1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI TRONG MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐA PHƯƠNG

10 311 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 119,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại hội đồng của 25 quý tộc được lập ra nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa nhà vua và thần đân được cho là có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế vương quyền vì Đại hội đồng lần đầu tiên t

Trang 1

KHẢO SÁT QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI

TRONG MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐA PHƯƠNG

Phạm Ngọc Thạch *

Quyền tự do lập hội, thường gắn với quyền tự do hội họp là một trong những quyền chính trị căn bản của con người Quyền lập hội và tự do hội họp hòa bình được cho là đã có hơn 800 năm lịch sử, gắn với sự ra đời của Đại Hiến chương (Magna Carta) của Anh vào năm 1215 Đại hội đồng của 25 quý tộc được lập ra nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa nhà vua và thần đân được cho là có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế vương quyền vì Đại hội đồng lần đầu tiên trong lịch sử là hội họp bởi các cá nhân, dù là quý tộc, đã được xác lập và với thẩm quyền cao hơn Vua.1

Trong nhiều thế kỷ đấu tranh đòi quyền chính trị, quyền tự do lập hội và tự

do hội họp là một trong những quyền quan trọng nhất mà nhân dân theo đuổi Quyền tự do lập hội và tự do hội họp hòa bình là thiết yếu đối với khả năng của người dân để gây áp lực lên chính quyền Tự do hội họp hòa bình bao gồm những hành động như biểu tình, tuần hành và diễn thuyết công khai.2 Tự do lập hội được công nhân, dưới hình thức này hay hình thức khác, bởi các tuyên bố nhân quyền với nhiều mức độ khác nhau Đây là một trong những quyền chính trị rõ ràng nhất đôi khi được coi như là tự do dân sự, của một nhóm hoặc của cá nhân Mục tiêu của nó là cho phép tạo nên các đảng phái chính trị và những phong trào xã hội khác, và ở phạm vi mở rộng, chính đáng hóa sự thành lập các tổ chức công đoàn, mặc dù quyền hình thành và thuộc vào một tổ chức công đoàn thường được công nhận một cách độc lập.3 Tự do lập hội (freedom of association) là quyền tự do hình thành các hiệp hội, câu lạc bộ hoặc các nhóm khác của người dân, và để gặp

gỡ mọi người một cách cá nhân, không có sự can thiệp từ chính phủ Quyền tự do lập hội thường được dùng bao hàm cả quyền hội họp hòa bình.4

* Thạc sỹ, Viện nghiên cứu Trung Quốc - Viện Khoa học xã hội Việt Nam

1 Stephen F Rohde, Freedom of Assembly, Facts On File, Inc, 2005, tr.1-4

2 James R Lewis, Carl Skutsch, The Human Rights of Encyclopedia, M.E Sharpe Publisher, New York, 2001

3 David Robertson, A Dictionary of Human Rights (2nd edition), Taylor & Francis Group, Europa Publications, London 2004

4 Helmut K.Anheier and Regina A.List, A Dictionary Of Civil Society, Philanthropy and The Non-Profit Sector, Taylor & Francis Group, Europa Publications, London and New

Trang 2

Từ đầu thế kỷ XX tới nay, trong quá trình đấu tranh giành quyền chính trị của người dân trên thế giới, nhiều quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền

tự do lập hội và tự do hội họp hòa bình, đã được thừa nhận ở nhiều quốc gia, và đặc biệt là trong nhiều điều ước quốc tế Nghiên cứu này sẽ khảo sát quyền tự do lập hội trong những điều ước quốc tế đa phương Điều ước quốc tế đa phương được hiểu là là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ một nước /vùng lãnh thổ với nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi

là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, hoặc văn kiện có tên gọi khác

Những điều ước quốc tế liên quan đến quyền lập hội và tự do hội họp hòa bình mà bài viết này tập trung khảo sát gồm có những 4 loại cơ bản Thứ nhất là hiến chương của tổ chức liên chính phủ Việc gia nhập các tổ chức liên chính phủ đòi hỏi chính phủ các nước, vùng lãnh thổ phải tán thành những vấn đề được nêu trong hiến chương của tổ chức đó Thứ hai, là các tuyên bố chung của các tổ chức

đó Những tuyên bố chung của các tổ chức liên chính phủ thông thường phản ánh

ý chí của đa số các nước thành viên tổ chức Thứ ba là các công ước quốc tế mà các nước tham gia ý kết Thứ tư là các văn kiện khác Theo đó, đối với vấn đề quyền lập hội và tự do hội họp hòa bình, có 32 văn kiện có liên quan (Xem phụ lục) Cụ thể, có có 6 tuyên ngôn, tuyên bố, 14 công ước, 7 hiến chương và 5 văn kiện khác

Bảo hộ pháp lý

Quyền lập hội và quyền tự do hội họp hòa bình là một trong những quyền

cơ bản của con người đã được công nhận và thể hiện qua nhiều điều ước quốc tế Trên bình diện toàn cầu, có thể thấy qua một số tuyên bố và công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc (UN) và cơ quan đặc biệt của Liên Hơp Quốc như Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) Bên cạnh đó, các tổ chức liên chính phủ mang tính khu vực cũng đã có những công ước và tuyên bố có liên quan đến quyền lập hội Đó là các

tổ chức như Hội đồng Châu Âu (Council of Europe), Tổ chức An ninh và Hợp tác tại Châu Âu (Organization for Security and Cooperation in Europe- OSCE), Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (Organization of American States - OAS), Liên minh châu Phi (The African Union - AU), Liên đoàn các nhà nước Ả rập (League of Arab States- LAS), Tổ chức Hợp tác Islam (Organisation of Islamic Cooperation-OIC) và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

York, 2005

Trang 3

Những văn kiện quốc tế liên quan tới quyền lập hội và quyền tự do hội họp hòa bình có sự khác biệt theo khu vực Liên Hợp Quốc là tổ chức có nhiều công ước

và tuyên bố chung liên quan tới vấn đề quyền lập hội và quyền tự do hội họp hòa bình nhất, với 10 Tuyên ngôn, Công ước và Nghị quyết, nếu tính cả Tổ chức Lao động Quốc tế như một cơ quan của Liên Hợp Quốc, thì số văn kiện quốc tế cơ bản liên quan lên tới 15 Đứng thứ hai là Tổ chức An ninh và Hợp tác tại Châu Âu (OSCE), với 6 văn kiện Hội đồng Châu Âu, Tổ chức các quốc gia Châu Mỹ, và Liên minh Châu Phi cũng có 3 văn kiện mỗi tổ chức Các tổ chức còn lại là Liên đoàn các Nhà nước Ả rập, Tổ chức Hợp tác Islam và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á mỗi tổ chức chỉ có 1 văn kiện quốc tế có liên quan tới quyền lập hội và tự do hội họp hòa bình

Bảng 1: Số văn kiện quốc tế có liên quan tới quyền lập hội và quyền tự do hội

họp hòa bình của một số tổ chức quốc tế

văn kiện

4 Tổ chức An ninh và Hợp tác

tại Châu Âu

5 Tổ chức các quốc gia châu

Mỹ

6 Liên minh châu Phi 2002 (Tiền thân là Tổ chức Đoàn

kết châu Phi, thành lập năm 1963)

3

8 Tổ chức Hợp tác Islam 2011 (Tiền thân là Tổ chức Hội

nghị Hồi Giáo, thành lập năm 1969)

1

Trang 4

9 Hiệp hội các quốc gia Đông

Nam Á

Trong số 32 văn kiện được khảo sát, văn kiện quốc tế ghi nhận quyền tự do lập hội sớm nhất là của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) Hiến chương của Tổ chức Lao động Quốc tế (1919) với lời nói đầu yêu cầu các bên tham gia công nhận quyền tự do lập hội, và Tuyên bố liên quan tới mục tiêu và mục đích của ILO (Tuyên bố Philadelphia) (1944) tại phần I cũng đã xác lập tự do lập hội là một trong trong những nguyên tắc cơ bản của ILO

Trong số các tổ chức liên chính phủ, Tổ chức các quốc gia Châu Mỹ (Organization of American States) là tổ chức có công nhận quyền tự do lập hội sớm nhất Tháng 4/1948, Tổ chức các quốc gia Châu Mỹ đã đưa ra Tuyên ngôn của châu

Mỹ về Quyền và Nghĩa vụ của con người (American Declaration of the Rights and Duties of Man) tại Bogota, Columbia, trong đó ghi nhận quyền tự do lập hội tại Điều XXII Tuyên ngôn này thậm chí còn sớm hơn cả Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (The Universal Declaration of Human Rights) do Liên Hợp Quốc đưa ra vào ngày 12/10/1948

Những văn kiện quốc tế có liên quan tới quyền lập hội có sự ngắt quãng đáng chú ý Từ năm 1948 đến 1950, liên tiếp có 5 văn bản được công bố Tuy nhiên, từ thời điểm 1950 đến 1964, không có văn kiện nào được xây dựng mới Chỉ từ năm 1965 trở đi, thì số lượng văn kiện mới được ký kết mới bắt đầu có sự liên tục trở lại Đặc biệt, trong thập niên 1990s, có tới 8 trong số 32 văn kiện quốc

tế được khảo sát đã được đưa ra trong thời kỳ này

Trên bình diện chung, có thể thấy các văn kiện quốc tế có liên quan tới quyền lập hội chủ yếu được ghi nhận trong các văn kiện có liên quan đến quyền con người Trong số 32 văn kiện được khảo sát, có tới 20 văn kiện trực tiếp có liên quan tới quyền con người Số văn kiện có tên gọi trực tiếp liên quan tới quyền lập hội là tương đối thấp, chỉ với 3 văn kiện, đó là Công ước về quyền tự do lập hội và quyền tổ chức (1948), Công ước về Quyền tổ chức và thương lượng tập thể (1949)

Trang 5

của ILO, Nghị quyết của Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc về Quyền Tự do hội họp và tự do lập hội (UN) (2010)

Quyền tự do lập hội được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế có hai khía cạnh căn bản Thứ nhất, một cá nhân được tự do tham gia vào quan hệ với – dù là vì mục đích gì – dù chỉ là trong thời gian ngắn hoặc lâu dài – bằng khế ước, bằng sự ưng thuận hoặc mặc nhận Nó cũng ám chỉ tới sự tự do từ chối tham gia vào các mối quan hệ như vậy hoặc chấm dứt các mối quan hệ khi không bị bắt buộc bởi giả định

tự nguyện về nghĩa vụ duy trì mối quan hệ đó Do đó, tự do lập hội là sự tự do khá rộng lớn 5 Thí dụ, Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền của Liên Hợp Quốc (1948)

đã quy định: (1) Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa

và (2) Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể.6 Công ước Nhân quyền của Châu Âu (1950) tại Điều 11 (1) và (2), Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền dân sự và chính trị (1966) tại Điều 22 (1) và (2), Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền kinh tế, dân sự và văn hóa (1966) tại Điều 8, Công ước của châu Mỹ về Nhân quyền (1969) tại Điều 16 về quyền lập hội tự do và Hiến chương châu Phi về Nhân quyền và Quyền con người (1981) tại Điều 10 cũng

có quy định tương tự

Quyền tự do lập hội và hội họp hòa bình đã được đưa vào nhiều lĩnh vực trong các công ước quốc tế Đó là các lĩnh vực như chống phân biệt chủng tộc7, quy định các quyền cơ bản về kinh tế, xã hội và văn hóa,8 quyền dân sự và chính trị,9 quyền con người và quyền các dân tộc10, và liên quan đến dân chủ, bầu cử và quản lý11

Quyền tự do lập hội và hội họp hòa bình cũng được quy định cho nhiều đối tượng đa dạng Ngoài những quy định chung về công dân nói chung, thì nhiều

5 Larry Alexander, What is freedom of Association and what is its denial?, Social Philosophy and Policy, Vol 25, No 2, 2008

6 Điều 20, Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền của Liên Hợp Quốc

7 Điều 5(d)(ix) Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc

8 Điều 8, Công ước Quốc tế của Liên Hợp Quốc về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa

9 Điều 21, 22, Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về các quyền dân sự và chính trị

10 Điều 10, Hiến chương Châu Phi về quyền con người và quyền các dân tộc

11 Điều 6 Điều 7 và Điều 12, Hiến chương của châu Phi về Dân chủ, Bầu cử và quản lý

Trang 6

công ước đã hướng vào các đối tượng cụ thể Đó là phụ nữ12, trẻ em13, công nhân nhập cư và gia đình của họ14, người bị mất tích cưỡng bức15, người tàn tật16, người dân tộc thiểu số (tại châu Âu)17 Đây đều là những đối tượng yếu thế trong xã hội

Quyền tự do lập hội và quyền tự do hội họp hòa bình đều có những giới hạn của nó Công ước Quốc tế của Liên Hợp Quốc về các Quyền Dân sự và Chính trị (1966) đã nêu rõ các vấn đề này Cụ thể, quyền hội họp hòa bình phải được công nhận, nhưng việc thực hiện quyền này sẽ bị hạn chế trong trường hợp “do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khỏe và đạo đức xã hội hoặc bảo vệ quyền và tự do của những người khác.” 18 Tương tự, mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng hay các quyền và tự do của người khác Điều này không ngăn cản việc đặt ra những hạn chế hợp pháp trong việc thực hiện quyền này đối với những người làm việc trong các lực lượng vũ trang và cảnh sát.19 Hạn chế này cũng được đặt ra trong Công ước của Châu Âu về nhân quyền Đó là: “Không có hạn chế nào được đặt ra đối với việc thực thi những quyền trên(quyền tự do hội họp hòa bình và tự do lập hội) ngoài những gì được quy định rõ trong luật và là cần thiết cho một xã hội dân chủ vì lợi ích của an ninh quốc gia hoặc an toàn công cộng, để ngăn ngừa hỗn loại hoặc tội phạm, vì mục đích bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức hoặc để vào vệ quyền và

tự do của người khác Điều này sẽ không ngăn cản việc áp đặt một số hạn chế hợp pháp đối với việc thực thi những quyền này bởi thành viên của các đơn vị vũ trang, cảnh sát hoặc cơ quan hành chính nhà nước”20

12 Điều 7, Công ước Quốc tế của Liên Hợp Quốc về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ

13 Điều 15, Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em

14 , Điều 26 và Điều 40, Công ước Quốc tế của Liên Hợp Quốc về bảo vệ quyền của công nhân nhập cư và thành viên gia đình của họ

15 Điều 24, Công ước Quốc tế của Liên Hợp Quốc về bảo vệ tất cả mọi người hỏi bị mất tích cưỡng bức,

16 Điều 29, Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của người tàn tật

17 Điều 7 Công ước khung của Hội đồng châu Âu về bảo vệ các dân tộc thiểu số

18 Điều 21, Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về các quyền dân sự và chính trị

19 Điều 22, Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về các quyền dân sự và chính trị

20Điều 11, Công ước của Châu Âu về nhân quyền

Trang 7

Quy định về quyền tự do lập hội và quyền hội họp hòa bình có hai cách tiếp cận trong các văn kiện quốc tế được khảo sát Trong các văn kiện mà chủ đề chính

là quyền con người, thì quyền tự do lập hội và quyền hội họp hòa bình được tiếp cận dưới góc độ là quyền của cá nhân Các văn kiện quốc tế do Liên Hợp Quốc ban hành cũng như của các tổ chức khu vực đều phản ánh điều này Trong khi đó, trong các văn kiện do Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đề xuất, thì quyền tự do lập hội và quyền hội họp hòa bình được tiếp cận dưới giác độ quyền tập thể Công ước

về quyền tự do lập hội và quyền tổ chức (1948), Công ước về Quyền tổ chức và thương lượng tập thể (1949) của ILO “Tự do lập hội” được xem trong các công ước của ILO như là quyền để tổ chức, lãnh đạo quyền để thương lượng tập thể, và (trong giới hạn) quyền để rút khỏi lực lượng lao động Những công ước này đã đặt ra các chuẩn cho tự do và tự chủ của các tổ chức của công nhân và chủ sử dụng lao động và việc cấm đoán sự can thiệp của nhà nước 21

Cơ chế bảo vệ quyền tự do lập hội và quyền hội họp hòa bình

Tại Liên Hợp Quốc, việc bảo vệ quyền tự do lập hội và quyền hội họp hòa bình nằm trong các cơ chế chung về bảo vệ nhân quyền Có hai loại cơ bản, đó là

cơ chế dựa trên Hiến chương (charter-based mechanism) và cơ chế dựa trên công ước (treaty-based mechanism)

Theo cơ chế dựa trên Hiến chương, thì các cơ quan được thành lập theo Hiến chương của Liên Hợp Quốc có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo vệ các quyền con người cơ bản, trong đó có quyền tự do lập hội và hội họp hòa bình Các

cơ quan đó bao gồm Đại hội đồng (General Assembly), Hội đồng Bảo an (Security Council), Hội đồng Kinh tế và Xã hội (Economic and Social Council - ECOSOC), Hội đồng Quản thác (Trusteeship Council) và Toà án quốc tế (International Court of Justice - ICJ), Hội đồng quyền con người của Liên hợp quốc (UN Human Rights Council - HRC)

Cơ chế dựa trên công ước là thông qua các ủy ban giám sát việc thực hiện một số công ước quốc tế về quyền con người, được thành lập theo quy định của bản thân các công ước đó Thẩm quyền của các ủy ban này là tương đối hẹp, tập trung vào giám sát, thúc đẩy việc thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người, thông qua việc nhận, xem xét và ra khuyến nghị liên quan đến các báo cáo

về việc thực hiện các công ước này của những quốc gia thành viên Một số uỷ ban

21 Lord Wedderburn, Freedom of association or right to organize, Industrial Relations Journal

Volume 18, Issue 4, pages 244–254, December 1987

Trang 8

còn được giao quyền nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại về việc vi phạm các quyền con người được ghi nhận trong một số công ước.22

Mặc dù đã có nhiều văn kiện quốc tế bảo hộ quyền tự do lập hội và hội họp hòa bình, nhưng cơ chế bảo vệ các quyền qua các văn kiện này là khá hạn chế Cho tới nay, trong số 8 tổ chức chính (xem bảng 1) với các văn kiện quốc tế có liên quan được đưa ra, thì chỉ có 3 tổ chức khu vực là có cơ chế bảo vệ quyền tự

do lập hội và quyền hội họp hòa bình tương đối hiệu quả Đó là Hội đồng Châu

Âu, Tổ chức các quốc gia châu Mỹ, Liên minh Châu Phi

Tòa án nhân quyền châu Âu có thẩm quyền giải quyết các vụ vi phạm Công ước của Châu Âu về Nhân quyền của các nước thành viên Hội đồng châu Âu Tòa

án Nhân quyền Châu Âu được thành lập theo Công ước Châu Âu về Nhân quyền, với trụ sở chính tại Strabourge, Pháp Kể từ ngày 1/11/1998, sau khi Nghị định thư

11 sửa đổi Công ước này có hiệu lực, Tòa án Nhân quyền Châu Âu đã hoạt động như một cơ quan thường trực Tòa án nhân đơn trực tiếp từ cá nhân hoặc tổ chức

Bảng 2: Một số vụ việc mà Tòa án Nhân quyền Châu Âu đã xét xử

Young, James and Webster v the United Kingdom, nos 7601/76 and

7896/77, Commission’s report of 14 December 1979, Series B, no 39,

p 36, § 167

1979

McFeeley v the United Kingdom, no 8317/78, Commission’s decision of

15 May 1980, Decisions and Reports (DR) 20, p 44

1980

Le Compte, Van Leuven and De Meyer v Belgium, judgment of 23 June

1981, Series A no 43

1981

Cheall v United Kingdom, no 10550/83

Holy Monasteries v Greece, no 13092/88, Commission’s decision of 5

June 1990

1990

Sigurđur A Sigurjónsson v Iceland, judgment of 30 June 1993, Series A

no 264

United Communist Party of Turkey and others v Turkey 1998

22 Cơ chế nhân quyền Liên Hợp Quốc

http://www.nhanquyen.vn/modules.php?name=News&op=detailsnews&mid=56&mcid=3

Trang 9

Socialist Party and Others v Turkey 1998

Grande Oriente d’Italia de Palazzo Guistiniani v Italy (Application No

35972/97) 2 August 2001

2001

NF v Italy (Application No 37119/97) 2 August 2001 2001 Stankov and the United Macedonian Organization Ilinden v Bulgaria 2001 Refah Partisi (Prosperity Party) and others v Turkey 2003

Nguồn: NGO Law Mornitoring, www.icnl.org

Tổ chức các quốc gia châu Mỹ có hai cơ chế bảo vệ quyền tự do lập hội và quyền hội họp hòa bình Đó là Tòa án Nhân quyền liên Mỹ và Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ (IACHR) Tòa án Nhân quyền liên Mỹ là cơ quan tư pháp của Tổ chức các quốc gia châu Mỹ có mục đích áp dụng và giải thích Công ước của Châu Mỹ

về Nhân quyền Ủy ban Nhân quyền liên Mỹ được trao quyền trong Hiến chương

Tổ chức các quốc gia châu Mỹ và Công ước của Châu Mỹ về Nhân quyền Thông qua xét xử các vụ việc vi phạm quyền tự do lập hội và quyền hội họp hòa bình, Tòa án Nhân quyền Châu Mỹ và Ủy ban Nhân quyền Châu Mỹ thúc đẩy việc bảo

vệ hai quyền này, cùng với các quyền con người khác

Bảng 3: Một số vụ việc mà Tòa án Nhân quyền Liên Mỹ đã xét xử

Inter-American Court of Human Rights Decisions Year Advisory Opinion OC-5/85: Compulsory Membership in an Association

Prescribed by Law for the Practice of Journalism

1985

Case of Baena-Ricardo et al v Panama 2001

Case of Cantoral-Huamaní and García-Santa Cruz v Peru 2007

(http://www.corteidh.or.cr/docs/casos/articulos/seriec_199_ing.pdf)

2009

(http://www.corteidh.or.cr/docs/casos/articulos/seriec_196_ing.pdf)

2009

Inter-American Commission on Human Rights Cases Year Nicaragua: Case 7310: Nicaraguan Seamen's Union 1982

Trang 10

Argentina: Cases 9777 and 9718: Maximo Bomchil and Alejandro M Ferrari 1988 Guatemala: Case 10.518 :Hector Oqueli and Gilda Flores 1992 Mexico: Case 11.610, Loren Laroye Riebe Star, Jorge Barón Guttlein, and

Rodolfo Izal Elorz (http://www.cidh.org/annualrep/98span/Fondo/Mexico

%2011.610.htm)

1999

Nguồn: NGO Law Mornitoring, www.icnl.org

Liên minh Châu Phi có hai cơ chế bảo vệ quyền tự do hội họp và hội họp hòa bình, bao gồm Tòa án Châu Phi về quyền còn người và quyền dân tộc và Ủy ban quyền con người và quyền dân tộc châu Phi Tòa án châu Phi về quyền con người và quyền các dân tộc (African Court on Human and Peoples’ Rights) được thành lập vào năm 2004 khi Nghị định thư bổ sung Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền các dân tộc (thông qua năm 1998) có hiệu lực Bên cạnh đó, còn có Ủy ban quyền con người và quyền các dân tộc châu Phi được thành lập vào năm 1981 Ủy ban này có các chức năng: bảo vệ các quyền con người và quyền của dân tộc; thúc đẩy các quyền con người và quyền của dân tộc; giải thích Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền của dân tộc

Hiệp hội ASEAN cũng mới thành lập Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR) vào ngày 20/9/2009 tại Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ

42 Tuy nhiên, AICHR chỉ là một cơ quant ham vấn, không có thẩm quyền đưa ra các quyết định mang tính ràng buộc, xem xét các vụ việc hay tiến hành các vụ điều tra Quyết định của AICHR là theo cơ chế đồng thuận AICHR chủ yếu làm nhiệm

vụ phát triển chiến lược, nâng cao nhận thức, thúc đẩy xây dựng năng lực, phát triển quan điểm chung, đưa ra các ý kiến tham vấn, dự thảo văn kiện, tiến hành nghiên cứu và thúc đẩy đối thoại và tham vấn giữa các thành viên

Kết luận

Quyền tự do lập hội là một trong những quyền chính trị căn bản mà nhân dân trên thế giới đã đấu tranh trong vài thập kỷ gần đây Đến nay, quyền tự do lập hội đã được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế Mặc dù được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế, nhưng hiện nay cơ chế bảo vệ các quyền này còn hạn chế

ở cấp toàn cầu Ở cấp độ khu vực, cơ chế bảo vệ quyền tự do hội họp được thực hiện tương đối hiệu quả ở châu Âu, châu Mỹ và châu Phi

Ngày đăng: 20/01/2016, 08:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số văn kiện quốc tế có liên quan tới quyền lập hội và quyền tự do hội - KHẢO SÁT QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI TRONG MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐA PHƯƠNG
Bảng 1 Số văn kiện quốc tế có liên quan tới quyền lập hội và quyền tự do hội (Trang 3)
Bảng 2: Một số vụ việc mà Tòa án Nhân quyền Châu Âu đã xét xử - KHẢO SÁT QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI TRONG MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐA PHƯƠNG
Bảng 2 Một số vụ việc mà Tòa án Nhân quyền Châu Âu đã xét xử (Trang 8)
Bảng 3: Một số vụ việc mà Tòa án Nhân quyền Liên Mỹ đã xét xử - KHẢO SÁT QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN TỰ DO LẬP HỘI TRONG MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐA PHƯƠNG
Bảng 3 Một số vụ việc mà Tòa án Nhân quyền Liên Mỹ đã xét xử (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w