các khoản thế chấp có lãi suất điều chỉnh Từ vài năm trước đó, giá nhà tăng cao cùng với việc được phép vay với điều kiện rất đơn giản, nhiều khách
hàng đã tranh thủ tiền của các ngân hàng đầu tư để đầu
cơ vào bất động sản với hy vọng kiếm được nhiều tiền từ các khoản mua bán chênh lệch.
Trang 7chất là biểu hiện rừ nột nhất của một quỏ trỡnh “khủng hoảng” rất lõu trước đú Điểm lại những mốc sự kiện chớnh trong chuỗi này để thấy khủng hoảng đó diễn ra như thế nào:
• Năm 2002-2004: Giỏ cả nhà đất ở cỏc bang
Arizona,California, Florida, Hawaii, và Nevada tăng trờn 25% một năm Sự bựng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu.
• Năm 2005: “Bong búng” thị trường nhà đất ở Mỹ vỡ tung vào thỏng 08/2005 Thị trường bất động sản tạm giỏn đoạn ở một vài bang của Mỹ vào cuối mựa Hố năm 2005 khi tỷ lệ lói suất tăng từ 1% lờn đến 5,35% do cú nhiều nhà kinh doanh bất động sản đó đỏnh giỏ thấp thị trường.
•
Trang 8 Năm 2006: Thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm Giá nhà giảm, hoạt động kinh doanh bất động sản trầm lắng dẫn đến một lượng nhà
dư thừa đáng kể Chỉ số Xây dựng Nhà ở tại Mỹ hồi giữa tháng 8 giảm hơn 40% so với một năm trước đó
• Năm 2007: Kinh doanh bất động sản tiếp tục thất bại Số lượng
nhà tồn ước tính cao nhất từ năm 1989 Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm với hơn 25 tổ chức cho vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản Gần 1,3 triệu bất động sản nhà ở bị tịch thu để thế chấp nợ, tăng 79% từ năm 2006
Trang 9Năm 2008 với những mốc đáng nhớ sau:
- Ngày 16/3: Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 2 USD một cổ phiếu để tránh phá sản FED phải cung cấp 30 tỷ USD để trợ giúp các khoản lỗ của Bear Stearn
- Ngày 17/7: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới
đã báo cáo thua lỗ lên đến 435 tỷ USD
- Ngày 07/9: FED dành quyền kiểm soát hai tập đoàn Fannie Mae và Freddie Mac
- Ngày 14/9: Merrill Lynch được bán cho Bank of America với giá 50
Trang 10 - Ngày 17/9: FED cho AIG vay 85 tỷ USD để giỳp cụng ty này trỏnh phỏ sản.
- Ngày 26/9: Ngõn hàng Washington Mutual – ngõn hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ được Chớnh phủ tiếp quản và sau đú được bỏn lại cho JP Morgan Chase& Co với giỏ 1,9 tỷ USD
Ngày 30/9: Ngõn hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngõn hàng cho vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ đồng ý bỏn lại bộ phận ngõn hàng bỏn lẻ cho đối thủ Citigroup
- Ngày 3/10: Kế hoạch giải cứu tài chớnh trị giỏ 700 tỷ USD được Hạ viện thụng qua sau một tuần bất ổn trờn thị trường tài chớnh và nợ tớn dụng
- Ngày 25-11-2008 Cục dự trữ liên bang Mỹ công bố kế hoặch bớm 800 tỷ USD vào hệ thống tài chính; trong đó 100 tỷ USD để mua giấy tờ ghi nợ của các DN đ ợc Chính phủ bảo trợ liên quan đến tín dụng thứ cấp, bao gồm cả 2 Tập đoàn Fnannia Mea và Freddie Mac; 500 tỷ USD mua các giấy ghi nợ
khác;…
khác;…
Trang 11 - Ngày 20-11-2008 tập đoàn Citi Group,có màng l ới dịch vụ tài
chính lớn nhất thế giới cũng lâm nguy, Chính phủ Mỹ đang phải bàn biện pháp để cứu trợ khẩn cấp sau khi cổ phiếu giảm giá tới trên 60% chỉ trong có 1 tuần Tập đoàn này đã phải cắt giảm
23.000 chỗ làm việc và tuyên bố tiếp tục cắt giảm 52.000 nhân viên, nhằm tiết kiệm tới 50 tỷ USD chi phí Chính phủ Mỹ dự
kiến bỏ ra 20 tỷ USD để cứu tập đoàn này thôgn qua mua lại cổ phiếu u đãi của Citi Group.
Tính chung trong 10 tháng đầu năm 2008 đã có 22 ngân hàng của
Mỹ bị sụp đổ, bằng với con số t ơng ứng là 10 NH bị đóng cửa tại
Mỹ trong 5 năm – 2003 – 2007, nh ng các NH bị đống cửa đầu năm 2008 có quy mô và tầm ảnh h ớng gấp bội lần.
Trang 12Lehman Brothers
Tổng tài sản: 639 tỷ USD
Tổng vốn góp cổ phần: 22,490 tỷ USD
Số lượng nhân viên: 26.200 người
Là một trong 4 ngân hàng đầu tư lớn nhất của Mỹ
Nợ trái phiếu: 155 tỷ USD
Cổ phiếu mất giá trên 90% vào ngày 15/9/2008
Phá sản Mỹ
-Là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ
Trang 13Merrill Lynch
Tổng tài sản: 1,02 nghìn tỷ USD
Số lượng nhân viên: 60.000 người
Xếp thứ 32 trong danh sách Global 2000 (các công ty lớn nhất thế giới)
Thua lỗ quý IV/2007: 9,83 tỷ USD
Thua lỗ ròng quý I/2008: 1,97 tỷ USD
Mất giá tài sản (2007): 16,7 tỷ USD
Bán cho ngân hàng Mỹ (BoA) với giá 50 tỷ USD
Trang 14AIG
Tổng tài sản: 1,05 nghìn tỷ USD
Tổng vốn góp cổ phần 78,09 tỷ USD
Số lượng nhân viên: 116.000 người
Xếp thứ 6 trong danh sách Global 2000 (các công ty lớn nhất thế giới)
Cổ phiếu mất giá 60% vào ngày 16/9/2008
Thua lỗ 6 tháng đầu năm 2008: 13,2 tỷ USD16/9/2008: FED cấp tín dụng 80 tỷ USD, tương đương 79,9 % cổ phần
16/9/2008: FED cấp tín dụng 80 tỷ USD, tương đương 79,9 % cổ phần
Trang 15Freddie Mac
Tổng tài sản: 794,4 tỷ USD
Tổng vốn góp cổ phần: 26,7 tỷ USD
Số lượng nhân viên: 5.281 người
Là công ty công lớn thứ 20 trên thế giới, đồng thời
là công ty tài chính lớn thứ 2 về thế chấp tại Mỹ
Thua lỗ (2007): 4,6 tỷ USD
Thua lỗ quý II/2008: 821 triệu USD
07/9/2008: FED ký hợp đồng bỏ ra 1 tỷ USD hỗ trợ cho Freddie Mac, đổi lại giành quyền kiểm soát các cổ phiếu
ưu đãi đặc biệt của công ty này
Trang 16Thua lỗ quý II/2008: 2,3 tỷ USD
07/9/2008: cùng với Freddie Mac bị FED tiếp quản
Trang 17Washington Mututal Inc
Tổng tài sản: 307 tỷ USD
Là ngân hàng tiết kiệm lớn nhất MỹThua lỗ 53 tỷ USD kể
từ tháng 6 và 17 tỷ USD trong 2 tuần gần đây26/9/2008: Chính phủ tiếp quản và sau đó bán lại cho JP Morgan
Chase & Co với giá 1,9 tỷ USD
Thua lỗ 53 tỷ USD kể từ tháng 6 và 17 tỷ USD trong 2 tuần gần đây
26/9/2008: Chính phủ tiếp quản và sau đó bán lại cho JP Morgan Chase & Co với giá 1,9 tỷ USD
Trang 18Thua lỗ 9,7 tỷ USD trong nửa đầu năm nay
30/9/2008: bị bán lại cho Citi Group với giá 2,16 tỷ USD
Trang 19Lan sang hệ thống ngân hàng tại châu âu
Các Ngân hàng ở Anh cũng chịu ảnh h ởng lớn nhất từ cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp cho vay nhà ở tại Mỹ và nay là cuộc khủng hoảng tài chính tại
Mỹ Điển hình trong số đó là Ngân hàng Northern Rock Bank bị khoản nợ xấu
đến hết tháng 7-2008 lên tới 191,6 tỷ USD Trong tháng 9-2008, tại thời điểm mới xẩy ra cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở tại Mỹ đ ợc hơn 2 tháng, Ngân hàng TW Anh – BOE đã phải bơm 27 tỷ Bảng để cứu Northern Rock Bank khỏi bị sụp đổ, sau đó ngân hàng này đã trả đ ợc 9,4 tỷ Bảng nợ cho BOE
Song mới đây, trong tháng 9 và đầu tháng 10-2008, Bộ tài chính Anh phải
bơm thêm 3 tỷ Bảng, khoảng 5,86 tỷ USD để cứu Northern Rock Bank trong tình trạng tổn thất tín dụng ngày càng gia tăng
Trang 20 Ngày 29-9-2008, Bộ Tài chính Anh cũng đã chính thức tuyên bố quốc hữu hoá Tập đoàn cho vay kinh doanh bất động sản lớn nhất
n ớc này là Bradford & Bingley Plc nhằm bảo vệ khách hàng của tập đoàn này do thua lỗ lớn liên quan đến cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp tại Mỹ và không có khả năng trụ vững Tổng giá trị
sổ sách các khoản thế chấp và vay là 50 tỷ Bảng Anh, t ơng đ ơng
91 tỷ USD Đây là ngân hàng lớn thứ ba tại Anh.
Ngày 13-10-2008, ba ngân hàng lớn nhất n ớc Anh là Royal
Bank of Scotland, Lloyds TSB và HBOS công bố tiếp nhận khoản
hỗ trợ tài chính từ Chính phủ trị giá 37 tỷ Bảng, t ơng đ ơng 63 tỷ USD để đảm bảo thanh khoản.
Trang 21Tiếp theo ngân hàng nói trên của Anh, cuối tháng 9-2008 có thêm một số ngân hàng lớn khác tại châu Âu, nh : Fortis của Bỉ và Luxemburg, Dexia của Bỉ và Pháp; đầu tháng 10-2008 có thêm ngân hàng Hypo Real Estate của Đức cũng lâm vào khủng hoảng
đ ợc Chính phủ các n ớc đó cứu trợ bằng các biện pháp tài chính cần thiết Ngày 20-10-2008, Chính phủ Hà Lan cũng phải bơm trên 13,4 tỷ USD vào Tập đoàn Ngân hàng ING Bank.
Trang 22Hệ thống ngân hàng, thị tr ờng chứng khoán và thị tr ờng tài chính của Nga cũng bị ảnh h ởng nghiêm trọng Đợt sụt giảm trên thị tr ờng chứng khoán Nga diễn ra trong tháng 9-2008 đã làm “ bốc hơi “ tới 800 tỷ USD giá trị cổ phiếu trên thị tr ờng Chính quyền Liên bang Nga cũng đã phải bơm hàng chục tỷ USD để cứu vãn thị tr ờng tài chính và hệ thống ngân hàng của n ớc này Cho
đến ngày 7-10-2008, thị tr ờng chứng khoán Nga đã 2 lần phải tạm thời đóng cửa, chỉ số chứng khoán giảm mạnh Chỉ trong quý II và quý III – 2008, các nhà đầu t n ớc ngoài đã rút khoảng gần 50 tỷ USD từ Nga; trong đó tính riêng tháng 8-2008 số vốn các nhà đầu t n ớc ngoài đã rút khoảng 5 tỷ USD và tháng 9-2008 rút khoảng 30 tỷ USD Chỉ trong một thời gian ngắn khoảng 3 tuần cuối tháng 9 và đầu tháng 10-2008, NHTW Nga đã phải tung tra thị tr ờng 170
tỷ USD để cứu các ngân hàng và công ty tài chính
Trang 23Đến ngày 10-10-2008, có 3 ngân hàng lớn nhất Iceland đã tuyên bố phá sản phải chuyển giao cho chính phủ quản lý
Trang 24 Tại châu á, cuộc khủng hoảng tài chính chính thức bị
tác động bởi Tập đoàn Bảo hiểm lớn: Yamato Life
Insuarance Co của Nhật Bản bị phá sản và chỉ số chứng khoán Nikkei giảm mạnh Chỉ số chủ chốt trên các thị tr ờng chứng khoán lớn tại Singapore, ấ n Độ, Hongkong, Thailand, Phlippines, Th ợng Hải, Hàn Quốc … cũng tiếp
Thailand, Phlippines, Th ợng Hải, Hàn Quốc … cũng tiếp
tục giảm rất lớn Sàn giao dịch chứng khoán Indonesia tiếp tục đóng cửa kể từ ngày 8-10-2008 Thị tr ờng
chứng khoán Thailand cũng phải tạm thời đóng cửa
ngừng giao dịch.
Trang 25Ngày 10-10-2008, Tập đoàn Bảo hiểm có lịch sử 98 năm hoạt động tại Nhật Bản là Yamato Life Insurance Co đã chính thức đệ đơn xin đ ợc bảo hộ phá sản
do các khoản nợ đã v ợt quá số tài sản hiện có là 11,5 tỷ Yên, t ơng đ ơng 116 triệu USD Đây là tr ờng hợp phá sản đầu tiên trong lĩnh vực bảo hiểm trong 7 năm qua Tại Nhật Bản và là vụ đổ vớ thứ 8 của ngành Bảo hiểm tại Nhật Bản
kể từ sau Đại chiến thế giới lần thứ 2 cho đến nay Nguyên nhân khiến
Yamato Life Insurance Co thua lõ và đệ đơn xin bảo hộ phá sản là do số
chứng khoán họ đang nắm giữ bịmất giá trầm trọng, làm cho số nợ tổng cộng lên tới 269,5 tỷ Yên Đ ợc biết từ cuối tháng 9-2008, Tập đoàn bảo hiểm này
đã sử dụng khoảng 30% tài sản của mình để đầu t vào các kênh tài sản hấp dẫn khác để hy vọng sinh lời, nh ng do thị tr ờng chứng koán sụt giảm mạnh nên dẫn tới thua lỗ lớn Cổ đông lớn nhất của Yamato Life Insurance Co là Shinsei Bank đã hết sức lo lắng, cổ phiếu đã bị giảm tới 13%, làm cho giới tài chính tại Nhật Bản hết sức lo lắng tới tình hình chung của thị tr ờng tài chính n
ớc này khi mà thị tr ờng chứng khoán Tokyo liên tục tụt dốc
Trang 26Mở rộng sang khu vực khác
Tại các khu vực khác chỉ số chứng khoán cũng lao dốc, nh thị tr ờng chứng khoán Sydney, Brazil, Argentina, …
ờng chứng khoán Sydney, Brazil, Argentina, …
Thị tr ờng chứng khoán Brazil chỉ trong ngày 8-10-2008 đã mất
kỷ lục tới 15% Thị tr ờng chứng khoán Australia trong ngày 10-2008 cũng mất hơn 8% Thị tr ờng chứng khoán Argentina
9-cũng mất tới 24% trong vòng hơn 1 tuần.
Từ đầu tháng 10 – 2008 đến nay chỉ số trên các thị tr ờng
chứng khoán nói trên tiếp tục sụt giảm mạnh.
Trang 27Khủng khoảng niềm tin
Theo GS Joseph Stiglitz, cuộc khủng hoảng bắt đầu
tư sự sụp đổ thảm khốc của niềm tin Các ngân hàng đánh
đố lẫn nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản Những giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá giá trị tài sản thực của ngân hàng Đây là một trò chơi mà khi người ta bắt đầu cảm nhận thấy “mùi vị” của sự thua lỗ và nhìn vào hệ thống tài chính, khi đó
thua lỗ sẽ xuất hiện, cả thị trường xuống dốc và tất cả
“người chơi” đều bị thua lỗ.
Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy , và độ tin cậy đó đã bị xói mòn, xuống cấp Sự sụp
đổ của Lehman là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy đã xuống một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục.
Trang 28Cuộc khủng hoảng lần này không phải là quá bất ngờ với giới tài chính Mỹ nói riêng và thế giới nói chung Nó là kết quả của một chuỗi những rủi ro liên tiếp mà chính các tổ chức tài chính, ngân hàng ở Mỹ tạo ra cho chính mình
Có thể tóm lại một số nguyên nhân chính, mà thực chất là
hệ quả của nhau – đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tất yếu này ở Mỹ như sau:
Trang 29Cho vay dưới chuẩn
Cỏc ngõn hàng đầu tư Mỹ đó sử dụng nghiệp vụ chứng khoỏn húa
(securitisation) để biến cỏc khoản cho vay mua bất động sản thành cỏc gúi trỏi phiếu cú gốc bất động sản (MBS – Mortaget Baked Secureties, credit default
swap CDS) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường
Theo cơ quan quản lý chứng khoán Mỹ – SEC, tính đến hết tháng 9-2008, tổng giá trị thị tr ờng tín dụng hoán đổi Credit default Swap là 58.000 tỷ USD,
nh ng hoàn toàn không quản lý: Completely unregulated và thiếu tính minh bạch: Lacking Transparancy Trong đó riêng ngân hàng Lehman Brothers có khoản nợ tín dụng hoán đổi là 400 tỷ đồng, nh ng phiên đấu giá tổ chức ngày 6-10-2008 chỉ đ ợc trả 8,625 Cent/USD nợ, thấp hơn mức dự kiến là 10
Cent/USD
Một số nguồn thông tin khác cho biết tổng giá trị thị tr ờng cho vay bất động sản của Mỹ lên tới 12.000 tỷ USD ; trong đo 2 Tập cho vay bất động sản lớn nhất của Mỹ Fannie Mae và Freddie Mac đã là 5.300 tỷ USD
Trang 30 Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản càng tăng làm giá bất động sản càng giảm Điều này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng.
Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản Hậu quả là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh
Trang 31Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ
Có tiền, các công ty “thoải mái” cho khách hàng vay bằng tiền của các ngân hàng đầu tư cung cấp thông qua việc mua lại danh mục cho vay của các công ty này Các ngân hàng này, trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại, sẽ phát hành chứng khoán để vay tiền
Danh mục cho vay được chia ra thành các mục như ít rủi ro, rủi ro cao… tùy định mức tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểm của mình Có loại chứng khoán không cần định mức tín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi ro cũng lớn
Trang 32 Như vậy, rủi ro trong việc cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công ty tài chính sang ngân hàng đầu tư Nhà đầu tư trên thế giới đã đổ tiền mua các chứng khoán này, nhờ vậy, chính họ đã cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho thị trường bất động sản ở Mỹ tăng nóng
Theo Giáo sư kinh tế Joseph Stiglitz, người được giải thưởng Nobel kinh tế 2001: “Hệ thống tài chính của Mỹ đã không thực hiện được hai trách nhiệm chính của mình, đó là quản lý rủi ro và phân chia vốn Cả hệ thống tài chính Mỹ
đã không làm những gì mà nó đáng ra phải làm - chẳng hạn như tạo ra các sản phẩm để giúp người Mỹ quản lý được những rủi ro nguy hiểm nghiêm
trọng của mình, như là giữ lại được nhà khi mức lãi suất cho vay tăng cao
hoặc khi giá nhà sụt giảm mạnh”
Trang 33Mua bán khống
Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến cho vay dưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra, tạo nên một áp lực giảm giá lớn không gì cứu vãn nổi Sau khi giá giảm đến một mức nào đó, giới đầu cơ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênh lệch họ sẽ hưởng trọn
Thậm chí, một số nhà đầu cơ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến hai lần (naked short sale), tức là không vay chứng khoán nữa mà cứ ra lệnh bán theo kiểu “đánh xuống” vì lợi dụng khe hở, mua bán ba ngày sau mới giao cổ phiếu Thực trạng này đã khiến Bộ trưởng Tư pháp bang New York, Andrew Cuomo phải thốt lên: “Họ giống như kẻ hôi của sau một cơn bão!”
Trang 34Có ba yếu tố chính đã khởi tạo nên bong bóng trong thị
tr ờng bất động sản:
Thứ nhất , bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi
trì trệ, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất
động sản (mặc dù những loại lãi suất cho vay tiền mua nhà do các ngân hàng th ơng mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so với lãi suất cơ bản của Fed, nh ng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụ thuộc vào lãi suất cơ bản) Vào giữa năm 2000 thì lãi suất chủ đạo ( lãi suất cơ bản) của Fed là trên 6%/năm nh ng sau đó lãi suất này liên tục đ ợc cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%/năm.
Trang 35Thứ hai , về ph ơng diện sở hũu nhà ở, chính sách chung của
chính phủ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho ng ời dân nghèo và các nhóm ng ời dân da màu đ ợc vay tiền dễ dàng hơn từ các định chế tài chính để mua nhà ở Khoản cho vay này phần lớn đ ợc thực hiện thông qua hai công ty đ ợc bảo trợ bởi
chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac Hai công ty này giúp
đổ vốn vào thị tr ờng bất động sản bằng cách mua lại các khoản cho vay của các ngân hàng th ơng mại, biến chúng thành các loại chứng từ đ ợc bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (mortgage- backed securities - MBS), rồi bán lại cho các nhà đầu t ở phố
Wall, đặc biệt là các ngân hàng đầu t khổng lồ nh Bear Stearns và Merrill Lynch.
Trang 36Thứ ba , nh đã trình bày ở trên, bởi vì có sự biến đổi các khoản cho vay thành các công cụ đầu t cho nên thị tr ờng tín dụng để phục vụ cho thị tr ờng bất động sản không còn là sân chơi duy nhất của các ngân hàng th
ơng mại hoặc các công ty chuyên cho vay thế chấp bất động sản nữa Nó
đã trở nên một sân chơi mới cho các nhà đầu t , có khả năng huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốn ngoại quốc Điểm đặc biệt
ở đây là bởi vì việc hình thành, mua bán, và bảo hiểm MBS là vô cùng phức tạp cho nen nó diễn ra gần nh là ngoài tầm kiểm soát thông th ờng của chính phủ Bởi vì thiếu sự kiểm soát cần thiết cho nên lòng tham và tính mạo hiểm đã trở nên phổ biến ở các nhà đầu t Bên cạnh đó, bởi vì
có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty khác biến chúng thành MBS, các ngân hàng th ơng mại đã trở nên mạo hiểm hơn trong việc cho vay, bất chấp khả năng trả nợ của ng ời vay.
Trang 37Bong bóng bất động sản
Với ba lý do trên, thị tr ờng bất động sản trở nên rất
nhộn nhịp, có rất nhiều ng ời thu nhập thấp hoặc không
có tín dụng tốt nh ng vẫn đổ xô đi mua nhà Để có thể đ
ợc vay, nhóm ng ời này th ờng phải trả lãi suất cao hơn và
th ờng đ ợc cho m ợn d ới hình thức lãi suất điều chỉnh
theo thời gian (ví dụ, nếu thoả thuận là đ ợc vay với lãi suất 6% và điều chỉnh sau 3 năm thì đúng ba năm sau lãi suất mới sẽ đ ợc ấn định theo thời điểm đó) Tóm lại, nhóm ng ời này thuộc vào thành phần đ ợc cho vay với
loại lãi suất d ới chuẩn (subprime rate).
Trang 38 Bất kể khả năng trả đ ợc nợ của nhóm vay d ới chuẩn, khoản tiền
cho vay dành cho nhóm này đã tăng vùn vụt Theo các ớc tính thì
nó tăng từ 160 tỉ USD ở năm 2001 lên 540 tỉ USD vào năm 2004
và trên 1.300 tỉ USD vào năm 2007 Fannie Mae đã mạnh tay hơn trong việc mua lại cá khoản cho vay đầy mạo hiểm do phải đối
đầu với cạnh tranh nhiều hơn từ các công ty khác, chẳng hạn nh Lehman Brothers Bên cạnh đó, nhu cầu mua lại MBS của các
nhà đầu t vẫn cao bởi vì cho tới tr ớc năm 2006 thì thị tr ờng bất
động sản vẫn ch a có dấu hiệu nổ bong bóng Hơn nữa, họ cũng phần nào đ ợc trấn an khi vẫn có thể mua thong thả các hợp đồng bảo hiểm và đầu t khác Việc này dẫn đến các công ty bán bảo hiểm càng mạnh tay hơn trong việc bán credit default swap - CDS
ra thị tr ờng, bất chấp khả năng bảo đảm của mình.
Trang 39 Bất kể khả năng trả đ ợc nợ của nhóm vay d ới chuẩn, khoản tiền
cho vay dành cho nhóm này đã tăng vùn vụt Theo các ớc tính thì
nó tăng từ 160 tỉ USD ở năm 2001 lên 540 tỉ USD vào năm 2004
và trên 1.300 tỉ USD vào năm 2007 Fannie Mae đã mạnh tay hơn trong việc mua lại cá khoản cho vay đầy mạo hiểm do phải đối
đầu với cạnh tranh nhiều hơn từ các công ty khác, chẳng hạn nh Lehman Brothers Bên cạnh đó, nhu cầu mua lại MBS của các
nhà đầu t vẫn cao bởi vì cho tới tr ớc năm 2006 thì thị tr ờng bất
động sản vẫn ch a có dấu hiệu nổ bong bóng Hơn nữa, họ cũng phần nào đ ợc trấn an khi vẫn có thể mua thong thả các hợp đồng bảo hiểm và đầu t khác Việc này dẫn đến các công ty bán bảo hiểm càng mạnh tay hơn trong việc bán credit default swap - CDS
ra thị tr ờng, bất chấp khả năng bảo đảm của mình.
Trang 40Vì dễ vay cho nên nhu cầu mua nhà lên rất cao, kéo theo việc lên giá bất động sản liên tục Giá nhà bình quân đã tăng đến 54% chỉ trong vòng bốn năm từ 2001 (năm bắt đầu cắt mạnh lãi suất)
đến 2005 Việc này cũng dẫn đến vấn đề đầu cơ và ỷ lại là giá nhà sẽ tiếp tục lên Hệ quả là ng ời ta sẵn sàng mua nhà với giá cao, bất kể giá trị thực và khả năng trả nợ sau này vì họ nghĩ nếu cần sẽ bán lại để trả nợ ngân hàng mà vẫn có lời Do đó, một
bong bóng đã thành hình trong thị tr ờng bất động sản.